Cơ sở lý luậnTrong những ngành công nghiệp sản xuất thuộc nền kinh tế phát triển, hiệu ứng “phân cực việc làm” đã tạo ra nỗi lo sợ về giảm việc làm đối với một số ngành nghề và bất bình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
TÊN CHỦ ĐỀ: HIỆN TƯỢNG PHÂN CỰC VIỆC LÀM
TẠI VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Tô Nguyễn Phương Anh
CHẤM ĐIỂM
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 Cơ sở lý luận ………4
1.1 Phân cực việc làm là gì? ……… 4
1.2 Phân loại việc làm ở Việt Nam ……… 4
2 Hiện tượng phân cực việc làm ở Việt Nam………5
3 Nguyên nhân ở Việt Nam ……… 8
4 Giải pháp ………12
5 Kết luận ……… 13
PHỤ LỤC ……… 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………17
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU Hình 1 Tỷ trọng các nhóm việc làm tại Việt Nam giai đoạn
2009-2015 ………15 Hình 2 Tỷ trọng lao động có việc làm chia theo khu vực kinh tế,
2015-2019 ………
….15
Hình 3 Tỷ trọng lao động theo nghề, 2018-2019 ……… 16 Hình 4 Thu nhập bình quân của lao động làm công hưởng lương theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, giai đoạn 2017-2019 ………16 Hình 5 Thu nhập bình quân tháng người lao động theo khu vực kinh tế, quý I năm 2020 và 2021 ……… 17
Trang 41 Cơ sở lý luận
Trong những ngành công nghiệp sản xuất thuộc nền kinh tế phát triển, hiệu ứng
“phân cực việc làm” đã tạo ra nỗi lo sợ về giảm việc làm đối với một số ngành nghề và bất bình đẳng gia tăng PCVL gây ra những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến nền kinh tế Hiện tượng này đẩy mức lương của lao động kỹ năng cao tăng mạnh, trong khi đó mức lương của lao động kỹ năng thấp và trung bình tăng không đáng kể, từ đó làm tăng tình trãng bất bình đẳng lương PCVL còn gây nên tình trạng bất cân xứng kỹ năng lao động, dẫn đến khả năng tăng tỷ lệ thất nghiệp và giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
1.1 Phân cực việc làm là gì?
“Phân cực việc làm” (PCVL) mô tả xu hướn tăng cầu lao động có tay nghề cao với mức lương cao hơn (như các nhà quản lý, chuyên gia và nhân viên kỹ thuật) và các ngành nghề đòi hỏi tay nghề thấp với mức lương thấp (như nhân viên bán hàng, lao động đơn giản, dịch vụ) Đồng thời, cầu việc làm yêu cầu tay nghề bậc trung với mức thu nhập trung bình giảm đi (như thư ký, cán bộ kế hoạch, công nhân vận hành máy) Sự phân bố việc làm theo hình chữ U này thường phổ biến trong thị trường lao động ở các nền kinh tế phát triển (trong đó có Hoa Kỳ và Tây Âu) đang
bị phân cực
1.2 Phân loại việc làm ở Việt Nam
việc làm
năng
Yêu cầu trình độ
1
Việc làm
kỹ năng
Nhà lãnh đạo
Các nhà chuyên môn bậc cao
3,4
4
- Sau đại học
- Đại học
- Cao đẳng
- Sau đại học
Trang 5* Định nghĩa về từng loại nghề nghiệp theo quy định của Bộ Lao động
-Thương binh và xã hội Nguồn ILO (2012,2015)
2 Hiện tượng phân cực việc làm ở Việt Nam
Bức tranh chung về phân cực việc làm tại Việt Nam
Trong giai đoạn 2009-2015, tại Việt Nam, nhóm việc làm kỹ năng trung bình
chiếm vai trò chủ đạo Khoảng 50%/ năm; sau đó đến việc làm kỹ năng thấp với khoảng 40%/năm và cuối cùng là việc làm kỹ năng cao chiếm tỷ lệ nhỏ (khoảng 10%/năm) (Hình 1)
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, tỷ trọng nhóm việc làm kỹ năng cao vững chắc, tỷ trọng nhóm việc làm kỹ năng trung bình có xu hướng giảm đều đặn, tỷ trọng nhóm việc làm kỹ năng thấp tuy không ổn định nhưng có xu hướng tăng nhẹ Đáng lưu ý
là tốc độ thay đổi tỷ trọng của ba nhóm việc làm tại Việt Nam khá tương đương với
cao
Các nhà chuyên môn bậc trung 3
- Đại học
- Cao đẳng
- Trung cấp
kỹ năng
trung
bình
Nhân viên trong các lĩnh vực Nhân viên dịch vụ và bán hàng Lao động có kỹ năng trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Thợ thủ công và các nghề nghiệp khác có liên quan
Thợ lắp ráp và vận hành máy móc thiết bị
2 2 2
2
2
- Trung học cơ sở
- Trung học phổ thông
- Sở cấp; Chứng chỉ nghề
kỹ năng
thấp
tạo chuyên môn
Trang 6sự thay đổi trong cơ cấu việc làm tại Mỹ đầu những năm 1980 Như vậy, hiện
tượng phân cực việc làm đã có dấu hiệu xuất hiện tại Việt Nam
Lao động trình độ cao ở Việt Nam bắt đầu tăng rõ rệt qua các mạnh cũng thể hiện
sự chuyển mình sang nền kinh tế tiến tiến hiện đại, nhu cầu lực lượng lao động với chuyên môn, trình độ cao ngày càng thiết yếu
Thực trạng lao động của Việt Nam qua các năm
Tốc độ chuyển dịch lao động từ khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản sang các khu vực kinh tế khác đạt mức cao nhất trong vòng 5 năm qua Ước tính năm 2019, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong khu vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
là gần 19,0 triệu người, chiếm 34,7% (giảm 3,0 điểm phần trăm so với năm trước); khu vực Công nghiệp và Xây dựng là 16,1 triệu người, chiếm 29,4% (tăng 2,7 điểm phần trăm so với năm trước); khu vực Dịch vụ đạt gần 19,6 triệu người, chiếm tỷ trọng cao nhất 35,9% (tăng 0,3 điểm phần trăm so với năm trước), cao hơn lao động trong khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản Đây cũng là giai đoạn Việt Nam đang ngày càng thúc đẩy thực hiện mạnh mẽ cách mạng công nghiệp 4.0 để đưa nền kinh tế Việt Nam ngày càng lớn mạnh và bắt kịp với nền kinh tế không bao giờ nghỉ của thế giới (Hình 2)
Cơ cấu nghề có sự chuyển dịch song song với chuyển dịch cơ cấu ngành Tỷ lệ lao động giản đơn và lao động có kỹ năng trong Nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm so
Trang 7với năm 2018 (tương ứng là 34,6%, giảm 1 điểm phần trăm và 7,5%, giảm 2 điểm phần trăm); nhóm Lãnh đạo/nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao và bậc trung, nhóm thợ thủ công và thợ kỹ thuật tăng mạnh so với năm 2018 (tương ứng là 12,5%, tăng 0,8 điểm phần trăm và 25,7%, tăng 12,4 điểm phần trăm)
Bất bình đẳng thu nhập
Phân cực việc làm theo kỹ năng cũng gây ra tình trạng bất bình đẳng thu nhập dựa theo trình độ chuyên môn kỹ thuật và các nhóm ngành nghề đòi hỏi kỹ năng làm việc cao, trung bình, thấp rõ rệt qua các năm
Thu nhập bình quân tháng từ công việc của người lao động năm 2019 đạt 5,6 triệu đồng, tăng 799 nghìn đồng so với năm trước Thu nhập bình quân của lao động nam cao hơn lao động nữ 1,4 lần (tương ứng 6,5 triệu đồng và 4,6 triệu đồng); thu nhập bình quân của lao động thành thị cao hơn thu nhập của lao động nông thôn 1,6 lần (tương ứng là 7,5 triệu đồng và 4,7 triệu đồng)
Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương trong năm 2019 ước đạt 6,7 triệu đồng, tăng hơn 866 nghìn đồng so với năm trước Thu nhập bình quân của lao động nam cao hơn lao động nữ 1,1 lần (tương ứng 7,1 triệu đồng và 6,3 triệu đồng); thu nhập bình quân của lao động thành thị cao hơn lao động nông thôn 1,3 lần (tương ứng là 7,8 triệu đồng và 5,9 triệu đồng)
Thu nhập của lao động làm công hưởng lương đều tăng ở tất cả trình độ và tăng cao hơn ở nhóm có trình độ chuyên môn kỹ thuật Lao động có trình độ cao thì mức thu nhập cao hơn Năm 2019, thu nhập của lao động có trình độ đại học là 9,3 triệu đồng, cao gấp 1,6 lần thu nhập của lao động không có chuyên môn kỹ thuật (5,8 triệu đồng)
Thu nhập bình quân tháng của người lao động quý I năm 2021 đạt 6,3 triệu đồng, tăng 339 nghìn đồng so với quý trước và tăng 106 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước Thu nhập bình quân tháng của lao động nam cao hơn 1,4 lần của lao động nữ (tương ứng 7,3 triệu đồng so với 5,2 triệu đồng); thu nhập bình quân lao động khu vực thành thị cao hơn 1,5 lần lao động khu vực nông thôn (tương ứng 7,9 triệu
Trang 8đồng so với 5,4 triệu đồng).Tính chung quý I năm 2021 so với cùng kỳ năm trước, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ghi nhận tốc độ tăng thu nhập bình quân cao nhất, tăng 5,2%; khu vực dịch vụ có tốc độ tăng là 1,5% và khu vực công nghiệp và xây dựng có tốc độ tăng thu nhập bình quân thấp nhất, tăng 0,8%
3 Nguyên nhân
Các nghiên cứu thực nghiệm, điển hình của Goos và Manning (2007), Autor và cộng sự (2006), Abel và Deitz (2012), Sparreboom và Tarvid (2016) đều chỉ ra hai nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng phân cực việc làm ở các nước trên thế giới,
đó là sự tiến bộ của khoa học công nghệ (KHCN) và toàn cầu hóa nền kinh tế
Sự tiến bộ của khoa học công nghệ (cách mạng công nghiệp 4.0 - CMCN 4.0)
Nhà nước luôn tạo môi trường thuận lợi cho phát triển KHCN qua việc đẩy mạnh hoạt động của các Quỹ, hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, tập trung triển khai các chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước, các dự án quy mô lớn và 13 dự án hỗ trợ phát triển ngành cơ khí trong nước, mang lại hiệu quả thiết thực đối với ngành cơ khí chế tạo và công nghiệp hỗ trỡ, góp phần nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo dây chuyền đồng bộ ngành cơ khí Tiềm lực KHCN quốc gia được củng cố, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế
-xã hội vùng và địa phương, gắn với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KHCN trong nhiều giai đoạn Nhiều doanh nghiệp lớn, tập đoàn lớn của Việt Nam như Viettel, VNPT, VinGroup, TH, Thaco… đang chuyển hướng chiến lược, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển công nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo
Sự phát triển và ra đời nhanh chóng của các thiết bị điện tử, các dây chuyền công nghệ tiên tiến, robot, Al, dữ liệu thu nhập lớn từ Big Data cùng với sự lớn mạnh và phổ biến ngày càng rộng rãi của các dịch vụ qua Internet đã thay thế và làm giảm đi phần lớn các việc làm kỹ năng trung bình ở Việt Nam Các ngân hàng ở Việt Nam ngày càng phát triển các dịch vụ tiện ích online, từ đó dần thay thế các dịch vụ ngân hàng truyền thống cần nhiều nhân viên Điển hình như hệ thống VTM
Trang 9(LiveBank) của TPBank đang đầu tư còn đứng đầu thế giới Với việc áp dụng Al vào hệ thống LiveBank không cần bất cứ giấy tờ nào vẫn có thể nhận diện chính xác từng người trong số hàng triệu khách hàng chỉ trong 3 giây, nhả thẻ sau 5 phút khách hàng làm thủ tục mở thẻ - đây cũng là ví dụ điện hình cho thấy, Al đã làm thay đổi chóng mặt sản phẩm, dịch vụ ngân, phá vỡ mọi quy tắc của ngân hàng truyền thống nói riêng và các dịch vụ hiện đại mới của của các lĩnh vực ngành nghề khác nói chung
Với sự phát triển mạnh mẽ của KHCN và sự thúc đẩy tiến hành CMCN 4.0 để cải thiện nền kinh tế nước nhà cũng như hòa nhập thị trường quốc tế bằng những ứng dụng công nghệ hiện đại như công nghệ in 3D, robot công nghiệp, Internet vạn vật, thiết kế đồ họa trên máy tính, điện toán đám mây, Al, VR, Big Data,… đã làm nhanh quá trình tạo ra sản phẩm chất lượng phù hợp với yêu cầu và bắt kịp xu hướng của thị trường trong thời gian ngắn nhất.Việc áp dụng những thành tựu mới của KHCN trở nên cấp thiết để nắm bắt xu hướng và hội nhập thế giới do đó dẫn đến sự cắt giảm nhân lực không cần thiết là điều không thể tránh khỏi
Trong khi đó, CMCN 4.0 lại làm gia tăng việc làm mới với yêu cầu kỹ năng cao
Sự phát triển của các dịch vụ qua Internet, các dây chuyền công nghệ đã làm gia tăng nhu cầu về kỹ sư máy tính, chuyên gia bảo trì, an ninh và phát triển hệ thống công nghệ có kỹ năng cao Các ngành nghề liên quan đến Al, VR hay chuyên gia Big Data, điện toán đám mây, Digital marketing, phát triển mạng internet, công nghệ sinh học,… ngày càng cần một lượng lớn người lao động có năng lực cao
Toàn cầu hóa kinh tế
Trang 10Việt Nam là một trong những quốc gia hội nhập mạnh mẽ vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế, tích cực tham giả các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương trên thế giới Đi kèm với những nỗ lực tự do hóa thương mại và đầu tư, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam không ngừng gia tăng vào những năm gần đây, bất chấp nhưng khó khăn và bất ổn của nền kinh tế toàn cầu
Sự gia tăng của dòng vốn FDI đã góp phần thay đổi cơ cấu việc làm ở Việt Nam Khi các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam, ngoài các nguồn tài chính, họ còn mang theo kỹ thuật, công nghệ và các nhà lãnh đạo cấp cao từ công ty mẹ Trong lĩnh vực dịch vụ, nguồn vốn FDI tập trung vào các ngành như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đặc biệt là dịch vụ chuyên môn, dịch vụ KHCN - các ngành chiếm lượng lớn việc làm kỹ năng cao Điều đó góp phần làm cho việc làm kỹ năng cao tại VN tăng lên Trong lĩnh vực sản xuất, dòng vốn FDI tập trung vào ngành công nghiệp chế biến - chế tạo, trong đó chủ yếu là ngành thiết bị điện, điện tử, da giày, dệt may Đây là nguyên nhân làm tăng việc làm kỹ năng trung bình tại VN Tuy nhiên với sự thúc đẩy của CMCN 4.0 áp dụng các dây chuyền, máy móc, tự động hóa tiên tiến vào sản xuất thay thế cho con người ở các ngành này ở VN Chính hai tác động trên dẫn đến hiện tượng việc làm kỹ năng trung bình của VN có xu hướng giảm
Một trong những khía cạnh khác của toàn cầu hóa kinh tế là thúc đẩy thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và thế giới Trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh và tính kinh tế của quy mô, VN đã chuyên môn hóa xuất khẩu 5 nhóm hàng công nghiệp thâm dụng lao động gồm: điện thoại, hàng dệt may, máy vi tính và sản phẩm điện
tử, giày dép, máy móc thiết bị phụ tùng Các nhóm hàng trên chiếm đến gần 80% kim ngạch xuất khẩu của VN trong hai năm 2015 và 2016 Năm 2017, tỷ lệ thương mại so với GDP VN đạt tới hơn 200% Đây là con số cao nhất trong nhóm những nước có trên 50 triệu dân trong khảo sát của World Bank tính từ năm 1960 Trong nhóm 20 quốc gia đông dân nhất thế giới, Việt Nam đã vượt hẳn so với quốc gia
Trang 11đứng vị trí thứ hai là Thái Lan với 122% Điều đó cũng làm dịch chuyển lao động của VN từ nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo, làm giảm một bộ phận việc làm
kỹ năng trung bình trong lĩnh vực nông nghiệp Trong thương mại dịch vụ, với những nỗ lực hội nhập của VN, các hoạt động tạo điều kiện cho sự di chuyển thể nhân, đặc biệt là tự do di chuyển lao động có tay nghề giữa Việt Nam và các nước ASEAN theo các hiệp định công nhận lẫn nhau đã được đẩy mạnh Đây cũng là một yếu tố quan trọng gia tăng lao động có trình độ chuyên môn cao vào VN
Ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19
Đại dịch Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 1 năm 2020 đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lao động và việc làm trong các ngành và tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trong đó, ảnh hưởng rõ rệt nhất vào quý II năm 2020 khi tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng xuất hiện và đặc biệt là việc áp dụng các quy định về giãn cách xã hội được thực hiện triệt để trong tháng 4 năm 2020 Tính đến tháng 9 năm 2020, cả nước có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19, trong
đó gồm người bị mất việc làm, người phải nghỉ giãn việc/nghỉ việc luân phiên, bị giảm giờ làm hay giảm thu nhập… Có tới 68,9% người lao động bị giảm thu nhập (ở mức nhẹ), số người bị giảm giờ làm/nghỉ giãn cách/nghỉ luân phiên chiếm tới 40% người tham gia lao động, và số người buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng sản xuất kinh doanh chiếm tới 14% (Tổng cục Thống kê, 2020a) Trong các khu vực kinh tế thì khu vực dịch vụ là chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 68,9% số lao động trong khu vực này bị ảnh hưởng Ngoài ra trong các khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng bị ảnh
hưởng với 66,4% và 27% (TCTK, 2020a)
Do ảnh hưởng từ đại dịch Covid nhiều kinh doanh nhỏ lẻ phá sản làm tỉ lệ thất nghiệp tăng cao nhất là đối với những lao động có kỹ năng trung bình Và cũng do đại dịch Covid đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các sàn thương mại điện tử ở Việt Nam cùng với dịch vụ giao hàng tận nhà ngày càng được phổ biến rộng rãi để
Trang 12tránh tình trạng lây lan dịch bệnh, hỗ trợ kiểm soát dịch ở nước ta một cách nhanh chóng và triệt để hơn Bên cạnh đó việc mọc lên như nấm các siêu thị, cửa hàng tiện lợi đã có ảnh hưởng đến và dần thay thế chợ cũng như các cửa hàng tạp hóa bán lẻ thông thường của VN Nhiều công việc online ra đời ngày càng nhiều và trở nên phổ biến đối với người dân hơn như gia sư online thay thế cho việc đến các lớp học thêm hay gia sư tại nhà, bác sĩ online có thể giúp đưa ra những lời khuyên, biện pháp nhanh chóng cho những trường hợp không quá cấp bách cần phải đến bệnh viện trong mùa dịch khó đảm bảo an toàn,…
4 Giải pháp
Chỉ có hai giải pháp để giải quyết vấn đề này Một là cố gắng làm chậm cuộc CMCN 4.0, đó sẽ là một công thức cho sự suy giảm kinh tế, hoặc giúp mọi người thích nghi, điều này sẽ truyền bá lợi ích của cuộc cách mạng một cách công bằng hơn
Thứ hai là con đường đi đúng đắn Tấm bằng đại học cùng với những trải nghiệm thực tế từ các hoạt động xung quanh nhà trường là chiếc bảo hiểm đảm bảo cho việc ít có khả năng thất nghiệp trong tương lai
Trong những năm gần đây, nhu cầu đối với sinh viên tốt nghiệp đại học đã tăng nhanh so với nguồn cung Việc có thêm nhiều người học đại học sẽ thu hẹp khoảng cách và trang bị cho nhiều nhân công hơn cho các nhiệm vụ đòi hỏi tài năng của con người Đảm bảo những người bắt đầu hoàn thành đại học với một tấm bằng ít nhất cũng quan trọng như việc kiếm được nhiều hơn để bắt đầu học đại học ngay từ đầu
Để cải thiện tỷ lệ hoàn thành, các trường trung học phải làm tốt hơn nữa việc chuẩn
bị cho học sinh vào giáo dục đại học Thói quen làm việc tốt và khả năng đọc thành thạo và toán cơ bản là những yếu tố cần thiết để có được kinh nghiệm thành công ở trường đại học Tổ chức nhiều chương trình hướng nghiệp cũng như nhiều cơ hội thử sức ở các lĩnh vực và trải nghiệm tính chất của những công việc khác nhau