1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ đảng bộ tỉnh cao bằng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 2010 đến năm 2019

106 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thực hiện được nhiệm vụ đó thì cần có sự quan tâm, sát sao trong công tác chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đối với sự nghiệp giáo dục phổ thông, đó là yếu tố quyết định để đưa giáo d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

ĐOÀN THỊ HẰNG

ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN, NĂM 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐOÀN THỊ YẾN

THÁI NGUYÊN, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này do chính tôi thực hiện dưới

sự hướng dẫn khoa học của TS Đoàn Thị Yến Các tài liệu, số liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Thái Nguyên, ngày 31 tháng 7 năm 2020

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

3.1 Mục đích nghiên cứu 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4.1 Đối tượng nghiên cứu 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6

5.1 Cơ sở lý luận 6

5.2 Nguồn tài liệu 6

5.3 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Những đóng góp của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 8

1.1 Những yếu tố tác động đến giáo dục phổ thông của tỉnh Cao Bằng và chủ trương của Đảng bộ 8

1.1.1 Những yếu tố tác động 8

1.1.2 Chủ trương của Đảng về giáo dục phổ thông 13

1.2 Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông giai đoạn 2010-2015 19

1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng 19

1.2.2 Chỉ đạo thực hiện 26

Trang 5

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2015 ĐẾN NĂM 2019 37 2.1 Yêu cầu mới đối với sự nghiệp GDPT và những chủ trương mới của Đảng bộ 37

2.1.1 Những yêu cầu mới 37

2.1.2 Chủ trương mới của Đảng bộ đối với sự nghiệp giáo dục phổ thông 41

2.2 Chỉ đạo hiện thực hóa chủ trương của Đảng bộ 45

2.2.1 Chỉ đạo xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa 45

2.2.2 Chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện hệ thống trường lớp theo hướng đa dạng hóa, chuẩn hóa và xã hội hóa 49

2.2.3 Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học theo hướng hiện đại 52

2.2.4 Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện 55

Tiểu kết chương 2 60

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 62

3.1 Nhận xét 62

3.1.1 Ưu điểm 62

3.1.2 Hạn chế 68

3.2 Một số kinh nghiệm 72

3.2.1 Vận dụng chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng, Nhà nước phù hợp với địa phương 72

3.2.2 Quan tâm phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn trong tỉnh 74

3.2.3 Quán triệt sâu rộng quan điểm giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội 76

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC 95

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số lượng giáo viên phổ thông (2010 -2015) 28 Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng giáo viên đạt chuẩn năm học 2018 - 2019 47 Bảng 2.2 Tỷ lệ thi học sinh giỏi quốc gia từ năm 2014 đến năm 2019 59

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội

CNTT : Công nghệ thông tin

GD - ĐT : Giáo dục và Đào tạo GDPT : Giáo dục phổ thông GDTX : Giáo dục thường xuyên HĐND : Hội đồng nhân dân

KT - XH : Kinh tế - xã hội THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nhận thức rõ vị trí, vai trò của giáo dục & đào tạo đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, nên ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm xây dựng và phát triển đến nền giáo dục nước nhà Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng đã kịp thời đề ra những chủ trương, nghị quyết đúng đắn để lãnh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục & đào tạo

Sau hơn 3psp0 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một nước nghèo Các chỉ số về kết cấu hạ tầng, phát triển con người vẫn ở mức thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn nhiều hạn chế và chưa đồng bộ Trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

Văn kiện Đại hội XII khẳng định, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Đồng thời, Đảng khẳng định: Giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ là đầu tư cho phát triển Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học,

Trang 9

công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn Đây là tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”

Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm nhiều cấp học: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục dạy nghề, giáo dục cao đẳng, đại học… Các cấp học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và là một thể thống nhất trong hệ thống giáo dục, tạo nên dòng chảy liên tục có chủ đích cho quá trình phát triển của con người Trong đó, giáo dục phổ thông có vị trí hết sức quan trọng, là chiếc cầu nối cơ bản, là cấp học mang tính nền tảng của hệ thống giáo dục quốc gia Điều 27 trong Luật Giáo dục năm 2005 quy định: “mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Viêt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Vì vậy, trong chiến lược phát triển giáo dục phát triển nguồn nhân lực của quốc gia, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu là chăm lo đầu tư, phát triển cấp học phổ thông

Nghiên cứu quá trình lãnh đạo công tác giáo dục phổ thông của Đảng cũng như ở Đảng bộ các địa phương là một việc làm cần thiết Qua đó, làm rõ những chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển giáo dục phổ thông cũng như việc vận dụng đường lối của Đảng vào thực tiễn tại địa phương Từ đó, rút

ra những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo công tác giáo dục phổ thông của Đảng trong cả nước nói chung và ở các địa phương nói riêng

Là một tỉnh đang trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH nên phát triển giáo dục - đào tạo của tỉnh Cao Bằng nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng là giải pháp then chốt để nâng cao năng suất lao động Cùng với nhiệm vụ chung của cả nước, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng xác định nhiệm vụ trọng tâm là: “Muốn phát triển kinh tế xã hội với tốc độ cao, đuổi kịp các tỉnh bạn và hội nhập quốc

Trang 10

tế thì Cao Bằng phải khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, trong đó nguồn nhân lực con người đóng vai trò quyết định”[26, tr.34-35] Để thực hiện được nhiệm vụ đó thì cần có sự quan tâm, sát sao trong công tác chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đối với sự nghiệp giáo dục phổ thông, đó là yếu tố quyết định để đưa giáo dục Cao Bằng phát triển

Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng về công tác giáo dục

phổ thông từ năm 2010 đến năm 2019 là việc cần thiết Qua đó, khẳng định

những kết quả, chỉ ra những hạn chế, bước đầu đúc kết những kinh nghiệm của thực tiễn phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng từ năm 2010 đến năm 2019

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh Cao

Bằng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 2010 đến năm 2019” làm

đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Phát triển giáo dục - đào tạo nói chung và phát triển giáo dục phổ thông nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương cũng như của cả nước Đây là vấn đề nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Đã có nhiều công trình nghiên cứu về GD&ĐT nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng ở nhiều góc độ khác nhau Có thể chia thành các nhóm công trình theo các nội dung sau:

- Nhóm công trình nghiên cứu về giáo dục nói chung

“35 năm phát triển giáo dục phổ thông” của tác giả Võ Thuần Nho;

“Những bài nói và viết về giáo dục” của tác giả Nguyễn Văn Huyên; “Sơ thảo

về giáo dục Việt Nam (1945 - 1990)” của tác giả Phạm Minh Hạc; “ Phát triển Giáo dục - Phát triển con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Phạm Minh Hạc; “ Tri thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước” của Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười; “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam” của tác giả Bùi Mạnh Nhị; “Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” của tác giả Trần

Quốc Toản… Đây là những tác phẩm thể hiện quan điểm chung, nhận định

Trang 11

chung nhất về nền giáo dục Việt Nam, trong đó có đề cập đến GDPT với tư cách

là một bậc học cần có nhiều sự quan tâm để đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh

tế xã hội

Nhóm công trình nghiên cứu về giáo dục phổ thông

Những bài viết đưa ra những nhận định về những thành tựu và hạn chế của GD - ĐT Việt Nam trong những năm thực hiện đổi mới, chỉ ra nguyên nhân

và đưa ra những kiến nghị, để giáo dục nói chung và GDPT nói riêng thực sự trở thành “quốc sách hàng đầu” là những vấn đề được đề cập đến trong các bài viết:

“Đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo của nước nhà” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; “Cải cách giáo dục từ khâu đột phá nào?” của GS.NGND Nguyễn Ngọc Lanh; “Để giáo dục và đào tạo thực sự trở thành quốc sách hàng đầu” của tác giả Phạm Ngọc Minh; “Ngành giáo dục - đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và triển khai Nghị quyết Đại hội IX” của GS.TS Nguyễn Minh Hiển; “ Thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy mạnh

xã hội hóa giáo dục” của PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ

Nhóm công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đối với giáo dục phổ thông

Trong các công trình “Lịch sử tỉnh Cao Bằng”, “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng”, “Địa chí tỉnh Cao Bằng” có khái quát đến tình hình giáo dục và đào tạo của tỉnh, trong đó đề cập đến tình hình giáo dục phổ thông của địa phương qua các thời kì

“Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm

2000 đến năm 2010” của tác giả Nông Văn Lương - luận văn thạc sĩ- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khu vực I, đã nghiên cứu về những kết quả giáo dục phổ thông Cao Bằng đạt được từ năm 2000 đến năm 2010, đưa ra được những chủ trương, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng trong lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông giai đoạn 2000-2010, nhận xét những ưu điểm, hạn chế và rút ra được một số kinh nghiệm tham khảo cho sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với giáo dục phổ thông trong thời gian tiếp theo

Như vậy, vấn đề GD&ĐT nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đó là nguồn tài liệu giúp tác giả hoàn

Trang 12

thành luận văn Trong khuôn khổ luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đối với công tác giáo dục phổ thông trong giai đoạn 2010 - 2019; qua đó khẳng định những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm để đưa sự nghiệp giáo dục phổ thông ở một tỉnh miền núi ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm sáng tỏ chủ trươngcủa Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đối với GDPT từ năm 2010 - 2019, từ đó bước đầu rút ra một số kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn, làm cho sự nghiệp GDPT của tỉnh Cao Bằng phát triển hơn trong thời gian tiếp theo

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đối với sự nghiệp GDPT.;

Trình bày có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Cao Bằng vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển sự nghiệp GDPT vào điều kiện địa phương trong những năm 2010 - 2019

Đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp GDPT của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng; từ đó tổng kết một số kinh nghiệm

có thể vận dụng vào thực tiễn để thực hiện tốt hơn chủ trương về phát triển GDPT trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đối với sự nghiệp GDPT; quá trình chỉ đạo hiện thực hóa chủ trương của Đảng bộ về GDPT thông qua hoạt động của các cấp bộ đảng, chính quyền, ban ngành chức năng ở địa phương

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2019, qua 2 nhiệm kỳ Đại hội của Đảng

bộ tỉnh Cao Bằng: Nhiệm kỳ XVII (2010 - 2015), nhiệm kỳ XVIII (2015 - 2020)

Trang 13

- Về không gian: Địa bàn tỉnh Cao Bằng từ năm 2010 đến năm 2019 có 13

đơn vị hành chính gồm: 1 thành phố và 12 huyện

- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu chủ trương của Đảng bộ tỉnh Cao

Bằng đối với sự nghiệp GDPT; quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển sự nghiệp

GDPT trên các lĩnh vực chủ yếu: (1) Đào tạo đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; (2) xây dựng quy mô, mạng lưới trường lớp; (3) xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy - học; (4) nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng

sản Việt Nam về GD&ĐT

5.2 Nguồn tài liệu

Nguồn tư liệu thành văn:

- Văn kiện của Đảng, Nhà nước bao gồm: ác nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, thông tư, chương trình…

- Văn kiện của các cấp đảng bộ, chính quyền tỉnh Cao Bằng (Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh) bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, thông tư, chương trình, đề án…

- Các sách, báo, tạp chí đã xuất bản; luận văn, luận án, đề tài viết về giáo dục

- Một số công trình nghiên cứu của cá nhân, tập thể về vấn đề giáo dục; Luận văn kế thừa các kết quả của các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài của luận văn

Nguồn tư liệu thực tế: Luận văn sử dụng tài liệu khảo sát thực tiễn qua

phỏng vấn một số giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục của một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phương pháp luận sử học, luận văn được tiến hành dựa trên

Trang 14

phương pháp nghiên cứu chung của khoa học lịch sử như: Phương pháp lịch sử, lôgic Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp khác: Phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, khảo sát, so sánh nhằm làm sáng tỏ những vấn đề đã đặt ra

6 Những đóng góp của luận văn

- Góp phần tổng kết quá trình Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo xây dựng

và chỉ đạo thực hiện các chương trình, kế hoạch về giáo dục phổ thông Qua đó, đánh giá tính đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương và chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Luận văn đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu có giá trị tham khảo, vận dụng vào phát triển giáo dục phổ thông ở tỉnh Cao Bằng hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và làm phong phú tư liệu về lịch sử tỉnh Cao Bằng, đặc biệt là tư liệu về lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy ở các trường học trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và cho công tác chỉ đạo, lãnh đạo thực tiễn đối với sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông nói riêng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 2010 đến năm 2015

- Chương 2: Đảng bộ tỉnh Cao Bằng tăng cường lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 2015 - 2019

- Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Trang 15

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 1.1 Những yếu tố tác động đến giáo dục phổ thông của tỉnh Cao Bằng và chủ trương của Đảng bộ

1.1.1 Những yếu tố tác động

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông bắc Việt Nam Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 311 km, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn, Lạng Sơn Cao Bằng cách Thủ đô Hà Nội 263 km Chiều dài của tỉnh theo chiều bắc - nam

là 80 km, từ 23°7'12"B đến 22°21'21"B Chiều rộng theo chiều đông - tây là

170 km, từ 105°16'15"Đ - 106°50'25"Đ

Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km², là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600- 1.300 m so với mặt nước biển, tạo nên phong cảnhnúi non trùng điệp Rừng núi ở Cao Bằng chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh Từ đó hình thành nên

3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm

Cao Bằng có khí hậu mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu lục địa miền núi cao, thể hiện 4 mùa trong năm, nhưng rõ rệt nhất là mùa hè và mùa đông, biên độ nhiệt độ thay đổi lớn, nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất

350C, thấp nhất 00C Lượng mưa ít và phân bố không đều Mưa bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 với lượng mưa trung bình hàng năm 1.500mm Các hiện tượng gió lốc, gió bấc, tuyết rơi, sương muối, mưa đá xảy ra thường xuyên

Phần lớn diện tích Cao Bằng được che phủ bởi rừng vì thế không khí khá trong sạch ở các vùng nông thôn, các khu dân cư và ở trung tâm thành phố Tuy nhiên do sản lượng quặng lớn cùng với sự khai thác bừa bãi và quản lý không nghiêm ngặt, các tuyến đường chính của Cao Bằng có mức độ ô nhiễm bụi cao

Trên địa bàn tỉnh có 4 dòng sông chính: Sông Bằng Giang bắt nguồn từ biên giới Việt Nam - Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc - đông nam Sông Gâm ở phía tây bắt nguồn từ Trung Quốc chảy từ phía bắc xuống phía nam

Trang 16

Sông Bắc Vọng bắt nguồn từ biên giới Việt Nam - Trung Quốc theo hướng tây bắc - đông nam Sông Quây Sơn bắt nguồn từ biên giới Việt Nam - Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc - đông nam Ngoài ra, Cao Bằng còn có tới 47 hồ lớn nhỏ, trong đó đáng chú ý là Hồ Thang Hen Hồ có dạng hình thoi dài 1.000m, rộng 300m Ngoài việc sử dụng cho nước sinh hoạt và tưới cho nông nghiệp, hồ còn có giá trị là một điểm tham quan lý tưởng

1.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Quán triệt tinh thần đổi mới toàn diện đất nước, thực hiện mục tiêu, chiến lược do các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cao Bằng đề ra, những năm 2010-

2019, tình hình phát triển kinh tế, xã hội ở Cao Bằng có bước chuyển biến rõ nét Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,7% - 7,0%/năm Từ năm 2015 đến năm 2017, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,5%/năm [21, tr.45] Thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 26,7 triệu đồng/năm (năm 2018).,Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh có bước phát triển ổn định, vượt so với dự toán Trung ương giao bình quân 27%/năm Tỷ lệ giảm nghèo bình quân trên 3%/năm, trong đó các huyện nghèo giảm bình quân trên 4%/năm; tỷ lệ che phủ rừng 54,5% Tỷ lệ dân cư thành thị được dùng nước sạch đạt trên 86%; tỷ lệ dân

cư nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh trên 88% Giai đoạn 2016 - 2018, tỉnh Cao Bằng có 87 dự án được cấp chứng nhận đầu tư, với tổng số vốn đầu tư: 12.308 tỷ đồng [22, tr.48], trong đó năm 2018, có 26 dự án được cấp chứng nhận đầu tư, với tổng số vốn đầu tư 2.025 tỷ đồng Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ, giảm dần tỉ trọng nông lâm nghiệp Tiềm năng, thế mạnh của tỉnh từng bước được khai thác hiệu quả

Cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội được đầu tư, mở rộng, phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, điểm du lịch Sau hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế, xã hội đều đạt và vượt so với kế hoạch đề ra, năm sau cao hơn năm trước Lượng khách du lịch đến Cao Bằng đạt trên 1,2 triệu lượt khách, tăng 29,2% so với năm 2017, doanh thu du lịch đạt 363,3 tỷ, tăng 92% [22, tr 56]

Ngành giáo dục cũng góp phần đào tạo cho tỉnh một đội ngũ cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật khá cao Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2018, tổng

Trang 17

số cán bộ khoa học, kỹ thuật làm việc trong các ngành của tỉnh Cao Bằng là 52.046 người; trong đó trình độ cao đẳng có 5689 người, đại học có 43.354 người, thạc sĩ có 2869 người, tiến sĩ có 134 người [23, tr 415] Ngoài ra, tỉnh còn có đội ngũ công nhân đông đảo

Bên cạnh những chuyển biến to lớn, tích cực nói trên, sự phát triển về kinh tế, xã hội của tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn này cũng bộc lộ không ít những hạn chế, khó khăn Quy mô tăng trưởng và quy mô tổng sản phẩm quốc nội (GDP) còn nhỏ bé so với quy mô tăng trưởng nền kinh tế của cả nước Nền kinh tế chủ yếu vẫn dựa vào nông - lâm nghiệp, chiếm tới gần 60% tổng GDP của toàn tỉnh, công nghiệp và xây dựng mới chỉ chiếm 17% trong cơ cấu GDP (thấp hơn nhiều so với tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong tổng GDP của cả nước) [22, tr 92] Một số nơi vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới, cơ cấu kinh

tế truyền thống vẫn còn đậm nét, giao thông đi lại, thông tin liên lạc còn gặp nhiều khó khăn Trình độ dân trí, văn hóa, giáo dục còn nhiều bất cập, phần đông các hộ gia đình ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới trình

độ học vấn còn thấp, đa phần là chỉ tốt nghiệp THPT rồi xin đi làm tại các công

ty, xí nghiệp ở những thành phố lớn Một số cộng đồng dân cư, các hủ tục, phong tục tập quán còn lạc hậu như ma chay, cưới xin, lễ tết vẫn còn khá nặng

nề, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống

Theo tổng điều tra dân số ngày 01/4/2019, dân số toàn tỉnh là 530.431 người, trong đó, dân số thành thị 123.407 người chiếm 23,2%, dân số nông thôn

là 406.934 người chiếm 76,8% Mật độ dân số thưa thớt với khoảng 79 người/km2 Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có nhiều dân tộc cùng định cư sinh sống, trong đó có các dân tộc thiểu số chiếm số đông hơn cả Mỗi dân tộc có những sắc thái dặc trưng trong phong tục tập quán cũng như trong đời sống tinh thần, tạo nên một nền văn hóa phong phú, đa dạng ở miền đất biên ải này

Kết quả sơ bộ tổng điều tra cho thấy, trải qua 10 năm (2009 - 2019), quy

mô dân số của tỉnh tăng tốc độ chậm hơn giai đoạn trước Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009 - 2019 là 0,45%/năm Cộng đồng dân cư Cao Bằng gồm 20 dân tộc cùng chung sống, cư trú đan xen, có tới 95,65% dân số là người

Trang 18

dân tộc thiểu số trong đó có 8 dân tộc chính là Tày chiếm 41,0%, Nùng 31,1%, Dao 10,1%, Hmông 10,1%, Sán Chỉ 1,2%, Lô Lô 0,4%, Hoa 0,2%, Kinh 5,8% còn lại là các dân tộc khác Có 11 dân tộc có dân số trên 50 người Số người trong độ tuổi lao động chiếm 63% dân số, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm khoảng 17%, lao động nông nghiệp chiếm trên 85%, lao động dịch vụ chỉ chiếm 4% [5, tr 78]

Cao Bằng có nhiều di tích gắn liền với lịch sử cách mạng, lịch sử hoạt động của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của sự nghiệp kháng chiến chống Pháp và chống chủ nghĩa bành trướng Cao Bằng là căn cứ địa cách mạng, là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng chân trong thời gian hoạt động cách mạng tại Pác

Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng Hiện tại nơi đây trở thành khu Di tích Quốc gia đặc biệt Cao Bằng còn có khu rừng Trần Hưng Đạo (xã Tam Kim, Nguyên Bình) nơi diễn ra Lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân , tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng

“Đồn Đông Khê” thuộc thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An là một chứng tích lịch sử của Chiến dịch Biên giới Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng Chiến dịch Biên giới năm 1950, Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh được thiết kế với kiến trúc nhà sàn hiện đại, với Đài quan sát trên núi Báo Đông Nặm Lìn - nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Cao Bằng (xã Hoàng Trung, huyện Hòa An); Di tích lưu niệm Hoàng Đình Giong ở làng

Nà Toàn, xã Đề Thám, thành phố - nơi sinh ra và nuôi dưỡng đồng chí Hoàng Đình Giong, một trong những đảng viên cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng và cũng là người trực tiếp rèn luyện và xây dựng Đảng bộ Cao Bằng; Quần thể Khu

di tích lịch sử Lam Sơn (Hòa An), nơi Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo cách mạng hoạt động và mở lớp huấn luyện chính trị (5/1942); Khu di tích Anh hùng liệt sỹ Kim Đồng, nơi có mộ anh Kim Đồng (tức Nông Văn Dền), người đội trưởng đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; Di tích Kéo Oai (Kéo Vai) thôn Lam Sơn là nơi đồng chí Phạm Văn Đồng thường xuyên mở các lớp huấn luyện, tổ chức các hội cứu quốc trong những năm 1941 - 1943

Trang 19

Ngoài những di tích lịch sử, thiên nhiên đã ban tặng cho Cao Bằng nhiều cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ như: Thác Bản Giốc, Động Ngườm Ngao, Hồ Thang Hen,vườn quốc gia Phia Oắc, Phia Đén Đây là các điểm du lịch có giá trị văn hóa cao

1.1.1.3 Tình hình giáo dục phổ thông tỉnh Cao Bằng trước năm 2010

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XVI, nhiệm

kì 2005 - 2010, sự nghiệp giáo dục phổ thông của tỉnh Cao Bằng đạt được nhiều kết quả tích cực:

