Việt Nam - Hoa Kỳ là một cặp quan hệ đặc biệt trong quan hệ quốc tế giữa một nước lớn phát triển và một nước trung bình đang phát triển, được định hình do đặc thù của mỗi nước về vị trí
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
NHÂN TỐ Ý THỨC HỆ TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ KỂ TỪ KHI BÌNH THƯỜNG HOÁ ĐẾN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 9310206
Hà Nội - 2021
Trang 2NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
NHÂN TỐ Ý THỨC HỆ TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ KỂ TỪ KHI BÌNH THƯỜNG HOÁ ĐẾN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả
và thông tin nêu trong luận án là trung thưc Những kết quả nghiên cứu của luân
án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy cô hướng dẫn: TS Lê Đình Tĩnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Học viện Ngoại giao và GS TS Nguyễn Thái Yên Hương – Nguyên Phó Giám đốc Học viện Ngoại giao và đã đồng hành cùng tôi trong quá trình hoàn thành luận
án này Thầy cô không chỉ theo sát, tận tình hướng dẫn, định hướng, gợi mở, góp
ý cho luận án của tôi, mà còn dành cho tôi sự động viên, khích lệ giúp tôi quyết tâm hoàn thành công trình nghiên cứu
Xin cảm ơn các cán bộ phòng Sau Đại học, Học viện Ngoại giao đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu tại Học viện
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các chuyên gia về Hoa Kỳ, những người
đã chứng kiến và đóng góp cho sự phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
mà tôi may mắn được tham vấn ý kiến như các cựu Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ như Đại sứ Nguyễn Tâm Chiến, Đại sứ Bùi Thế Giang, Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Tham tán Chính trị Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam Mark Lambert, Giáo sư Trung tâm Nghiên cứu an ninh châu Á-Thái Bình Dương Alex Vulving,…
Công trình nghiên cứu của tôi sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự ủng hộ của Lãnh đạo Ban Đối ngoại Trung ương, cũng như sự giúp đỡ, hỗ trợ của các đồng nghiệp của tôi tại Vụ Tây Âu – Bắc Mỹ, Ban Đối ngoại Trung ương
Tôi cũng xin dành tất cả yêu thương và biết ơn tới gia đình tôi đã luôn ở bên cạnh, ủng hộ, khích lệ và giúp đỡ tôi trên nhiều phương diện tôi để tôi có kết quả ngày hôm nay
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
phương
China Sea (Ease Sea)
Quy tắc Ứng xử của các bên ở Biển Đông
biệt
Agreement for Trans-Pacific Partnership
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
China Sea (East Sea)
Tuyên bố Ứng xử của các bên ở Biển Đông
phòng
Trang 6EAS East Asia Summit Hội nghị Cấp cao Đông Á
Công
Regulation
Quy chế Thương mại Bình thường Vĩnh viễn
PSDD Political, Security and Defense
Agreements
Hiệp định Khung về Thương mại
và Đầu tư
Trang 7Law of the Sea
Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ Ý THỨC HỆ TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ VÀ TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ VÀ VIỆT NAM 20
1.1 Lý luận về ý thức hệ trong quan hệ quốc tế 20
1.1.1 Khái niệm 20
1.1.2 Luận giải về nhân tố ý thức hệ trong các trường phái chính trong quan hệ quốc tế 24
1.1.3 Ý thức hệ trong tương quan với lợi ích quốc gia 31
1.2 Vấn đề ý thức hệ trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Việt Nam 32 1.2.1 Ý thức hệ Việt Nam và Hoa Kỳ 32
1.2.2 Ý thức hệ và lợi ích quốc gia trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Việt Nam 34
1.3 Việt Nam và Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại của mỗi nước 46
1.3.1 Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ 46
1.3.2 Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại của Việt Nam 51
Tiểu kết 54
Chương 2: TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN TỐ Ý THỨC HỆ ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ 57
2.1 Các yếu tố chính chi phối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 57
2.1.1 Hợp tác kinh tế-thương mại 58
2.1.2 Các vấn đề địa chiến lược 60
Trang 92.1.3 Yếu tố Trung Quốc 64
2.1.4 Các vấn đề khu vực 67
2.2 Tác động của nhân tố ý thức hệ trong mỗi giai đoạn phát triển của quan hệ song phương 73
2.2.1 Giai đoạn mới bình thường hoá (1995 – 1998) 73
2.2.2 Giai đoạn phát triển quan hệ 1998 – 2013 75
2.2.3 Giai đoạn nâng cấp và phát triển mạnh mẽ (2013 – nay) 77
2.3 Biểu hiện của tác động của nhân tố ý thức hệ tới quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 79
2.3.1 Qua việc phân tích các văn bản cấp cao 80
2.3.2 Qua việc khảo sát 3 trường hợp điển hình 87
2.3.3 Qua việc xem xét một số khía cạnh liên quan 101
Tiểu kết 112
Chương 3: DỰ BÁO VỀ NHÂN TỐ Ý THỨC HỆ TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ VÀ KHUYẾN NGHỊ 114
3.1 Cơ sở của dự báo 114
3.1.1 Đánh giá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ thời gian qua và sự song trùng lợi ích .114
3.1.2 Xu hướng quốc tế và khu vực 116
3.1.3 Đánh giá lợi ích của mỗi nước trong quan hệ với nước kia trong thời gian tới 118
3.1.4 Soi chiếu vào trường hợp quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc qua lăng kính ý thức hệ 120
3.2 Dự báo 127
3.2.1 Chiều hướng chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam và quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ thời gian tới 127
3.2.2 Các kịch bản quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ góc độ ý thức hệ 129
Trang 103.3 Khuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian tới 133
3.3.1 Thúc đẩy sự song trùng lợi ích quốc gia giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 1333.3.2 Gia tăng vị thế và lợi thế của Việt Nam trong tam giác quan hệ Trung Quốc – Hoa Kỳ - Việt Nam 1393.3.3 Tiếp tục giảm thiểu tác động cản trở của nhân tố ý thức hệ trong quan
hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 141
Tiểu kết 143 KẾT LUẬN 146 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153 PHỤ LỤC 177
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
1.1 Việt Nam - Hoa Kỳ là một cặp quan hệ đặc biệt trong quan hệ quốc tế
giữa một nước lớn phát triển và một nước trung bình đang phát triển, được định hình do đặc thù của mỗi nước về vị trí địa lý, hệ thống chính trị, xuất phát điểm, văn hóa ; do lịch sử chiến tranh để lại; do đan xen giữa các mối quan hệ quốc tế khác;
do được cân nhắc trong mối tương quan với các đối tác khác trong khu vực
Kể từ khi Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao (11/7/1995), quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã trải qua những “bước đi” mang tính lịch sử, từ hai cựu thù trong một cuộc chiến tranh tàn khốc, trở thành hai chủ thể “bình thường” trong quan hệ quốc tế, sau đó thúc đẩy hợp tác, thành bạn bè, đối tác và đối tác toàn diện, với hợp tác song phương trải dài trên hầu hết các lĩnh vực Hai nước đã xây dựng tình hữu nghị và hợp tác sâu rộng, triển khai quan hệ sâu sắc, bền vững, và thực chất dựa trên những lợi ích chung, trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, và thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ để "vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai"
Hoa Kỳ cần thêm những đối tác thân thiện và có vai trò nhất định tại khu vực để duy trì vai trò lãnh đạo toàn cầu, bảo đảm trật tự khu vực có lợi cho mình cũng như duy trì tương quan lực lượng để cân bằng với một nước Trung Quốc đang gia tăng sức mạnh và tầm ảnh hưởng nhanh chóng Xét vị trí địa chiến lược
và vai trò của một Việt Nam đổi mới và mở cửa với tiếng nói và uy tín nhất định trong khu vực, thúc đẩy quan hệ với Việt Nam mang lại lợi ích cho Hoa Kỳ Ngược lại, Việt Nam cũng coi Hoa Kỳ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu Việt Nam chủ trương tăng cường hiểu biết, hữu nghị; thúc đẩy các mặt hợp tác và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ, định hướng phát triển quan hệ giữa hai nước theo hướng tích cực, thực chất Việt Nam cũng muốn tranh thủ vai trò và sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với một số vấn đề đối ngoại quan trọng; thông qua quan hệ với cường quốc thế giới như Hoa Kỳ để khẳng định, nâng cao vị thế quốc tế, khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời thúc đẩy chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng
Trang 12và Nhà nước đối với với kiều bào ta ở Hoa Kỳ, qua đó với cộng đồng người Việt ở nước ngoài Đối với Việt Nam, mối quan hệ với Hoa Kỳ ảnh hưởng mạnh đến các mối quan hệ khác Quan hệ đối ngoại với Hoa Kỳ là mối quan hệ đòi hỏi phải tư duy, thảo luận nhiều nhất vì chỉ một “chệch hướng” trong quan hệ sẽ dẫn đến hậu quả dây chuyền Trong tương lai lâu dài, việc nghiên cứu và dự báo quan hệ với các đối tác lớn như Hoa Kỳ vẫn là một trọng tâm trong công tác nghiên cứu chiến lược của các cơ quan tham mưu của ta
1.2 Giống như bất kỳ mối quan hệ quốc tế nào, sự vận động và phát triển của
mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau Khi xem xét lịch sử và quá trình vận động và phát triển của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, cần xem xét các yếu tố chi phối quá trình đó Với một mối quan hệ đặc thù như quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, ngoài các nhân tố về hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế - thương mại, an ninh – quốc phòng, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo; cũng cần xem xét các yếu tố địa chiến lược; duy trì hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực; nhân tố Trung Quốc; nhân tố ý thức hệ…
Nhân tố ý thức hệ có vai trò quan trọng, tính chất đặc thù và tính khả biến trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ nói riêng Sự khác nhau giữa hai hệ tư tưởng và hệ thống các giá trị tương ứng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã và đang có ảnh hưởng đến chiều hướng của mối quan hệ Nó có thể kéo hai quốc gia lại gần nhau, nhưng cũng có thể tạo ra xung đột Việc xem xét nhân tố này về mặt lý luận và thực tiễn, cũng như nghiên cứu vai trò và tác động của nó đến quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ hai nước kể từ khi bình thường hoá tới nay là cần thiết cho việc tham mưu, hoạch định các chính sách với một nước lớn được coi vừa là “đối tác”, vừa là “đối tượng” như Hoa Kỳ
Là một nhân tố quan trọng, song hầu hết các nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thường chỉ tập trung vào tổng thể quan hệ trong một khoảng thời gian cụ thể; hoặc nghiên cứu một hay nhiều khía cạnh/lĩnh vực hợp tác trong quan hệ mà chưa có công trình nào nghiên cứu sâu, tổng thể về nhân tố này, cũng như tác động của nó tới quá trình vận động và phát triển của quan hệ kể từ khi bình thường hóa đến nay
Trang 13Các phân tích trên đây là cơ sở để nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài luận án
là “Nhân tố ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ khi bình thường hoá đến nay” Đây là chủ đề không bị trùng lặp với chủ đề luận án tiến sĩ nào tương
tự ở Việt Nam cũng như nước ngoài
"America and the World: Conversations on the Future of American Foreign Policy" (Basic Books, New York, 2008) của các tác giả Znigniew Brzezinski và Brent Scowcroft nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ theo các giai đoạn lịch sử, lý giải sự thay đổi chiều hướng chính sách, từ theo đuổi học thuyết Monroe, quyết định tham gia vào hai cuộc Chiến tranh Thế giới, các nỗ lực và sự thất bại của quyết định thúc đẩy sự hình thành Hội quốc liên, các quyết sách quan trọng của Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh cho tới những học thuyết đối ngoại của các chính quyền George H.W Bush, Bill Clinton, George
W Bush và Barack Obama
Một số các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ theo hướng tập trung vào quá trình hoạch định chính sách, các chủ thể tham gia quá trình hoạch định chính sách với việc phân tích vai trò của Tổng thống, Chính quyền và Quốc hội Hoa Kỳ Tiêu biểu có các cuốn "American Foreign Policy: Pattern and Process" (Thomson Wadsworth, California, 2003) của các tác giả Eugene R Wittkopf, Christopher M Jones và Charles W Kegley, Jr phân tích cấu trúc và quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ; các nguyên tắc, giá trị và mục tiêu xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ qua các thời kỳ; vai trò của Tổng thống, hệ thống các cơ quan Chính phủ đối với quá trình hoạch định chính sách đối ngoại và dự báo về tương lai chính
Trang 14sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời Chính quyền George W Bush Cuốn
"Making American Foreign Policy" (Routledge, New York, 2006) của tác giả Ole R Holsti nghiên cứu quá trình nhận thức và xây dựng niềm tin của các chủ thể tham gia vào hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ; vai trò của nhà lãnh đạo và công luận đối với chính sách đối ngoại, việc áp dụng các
lý thuyết quan hệ quốc tế trong phân tích về quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Cuốn "American Foreign Policy and Process" (Wadsworth, Boston, 2005) của James M McCormick trình bày về các giá trị xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của chính quyền Hoa Kỳ qua các giai đoạn lịch sử; phân tích quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với các chủ thể chính như Tổng thống, Quốc hội; các cơ quan chính quyền tham gia quá trình hoạch định, triển khai chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ; vai trò của đảng phái chính trị, các nhóm lợi ích, truyền thông và công chúng trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách
Cuốn "Chính sách đối ngoại của Mỹ, động cơ của sự lựa chọn," (W W Norton & Company, 2013) của Bruce W Jentleson phân tích bốn mục tiêu cốt lõi của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ (quyền lực, hoà bình, thịnh vượng và nguyên tắc) là do quá trình hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ bị ảnh hưởng của các trường phái lý thuyết (chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa
tự do, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa lý tưởng) Trên cơ sở khung phân tích 4 mục tiêu, cuốn sách phân tích các nhân tố nội bộ tác động đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ gồm hệ thống tam quyền phân lập, nhóm lợi ích, truyền thông
và công chúng, đồng thời cho rằng yếu tố lịch sử, đặc biệt các cuộc tranh luận lớn về chính sách đối ngoại cũng có tác động quan trọng đối với chiều hướng đối ngoại của Hoa Kỳ Trong cuốn "The Pivot" (2016), Kurt Campbell đưa ra “Kế hoạch 10 điểm” để thực hiện chiến lược xoay trục, thúc đẩy quan hệ với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, các biện pháp tăng cường quan hệ với đồng minh và đối tác trong hệ thống “trục và nan hoa”, cách thức xử lý sự nổi lên của Trung Quốc; các biện pháp nhằm tăng cường “hệ điều hành châu Á” do Hoa Kỳ tạo lập
và dẫn dắt, nhấn mạnh rằng quan hệ gần gũi với Việt Nam là một bộ phận quan trọng của chiến lược "xoay trục" Trong cuốn "World Order" (Penguin Press, 2014)
Trang 15của Henry Kissinger, vai tròủa Hoa Kỳ trong việc định hình trật tự thế giới được phân tích với nhận định rằng Hoa Kỳ đang đóng một vai trò mâu thuẫn trong trật tự thế giới: Hoa Kỳ mở rộng lãnh thổ trên lục địa bắc Mỹ nhân danh Thuyết Bành trướng do định mệnh song lại bác bỏ bất cứ ý đồ đế quốc nào, Hoa Kỳ có ảnh hưởng quyết định đối với các sự kiện quan trọng song lại chối bỏ bất cứ động cơ lợi ích quốc gia nào, trở thành siêu cường song lại phủ nhận bất cứ ý định nào về việc thực hiện chính trị cường quyền Thách thức thực sự đối với sự can dự của Hoa Kỳ trên thế giới
là ý định mở rộng giá trị mà Hoa Kỳ tin rằng tất cả các dân tộc khác đều muốn học theo Hoa Kỳ tự cho mình là một cường quốc khác biệt, một đế chế ưu việt và sự thành bại của Hoa Kỳ có tính sống còn đối với bất cứ nơi đâu và nền tảng cho hành động của Hoa Kỳ là sức mạnh vượt trội so với các cường quốc khác Chính điều này
đã khiến Hoa Kỳ cho rằng có thể dẫn dắt các nước đi theo mô hình của mình
Ở Việt Nam, chủ đề nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, trong
đó có chính sách với Việt Nam, cũng được nhiều học giả quan tâm Một số công trình nghiên cứu đáng chú ý là“Các vấn đề nghiên cứu Hoa Kỳ” (Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2011) do các tác giả Nguyễn Thái Yên Hương và Tạ Minh Tuấn đồng chủ biên, “Hoa Kỳ - Văn hóa và chính sách đối ngoại” (Nxb Thế giới, Hà Nội, 2008) và “Đặc trưng văn hoá Mỹ và sự tác động tới chính sách đối
ngoại Mỹ” của tác giả Nguyễn Thái Yên Hương (Nxb Chính trị Quốc gia sự thật,
2009) Với cách tiếp cận từ góc độ văn hoá, lịch sử, các công trình trên đã đi sâu phân tích những nét đặc trưng của văn hoá Hoa Kỳ và ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với các nước, trong đó có Việt Nam Các cuốn “Về Chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004) của các tác giả Lê Linh Lan (Chủ biên), Nguyễn Thu Hằng, Lê Đình Tĩnh, “Hoa Kỳ: Cam kết và mở rộng” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) của tác giả Lê Bá Thuyên,
“Chính sách đối ngoại của một số nước lớn trên thế giới” (Nxb Lý luận Chính trị,
Hà Nội, 2008) của tác giả Phạm Minh Sơn, "Quan hệ Mỹ - Trung: Hợp tác và cạnh tranh luận giải dưới góc độ cân bằng quyền lực" (Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2011) của tác giả Nguyễn Thái Yên Hương đồng biên soạn, "Quan hệ của
Mỹ với các nước lớn ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương" (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003) do tác giả Vũ Dương Huân chủ biên phân tích chính sách của
Trang 16Hoa Kỳ với các quốc gia khác, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam với những cách tiếp cận khác nhau, từ góc nhìn của các lý thuyết khác nhau
Nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trên một số vấn đề cụ thể; hoặc nghiên cứu về chính sách của một số chính quyền Tổng thống ở Hoa Kỳ như "U.S Foreign Policy Today: American Renewal?" (CQ Press, 2011) của Steven Hook và James Scott cho rằng chính sách đối ngoại của Chính quyền Obama có thể giúp hồi sinh lại sức mạnh và vị thế của Hoa Kỳ; cuốn "Bending History: Barack Obama’s Foreign Policy" (Brookings, Washington D.C., 2013) của Martin Indyk, Kenneth Liberthal và Michael O’Hanlon nhìn nhận chính sách đối ngoại của chính quyền Obama là kết quả của quá trình tuân thủ các nguyên tắc nhất định và theo đuổi mục tiêu thực tế, nhờ đó Chính quyền Obama đã tương đối thành công trong việc thúc đẩy các lợi ích của Hoa Kỳ trong một thế giới đầy biến động; cuốn "Barack Obama’s Post-American Foreign Policy: The Limits of Engagement" (Bloomsbury, New York, 2012) của Robert Singh hay
"Obama, U.S Foreign Policy and the Dilemmas of Intervention" (Macmillan, 2014) của David Fitzgerald và David Ryan đánh giá về một số hướng triển khai chính sách đối ngoại cụ thể Bài viết “Chính sách đối ngoại Mