MỤC LỤC Trang MỞ BÀI 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Tình hình nghiên cứu 2 4. Mục đích nghiên cứu 3 5. Phương pháp nghiên cứu 3 6. Đóng góp của đề tài 3 NỘI DUNG 4 Chương 1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 4 1.vị trí,vai trò của môn giáo dục công dân 4 1.1. Vị trí, vai trò của môn giáo dục công dân trong trường THPT 4 1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của môn học giáo dục công dân 5 1.2.1. Mục tiêu 5 1.2.2. Nhiệm vụ 5 Chương 2. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ Ở TRƯỜNG THPT 6 1.Phương pháp dạy học nêu vấn đề trong môn giáo dục công dân ở trường THPT 6 1.1. Quan nệm về phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy môn giáo dục công dân 6 1.2. Những giai đoạn cơ bản của phương pháp nêu vấn đề 9 1.2.1. Giai đoạn xây dựng tình huống có vấn đề 10 1.2.2. Giai đoạn giải quyết vấn đề 15 1.2.3. Giai đoạn hệ thống hóa kiến thức, tổng hợp tri thức 18 2. Các hình thức của phương pháp nêu vấn đề 18 2.1. Trình bày nêu vấn đề 19 2.2. Tìm tòi bộ phận. 20 2.3. Nêu vấn đề toàn bộ 20 3. Tính hiệu quả của việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong trường THPT hiện nay 22 3.1. Hiệu quả của việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề và phát huy tính hiệu quả đó trong giảng dạy môn GDCD. 22 3.2. Mối quan hệ giữa phương pháp nêu vấn đề với các phương pháp dạy học khác ở trường THPT. 25 3.3. Một số yêu cầu cơ bản của việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề. 26 3.4. Một số giải pháp phát huy hiệu quả phương pháp dạy học nên vấn đề trong môn GDCD ở trường THPT. 28 3.4.1. Đối với giáo viên. 28 3.4.2. Đối với học sinh 29 3.4.3. Sự quan tâm hơn nữa của các cấp quản lý. 30 KẾT LUẬN 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ BÀI 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
4 Mục đích nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRONGTRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 4
1.vị trí,vai trò của môn giáo dục công dân 4
1.1 Vị trí, vai trò của môn giáo dục công dân trong trường THPT 4
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của môn học giáo dục công dân 5
1.2.1 Mục tiêu 5
1.2.2 Nhiệm vụ 5
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ Ở TRƯỜNG THPT 6
1.Phương pháp dạy học nêu vấn đề trong môn giáo dục công dân ở trường THPT 6
1.1 Quan nệm về phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy môn giáo dục công dân 6
1.2 Những giai đoạn cơ bản của phương pháp nêu vấn đề 9
Trang 21.2.1 Giai đoạn xây dựng tình huống có vấn đề 10
1.2.2 Giai đoạn giải quyết vấn đề 15
1.2.3 Giai đoạn hệ thống hóa kiến thức, tổng hợp tri thức 18
2 Các hình thức của phương pháp nêu vấn đề 18
2.1 Trình bày nêu vấn đề 19
2.2 Tìm tòi bộ phận 20
2.3 Nêu vấn đề toàn bộ 20
3 Tính hiệu quả của việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong trường THPT hiện nay 22
3.1 Hiệu quả của việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề và phát huy tính hiệuquả đó trong giảng dạy môn GDCD 22
3.2 Mối quan hệ giữa phương pháp nêu vấn đề với các phương pháp dạy họckhác ở trường THPT 25
3.3 Một số yêu cầu cơ bản của việc sử dụng phương pháp nêu vấn đề 26
3.4 Một số giải pháp phát huy hiệu quả phương pháp dạy học nên vấn đề trongmôn GDCD ở trường THPT .28
3.4.1 Đối với giáo viên .28
3.4.2 Đối với học sinh 29
3.4.3 Sự quan tâm hơn nữa của các cấp quản lý .30
KẾT LUẬN 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 3MỞ BÀI
1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc phát triển kinh tế - Xã hội Đảng và nhà nước ta đã đưa
ra những chính sách tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, dần dần xóa bỏ nềnkinh tế nghèo nàn, lạc hậu Tuy nhiên song song với việc phát triển thì nhà nước
ta còn chú trọng đầu tư vào phát triển giáo dục, với mục tiêu đào tạo ra nhữngcon người toàn diện cả đức lẫn tài để phụng sự cho tổ quốc
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta xác định: Giáo dục vàđào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu, thông qua đổi mới toàn diện giáo dục vàđào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chấn hưng nền giáo dục ViệtNam với các biện pháp cụ thể là: “Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung phươngpháp dạy học theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa” phát huy tính sáng tạo, khảnăng vận dụng tính thực hành của người học, tập trung vào đổi mới phươngpháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực của học sinh, vớivai trò tổ chức, hướng dẫn đúng mực của giáo viên nhằm phát triển tư duy độclập, sáng tạo góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, ham muốntìm hiểu, khám phá kiến thức, tạo hứng thú, niềm vui trong học tập của học sinh
Thực hiện nghị quyết đại hội: Ngành giáo dục và đạo tào không ngừngtích cực đẩy mạnh việc đổi mới nội dung cũng như phương pháp dạy học
Giáo dục công dân là một môn học có vị trí quan trọng trong việc hìnhthành thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận cho học sinh Kiếnthức môn học tích hợp nhiều nội dung và giáo dục xã hội cho công dân, hướnghọc sinh vươn tới những giá trị cơ bản của người công dân Việt Nam trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nội dung môn học gắn liền với sự kiện trongđời sống đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị, nhân cách, phẩm chất, niềm tincho học sinh
Tuy nhiên trong thực tế việc dạy học của bộ môn lại chưa được quan tâmđúng mực, và đặt xứng với những môn học khác Phương pháp dạy học của giáoviên còn nhiều khiếm khuyết ngay cả nội dung cũng như phương pháp Nếu
Trang 4không được khắc phục một cách triệt để thì không thể nâng cao hiệu quả củamôn học.
Giáo dục công dân là môn học trừu tượng, do đó việc vận dụng phươngpháp nêu vấn đề là hết sức cần thiết Nó đóng một vai trò rất quan trọng nhằmnâng cao tư duy, sự sáng tạo của học sinh, đặt học sinh vào những tình huống cóvấn đề, vận dụng những kiến thức ngoài cuộc sống để giải quyết từ đó giúp họcsinh từ đó có thể lĩnh hội tri thức một cách cụ thể, chính xác, sinh động… việc
sử dụng phương pháp nêu vấn đề hợp lý, sẽ giúp giáo viên tổ chức, điều khiểnquá trình nhận thức của học sinh một cách chủ động, đạt hiệu quả cao
Để giúp mọi người có thể thấy rõ hơn về hiệu quả của phương pháp dạyhọc nêu vấn đề, từ đó phát huy những ưu điểm của nó trong quá trình giảng dạy,cũng như khả năng tư duy cho học sinh Đó chính là lý do để em đi vào nghiêncứu vấn đề này
2 Tình hình nghiên cứu.
Nghiên cứu vấn đề phương pháp dạy học nêu vấn đề giúp chúng ta thấyđược vai trò to lớn của việc vận dụng phương pháp này vào trong quá trìnhgiáng dạy Sử dụng một cách hợp lý nó sẽ đem lại một hiệu quả rất cao khôngchỉ đối với học sinh mà còn giúp cho bài giảng một cách sinh động, hấp dẫn,cuốn hút…
Tuy nhiên cũng còn một số người chưa nhận thức được tầm quan trọngcủa nó Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy chưa chú trọng đến việc đưa họcsinh vào tình huống có vấn đề, tạo khả năng tư duy do đó chất lượng bài giảngchưa đạt hiệu quả cao
Bên cạnh đó đây là một phương pháp dạy học mới, vì vậy mà những tàiliệu nghiên cứu về phương pháp này chưa nhiều, chưa được chú trọng Mặc dù
đã cố gắng tìm kiếm thông tin, tổng hợp kiến thức từ nhiều bài viết có các tácgiả khác nhau Thế nhưng trong quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏinhững thiếu sót và hạn chế về sự hiểu biết Vì vậy, em rất mong được sự đónggóp ý kiến của thầy cô và các bạn để giúp cho việc nghiên cứu đề tài này của emđược hoàn thiện hơn
Trang 53 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
*Phạm vi nghiên cứu:
Phương pháp dạy học là một lĩnh vực rất rộng được nhiều tác giả đề cậpđến Tuy nhiên trong đó em chủ yếu nghiên cứu trên giáo trình “Phương phápgiảng dạy môn giáo dục công dân” của trường Đại học Sư Phạm I Hà Nội làmhướng chủ đạo, cùng với sự bổ sung thêm của nhiều tác phẩm khác nhau, đểthấy được những ưu điểm tầm quan trọng của phương pháp nêu vấn đề
* Đối tượng nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này này em tập trung nghiên cứu trên hai đối tượngchính bao gồm: Đối tượng tiếp nhận là học sinh và đối tượng truyền thụ tri thức
là giáo viên
4 Mục đích nghiên cứu
Đi vào nghiên cứu đề tài này cho chúng ta thấy được tầm quan trọng củaphương pháp dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy các môn học nói chung vàtrong môn Giáo dục công dân nói riêng Đồng thời từ đó mỗi chúng ta cần phảibiết phát huy tính hiệu quả của phương pháp này có những mặt hạn chế riêngcủa nó, do đó đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng nó như thế nào cho hợp
lý là một điều hết sức quan trọng và cần thiết
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc, kiểm tra, khái quát hóa, trừutượng hóa
- Phương pháp nghiên cứu quan sát điều tra: Xây dựng câu hỏi, quan sátviệc dạy…
6 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu đề tài này chỉ ra cho ta thấy vai trò của phương pháp dạy họcnêu vấn đề, đồng thời qua đây đề xuất một số giải pháp và yêu cầu khi sử dụngphương pháp nêu vấn đề trong dạy học, nhằm đem lại một hiệu quả cao nhất
Trang 6NỘI DUNG Chương1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.vị trí,vai trò của môn giáo dục công dân.
1.1 Vị trí, vai trò của môn giáo dục công dân trong trường THPT
Sự nghiệp giáo dục là mục tiêu quan trọng của quốc gia, luôn được Đảng
và nhà nước ta quan tâm hàng đầu, vì vậy đầu tư cho giáo dục chính là đầu tưcho sự phát triển lâu dài, ổn định của đất nước, phát triển toàn diện, hài hòa cácmặt, đức, trí , thể, mỹ, nghề nghiệp, lý tưởng cộng sản…
Môn giáo dục công dân có những đặc điểm riêng, nhiệm vụ riêng, và có
sự khác biết đối với các môn học khác Đặc biệt môn giáo dục công dân ởtrường THPT đề cập và giải quyết một cách toàn diện, hệ thống những nhậnthức cơ bản, cần thiết của một công dân Việt Nam trong thời đại mới, chủ đề màmôn đề cập được bao hàm từ những vấn đề gần gũi thiết thực trong đời sống củacác công dân, gia đình, xã hội…đến những vấn đề mang tính lý luận, trừu tượng,khái quát, nhân sinh quan, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa
Môn giáo dục công dân chứa đựng một khối lượng tri thức thể hiện têngọi của môn học, dạy và học làm người công dân, và trở thành người công dânđúng với chuẩn mực xác định, điều này làm cho nó mang đặc trưng riêng khácvới những môn học khác
Bên cạnh đó nó còn mang tính định hướng chính trị sâu sắc, vì nó trựctiếp đề cập, giải quyết những vấn đề chính trị,tư tưởng của giai cấp công nhân,của Đảng,trực tiếp xác lập, cũng cố, định hướng chính trị - xã hội chủ nghĩa chohọc sinh
Môn giáo dục công dân đòi hỏi việc dạy phải gắn liền một cách trực tiếp,
cụ thể với đời sống, với việc rèn luyện, tu dưỡng của mỗi học sinh Dạy học giáodục công dân là dạy và học để trở thành công dân của nước Việt Nam Do đó
Trang 7đây là một môn học có vị trí rất quan trọng trong việc giáo dục nhân cách, đạođức, tư tưởng cho học sinh.
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của môn học giáo dục công dân
1.2.1 Mục tiêu
Môn giáo dục công dân góp phần to lớn trong việc giáo dục học sinhTHPT, đào tạo học trở thành những người lao động mới, hình thành ở họ nhữngphong cách, năng lực, nhân cách của người công dân mới Nó hướng vào mụctiêu chung của nền giáo dục XHCN là: “ Đào tạo con người Việt Nam phát triểntoàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe, có thẩm mỹ và nghề nghiệp,trung thành với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡngnhân cách, phẩm chất, năng lực của người công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ tổ quốc
1.2.2 Nhiệm vụ
Trang bị cho học sinh một hệ thống tri thức khoa học cơ bản, phổ thông,thiết thực hiện đại theo quy định của chương trình về chủ nghĩa Mác - Lênin, lýluận về CNTB, CNXH, về thời đại, về đạo đức, pháp luật, về đường lối chínhsách của Đảng cộng sản Việt Nam
Không ngừng động viên học sinh tích cực học tập, tu dưỡng trong hoạtđộng thực tiễn Từng bước hình thành cho học sinh thói quen, kỹ năng vận dụngtri thức đã học vào cuộc sống học tập, lao động, sinh hoạt, giúp các em có địnhhướng đúng đắn về chính trị, tư tưởng, đạo đức, trong các hoạt động xã hội,trong cuộc sống…
Bồi dưỡng cho học sinh cơ sở ban đầu về phương pháp tư duy biệnchứng, mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội, biếtphân tích đánh giá các hiện tượng xã hội theo quan điểm khoa học, tiến bộ, biếtủng hộ cái mới, đấu tranh chống những sai trái, tiêu cực…
Như vậy: Có thể nói môn giáo dục công dân trong trường THPT đóng mộtvai trò, nhiệm vụ hết sức quan trọng trong việc cung cấp cho học sinh hệ thống
Trang 8tri thức khoa học và giúp các em vận dụng tri thức đúng đắn và đầy đủ cácnhiệm vụ trên là hết sức cần thiết Nó giúp cho quá trình hoạt động dạy và họccủa thầy và trò đảm bảo được tính định hướng, tránh được những sai lầm như:Tầm thường hóa, đơn giản hóa tri thức khoa học của bộ môn tách rời giữa lýluận và thực tiễn.
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ Ở
TRƯỜNG THPT 1.Phương pháp dạy học nêu vấn đề trong môn giáo dục công dân ở trường THPT.
1.1 Quan nệm về phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy môn giáo dục công dân.
Phương pháp dạy học nêu vấn đề là một phương pháp hoàn toàn mới Nó
là một bước tiến mới, thành tựu mới của khoa học sư phạm từ cổ điển sang hiệnđại
Trước đây trong dạy học người dạy chủ yếu sử dụng phương pháp dạyhọc cổ truyền, phương pháp này giúp cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ, nghĩa làdùng mọi cách tác động vào đối tượng học, sao cho một thời gian ngắn ngườihọc thu được khối lượng tri thức xác định Với phương pháp dạy như vậy ngườihọc sẽ tiếp thu tri thức một cách thụ động, ít sự sáng tạo cần thiết trong tư duy
Phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy kích thích nhu cầu thu nhận trithức của bản thân người học từng bược hình thành và phát triển năng lực tư duykhoa học, độc lập và sáng tạo, biết tự mình đặt ra và giải quyết vấn đề của cuộcsống trong tương lai Như vậy, phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy khôngchỉ nhằm mục đích truyền thụ tri thức mới cho người học của giáo viên mà cònthông qua đó xây dựng phương pháp tư duy khoa học, hình thành phát triển thóiquen và năng lực nắm bắt thành tựu mới của khoa học và vận dụng chúng vàothực tiễn
Trang 9Ngày nay tri thức khoa học của loài người luôn luôn được bổ sung nhờthành tựu của khoa học và công nghệ, nhận thức của con người cũng ngày càngphát triển, thực tiễn biến đổi một cách nha h chóng, điều này đòi hỏi nội dunggiảng dạy trong nhà trường cũng phải đổi mới để đáp ứng với sự biến đổi đó Vìthế, nếu chỉ sử dụng phương pháp cổ truyền trong giảng dạy, kể cả trong giảngdạy bộ môn Giáo dục công dân sẽ không thể giúp học sinh có đầy đủ năng lựctiếp thu khối lượng tri thức ngày càng nhiều và mới Đồng thời học sinh khó cóthể áp dụng những tri thức đã học được vào thực tế cuộc sống đang biến đổi sâusắc, phương pháp nêu vấn đề là phương pháp hiệu nghiệm để hình thành tri thứccho học sinh, phát triển tư duy sáng tạo, thế giới khoa học, niềm tin của học và
do đó tạo ra mục đích xã hội xác định Đương nhiên, cũng như các phương phápkhác, giảng dạy nêu vấn đề có đặc điểm đặc trưng được xác định bởi đối tượnggiảng dạy, độ tuổi tâm lý, trình độ của học sinh, đặc điểm đối tượng và nội dungcủa môn khoa học cần giảng dạy
Khác với các bộ môn khoa học khác, trong giảng dạy môn GDCD việc
mô tả và giải thích của giáo viên chiếm thời gian rất lớn Giáo viên không chỉ
mô tả và giải thích mà phải kết hợp chặt chẽ giữa mô tả và giải thích, trên cơ sở
đó hướng học sinh tới việc hiểu và nắm chắc các tri thức trừu tượng và khái quátcao Đồng thời giáo viên cần phải từng bước hình thành ở học sinh thói quentuân theo, biết cách vận dụng các quy luật khách quan, biết sử dụng các tri thức
đã thu nhận vào nhận thức và hoạt động thực tiễn Muốn vậy học sinh phải biếtđặt ra và giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên học do bản thânthực hiện
Phương pháp này có những dấu hiệu đặc trưng riêng của nó như:
Câu hỏi được đặt ra và giả quyết vấn đề là những thành tố tất yếu củagiảng dạy nên vấn đề Với tư cách là kết quả, giải quyết vấn đề sẽ hình thành ởhọc sinh sự hiểu biết bản chất của hiện tượng hay sự kiện nào đó Đương nhiên,
ở trên lớp việc đặt ra và giả quyết, vấn đề học sinh chỉ có thể đạt được dưới sự
Trang 10hướng dẫn của giáo viên và cùng với giáo viên thực hiện Do đó giảng dạy nêuvấn đề là sự giải thích một hiện tượng hay sự kiện nào đó thông qua việc đặt ra
và giải quyết vấn đề do học sinh thực hiện cùng với giáo viên và dưới sự hướngdẫn của giáo viên Rõ ràng, hạt nhân trong giảng dạy nêu vấn đề rất quan trọng.Giáo viên có thể dùng hệ thống câu hỏi phù hợp với tri thức và đối tượng họcsinh để đưa họ vào tình huống có vấn đề hoặc dưới sự hướng dẫn của giáo viên,học sinh có thể tự đưa mình vào tình huống có vấn đề Và quá trình giải thíchchỉ đạt được thông qua việc giải quyết vấn đề đã đặt ra Kết quả của việc giảngdạy nêu vấn đề khong chỉ đơn giản là tổng số các tri thức mà học sinh thu nhậnđược, mà còn hình thành ở học sinh ý nghĩa bên trong của các sự kiện, tức làhiểu biết bản chất của sự kiện, biết độc lập nêu ra sự giải thích Trong khi giảithích vấn đề, tùy theo mức độ câu hỏi và trình độ học sinh giáo viên có thể gợi ýhoặc không gợi ý Song một điều không kém phần quan trọng, nếu không muốnnói nói là quan trọng nhất Sau khi đã giải quyết vấn đề, giáo viên phải nhận xét,đánh giá, hệ thống hóa tri thức cần thu nhận
Phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy môn GDCD ở trường PTTHxuất phát từ bản thân chính bộ môn Là một bộ môn trang bị cho học sinh nhữngtri thức cơ bản và thiết thực của thế giới quan khoa học, nhân sinh quan, phươngpháp luận, phương pháp tư duy khoa học, với những tư duy khoa học, với nhữngtri thức trừu tượng và khái quát cao, môn GDCD đòi hỏi phải có phương pháptruyền thụ và lĩnh hội có hiệu quả nhất Đó là phương pháp dạy và học nêu vấn
đề, học sinh sẽ nắm vững, hiểu sâu và rộng tri thức, chừng nào biết tự mình đặt
ra và giả quyết vấn đề cùng với giáo viên và dưới sự hướng dẫn của giáo viên.Đồng thời dây cũng là bước học sinh cần chuẩn bị cho mình những tri thứctrước khi bước vào cuộc sống sôi động, luôn luôn biến đổi, buộc họ phải tựmình tìm hiểu đặt ra và giả quyết vấn đề Điều này rõ ràng phụ thuộ vào phươngpháp và tư duy hành động Tư duy đúng đắn, hành động sẽ phù hợp với thực tếcuộc sống, mang lại hiệu quả tốt Tư duy sai, hành đọng sẽ không mang lại hiệuquả mong muốn, đôi khi dẫn đến sai lầm nghiêm trọng Vì thế việc rèn luyện
Trang 11phương pháp trong nhà trường cho học sinh là điều rất quan trọng đối với cảgiáo viên và học sinh Ngày nay, khi con người đang ngày càng vươn lên sựthống trị thế giới khách quan, khi khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ.Khi đời sống xã hội của thế giới đang có những biến động và biến đổi, việc địnhhướng tư duy và hành động bằng phương pháp khoa học của thế hệ tương laicàng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với bộ môn GDCD Nhưng để đạtđược kết quả tốt, bản thân học sinh phải chủ động thu nhận, rèn luyện và củng
cố phương pháp này trong học tập Sự kết hợp chặt chẽ và chủ động giữa giáoviên và học sinh, trong đó giáo viên giữ vai trò chủ đạo, là điều rất cần thiếtnhằm đạt tới hiệu quả cao của việc giảng dạy và học tập
Tuy phương pháp giảng dạy nêu vấn đề có tác dụng to lớn trong việctruyền thụ và lĩnh hội tri thức song cũng không thể coi đó là một phương phápvạn năng được áp dụng cho mọi bài,phương pháp nêu vấn đề cũng chỉ là mộttrong giảng dạy Tùy theo từng bài giảng từng vấn đề giáo viên sử dụng độc lậpphương pháp vêu vấn đề hoặc sử dụng kết hợp nó với các phương pháp khác.Nghệ thuật sư phạm chính là ở chỗ biết kết hợp hài hòa các phương pháp, biếtlựa chọn sử dụng phương pháp dạy học theo từng đối tượng, theo nội dung bàigiảng, biết thay đổi các phương pháp theo tiến trình giảng dạy, theo tâm - sinh lýcủa học sinh nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
So với phương pháp đàm thoại phương pháp nêu vấn đề có một điểm khác
cơ bản là giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề và giúp học sinh tự mình giảiquyết vấn đề đã đặt ra Sau đó được giáo viên kết luận khái quát
1.2 Những giai đoạn cơ bản của phương pháp nêu vấn đề.
Căn sứ vào lý luận của phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy, có thểphân chia tiến trình giảng dạy môn GDCD ở trường THPT theo ba giai đoạn cơbản là:
Trang 121.2.1 Giai đoạn xây dựng tình huống có vấn đề.
Đây là giai đoạn rất quan trọng nhằm định hướng, giúp cho học sinh ýthức được nhiệm vụ lĩnh hội tri thức, tạo ra tiền đề ban đầu kích thích hứng thúcủa học sinh bằng các thủ pháp sư phạm khác nhau giáo viên đưa ra vấn đề cầngiải quyết và đưa học sinh vào tình huống có vấn đề
Ở nghĩa chung nhất, vấn đề là câu hỏi xuất hiện trong quá trình hoạt độngcủa con người, là bản thân các hoạt động tìm kiếm câu trả lời, cách giải quyếtcác nhiệm vụ đặt ra trước con người Trong học tập nói chung và trong bộ mônGDCD nói riêng,vấn đề là câu hỏi xuất hiện trong quá trình lĩnh hội tri thức mới
là hoạt động nhận thức nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập, thu nhận tri thức mớiđang đặt ra trước học sinh Để giải quyết được vấn đề, rõ ràng học sinh phải huyđộng vốn tri thức đã có, độc lập và sáng tạo trong suy nghĩ dưới sự hướng dẫncủa giáo viên
Khi vấn đề được đặt ra trong bài giảng của giáo viên bao giò cũng là mớiđối với học sinh Song, dù là mới nó cũng có những liên hệ nhất định đối vớiuốn tri thức học sinh đã có Điều quan trọng ở đây là sự hướng dẫn của giáoviên Nếu giáo viên biết khéo léo giúp học sinh tìm ra mối liên hệ giữa tri thứcmới và tri thức cũ thì học sinh có thể tự giải quyết được nhiệm vụ tiếp thu trithức mới Trong khi hướng dẫn cần lưu ý sao cho mọi học sinh đều có thể tựmình tìm ra mối liên hệ giữa cái cũ và cái mới, biết cách lập luận., lý giải trithức mới trên cơ sở tri thức đã có theo trình tự chặt chẽ, nếu không như vậy, họcsinh sẽ không tự mình giải quyết được vấn đề, hoặc chỉ có một số ít học sinhgiải quyết được vấn đề, tức là không vừa sức học sinh
Vấn đề được nêu ra có thể là vấn đề đơn giản hoặc vấn đề phức tạp Vấn
đề đơn giản chỉ bao gồm trong đó một tri thức rất hẹp và khi giải quyết học sinhtiếp thu được ngay Trong môn GDCD dường như mọi vấn đề nêu ra trong bàigiảng đều là vấn đề phức tạp Bởi vì, bản thân tri thức bộ môn đã mang tính trừutượng và khái quát cao, học sinh lại mới tiếp cận với tri thức đó và vốn sống,
Trang 13vốn tri thức của họ còn quá ít Chẳng hạn, ngay ở “Bài mở đầu” của chươngtrình bộ môn GDCD lớp 10 học sinh đã vấp phải vấn đề phức tạp: vấn đề cơ bảncủa triết học Để giải quyết vấn đề phức tạp cần hướng dẫn học sinh giải quyếttừng vấn đề nhỏ theo hệ thống xác định Cuối cùng, hướng dẫn học sinh tổnghợp tri thức, hệ thống hóa kiến thức, làm nổi bật bản chất của vấn đề, tức là đãgiải quyết được vấn đề Những tri thức trong phần I của chương trình lớp 11 vàlớp 12 có phần đơn giản, tuy vậy cũng không phải hoàn toàn đơn giản.
Nguồn gốc cuối cùng của tình huống có vấn đề hay hoàn cảnh có vấn đề,của sự xuất hiện các vấn đề thực tiễn và khoa học là hoạt động thực tiễn, trong
đó có thực tiễn giảng dạy và học tập Việc đặt vấn đề và tình huống có vấn đềdiễn ra trong điều kiện khi tri thức mà con người tích lũy được bộc lộ sự giớihạn do việc con người mở rộng tác động của họ với thế giới xung quanh, khitrình độ tri thức cũ không đủ khả năng giải thích, định hướng cho hoạt động củacon người trong những điều kiện mới Như vậy, tình huống có vấn đề biểu thịmâu thuẫn giữa thực tiễn đã biến đổi, phát triển trình độ hạn chế của tri thức,cũng như giữa nhu cầu nhận thức cái mới với khả năng hạn hẹp của tri thức cũ.Mâu thuẫn sau được phát hiện trong quá trình giảng dạy Khi đặt học sinh vàođiều kiện hoạt động mới, giáo viên làm sáng tỏ sự hạn chế của tri thức mà họcsinh đã có và như vậy góp phần hình thành những nhu cầu nhận thức ở họ haygóp phần tạo ra trạng thái tâm lý đòi hỏi phương hướg suy nghĩ, hiểu biết đúngđắn vấn đề đặt ra Chẳng hạn, những vấn đề đạo đức và pháp luật học sinh đãđược học ở các lớp dưới, nhưng ở trường PTTH, họ được trang bị những tri thức
lý luận
Tình huống có vấn đề biểu thị mâu thuẫn xác định trong kết cấu của bảnchất tri thức, mâu thuẫn giữa cái biết và cái chưa biết Mâu thuẫn được thể hiệnnhư là sự không phù hợp của tri thức cũ và tri thức mới, của các nguyên lý lýluận khác nhau và của ngay cách giải quyết cùng một vấn đề của các học thuyếtkhác nhau
Trang 14Như chúng ta đã thấy, tình huống có vấn đề không đơn giản chỉ là sự phảnánh khách thể, mặc dù sự phản ánh đó là tiền đề cần thiết cho việc hình thànhvấn đề Tình huống có vấn đề bao gồm cả việc tiến hành hoạt động trong đó xuấthiện mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể (dưới dạng mâu thuẫn của thực tiễn vànhận thưc, cái biết và cái chưa biết, tri thức cũ và tri thức mới), và sự tất yếuphải giải quyết mâu thuẫn Vấn đề, nhiệm vụ nhận thức biểu thị nhu cầu đã chínmuồi và tính tất yếu nhận thức cái mới Sự hình thành ở học sinh phương hướng
sử dụng tri thức mà họ đã thu nhận được để giải thích hiện tượng nào đó, để giảiquyết những nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn và điều kiện quan trọng của việcđặt ra vấn đề trong giảng dạy
Tình huống có vấn đề cần làm sáng tỏ cái gì chưa biết và vạch ra cái đó.Đồng thời cần hành động hướng vào việc giải quyết mâu thuẫn, cần làm rõ bảnchất của cái chưa biết.Nó là mật khẩu tất yếu dẫn từ cái biết đến cái chưa biết làphương thức tích lũy sở hữu tri thức mới, nắm vững hình thức hoạt động mớitrong lĩnh vực lý luận và thực tiễn Tất cả những điều đó được thực hiện tronggiảng dạy sẽ dẫn tới sự phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Đặc điểm của tình huống có vấn đề được đặc trưng bởi chính quá trìnhgiảng dạy và đặc điểm của bộ môn, cũng như đặc điểm của đối tượng học sinh
Giảng day là quá trình chuyển giao tri thức do giáo viên thực hiện Truyềnthụ tri thức góp phần tích cực vào việc hình thành chủ thể mới tham gia vào cácquan hệ xã hội và các dạng động Giảng dạy giúp những người chủ tương lai củađất nước nắm vững kinh nghiệm xác định, nắm vững những tri thức và biết sửdụng chúng vào các hoạt động của bản thân nhằm góp phần vào sự phát triểncủa xã hội, nhân loại Giảng dạy là một hình thức chuyển giao nhận thức đặcbiệt về khách thể nhờ nắm vững các khái niệm, các luận điểm cơ bản chứ khôngphải là sự sản xuất ra tri thức mới Trong quá trình giảng dạy giáo viên là chủthể thực hiện nhiệm vụ chuyển giao tri thức và hình thành ở học sinh khả năng
tư duy, phương pháp lĩnh hội và vận dụng tri thức, nhân cách Học sinh vừa là
Trang 15khách thể, vừa là chủ thể trong hoạt động của giáo viên Nắm vững tri thức, họ
sẽ là chủ sở hữu kinh nghiệm xã hội Việc lĩnh hội sâu sắc, đầy đủ tri thức khôngphải chỉ ở phía giáo viên mà chủ yếu ở phía học sinh Nhưng nếu cả hai phía,đặc biệt là phía học sinh, đều chủ động vận động tới điểm gặp nhau thì sẽ đảmbảo cho việc thu nhận tri thức mới, hình thành trí tuệ và năng lực sử dụng trithức Đồng thời, ở giai đoạn nhất định, giảng dạy có thể trở thành hoạt độngnghiên cứu độc lập của học sinh Đương nhiên , điều nàykhông thể đòi hỏi ở tất
cả học sinh và trong toàn bộ chương trình môn học Nói cách khác, tùy theo nộidung kiến thức, năng lực nhận thức và tư duy của học sinh, giáo viên có thể giaocho học sinh độc lập nghiên cứu và lĩnh hội tri thức mới theo sự chỉ dẫn của giáoviên Chẳng hạn có thể giao cho học sinh độc lập nghiên cứu và lĩnh hội tri thứcbài “Chính sách xây dựng đời sống gia đình” trong “Tài liệu GDCD lớp 12”
Những điều nêu trên cho thấy, giáo viên bộ môn GDCD nên và cần sửdụng phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy Nhưng điều kiện quan trọngtrong việc sử dụng phương pháp này là việc hình thành tình huống có vấn đề Đểthực hiện tốt cần tuân theo những nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, khi giảng dạy cần liên hệ chặt chẽ sự phát triển của các khoa
học triết học, chính trị kinh tế học, đạo đức học.v.v với lịch sử của chúng, vớicác phương pháp được dùng để xây dựng phương pháp mới Việc nhắc lại lịch
sử phát triển của các khoa học như trên đã nêu là không cần thiết đối với họcsinh phổ thông Nhưng trong một số tình huống giảng dạy đặc trưng nhất nhưtrong bài “Hình thái kinh tế - xã hội”, “Tự do và tất yếu”, “Luật nhà nước” và
“Hiến páp năm 1992”… điều đó lại có lợi Nó cho phép hình thành một cách cóhiệu quả tư duy sáng tạo của học sinh
Thứ hai, khi nêu ra những vấn đề thực tế, giáo viên cần diễn đạt một cách
có lôgic dưới dạng mâu thuẫn chưa được giải quyết Hiện nay, đất nước ta đangđặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, chẳng hạn, như mối quan hệ giữa lực lượngsản xuất và quan hệ sản xuất, quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa quyền lợi và
Trang 16nghĩa vụ.v.v Song việc diễn đạt chúng một cách lôgic lại phụ thuộc vào khảnăng của giáo viên và trình độ của học sinh Trong khi diễn đạt giáo viên cầngiúp học sinh phát hiện mâu thuẫn và hướng dẫn học sinh biết giải quyết chúngtrên cơ sở tri thức lý luận và điều kiện thực tế cho phép Biết tìm ra mâu thuẫn
và biết lý giải chúng là biểu hiện quan trọng của trí tuệ sáng tạo, ở đây, vai tròcho phép biện chứng duy vật có tầm quan trọng lớn lao Đương nhiên để vậndụng tốt, học sinh lại rất cần tới sự hướng dẫn khéo léo của giáo viên Mặt khác,thông qua việc giải quyết vấn đề thực tế giáo viên sẽ đưa học sinh tham gia tíchcực vào công việc chung của lớp, của trường, bước đầu hình thành tính tích cực
xã hội của học sinh
Thứ ba, khi nêu vấn đề nhất thiết phải chú ý tới nguyên lý và sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn Đưa ra bất kỳ một luận điểm xác đinh nào cũngcần phải làm rõ mối liên hệ của nó với hoạt động thực tiễn của con người.Đương nhiên, không phải lúc nào cũng thấy rõ mối liên hệ đó, nhất là khi diễnđạt để học sinh hiểu được Song bằng cách này hay cách khác tri thức khoa họcđều liên quan tới hoạt động của con người và điều này đòi hỏi giáo viên phải đàosâu suy nghĩ để vacj ra mối liên hệ đó Những vấn đề lý luận càng gắn được vớinhững hoạt động gần gũicủa các em ở gia đình, nhà trường và địa phương sẽcàng giúp họ hiểu được lý luận và biết áp dụng tri thức vào nhân thức khoa học
và thực tiễn Trong chương trình GDCD những vấn đề tự do và tất yếu, nhân đạo
và văn minh, những vấn đề xây dựng đất nước, đạo đức, pháp luật.v.v giáo viên
dễ dàng gắn được lý luận với thực tiễn xung quaqnh và ngay cả với bản thântừng học sinh
Thứ tư, đối với cuối cấp PTTH, giáo viên có thể nêu ra những luận điểm,
những nhận định đối lập nhau Sau khi đã nêu ra, giáo viên cần hướng dẫn họcsinh phân tích sai lầm về mặt lý luận và thực tiễn của những luận điểm, nhậnđịnh đó, ở đây, cần lưu ý học sinh tới động cơ cá nhân, lợi ích giai cấp, lợi íchcủa tập đoàn người, khi nêu ra những luận điểm đó Điều này sẽ giúp học sinhphương pháp phân tích, lý giải vấn đề một cách khoa học Những luận điểm,
Trang 17nhận định khác nhau, giáo viên có thể tìm trong các tài liệu nghiên cứu về mọimặt của đời sống xã hội Hoặc có thể sử dụng các bài tập tình huống trong “Tàiliệu GDCD lớp 12” Song điều không kém phần quan trọng là bản thân giáoviên có lập trường quan điểm rõ ràng, có phương pháp nhận thức khoa học.
Tạo ra tình huống có vấn đề và đưa học sinh vào tình huống đó là đặctrương của phương pháp nêu vấn đề trong giảng dạy GDCD, là sự biểu hiệnnăng lực và nghệ thuật sư phạm của giáo viên Vì thế, vấn đề mấu chốt trongphương pháp này là phát hiện ra mâu thuẫn trong nhu cầu nhận thức của học sin
và đặt họ vào đúng thời điểm nảy sinh mâu thuẫn, buộc họ phải suy nghĩ theo sựchỉ dẫn của giáo viên Việc làm này sẽ tác động tới tư duy và hành động của họ,tác động tới sự khao khát tìm hiểu, lý giải vấn đề Trong khi tạo ra đúng tìnhhuống có vấn đề ở thời điểm cần thiết cũng cần lưu ý tới sự quan hệ của nó vớinhững vấn đề khác có thể hoặc sẽ nảy sinh Những tình huống sau có thể và phảicần cao hơn tình huống trước Giải quyết hết những tình huống liên tiếp diễn ratheo trình tự lôgic xác định sẽ giúp cho việc thu nhận tri thức mới của học sinhtốt hơn, có hiệu quả hơn Hiện nay trong môn GDCD giáo viên thường gặp phảimâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn, khó khăn chủ yếu trong việc giải quyết vấn
đề này là ở đây Để làm rõ được những kiến thức cơ bản, trọng tâm, trọng điểmcủa bài giáo viên phải biết hướng học sinh vào cách giải quyết vấn đề phục vụcho bài giảng, không nên đi vào cách giải thích vấn đề không có liên quan hoặc
ít liên quan đến bài giảng Đồng thời phải nhạy cảm với những vấn đề lý luận vàthực tiễn mới nảy sinh, tự mình tìm ra hướng giải quyết, đúng đắn nhất chochính mình mới có thể hướng học sinh vào việc lý giải đúng đắn vấn đề
1.2.2 Giai đoạn giải quyết vấn đề.
Sau khi đã nêu vấn đề và đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, giáoviên phải hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề cùng với giáo viên, ở giai đoạnnày buộc học sinh phải huy động vốn tri thức đã có (kể cả vốn sống ít ỏi), vậndụng phương pháp tư duy lôgic, dù còn hạn chế, để lý giải vấn đề