Về hệ thống giáo dục: Năm học 2009-2010 toàn tỉnh có 502 trường học (trong đó 76 trường mầm non, 194 trường tiểu học, 70 trường phổ thông cơ sở,

116 trường THCS, có 8 trường PTTH, 24 trường THPT, 11 trường phổ thông dân tộc nội trú, 14 trung tâm GDTX) [54, tr.23] Với các loại hình trường, lớp tiếp tục được mở rộng, đa dạng các loại hình đào tạo, số lượng học sinh phổ thông ngày càng tăng, việc tách các trường phổ thông liên cấp II +III thành trường PTCS và THPT cho phù hợp với địa bàn dân cư đã hoàn thành Đây là xu thế phát triển tất yếu của toàn ngành giáo dục trong tỉnh

Về chất lượng đội ngũ giáo viên: Tổng số giáo viên đến năm 2010 là: 11.062 người, trong đó số có trình độ Đại học là 2.521 người, trình độ thạc sỹ có

4 người, cơ bản đủ về số lượng, tương đối đồng bộ về cơ cấu [17, tr 156]

Năm 2010 có hơn 85% giáo viên mầm non và 100% giáo viên phổ thông đạt trình độ chuẩn của bậc học Đến năm 2010 bậc học mầm non, tiểu học có trên 15% giáo viên có trình độ trên chuẩn, 10% giáo viên THCS có trình độ trên chuẩn, THPT trên chuẩn là 3,04% [17, tr 111]

Cơ sở vật chất: Đến năm 2008, ngành giáo dục Cao Bằng có đủ số phòng học được ngói hóa và lợp tấm phi broximăng Một số trường được kiên cố hóa được đầu tư trang bị phục vụ dạy và học, xây dựng thư viện, nhà ở công vụ cho giáo viên.Một số trường đã xây dựng được ký túc xá cho học sinh trọ học Năm

2008, tỉ lệ phòng học cấp 4 trở lên chiếm 65-70%

Chất lượng giáo dục: Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường cấp tiểu học đạt từ 90% năm 2005 lên 93% năm 2010; THCS từ 93% năm 2005 đến 96% năm 2010; THPT từ 95% năm 2005 lên 97,6% năm 2009 [16, tr 121]

Trang 20

Năm 2006, toàn tỉnh có 4 trường đạt chuẩn quốc gia; đến năm 2010, con số này

là 20 trường 50% số xã cuả tỉnh đạt phổ cập giáo dục tiểu học - xóa mù chữ, phổ cập THCS

Những thành tích trên có được là do sự nghiệp GD&ĐT của tỉnh được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, thiết thực; cơ chế quản lý giáo dục theo ngành đã có tác dụng tích cực và hiệu quả Hơn nữa, kinh

tế của địa phương có tăng trưởng nên việc học tập được đa số quần chúng nhân dân coi trọng Đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên “cắm bản” ở những địa phương vùng cao, vùng xa phần lớn gắn bó với nghề

Bên cạnh những thành tích đạt được, sự nghiệp GDPT của tỉnh Cao Bằng vẫn còn có nhiều yếu kém, thể hiện qua các mặt chủ yếu sau:

Chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp và chưa toàn diện: giáo dục thẩm mỹ, giáo dục tư tưởng chưa được quan tâm đúng mức; một bộ phận học sinh mờ nhạt về lý tưởng, sống thực dụng

Trong ngành giáo dục xuất hiện những tiêu cực chưa được khắc phục: dạy thêm, học thêm tràn lan; một số trường còn có tình trạng lạm thu; một số trường buông lỏng trật tự, kỷ cương, vệ sinh Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, hư hỏng, xuống cấp trầm trọng như các trường, các điểm trường ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ở các điểm trường thuộc các huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Nguyên Bình Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, vẫn còn tình trạng mất cân đối về giáo viên giữa các cấp học, về cơ cấu một số môn tự nhiên và xã hội, cơ sở vật chất trường học còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục toàn diện, công tác XHHGD đã có những chuyển biến tuy nhiên chưa thực sự phát huy tốt vai trò trong phát triển GDPT Những hạn chế nêu trên là thách thức to lớn, đòi hỏi Đảng bộ và chính quyền tỉnh Cao Bằng có những chủ trương, giải pháp, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong giai đoạn tiếp theo

1.1.2 Chủ trương của Đảng về giáo dục phổ thông

Do nhận thức: “Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[32, tr 593];

Trang 21

đồng thời, kế thừa và phát triển những quan điểm của Đảng, Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) tiếp tục khẳng định quan điểm:“Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện phát huy nguồn lực con người - yếu

tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [28,

2011 - 2020 đã định hướng: "Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,

nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược"

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

Cụ thể là: Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng

và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngân sách nhà nước Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của toàn xã hội Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến nhất định

Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; đã hoàn thành

Trang 22

phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xóa mù chữ cho người lớn Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo

Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 05/12/2011 Chỉ thị của Bộ Chính trị về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học

và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa

mù chữ cho người lớn Chỉ thị nêu thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và THCS với chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, tiến tới phổ cập giáo dục trung học ở những nơi có điều kiện Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông gắn với dạy nghề nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước [15, tr 390]

Kết luận số 51-KL/TW ngày 29 tháng 10 năm 2012 Kết luận Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đề án “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã thảo luận và kết luận: Sau nhiều năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH

- HĐH và nhiệm vụ đến năm 2020, trong điều kiện đất nước có nhiều khó khăn, nguồn lực còn hạn hẹp, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, với những nỗ lực của đội ngũ nhà giáo, sự nghiệp giáo dục đã đạt được những thành tựu rất có ý nghĩa Quy mô giáo dục và mạng lưới giáo dục có bước phát triển nhanh, cơ sở trường lớp từng bước được chuẩn hóa, hiện đại hóa Chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ Công tác quản lý giáo dục có chuyển biến tích cực, hợp tác quốc tế được mở rộng Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng về số lượng, từng bước được nâng cao về chất lượng Lực lượng qua đào tạo tăng nhanh

Tuy nhiên, chương trình giáo dục phổ thông còn quá tải đối với học sinh, phương pháp dạy và học chậm đổi mới, chưa thựu sự phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, hình thức đánh giá còn lạc hậu, phương tiện giảng dạy còn thiếu thốn, quản lý giáo dục còn nhiều bất cập [15, tr 217]

Trang 23

Từ những tồn tại trên Ban Chấp hành Trung Ương đã đưa ra phương hướng chủ yếu như sau: thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung Ương 2 khóa VIII, kết luận Trung Ương 6 khóa IX và thông báo kết luận 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị khóa X, phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 Quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, phải đi trước và được đầu tư trước Chuẩn bị đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau năm 2015 [15, tr 221]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày

01 tháng 11 năm 2012 Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung Ương khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, trong đó Ban Chấp hành Trung ương đã nêu ra trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, mặc dù điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng nhờ có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực tâm huyết của đội ngũ các nhà khoa học, sự cố gắng của các doanh nghiệp và nhân dân, khoa học và công nghệ nước ta đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng

11 năm 2013 Nghị Quyết “Về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”với quan điểm chỉ đạo:

1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội

2- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn

đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ

sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học

Trang 24

Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước

đi phù hợp

3- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành;

lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

4- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh

tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng

5- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo

6- Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo

7- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước

Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu

Trang 25

học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả

Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản

lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực

Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020

Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục; gia đình

Trang 26

có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình

1.2 Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lãnh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông giai đoạn 2010-2015

1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng

Cùng với sự phát triển của đất nước trong công cuộc đổi mới, nền kinh tế của Cao Bằng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nổi bật là việc xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển nông nghiệp toàn diện, đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa giáo dục Hệ thống chính trị được củng cố, quốc phòng an ninh được tăng cường, đảm bảo ổn định chính trị và trật tự xã hội Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể Đây là điều kiện thuận lợi để các cấp ủy đảng, chính quyền chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII nhiệm kỳ 2010-2015 họp từ ngày 21/10 đến ngày 24/10/2010 đã xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của tỉnh đến năm 2015 Đối với GD - ĐT, Đại hội nêu rõ: GD- ĐT là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD - ĐT là đầu tư cho phát triển Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục đào tạo, coi đầu tư phát triển giáo dục mũi nhọn và hết sức quan tâm vấn đề giải quyết đất đai cho các trường học, xây dựng các điểm vui chơi cho trẻ em, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện [26, tr.17] Đại hội nhấn mạnh: Thực hiện giáo dục toàn diện, đẩy mạnh quá trình XHHGD, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội, xây dựng hệ thống GD - ĐT phục vụ đắc lực phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, trong đó lấy mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ kịp thời chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương làm trọng tâm [26, tr 25]

Đối với giáo dục phổ thông, Nghị quyết Đại hội XVII của Đảng bộ tỉnh nêu ra các chỉ tiêu:

Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính chuyên nghiệp Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học chủ động sáng tạo, tích cực, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học tiếp tục được

Trang 27

đầu tư với số phòng học kiên cố chiếm 59%, bán kiên cố chiếm 31,3% (tăng 18,68% so với năm 2005), khắc phục được tình trạng thiếu phòng học, không còn phòng học 3 ca và xóa dần phòng học tạm, nhiều trường THPT và một số trường THCS được đầu tư thiết bị công nghệ tin học, kết nối Internet phục vụ công tác quản lý, dạy và học

Hệ thống trường lớp tiếp tục được củng cố, phát triển chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên Thành lập mới được 81 trường học, 100% xã, phường, thị trấn có trường tiều học, 86% xã, phường, thị trấn có trường THCS Tỷ lệ huy động học sinh đi học đúng độ tuổi đạt khá, tiểu học dạt trên 97%, THCS đạt trên 79%, đảm bảo được tiêu chí phổ cập, công tác xã hội hóa giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh

Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo cơ bản hoàn thành các mục tiêu đề ra.Tháng 12/2008, Cao Bằng được

Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS (hoàn thành trước thời hạn hai năm) Đến năm 2010 có 140/199 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; Các trường học đảm bảo đủ phòng học, chỗ ngồi cho học sinh

Số lượng giáo viên ở các bậc học cơ bản đã đủ theo quy định, tỷ lệ đạt chuẩn về trình độ đào tạo của giáo viên các cấp học: mầm non 95%; tiểu học 98,9%; THCS 98%; THPT 99% Năm 2006 toàn tỉnh có 04 trường đạt Chuẩn Quốc gia, đến năm 2010 có 20 trường đạt Chuẩn quốc gia [26, tr 36]

Nhận thức được vai trò quan trọng, then chốt của người thầy trong sự

nghiệp giáo dục và đào tạo, Tỉnh ủy Cao Bằng đã ra Chỉ thị số 61-CT/TU ngày

31 tháng 5 năm 2010 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, THCS và đẩy mạnh phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Theo đó, Tỉnh ủy chỉ đạo:

Thường xuyên tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền và của cả hệ thống chính trị cơ sở, các sở, ban ngành, lực lượng vũ trang, các cơ quan thông tin, đại chúng trong việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến

và vận động cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân tích cực tham gia thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và nhà nước về công tác xóa mù chữ, phổ cập

Trang 28

giáo dục tiểu học, trung học cơ sở; duy trì vững chắc và từng bước nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở

Phấn đấu đạt và duy trì 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở Phấn đấu hết năm 2010 có ít nhất 140 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đến hết năm 2012 tỉnh Cao Bằng đạt Chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi

Đẩy mạnh xã hội hóa công tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở gắn với đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập

Ngành Giáo dục và Đào tạo tổ chức các hình thức học tập phù hợp với từng dối tượng để thu hút đông đảo người học trong dộ tuổi đến lớp, chuẩn bị mọi mặt đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của các tầng lớp nhân dân; đảm bảo chất lượng và hiệu quả công tác giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh, không chạy theo số lượng, thành tích

Để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt - học tốt trong các trường học Ban Thường vụ

Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 24-CT/TU ngày 01 tháng 9 năm 2011 về việc đẩy mạnh xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2011-2015 Trong đó,

Ban Thường vụ xác định: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác xây dựng trường học đạt Chuẩn quốc gia; nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành đối với công tác xây dựng trường Chuẩn quốc gia Phấn đấu đến hết 2015 toàn tỉnh có ít nhất 15 trường mầm non, 63 trường tiểu học, 18 trường THCS, 12 trường dân tộc nội trú, 04 trường THPT đạt chuẩn quốc gia Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục; huy động và sử dụng

có hiệu quả cá nguồn lực để hỗ trợ, đầu tư cho các trường học xây dựng đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2011-2015; Xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu phù hợp với thực tế của từng địa phương; Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; đổi mới công tác quản lý giáo dục, phương pháp dạy và học; nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý giáo dục và dạy học

Trang 29

Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XVII,

nhiệm kì 2010 - 2015, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số NQ/TU ngày 09 tháng 2 năm 2012 về tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo giai đoạn 2012-2015; Kế hoạch số 179- KH/TU ngày 11/7/2013 của Tỉnh ủy thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung Ương Đảng (khóa XI) về đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”

13-Nghị quyết, kế hoạch và chương trình hành động của Tỉnh ủy đã xác định rõ: “Đổi mới chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm, đổi mới quản lý giáo dục là khâu đột phá” Theo đó, phương hướng phát triển giáo dục được tiếp tục khẳng định lại, đó là: Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tạo bước chuyển biến rõ rệt chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục,

mở rộng hợp lý quy mô trên cơ sở nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, chăm lo phát triển giáo dục mầm non, củng cố thành quả giáo dục tiểu học và xóa mù chữ, đẩy mạnh phổ cập THCS, từng bước triển khai phổ cập THPT, xây dựng một xã hội học tập, tiếp tục chấn chỉnh nề nếp ký cương, cải tiến thi cử, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh, tăng cường XHHGD, phát triển giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn đặc biệt khó khăn, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục; gắn phát triển giáo dục với phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế” (Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/112013), Ban Thường

vụ Tỉnh ủy đã xây dựng Chương trình hành động số 52-CTr/TU, ngày 19/12/2014 thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã xác định mục tiêu

Trang 30

cụ thể đối với giáo dục phổ thông: Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và THCS Đối với giáo dục tiểu học: Phấn đấu đến năm 2020 có 35% số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, tỷ lệ huy động học sinh đi học đúng độ tuổi đạt 99%; tỷ lệ học sinh được học 2 buổi/ngày đạt trên 65%; Giáo dục trung học: Bảo đảm cho học sinh có trình độ THCS (hết lớp 9) có tri thức phổ thông, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS, THPT phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng Quy hoạch hệ thống các trường phổ thông; Phấn đấu đến năm 2020 có 30% học sinh tốt nghiệp THCS vào học giáo dục nghề nghiệp, có trên 75% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục THPT và tương đương” [65, tr 4]

Tổng quan lại, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển GDPT được Đảng

bộ tỉnh xác định với các nội dung chính như sau:

Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp

trong việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục phổ biến tới toàn thể cán bộ, đảng viên, hội viên và nhân dân, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội

về chủ trương, mục đích, ý nghĩa của việc đổi mới giáo dục và nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục, đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Hai là, tiếp tục đổi mới công tác quản lý giáo dục; thực hiện tốt việc công

khai về chất lượng, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo để

xã hội giám sát và cùng tham gia vào sự phát triển giáo dục Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; quản lý chặt chẽ việc chấp hành các quy định hiện hành của Nhà nước về giáo dục - đào tạo; phát hiện và giải quyết dứt điểm các biểu hiện tiêu cực trong giáo dục và đào tạo; Xây dựng và triển khai có hiệu quả kế

Trang 31

hoạch phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2015 Quan tâm đào tạo nguồn cán bộ

cơ sở là con em dân tộc thiểu số ít người; Xây dựng và thực hiện đề án trường học đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh.Xây dựng cơ chế phối hợp giữa ngành GD-ĐT với các cơ sở đào tạo của Trung ương, của các tỉnh bạn, chú trọng chất lượng công tác liên kết đào tạo trên địa bàn tỉnh

Ba là, tăng cường nguồn lực tài chính cho việc phát triển giáo dục Bố trí

đủ kinh phí từ nguồn ngân sách của địa phương phục vụ cho các hoạt động giáo dục Ưu tiên nguồn vốn Nhà nước đầu tư, vốn từ các dự án, chương trình mục tiêu giáo dục cho vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn

Bốn là, đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục, tăng cường phân luồng học

sinh sau THCS và nâng cao hiệu quả công tác chống mù chữ Triển khai đồng

bộ các giải pháp giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ và phổ cập THCS, hoàn thành phổ cập giáo dục THCS ở những xã chưa đạt chuẩn; Thực hiện có hiệu quả việc phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS Hằng năm tiến hành điều tra thực trạng về công tác chống mù chữ Các cơ quan, đơn

vị liên quan làm tốt công tác phối hợp để vận động các đối tượng còn mù chữ trên 15 tuổi ra lớp học xóa mù chữ, quan tâm đến các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em gái, phụ nữ người dân tộc thiểu số, tích cực vận động các đối tượng đã biết chữ tiếp tục đi học nhằm chống tái mù chữ

Năm là, củng cố, phát triển mạng lưới trường lớp và tăng cường cơ sở vật

chất, trang thiết bị giáo dục cho các trường học Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục THPT nhằm tăng tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng; từng bước nâng cấp xây dựng trường THPT Chuyên của tỉnh trở thành trường trọng điểm, có chất lượng giáo dục tương xứng với các trường chuyên trong cả nước Tăng cường đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất trường, lớp học, nhà công vụ cho giáo viên và trang thiết bị dạy học theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục Tiếp tục đẩy mạnh phong trào tự làm thêm đồ dùng dạy học, tu sửa tôn tạo cảnh quan trường học bằng trí tuệ, sức lực của thầy và trò

Trang 32

Sáu là, Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo; xây

dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động học tập của học sinh Tăng cường ứng dụng công nghệ thong tin trong giảng dạy và quản lý giáo dục, chú trọng đào tạo ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Trung Quốc) ở tất cả các cấp học, bậc học Xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục, nhất là đội ngũ giáo viên dạy tin học, ngoại ngữ cho các cơ sở giáo dục phổ thông

Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, rà soát lại dội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý theo hướng đảm bảo phát huy được năng lực

sư phạm, năng lực quản lý Thực hiện đánh giá giáo viên, cán bộ quản lý theo chuẩn; Có cơ chế chính sách thu hút đội ngũ giáo viên khá, giỏi ngoài tỉnh đến công tác, giảng dạy tại địa phương

Bẩy là, nâng cao chất lượng của học sinh Đào tạo theo hướng coi trọng

phát triển phẩm chất và năng lực người học Chú trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, nhân cách, đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp ý thức trách nhiệm xã hội cho học sinh, sinh viên; Tăng cường kỹ năng tự học của học sinh, bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào thực tế; Chú trọng bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu, giúp đỡ, phụ đạo học sinh yếu, học sinh có hoàn cảnh khó khăn Tổ chức có hiệu quả các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng hoạt động xã hội của học sinh

Thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xét tốt nghiệp và thi cử, kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập của học sinh

Tám là, Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và tăng cường hợp tác quốc tế;

Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong công tác giáo dục học sinh, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của Hội đồng giáo dục các cấp; Huy động các nguồn lực, vận động các tổ

Trang 33

chức, đoàn thể, gia đình và cá nhân trong nước, ngoài nước tham gia đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp học Khuyến khích phát triển quỹ khuyến học

Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo với các nước trong khu vực nhằm tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho tỉnh đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Chín là, Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua, các cuộc

vận động Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực hiện cuộc vận động “ Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

Trên đây là những chủ trương, định hướng lớn mà Đảng bộ tỉnh Cao Bằng

đã đề ra đối với GDPT giai đoạn 2010-2015 Những chủ trương trên đã bám sát vào đường lối, chủ trương chung của Đảng và Nhà nước, phù hợp với thực tế địa phương Đối với từng nhiệm vụ lớn, Tỉnh ủy đều đưa ra những phương thức, cách thức và giải pháp cụ thể để thực hiện có hiệu quả nhất

1.2.2 Chỉ đạo thực hiện

Thực hiện chủ trương của Đảng bộ, UBND tỉnh Cao Bằng ra Chỉ thị số 21/CT -UBND (2010), nhấn mạnh những nhiệm vụ về tăng cường trật tự, kỷ cương trong các nhà trường; về xây dựng đội ngũ nhà giáo; về đẩy mạnh quá trình xã hội hóa giáo dục; kiện toàn các cơ quan quản lý giáo dục, tăng cường cả

về số và chất lượng đội ngũ thanh tra giáo dục ở tất cả các cấp, nâng cao hiệu lực quản lý trong ngành

Ngay sau Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (2010), UBND tỉnh Cao Bằng ra Quyết định số 881/QĐ-UBND phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện đề án phát triển GD&ĐT của tỉnh Cao Bằng (2010 - 2015); Quyết định số

2113/2015/QĐ-UBND Về việc phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển giáo dục

và đào tạo tỉnh Cao Bằng đến năm 2020

Dưới sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND và các sở, ban, ngành tỉnh Cao Bằng đã tích cực chỉ đạo lồng ghép, phối hợp các đề án, chương trình

về giáo dục trên địa bàn tỉnh, tổ chức chỉ đạo thực hiện phát triển GDPT một cách hiệu quả trên các lĩnh vực chủ yếu sau:

Trang 34

1.2.2.1 Chỉ đạo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

Để đẩy mạnh quá trình đổi mới GDPT, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên vững mạnh, mà trước hết là xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên viên cơ quan Sở GD&ĐT, cơ quan đầu não của ngành, công tác tổ chức cán bộ được xem như bước đi đầu tiên

Theo Quyết định của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, Đảng bộ cơ quan Sở GD&ĐT tỉnh Cao Bằng lựa chọn Giám đốc và Phó Giám đốc đã từng là các nhà giáo ưu

tú, có nhiều kinh nghiệm trong ngành, có khả năng tập hợp được đội ngũ cán bộ chuyên trách Việc tuyển chọn cán bộ, chuyên viên của Sở GD-ĐT được tiến hành thận trọng, bố trí đúng người, đúng việc như phát huy được năng lực sở trường của mỗi cán bộ

Ngay sau khi kiện toàn về tổ chức, Ban cán sự Đảng, lãnh đạo Sở GD&ĐT

đã xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên của tỉnh, củng cố trường Sư phạm, liên kết với trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên mở

hệ Cao đẳng sư phạm đào tạo giáo viên THCS (cấp II) tại tỉnh chủ động đội ngũ Đồng thời, Sở Giáo dục - Đào tạo liên kết với trường Đại học Sư phạm Hà Nội

I, Đại học sư phạm II, Địa học Sư phạm Thái Nguyên đào tạo đội ngũ giáo viên, cán bộ cốt cán cho các cấp học, cũng như triển khai mạnh mẽ công tác bồi dưỡng giáo viên trong giai đoạn (2010 - 2015)

Trong giai đoạn 2010 - 2015, Tỉnh ủy Cao Bằng đã chỉ đạo UBND, HĐND tỉnh, các sở, ban, ngành, trực tiếp là ngành giáo dục ổn định đội ngũ giáo viên;

bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao trình độ; bảo đảm chế độ, chính sách đối với cán

bộ, giáo viên; điều chỉnh sự mất cân đối biên chế ở bậc tiểu học và THCS; nâng

cao trình độ chuyên môn và trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ quản

lý Nhờ vậy, số lượng và chất lượng đào tạo của đội ngũ nhà giáo như trên về cơ bản đã từng bước đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp GDPT địa phương

Bên cạnh đó, ngành GD-ĐT đã chủ động tham mưu với Tỉnh ủy về tăng cường công tác Đảng trong ngành, phối hợp với Huyện ủy, Thành ủy để xây dựng chi bộ trong trường học UBND tỉnh ra quyết định về chính sách thu hút giáo viên vùng cao, vùng sâu, vùng xa biên giới, vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn tham gia vào công tác giảng dạy, cống hiến cho nền giáo dục của tỉnh

Trang 35

Đây là những quyết định đúng đắn của Tỉnh ủy, HĐND, UBND và Sở GD&ĐT tỉnh Cao Bằng nhằm triển khai mạnh mẽ các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh về công tác GDPT Do vậy, đội ngũ cán bộ, giáo viên có nhiều chuyển biến tích cực Công tác đào tạo, bồi dưỡng trong toàn ngành đã được củng cố, trình độ chuyên môn nghiệp vụ được nâng lên, lập trường tư tưởng vững vàng, an tâm công tác, say mê với nghề

Tình hình đội ngũ giáo viên được thể hiện như sau:

Bảng 1.1 Số lượng giáo viên phổ thông (2010 -2015)

[Nguồn Sở Giáo dục và Đào tạo]

Hà Quảng nên đã có rất nhiều giáo viên tiểu học phải cắm bản, gieo chữ nơi vùng cao

Bên cạnh việc bảo đảm đủ về số lượng đội ngũ nhà giáo, công tác lãnh đạo nâng cao chất lượng giáo viên cũng từng bước được chú trọng Năm học 2010-

2011, tỉ lệ giáo viên tiểu học đạt chuẩn trình độ đào tạo là 82,2%, bậc THCS là 86%, bậc THPT đạt 97% Năm học 2014 - 2015 tỷ lệ này ở các bậc học lần lượt đạt là 98,9%; 98,3%; 99% [20, tr 426] Đội ngũ giáo viên là người dân tộc thiểu

số được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ Số giáo viên là người dân tộc toàn tỉnh đến năm 2015 là 7.157 người (chiếm 93%) Số nữ giáo viên năm 2015 trong toàn tỉnh là 5.934/7.696 (chiếm 77,1%) (trong đó giáo viên nữ tiểu học là 3.377; giáo viên nữ THCS là 1.893; giáo viên nữ THPT là 664) 100% các

Trang 36

trường phổ thông thuộc các xã vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách theo Quyết định số 135; tỉ lệ giáo viên trên lớp đều đạt theo chuẩn thông tư 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23 tháng 8 năm 2006 Thông

tư liên tịch Hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công lập, giáo viên tiểu học dạy 1 buổi trên ngày là 1,2 giáo viên/lớp; 2 buổi trên ngày 1,5; THCS là 1,9 giáo viên/lớp; THPT là 2,25 giáo viên/lớp [20, tr.431; 436; tr.443]

Về đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục: Từ năm 2010 đến năm 2015, việc quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý của ngành được UBND tỉnh chỉ đạo theo định hướng: Người giữ vị trí Giám đốc Sở GD&ĐT phải là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, có tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn phải là thạc sĩ trở lên, nhiều năm công tác trong ngành giáo dục Các vị trí Phó Giám đốc được đào tạo cơ bản về quản lý giáo dục, có nhiều kinh nghiệm công tác Các trưởng, phó phòng các huyện, thị, thành phố, các hiệu trưởng, phó hiệu trưởng hầu hết phải được đào tạo cơ bản, có trình độ Cao Đẳng, Đại học trở lên Năm 2015, tỷ lệ đảng viên trong ngành giáo dục đạt 40% (trong đó năm 2010 đạt 35%)

Trong 5 năm (2010-2015) số lượng và chất lượng đào tạo của đội ngũ nhà giáo như trên về cơ bản đã từng bước đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp GDPT địa phương Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên ở tỉnh Cao Bằng còn bộc lộ một số hạn chế như: Mất cân đối về giáo viên giữa các vùng miền trong tỉnh, về cơ cấu một số môn tự nhiên và xã hội; Một số giáo viên cấp tiểu học chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn; Trình độ Ngoại ngữ, Tin học thấp so với yêu cầu của thời kỳ đổi mới; Một số giáo viên có biểu hiện tiêu cực, gây ảnh hưởng đến uy tín của ngành giáo dục

1.2.2.2 Chỉ đạo phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp

Cao Bằng có 121 xã thuộc vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có 6/62 huyện nghèo của cả nước, 23,29% hộ gia đình thuộc diện nghèo, có 46 xã có đường biên giới giáp với Trung Quốc, có đường biên dài 322 km, dân cư thưa thớt, giao thông đi lại khó khăn [1, tr.192] Nhằm triển khai thu hút huy động hơn nữa học sinh đến trường, Ngành GD-ĐT tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp

Trang 37

tích cực và cụ thể như đưa trường lớp về gần dân, mở các lớp đầu cấp tại thôn, bản, mở cụm lớp tại khu vực trung tâm xã, mở rộng hệ thống trường, lớp ghép tại những chòm, xóm, bản để thu hút học sinh đồng thời khắc phục tình trạng thiếu giáo viên

Năm học 2010-2011, bình quân mỗi xã có 1,3 trường tiểu học (có xã có tới 4 trường tiểu học) , 1 trường cấp II, mỗi huyện có ít nhất 1 trường cấp III, một số huyện có 3 trường cấp III như huyện Nguyên Bình, Hòa An [55, tr 13]

Trong giai đoạn 2010-2015, mạng lưới trường, lớp được quy hoạch đồng

bộ, phân bố khá đồng đều trên địa bàn các khu dân cư Các xã, phường, thị trấn

đã có hệ thống trường tiểu học và THCS, nhiều huyện đều có trường THPT Ngành GD đã thực hiện sắp xếp lại mạng lưới trường, lớp hợp lý hơn Toàn tỉnh Cao Bằng đến năm 2015 có 465 trường phổ thông, trong đó có 245 trường tiểu học, 160 trường trung học cơ sở, 23 trường trung học phổ thông, 30 trường phổ thông cơ sở, 7 trường trung học [19, tr 384]

Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của học sinh, Tỉnh ủy đã chỉ đạo ngành giáo dục thực hiện tốt chủ trương đa dạng hóa các loại hình đào tạo Do đó, cùng với phương thức giáo dục chính quy thì phương thức giáo dục thường xuyên cũng được quan tâm đúng mức Quy mô, mạng lưới trường, lớp phát triển hợp lý để thu hút trẻ em đi học Với sự nỗ lực vượt khó của ngành Giáo dục và Đào tạo Cao Bằng trong nhiều năm qua, cùng những chính sách ưu

tiên của Đảng và nhà nước đối với những học sinh dân tộc thiểu số, hệ thống

trường dân tộc nội trú của tỉnh được củng cố và đầu tư toàn thiện để phục vụ mục tiêu tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đào tạo cán bộcho vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Giai đoạn 2010-2015 cả tỉnh có

11 trường phổ thông dân tộc nội trú cấp THCS ở 11 huyện (trừ huyện Phục Hòa chưa thành lập được trường do chưa xây dựng được cơ sở vật chất) và 01 trường dân tộc nội trú tỉnh cấp THPT Đến giai đoạn 2015 - 2019 12/13 huyện thị đều

có trường dân tộc nội trú cấp THCS; 01 trường DTNT THPT cấp tỉnh Các trường PTDTNT thực hiện theo Thông tư 01/2016/TT/BGDĐT ngày 15 tháng

Trang 38

01 năm 2016 thông tư Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú

Ngoài các trường PTDTNT cấp THCS ở trung tâm các huyện thì ở những nơi vùng sâu, vùng xa vùng đặc biệt khó khăn, địa bàn đi lại cách trở phải qua sông suối, đèo, núi cao mà học sinh không thể đi về trong ngày, tỉnh đã chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện thành lập các trường phổ thông dân tộc bán trú Các em thuộc trường phổ thông dân tộc bán trú sẽ được hưởng các chế độ chính sách theo Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT, ngày 02/8/2010 thông tư Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú

Với hệ thống trường dân tộc nội trú, dân tộc bán trú có ở tất cả các huyện, thành phố đã góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng này, kết quả tỷ lệ học sinh chuyên cần tăng, không còn có học sinh bỏ học giữa chừng, những mô hình dạy học hay, những sáng kiến phù hợp đặc thù địa phương đã phát huy ưu thế trong thực tế Các trường PTDTNT, dân tộc bán trú đã có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng đông bào các dân tộc thiểu số

Việc giáo dục học sinh khuyết tật được quan tâm, ngoài việc thực hiện giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại các trường phổ thông, trung tâm phục hồi chức năng

và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật đã đi vào hoạt động để giúp cho trẻ khuyết tật sớm có kỹ năng hòa nhập cộng đồng Sở Giáo dục và Đào tạo đã quan tâm khuyến khích đầu tư theo hướng xã hội hóa để xây dựng trường lớp bán trú, ký túc xá cho học sinh Các chế độ, chính sách đối với học sinh người dân tộc thiểu

số, con em gia đình thuộc diện hưởng chính sách xã hội, con em gia đình nghèo được thực hiện nghiêm túc Hệ thống các trung tâm GDTX tiếp tục được củng

cố, kiện toàn và từng bước phát triển, hệ thống trung tâm học tập cộng đồng phát triển nhanh chóng Các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp mở rộng hoạt động Nói chung các loại hình trường lớp được mở đa dạng đều mọi người đều có cơ hội học tập

Trang 39

Ngành giáo dục đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các chủ trương, chính sách phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước góp phần xây dựng sự thống nhất và đồng thuận trong xã hội đối với sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông và công tác xã hội hoá giáo dục Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa và thể dục thể thao; Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “ Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020”; Quyết định số 281/QĐ- TTg ngày 20/2/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “ Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020” Những Chỉ thị, Quyết định trên đã được triển khai đến tận cơ sở

Nhìn chung, trong những năm 2010-2015, quy mô trường lớp GDPT ở tỉnh Cao Bằng được mở rộng, ổn định Tỉnh Cao Bằng ưu tiên mở rộng mạng lưới trường lớp công lập ở các xã vùng núi, khu vực đặc biệt khó khăn, khuyến khích phát triển loại hình trường, lớp ngoài công lập ở thành phố, thị xã và đồng bằng Tỉ lệ học sinh ngoài công lập tăng, giảm tải cho các trường công lập

1.2.2.3 Chỉ đạo xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là một trong những điều kiện thiết yếu

để nâng cao chất lượng giáo dục Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng khóa XVII (2010) xác định về cơ bản đến năm 2015 phải xóa các lớp học tranh, tre, bàn ghế tạm, hệ thống trường lớp tiếp tục được củng cố, cơ sở vật chất trường lớp học được tăng cường đầu tư, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 58,2%, bán kiên cố đạt 32,4%, phòng học tạm 9,4%, đảm bảo đủ phòng học, chỗ ngồi học cho học sinh [26, tr.27]

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, tỉnh đã huy động tất cả các cấp, các ngành cùng toàn dân chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo Năm học 2010- 2011, bằng các nguồn vốn chương trình, vốn ngân sách và các nguồn huy động khác, toàn tỉnh đã xây dựng được 326 phòng học từ cấp 4 trở lên, nâng tỷ lệ phòng học cấp 4 trong toàn tỉnh gần 47% Nhiều trường ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao biên giới đã xây dựng được nhà ở nội trú, ký túc xá

Trang 40

cho học sinh, xây dựng thêm các công trình phụ, tường rào Ngoài ra, Ngành Giáo dục còn xây dựng tu sửa nhiều phòng học tạm bằng nguyên vật liệu tại chỗ của địa phương đủ phòng học cho các lớp không phải học 3 ca, toàn tỉnh có 6.247 phòng học/5.326 lớp [58, tr.15] Bàn ghế, bảng đủ cho học sinh, các trường tiểu học ở trường chính được trang cấp khá đầy đủ các thiết bị dạy học, nhưng các phân trường lớp lẻ, lớp ghép thì vẫn còn thiếu Các trường THCS, THPT có khoảng 70% có thiết bị nhưng không đồng bộ, các thiết bị khi nhận về một số bị lỗi không sử dụng được

Với việc huy động tối đa các nguồn vốn như: Vốn chương trình mục tiêu quốc gia, vốn tiết kiệm ngân sách, vốn xây dựng cơ bản tập trung, vốn do nhân dân đóng góp, năm 2010, ngành giáo dục đầu tư 3,1 tỷ đồng để mua sắm trang thiết bị dạy học cho 57 trường ở 3 cấp học, 100% các trường được nối mạng internet Năm học 2014 - 2015, ngành giáo dục đã xây dựng được 85 phòng học, mua sắm trang thiết bị và đồ dùng dạy học, máy vi tính, đóng mới bàn ghế, sách giáo khoa, sách tham khảo và hỗ trợ cho các xã ở vùng sâu vùng xa [19, tr 426]

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về “cứng hóa trường lớp”, xây dựng trường bán kiên cố và tăng cường cơ sở vật chất cho các nhà trường, năm học 2014 - 2015, Cao Bằng đã đưa 3.635 phòng học (chiếm 58,2%) kiên cố

và đưa gần 600 thư viện vào sử dụng Trong đó, ngành giáo dục tỉnh có 30 trường THPT công lập đều được xây dựng cao tầng (chiếm 100%) Ngoài ra, tỉnh còn đầu tư mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, từng bước đáp ứng đủ phòng học cho các ngành học, cấp học Trên địa bàn tỉnh không còn tình trạng trường học 3 ca, các đơn vị trong trường học đảm bảo sách giáo khoa cho học sinh, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo cho giáo viên Việc tăng cường cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy và học đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục [19, tr 397]

Mặc dù vậy, những năm 2010-2015, việc đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục phổ thông của Cao Bằng vẫn còn hạn chế như: Các huyện vùng sâu, vùng

xa, vùng đặc biệt khó khăn hiện tượng thiếu phòng học, đặc biệt là phòng học chức năng Số phòng học được xây dựng bằng tranh, tre, nứa lá vẫn còn và xuống cấp nghiêm trọng, số phòng học được dựng tạm bằng mái phro ximăng

Ngày đăng: 18/08/2021, 16:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w