1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy phần 2 công dân với đạo đức chương trình giáo dục công dân lớp 10”

43 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 179 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục công dân (GDCD) là một môn khoa học xã hội có vị trí vô cùng quan trong hệ thống giáo dục ở bậc trung học phổ thông (THPT). Khác với các môn khoa học khác, môn GDCD hình thành nên phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo đức, gắn liền với đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Môn GDCD có nhiệm vụ góp phần đào tạo học sinh thành những người công dân có đầy đủ các phẩm chất: “đức”, “trí”, “thể”, “mĩ”. Đó là những người có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiên tiến, có đạo đức trong sáng, ra sức thực hiện đường lối và nhiệm vụ cách mạng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật. “Môn GDCD ở các trường THPT có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách học sinh” (chỉ thị số 30 1998. Bộ GD ĐT). Trong thời gian qua, giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy môn GDCD luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cao đồng thời cũng đã đạt được một số thành tữu đáng kể. Chương trình GDCD bậc THPT cũng đã được điều chỉnh thay đổi. Sách giáo khoa ở các khối được thay mới mà trước hết là chương trình GDCD lớp 10. Đối với bộ môn GDCD, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) đang được thực hiện theo hướng vận dụng PPDH tích cực. Nhưng một thực tế đáng buồn hiện nay là trong xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế quốc tế đang phát triển như vũ bão của nước ta, không ít học sinh, sinh viên và tầng lớp thanh niên ngày càng có chiều hướng sa sút về phẩm chất đạo đức, làm băng hoại nhân cách của bản thân. “Học sinh sa sút sa sút về mặt đạo đức ngày càng có chiều hướng gia tăng trong nhà trường THPT” (Diễn đàn nhân dân cuối tuần Đỗ Ngọc Tấn). Điều đó làm cho Đảng và Nhà nước ta luôn trăn trở và lo lắng, đồng thời là vấn đề báo động cho những người đứng trong ngành giáo dục. Vấn đề đặt ra là phải chăng do phương pháp giảng dạy đạo đức cho học sinh còn chưa cao, sự sắp xếp chương trình còn chưa hợp lý hay tâm lý học sinh coi đó là một môn phụ? Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy môn GDCD ở các trường THPT hiện nay vừa là nhiệm vụ mang tính cấp bách vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự nghiập giáo dục và đào tạo trong thời đại khoa học vàg công nghệ đang có những bước tiến vượt bậc. Điều đó giúp cho học sinh có điều kiện để tiếp nhận tri thức từ nhiều kênh thông tin khác nhau chứ không phải như trước đây thầy nói – trò lắng nghe, thầy đọc – trò chép. Vì vậy, hiện nay đổi mới PPDH có ý nghĩa như là một cuộc cách mạng về phương pháp. Chính cuộc cách mạng về PPDH sẽ đem lại một bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục, trong đó có giáo dục ở bậc THPT, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay việc sử dụng PPDH tích cực trong giảng dạy môn GDCD ở trường THPT còn nhiều hạn chế. Việc đổi mới PPDH đi từ truyền thống sang PPDH tích cực là yêu cầu hết sức nóng bỏng trong giảng dạy đạo đức cho học sinh. Với ý nghĩa đó tôi chọn đề tài: “Áp dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy phần 2: Công dân với đạo đức chương trình giáo dục công dân lớp 10”

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục công dân (GDCD) là một môn khoa học xã hội có vị trí vôcùng quan trong hệ thống giáo dục ở bậc trung học phổ thông (THPT) Khác vớicác môn khoa học khác, môn GDCD hình thành nên phẩm chất chính trị, tưtưởng đạo đức, gắn liền với đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Môn GDCD

có nhiệm vụ góp phần đào tạo học sinh thành những người công dân có đầy đủcác phẩm chất: “đức”, “trí”, “thể”, “mĩ” Đó là những người có thế giới quankhoa học, nhân sinh quan tiên tiến, có đạo đức trong sáng, ra sức thực hiệnđường lối và nhiệm vụ cách mạng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sống và làmviệc theo hiến pháp, pháp luật “Môn GDCD ở các trường THPT có vị trí hàngđầu trong việc định hướng phát triển nhân cách học sinh” (chỉ thị số 30/ 1998

có chiều hướng gia tăng trong nhà trường THPT” (Diễn đàn nhân dân cuối tuần

- Đỗ Ngọc Tấn) Điều đó làm cho Đảng và Nhà nước ta luôn trăn trở và lo lắng,đồng thời là vấn đề báo động cho những người đứng trong ngành giáo dục Vấn

đề đặt ra là phải chăng do phương pháp giảng dạy đạo đức cho học sinh còn

Trang 2

chưa cao, sự sắp xếp chương trình còn chưa hợp lý hay tâm lý học sinh coi đó làmột môn phụ?

Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy môn GDCD ởcác trường THPT hiện nay vừa là nhiệm vụ mang tính cấp bách vừa có ý nghĩachiến lược lâu dài đối với sự nghiập giáo dục và đào tạo trong thời đại khoa họcvàg công nghệ đang có những bước tiến vượt bậc Điều đó giúp cho học sinh cóđiều kiện để tiếp nhận tri thức từ nhiều kênh thông tin khác nhau chứ không phảinhư trước đây thầy nói – trò lắng nghe, thầy đọc – trò chép

Vì vậy, hiện nay đổi mới PPDH có ý nghĩa như là một cuộc cáchmạng về phương pháp Chính cuộc cách mạng về PPDH sẽ đem lại một bộ mặtmới, sức sống mới cho giáo dục, trong đó có giáo dục ở bậc THPT, đáp ứng yêucầu của thời đại mới Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay việc sử dụng PPDHtích cực trong giảng dạy môn GDCD ở trường THPT còn nhiều hạn chế Việcđổi mới PPDH đi từ truyền thống sang PPDH tích cực là yêu cầu hết sức nóng

bỏng trong giảng dạy đạo đức cho học sinh Với ý nghĩa đó tôi chọn đề tài: “Áp

dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy phần 2: Công dân với đạo đức - chương trình giáo dục công dân lớp 10”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm đã đượcnhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu như: L.V Rêbroa (1915); P.M.Erdơnier (1974)

Ở nước ta hiện nay, bàn về phương pháp giảng dạy môn GDCD nóichung đã có nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu như:

- Lý luận dạy học bộ môn GDCD: Phùng Văn Bộ (NXB Quốc gia HàNội – 2001)

- Phương pháp giảng dạy GDCD: PGS Vương Tất Đạt chủ biên (Trườngđại học Sư phạm 1 Hà Nội - 1994)

Trang 3

- Có nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí như: “ứng dụng cácphương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm”; “Phương pháp dạy học tíchcực lấy người học làm trung tâm”: Nguyễn Kỳ (NXB Giáo dục 1995)

- Đề tài “Đổi mới phương pháp giảng dạy môn giáo dục công dân ởtrường THPT” của Sinh viên Hồ Ngọc Anh – K37 Trường Đại học Vinh

Nhìn chung, các tác giả trên đã nghiên cứu một cách tổng hợp, khái quátnhưng còn thiên về mặt lý luận, chưa đi sâu vào nghiên tình hình nghiên cứuthực tiễn vận dụng PPDH tích cực vào bài giảng cụ thể của phần 2 chương trìnhGDCD lớp 10 Vì vậy tôi mạnh dạn tìm hiểu vấn đề này mong rút ra được nhữngkinh nghiệm nhỏ nhằm phục vụ cho quá trình giảng dạy sau này của bản thân vàđồng nghiệp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Môn GDCD ở trường THPT có vị trí quan trọng trong việc hình thànhthế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận cho học sinh, bồi dưỡng đạođức cách mạng, chân lý niềm tin và tri thức khoa học cho học sinh Đồng thờinghiên cứu đề tài này tôi còn có mục đích góp phần đổi mới PPDH, để nâng caohơn nữa chất lượng giảng dạy môn GDCD đưa bộ môn lên đúng vị trí quantrọng của nó

3.2 Nhiệm vụ

- Làm rõ các quan niệm về PHDH tích cực Đồng thời phân tích nhữngđặc trưng của PPDH tích cực từ đó nêu lên con đường và cách thức tiến hànhtrong giảng dạy phần 2 chương trình GDCD lớp 10

- Vận dụng PPDH tích cực trong giảng dạy một số bài cụ thể ở phần 2chương trình GDCD lớp 10 Từ đó khắc phục những hạn chế trong dạy học ởchương trình GDCD, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 4

Một số PPDH tích cực trong chương trình GDCD ở trường THPT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian không nhiều và năng lực còn hạn chế, đề tài chỉ tập trungnghiên cứu phạm vi: Phần 2 chương trình GDCD lớp 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành tốt đề tài tôi đã kết hợp các phương pháp nghiêncứu:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nhằm hiểu sâu sắc hơn về PPDH tíchcực

- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biệnchứng: phân tích – tổng hợp; lý luận – thực tiễn

6 Ý nghĩa đề tài

PPDH tích cực với ý nghĩa, xem học sinh là trung tâm của cả quá trìnhdạy học sẽ tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trên cơ sở tự giác và chủđộng tiếp nhận tri thức Thầy giáo sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền thụtri thức Từ đó, sẽ kích thích tính chủ động sáng tạo, lao động của học sinh, giúpcác em có một thế giới quan khoa học, một phương pháp tư duy biệnchứng Đối với giáo viên sẽ góp phần củng cố và tích luỹ thêm kiến thức Đồngthời có cơ hội tìm tòi và phát hiện ra nhiều cái mới trong phương pháp giảngdạy

Trang 5

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ ĐỂ XÁC LẬP PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

TÍCH CỰC

1 Cơ sở lý luận

1.1 Quan niệm về phương pháp giảng dạy

Đối với bất cứ hoạt động có mục đích nào thì con người đều phải có ýthức và lựa chọn phương pháp hoạt động cụ thể để đạt được kết quả mongmuốn Như vậy, phương pháp là một thành tố quan trọng tạo ra hoạt động củachủ thể – là một phạm trù gắn bó trực tiếp với chủ thể Vậy phương pháp là gì?

- Hiểu theo nghĩa thông thường: Phương pháp là cách thức, là conđường là phương tiện đạt tới mục đích Cũng có thể gọi là một “thủ đoạn” hiểutheo nghĩa tích cực

- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: Phương pháp là hệ thốngnhững nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điềuchỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhấtđịnh

Song vẫn đề cần đề cập ở đây là phương pháp giảng dạy được xem xétvới tư cách là một khoa học Đó là khoa học sư phạm, khoa học về giảng dạy,truyền đạt kiến thức cho đối tượng người học

Bàn về phương pháp giảng dạy có rất nhiều quan niệm khác nhau:

Có người cho rằng: “PPDH là cách thức làm việc của giáo viên vớihọc sinh để lĩnh hội tri thức, kỹ năng và kỹ xảo” (Kazansky và Nazarova Lýluận dạy học, sách dịch 1978)

Có người lại định nghĩa “PPDH học là tổ hợp những thao tác tựgiác liên tiếp được sắp xếp theo một trình tự hợp lý, hợp quy luật khách quan mà

Trang 6

chủ thể tác động lên đối tượng, nhằm tìm hiểu và cải biến nó” (GDH – NXBgiáo dục 1996)

Như vậy, chúng ta có thể hiểu PPDH là con đường, là cách thứcphối hợp hoạt động giữa giáo viên và học sinh nhằm thực hiện các nhiệm vụgiáo dục để đạt được mục đích

- Hêghen – nhà triết học cổ điển Đức khi đề cập đến phương pháp đãkhẳng định: “phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trongcủa nội dung” Như vậy theo Hêghen: “phương pháp không phải là hình thứcbên ngoài mà chính là linh hồn và khái niệm của nội dung” (Trích Bút ký triếthọc – Lênin)

Do vậy, phương pháp dạy học phải xem xét với tính cách là hình thứcbiểu hiện bên trong của nội dung Phương pháp đó được rút ra từ đâu? Nó phảixuất phát từ nội dung, từ đối tượng sự vật, từ đặc điểm bộ môn Hay nói cáchkhác, ngoài phương pháp chung, mỗi bộ môn còn có những phương pháp dạyhọc riêng và mang tính đặc thù Đó là những quan điểm khoa học về phươngpháp dạy học

1.2 Cơ sở của phương pháp giảng dạy đạo đức

- Phương pháp giảng dạy đạo đức ở bậc THPT nằm trong hệ thốngPPDH nói chung Là nội dung có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự thànhcông của quá trình giáo dục

- Phương pháp giảng dạy đạo đức cho học sinh vừa bao hàm cả quátrình giảng dạy lý thuyết đồng thời rèn luyện cho các em hình thành kỹ năng, kỹxảo và thói quen trong cuộc sống

- Áp dụng PPDH phải căn cứ vào mục đích, nội dung môn học, đồngthời là đặc điểm tâm sinh lý, trình độ nhận thức của học sinh, phong tục tập quáncủa địa phương

Trang 7

* Giảng dạy đạo đức cho học sinh phải căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu vàcấu trúc chương trình giáo dục và đào tạo ở THPT Từ đó, hoạt động giảng dạyphải đạt được các yêu cầu sau:

- Về kiến thức:

Giúp học sinh nắm vững nội hàm khái niệm, các phạm trù đạo đức, cácnguyên tắc đạo đức và một số nét truyền thống, nhận biết được hành động nào làđúng, hành động nào là sai trong các quan hệ đạo đức

- Về kỹ năng:

Biết vận dụng những kiến thức đã học để lý giải một số vấn đề trongcuộc sống Có ý thức rèn luyện, điều chỉnh, thực hành các hành vi phù hợp vớichuẩn mực đạo đức xã hội

- Về thái độ:

Giúp các em tin tưởng vào các nội dung đã học trong bài học là đúng

Có thái độ đúng đắn và khách quan với các hiện tượng đạo đức xã hội nóichung, các hiện tượng đạo đức trong xã hội Việt Nam nói riêng Biết phê phánđấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, những hành vi trái đạo đức Biết tự hào

về truyền thống của dân tộc nói chung và truyền thống của đạo đức nói riêng

* Công tác giảng dạy đạo đức cho học sinh phải phù hợp với đặcđiểm tâm sinh lý học sinh THPT

- Lứa tuổi học sinh THPT thường gọi là lứa tuổi đầu tuổi thanhniên Là giai đoạn định hình nhân cách Cuối lứa tuổi này, học sinh đã có đượcmức độ trưởng thành về mặt tư tưởng và tâm lý Những định hướng giá trị đãđược các em đánh giá không chỉ là cảm tính mà đã có sự tham gia của lý trí, trítuệ Mặc dầu chưa có sự chín chắn nhưng cũng không còn quá bồng bột, ngâythơ như học sinh trung học cơ sở

- Đây là thời kỳ hình thành những người công dân trong mỗi conngười là thời kỳ tụ xác định về mặt xã hội, thời kỳ tích cực gia nhập vào cuộcsống xã hội và các em muốn khẳng định bản thân mình

Trang 8

- Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của thông tin hiện đại, họcsinh có cơ hội mở mang kiến thức, thu nhận thông tin đa chiều, nâng cao trình

độ học vấn, nhưng nếu để quá trình này diễn ra một cách tự phát, thiếu hướngdẫn, giáo dục thì các em sẽ có xu hướng coi trọng kỹ thuật, kinh tế, xem thườngnhững giá trị nhân văn truyền thống, thậm chí còn chịu ảnh hưởng của hành viphản văn hoá nhu: bạo lực, kích dục, sống gấp

* Xác lập phương pháp giảng dạy đạo đức cần phải xuất phát từmôi trường xã hội, đặc điểm tình hình chính trị, các vấn đề thời sự trong nước vàtrên thế giới liên quan đến bài giảng

2 Cơ sở thực tiễn

Sách giáo khoa lớp 10 mới đã được đem vào giảng dạy thí điểm ở

một số trường THPT từ năm học 2005 – 2006 và được đưa vào dạy đại trà từnăm học 2006 – 2007 Việc vận dụng PPDH tích cực vào giảng dạy chươngtrình GDCD lớp 10 bước đầu đã thu được một số kết quả đáng ghi nhận:

Thứ nhất, trong các tiết môn GDCD nhiều giáo viên đã cố gắng pháthuy khả năng tự học của học sinh, khả năng tự tìm tòi, nghiên cứu Bằng chứng

là giáo viên đã sử dụng các PPDH tích cực như: Phương pháp động não, phươngpháp dự án, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp tình huống Trong đó,giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, còn học sinh là chủ thểchiếm lĩnh tri thức một cách sáng tạo

Thứ hai, giáo viên GDCD đã có ý thức tự sưu tầm các phương tiện dạyhọc bao gồm: các thông tin tư liệu, các tranh ảnh, bài báo, câu chuyện, tìnhhuống liên quan đến bài học có tên các loại sách, báo, tạp chí, đài phát thanh,đài truyền hình hoặc cơ quan văn hoá

Ngoài ra, giáo viên còn tạo các phương tiện dạy học: Sơ đồ, bảng phụ,bảng biểu, biểu đồ, tranh ảnh, mô hình đơn giản, phiếu học tập, một số đồ dùnggiản đơn để đóng vai Chất liệu để tự tạo phương tiện dạy học cũng rất đa dạng,phong phú

Trang 9

Thứ ba, bên cạnh sử dụng các PPDH tích cực trong các giờ lên lớp một

số giáo viên còn tổ chức các buổi ngoại khoá, giáo dục cho học sinh về an toàngiao thông, bảo vệ môi trường Tạo nên những hình thức dạy học rất đa dạngphù hợp với học sinh lớp 10 Những cố gắng đó đã tạo nên một sinh khí mớitrong giảng dạy và học môn GDCD

Tuy nhiên, trong giờ dạy GDCD lớp 10 còn bộc lộ những hạn chế cụthể:

- Nội dung sách giáo khoa mới nhưng một số giáo viên vẫn chỉ sử dụngphương pháp truyền thống, đặc biệt là phương pháp thuyết trình Trong đó, chủyếu là giáo viên sử dụng phương pháp giảng dạy Về thực chất, PPDH vẫn cứ là

“thầy truyền đạt, trò tiếp nhận, ghi nhớ” Không ít giáo viên giảng bài chỉ là đểhọc sinh biết

- Nhiều giáo viên dạy GDCD lớp 10 đã có ý thức tổ chức các buổi thảoluận Đây là một việc làm cần thiết, tuy nhiên thực tế cho thấy chúng ta chưa cókinh nghiệm tổ chức các buổi thảo luận Trong giờ thảo luận chỉ là giáo viên đặtcâu hỏi học sinh trả lời, chứ chưa phát huy được tính năng động của học sinh.Giáo viên chưa khơi dậy được tính ham học của các em, nhiều em còn rụt rènhút nhát, không dám trả lời

- Nhiều giáo viên dạy GDCD nói chung và giáo viên dạy GDCD lớp 10noi riêng, đã có sáng kiến sưu tầm tranh ảnh trên báo chí phục vụ nội dung bàihọc, Tuy nhiên, giáo viên cũng phải lựa chọn các tranh ảnh sao cho phù hợp kiếnthức môn học, đặc điểm của đối tượng, kinh nghiệm giảng dạy và những điềukiện cụ thể

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do:

Thứ nhất, về phía giáo viên: Từ chỗ không được quan tâm lại bị coi làgiáo viên dạy môn phụ nên giáo viên tỏ ra mặc cảm, không thiết tha, không đầu

tư cho việc dạy Chương trình sách giáo khoa đã được đổi mới nhưng một sốgiáo viên vẫn sử dụng các PPDH truyền thống theo thói quen

Trang 10

Đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD được đào tạo từ nhiều cơ sởkhác nhau Do đó, trình độ chuyên môn không được đồng đều, trình độ nghiệp

vụ sư phạm không hoàn toàn được đảm bảo từ đó chưa có phương pháp giảngdạy tốt

Mặt khác, nhiều giáo viên không biết kết hợp các PPDH truyền thốngvới các PPDH mới nên trong giờ giảng đôi khi giáo viên chỉ sử dụng độc mộcmột phương pháp nên dẫn tới bài giảng nhàm chán, tẻ nhạt, đơn điệu

Giáo viên thiếu một sự chuẩn bị đồng bộ đối với các mắt xích trong mốiquan hệ rât chặt chẽ là: mục tiêu – nội dung – phương pháp, phương tiện giảngdạy Việc cụ thể hoá, quá trình hoá những PPDH tốt để giúp giáo viên tronggiảng dạy chưa làm được bao nhiêu

Thứ hai, về phía học sinh: Trong quá trình học cấp tiểu học, trung học

cơ sở, các em chỉ được học với những giáo viên mà PPDH chủ yếu là phươngpháp truyền thống Bước vào lớp 10 việc làm quen với PPDH tích cực trong giaiđoạn đầu không khỏi làm các em bỡ ngỡ

Thứ ba, về sách giáo khoa: Hiện nay, Bộ giáo dục và đào tạo đã banhành sách giáo khoa GDCD lớp 10 thay cho “tài liệu GDCD lớp 10” trước đây.Với việc thay sách giáo khoa mới, thời gian để giáo viên giảng dạy, học sinh họctập sách giáo khoa mới còn chưa nhiều

Thứ tư, về đội ngũ các nhà nghiên cứu: Phương pháp giảng dạy mônchính trị trước đây và môn GDCD hiện nay chưa hình thành Số nhà nghiên cứuphương pháp dạy bộ môn còn ít Do đó, phương pháp giảng dạy môn GDCDhiện thời vẫn có thể nói là “mảnh đất mới” cần được khai thác Đội ngũ này cầnđược đào tạo bồi dưỡng để có những chuyên gia, những người vừa có tri thứcsâu rộng cả chuyên môn lẫn nghiệp vụ

Nhìn chung, học sinh lớp 10 vừ mới rời nghế nhà trường THCS và bởngỡ khi bước vào cấp THPT nên giáo viên còn gặp nhiều khó khăn Trong khi

đó, PPDH môn GDCD còn nhiều hạn chế Từ việc phân tích những nội dung

Trang 11

thực trạng của việc vận dụng PPDH tích cực vào giảng dạy chương trình GDCDlớp 10 là vô cùng nóng bỏng và cấp thiết

Tổng kết chương I

Như vậy cơ sở lý luận và thực tiễn đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng để giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học tối ưu nhất Điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với giáo viên mà còn có vai trò thiết thực cho học sinh trong quá trình lĩnh hội tri thức Đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội đất nước

CHƯƠNG II: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

TÍCH CỰC

1 Các quan niệm về PPDH tích cực

Trong lịch sử giáo dục thế giới nói chung và giáo dục Việt Nam nóiriêng, tư tưởng nhấn mạnh vai trò của người học, xem người học là chủ thể củaquá trình dạy học đã được hình thành từ rất sớm

Trang 12

Tính tích cực của con người biẻu hiện trong hoạt động “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể ,nghĩa là con người hành động” (If har lamor

1975)

Tính tích cực của học sinh biểu hiện trong những hoạt động khác nhau

và bộc lộ với những đặc riêng: “Tích cực học tập của học sinh là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập của trẻ” (L.vrebro va 1975).

Học tập là một trường hợp riêng của sự nhận thức: “Một sự nhận thức

đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự chỉ đạo của giáo viên”(P.M.Erdoniev).Vì vậy tính tích cực học tập thực chất là tính tích cực của

nhận thức:

Tính tích cực còn thể hiện qua: “ Phương pháp lấy người học làm trung tâm, người học giữ vai trò chủ động, tích cựa trong quá trình học tập và không còn ở thế thụ động như khi dùng phương pháp cổ truyền ”(Nguyễn Kì -

tạp chí nghiên cứu giáo dục số 3/1994)

Trên thế giới, những người được coi là có công lớn đầu tiên cho việc đặtnền móng lấy dạy học làm trung tâm là: C.Rogers h&J.Denoy Các ông cho rằngnhu cầu và lợi ích của người học phải được tôn trọng, do đó người học phảiđược lựa chọn nội dung học, tự mình tìm tòi chân lý

A.komexky - Một nhà giáo dục nổi tiếng của thế kỉ XVII đã tổng kết:

“Giáo dục có mục đích thức năng lực nhảy cảm, phản ánh đúng đắn phát triển nhân cách hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”.

Xung quanh quan điểm lấy học sinh làm trung tâm còn có nhiều ý kiến,nhiều vấn đề tranh cãi Nhiều nhà nghiên cứu công nhận vị trí trung tâm của họcsinh trong nhà trường ngang tầm phát hiện của Copecnich về sự quay của tráiđất quanh mặt trời Nhưng cũng có không ít giáo viên phản ứng đầy tự tin:Chúng tôi là trung tâm chứ không phải học sinh là trung tâm

Trang 13

Nhưng đến nay, phần đông đã đồng tình cho rằng toàn bộ hoạt động củamôn học nhằm phục vụ học sinh học tập tốt, học tính tích cự, sáng tạo nhằmnắm vững nội dung môn học và biệt vận dụng nội dung môn học vào đời sống,

để có định hướng đạo đức xã hội đúng đắn, trở thành người công dân hữu íchcho xã hội

Quá trình dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm thực chất là quátrình dạy của người thầy thành quá trình tự học của học trò, bao gồm chu trình

tự học của trò dưới tác động chu trình dạy của thầy

Xác định người học là trung tâm trong PPDH tích cự không phải là ýmuốn chủ quan của người quản ký giáo dục hoặc của nhà nghiên cứu giáo dục,của thầy giáo và của học sinh mà do tính khách quan của PPDH tích cực, coitrọng chủ thể của dạy học là người học, coi trọng việc tụa học, tựa thân vậnđộng, độc lập suy nghĩ, rèn luyện óc sáng tạo để thực hiện mục đích học tập củamình

Như vậy có thể hiểu PPDH tích cực là PPDH trong đó người học tựmình tìm ra kiến thức, tự học, tự nghiên cứu, bồi dưỡng phát huy năng lực tựhọc sáng tạo của người học, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, nhằmđạt mục tiêu đào tạo con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo, có nănglục tư duy, năng lực biết đặt và giải quyết vấn đề, năng lực tự học sáng tạo

2 Đặc trưng của PPDH tích cực

Hệ thống PPDH tích cực lấy người học làm trung tâm được xemnhư là hệ

phương pháp có thể đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục thời

kì đổi mới theo yêu cầu xã hội và có khả năng định hướng cho việc tổ chức quátrình dạy học kết hợp với quá trình tự học, quá trình kết hợp cá nhân hoá và xãhội hoá việc học Đây chính là phương pháp nhằm phát huy tính tích cực củahọc sinh, sự phát triển tiềm năng trong sáng tạo của các em Hệ phương pháp đó

là sự tổng hợp tích cực của nhiều phương pháp: phương pháp nêu vấn đề,

Trang 14

phương pháp tình huống, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp độngnão và một phần nào đó phương pháp chương trình hoá, hệ thống hoá đó cững

là sự kết hợp tư tưởng và thành tựu giáo dục hiện đại của thế giới với truyềnthống hiếu học, tự học, tôn sư trọng đạo và tư tưởng giáo dục tiến bộ của dântộc

Mô hình trên cho phép rút ra bốn đặc trưng cơ bản của PPDH tích cự lấyngười học làm trung tâm

2.1 Lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập.

Học sinh không phải tiếp thu những tri thức từ bài giảng được chuẩn bịcủa thầy mà tự đặt mình trước các tình huống, vấn đề thực tế, cụ thể và sinhđộng của cuộc sống, từ đó thấy có nhu cầu hay hứng thú phát hiện và giải quyếtnhững vật cản, những mâu thuẫn trong nhận thức của chính mình để tự tạo ra

“cái cần biết”, “cái cần khám phá”, “cái mới” Tự đặt mình vào tình huống của

bài học, người học quan sát, suy nghĩ, tự nghiên cứu tra cứu tìm ra chân lý vớicách giải quyết vấn đề đúng đắn

Hồ Chí Minh từng nói: “Học đi đôi với hành, học mà không hành thì học cũng vô ích Hành mà không học thì hành không trôi chảy”.

Kant, nhà triết học cổ điển Đức cũng nói: “ Suy nghĩ là hành động”.

Cho nên trong giáo dục, giáo viên phải toạ điều kiện để học sinh hãy tự làm việ

và thông qua việc làm của mình mà trưởng thành

2.2 Học sinh tự thể hiện mình và hợp tác với bạn.

Cha ông ta có câu: “ Học thầy không tày học bạn” Học bạn là bước đầu cần thiết cho người học biết học “ Mọi người, mọi nơi, mọi lúc, mọi tri thức và bằng mọi cách” Tức là xã hội hoá việc học.

Nơi diễn ra hoạt động học tập này là lớp học Lớp học là cộng đồng cácchủ thể, là thực tiễn xã hội ngày nay và cả ngày mai của người học ở ngay trongmột nhà trường Lớp học là trung gian của thầy và trò, lớp học không thể nào là

Trang 15

hoạt động cá nhân thuần tuý mà phải là hoạt động hợp tác Kiến thức của cánhân khi đem ra trao đổi với bạn trong lớp sẽ trở nên khoa học Mặt khác, lớphọc cũng là nơi giao tiếp thường xuyên giưa trò – trò, trò – thầy.

Các PPDH như xêmina, thảo luận là những phương pháp có khả nănggiúp các em trao đổi và tranh luận để tìm ra kiến thức Do vậy, học bạn, hợp tácvới bạn, người học mới có thể tự mình nâng lên trình độ mới Quá trình khámphá tri thức mới cũng là quá trình hình thành nhân cách, quá trình tự học cáchsống trong xã hội thông qua vai trò của xã hội – lớp học

Tuy vậy, trong quá trình học tập, học sinh có thể gặp những tình huống,những vấn đề, những câu hỏi mà các em không thể tự mình giải quyết được Lúc

đó thì cần phải có sự hướng dẫn và chỉ đạo của người thầy Cha ông ta đã nói:

“Không thầy đố mày làm nên”

Khách thể tự tìm Thầy tác nhân Trò chủ thể

2.3 Vai trò của người thầy

Về vị trí, vai trò của giáo viên nói chung, từ rất lâu các nhà giáo dục bậc

thầy của thế giới như: Cô-mê-ni-u, Pet-ta-lo-gi cho rằng: “Phần lớn trách nhiệm của giáo viên là những người hướng dẫn có hiệu quả cho học sinh học tập chứ không phải là người truyền thụ những mảnh tri thức chết”.

Trong phương pháp truyền thống, thầy giáo là trung tâm, người học thụđộng nghe lời thầy nói mà nghe không đồng nghĩa với hiểu những tri thức ấy Ýmuốn sáng tạo vươn lên có khả năng bị thui chột Trong PPDH tích cực lấyngười học làm trung tâm các nhà nghiên cứu giáo dục đã xác định giáo viên có

vị trí, vai trò rất quan trọng không thể thiếu được Nhà giáo dục Nhật Bản:

Trang 16

Makiguchi trong cuốn sách “ Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” đã nói: “ Giáo viên không còn là ống dẫn thông tin mà là chất xúc tác của quá trình dẫn thông tin đó kích thích, duy trì, thúc đẩy bớt đi vùa sức với những giải thích, bổ sung, là trợ lực viển khơi không bao giờ làm thay học sinh giáo viên như một

bà đõ giúp cho tiến trình tự thể hiện, đứng kề bên mà không bao giờ đứng giữa lối đi”.

Trước hết, thầy là người hướng dẫn cho học sinh tự tìm ra kiến thứcbằng hoạt động của chính mình Từ đó thầy là người khởi xướng và tổ chức cácmối quan hệ ngang trò – trò cho từng cá nhân người học tự thể hiện mình và hợptác với bạn Thầy kích thích trò hoạt động và tự điều khiển hoat động tập thể,can thiệp đúng lúc cần thiết để cho cuộc tranh luận và hoạt động đi đúng hướnggiúp cho các em tự tìm ra kiến thức một cách khách quan, khoa học, chính xác

Kết luận của thầy là bài học cho người học không phải là bài học có sẵntrong sách giáo khoa mà là bài học tổng kết những gì người học đã tự lực tìm ravới sự hợp tác với bạn, dưới sự hướng dẫn của thầy Kết luận của thầy là sưphạm khoa học của cả trò – lớp – thầy Căn cứ vào kết luận của thầy, người học

tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh làm cơ sở cho thầy thực hiện chức năngkiểm tra, đánh giá việc học của trò

2.4 Đánh giá và tự đánh giá

Trong quá trình tự mình tìm ra kiến thức, học sinh tạo ra những sảnphẩm ban đầu của mình có thể là chưa chính xác, chư khoa học Sau khi trao đổihợp tác với bạn, học sinh tự điều chỉnh hoạt động của mình cho khách quan hợn.Với kết kuận cuối cùng của thầy, sản phẩm đó trở thành khách quan, khoa học.Căn cứ vào kết luận của thầy, học sinh tự kiểm tra, đánh giá, tự sửa chữa nhữngsai sót mắc phải trong sản phẩm đó, tự rút ra kinh nghiệm vè cách học, cách xử

lý tình huống, cách giải quyết vấn đề của mình

Như vậy, những đặc trưng của PPDH tích cực lấy người học làmtrung tâm như trên cho thấy PPDH tích cực có rất nhiều ưu điểm và nó sẽ góp

Trang 17

phần khắc phục được những hạn chế của PPDH truyền thống Theo cố vấn Phạm

Văn Đồng: “Phương pháp này cực kì quý báu, bởi lẽ nó giúp cho người học khi

ra đời vẫn tiếp tục học tập” (Báo nhân dân ngày 18/11/1994).

Như vậy để vận dụng tốt những PPDH này vào quá trình giảng dạymôn GDCD đòi hỏi giáo viên phải nắm được nhưng yêu cầu cơ bản

3 Các phương pháp dạy học tích cực.

Bàn về PPDH tích cực, nhà giáo Trần Hồng Quân trong cuốn

“Nghiên cứu giáo dục số 1/1995” có viết: “Muốn đào tạo được con người khi vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển kĩ năng nghỉ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo ngay trong lao động và học tập ở nhà trường Phương pháp nói trên trong khoa học giáo dục thuộc về hệ thống các phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm” Đó là hệ thống

các PPDH sau:

3.1 Phương pháp vấn đáp

Là PPDH mà trong đó việc truyền thụ và lĩnh hội kiến thức mới củagiáo viên và học sinh qua hệ thống các câu hỏi trả lời những yêu cầu gợi ý dogiáo viên đưa ra Nói các khác,đó là phương pháp trong đó giáo viên đặt ranhững câu hỏi để học sinh trả lời, hoăc để học sinh có thể trang luận với nhau

và cả với giáo viên Phương pháp vấn đáp gồm:

- Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ yêu cầu họcsinh nhớ lại kiến thức đã biết và đòi hỏi dụa vao trí nhớ,không cần suy luận

- Vấn đáp giải thích, minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ mộtvấn đề nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi, những ví dụ minh hoạ đểhọc sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợcủa các phương tiện nghe nhìn

- Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng một hệ thống các câu hỏi đãđược sắp xếp hợp lí để hướng dẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của

Trang 18

sự vật, tính quy luật của hịên tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham hiểu biết,giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến, kể cả tranh luận giữa giáo viên và học sinh cảlớp, có khi giữa trò và trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định.

3.2 Phương pháp động não

Là phương pháp giáo dục học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Phương pháp động não có thể tiến hành theo các bước sau:

- Giáo viên nêu câu hỏi, nêu các vấn đề cần tìm hiểu trước cả lớphoặc trước

* Để vận dụng phương pháp động não, giáo viên cần lưu ý:

- Phương pháp động não có thể dùng để lí giải nhiều vấn đề, songđặc biệt phù

hợp với các vấn đề ít nhiều quen thuộc trong cuộc sống của học sinh

- Các ý kiến phát biểu nên ngắn gọn

-Tất cả các ý kiến đều được giáo viên hoan nghênh

- Giáo viên cần có sự đánh giá đối với các ý kiến (đúng, sai )

Trang 19

3.3 Phương pháp thảo luận nhóm

Thực chất của phương pháp này là để học sinh bàn bạc trong nhómnhỏ.Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi học sinh thamgia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia

sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến nộidung bài học

Thảo luận nhóm có thể tiến hành theo các bước sau:

- Giáo viên nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, nêu câu hỏi thảo luận

và phân công vị trí thảo luận cho từng nhóm

- Các nhóm tiến hành thảo luận

- Đại diện từng nhóm trình bày kêt quả thảo luận nhóm Các nhómkhác nghe chất vấn, trao đổi, bổ sung ý kiến

- Giáo viên tổng hợp ý kiến

* Để tổ chức học sinh thảo luận nhóm thành công ,giáo viên chú ý:

- Có nhiều cách chia nhóm, có thể theo số điểm danh hoặc theo vịtrí ngồi

- Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ, tuỳ theo vấn đề thảo luận

- Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau

- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và trình bày kết quả thảo luậncho các nhóm

- Sẽ thuận lợi hơn nếu mỗi nhóm chọn ra nhóm trưởng

- Kết quả thảo luận có thể được trình bày dưới nhiều hình thức:Bằng lời, đóng vai, viết hoặc vẽ lên giấy khổ to có thể do một người thay mặtnhóm trình bày, mỗi người một đoạn nối tiếp nhau

Trong suốt thời gian thảo luận giáo viên cần đi vòng quanh cácnhóm và lắng nghe ý kiến của học sinh

3.4 Phương pháp đóng vai

Trang 20

Là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số cách ứng

xử nào đó trong một tình huống giả định

Ưu điểm:

- Học sinh được rèn luyện, thực hành kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái

độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

- Gây hứng thú cho học sinh

- Tạo điều kiện nảy sinh óc sáng tạo

- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mựchành vi đạo đức

Cách tiến hành:

- Giáo viên chia nhóm ,giao tình huống đóng vai và quy định thờigian chuẩn bị đóng vai

- Các nhóm chuẩn bị và đóng vai

- Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai

- Lớp nhận xét cách ứng xử của vai diễn

- Giáo viên kết luận

* Một số vấn đề cần lưu ý:

- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợpvới trình độ học sinh, điều kiện, hoàn cảnh của lớp học

- Tình huống để mở không cho trước lời thoại, kịch bản

- Phải dành thời gian thích hợp cho việc học tập, đóng vai

- Kích thích, khích lệ những học sinh nhút nhát tham gia đóng vai

- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản

Trang 21

3.5 Phương pháp tình huống (phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình)

Là PPDH trong đó học sinh tự lực nghiên cứu một tình huống vàgiải quyết tình huống đặt ra

Nhược điểm:

- Không thực sự tạo ra kinh nghiệm trong thực tiễn

- Đòi hỏi nhiều thời gian

- Không thích hợp với truyền thụ tri thức hệ thống

- Đòi hỏi người trưởng nhóm phải có kinh nghiệm

- Dễ có tình trạng quá nhấn mạnh việc đưa ra quyết định ma khôngchú ý đày đủ đến thu nhận thông tin và phân tích cơ sở của quyết định

Cách tiến hành:

- Đọc,xem, nghe tình huống thực tế

- Suy nghĩ

- Nêu ra một hay nhiều câu hỏi liên quan đến tình huống

- Thảo luận tình huống thực tế

Ngày đăng: 18/08/2021, 20:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đức Huy - “Cố vấn Phạm Văn Đồng với trường cán bộ quản lý GD và ĐT”. Báo giáo dục và thời đại chủ nhật số 42 ngày 20/10/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cố vấn Phạm Văn Đồng vớitrường cán bộ quản lý GD và ĐT”
2. Đỗ Ngọc Đạt - “Bài giảng lý luận dạy học hiện đại”. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bài giảng lý luận dạy học hiện đại”
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội 2000
3. Gs - Trần Bá Hoành “Bàn tiếp về dạy học lấy học sinh làm trung tâm”.Báo nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn tiếp về dạy học lấy học sinh làm trungtâm”
4. Nguyễn Duy Dân - “Đổi mới phương pháp dạy học môn đạo đức và GDCD”. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới phương pháp dạy học môn đạo đức vàGDCD”
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Nguyễn Thị Lan Anh – “Thực trạng của phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT, những vấn đề đặt ra cần giải quyết”. Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng của phương pháp dạy học mônGDCD ở trường THPT, những vấn đề đặt ra cần giải quyết”
6. PGS.Nguyễn Hữu Chi. “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”. Viện khoa học GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”
7. PTS.Vương Tất Đạt - Phùng Văn Bộ - Nguyễn Thị Kim Thu - Lê Văn Thức... “Phương pháp giảng dạy GDCD”.Trường ĐHSP Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp giảng dạy GDCD”
8. Phùng Văn Bộ - “Lý luận dạy học môn GDCD”. Nxb ĐH Quốc Gia Hà Nội năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lý luận dạy học môn GDCD”
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc GiaHà Nội năm 1999
9. Phùng Văn Bộ –Trương Bích Châu - “Bài tập tình huống GDCD10” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bài tập tình huống GDCD10
11. Sinh viên Lê Thị Huệ - “Vấn đề sử dụng các PPDH tích cực vào giảng dạy môn GDCD ở trường THPT”. Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề sử dụng các PPDH tích cực vàogiảng dạy môn GDCD ở trường THPT”

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w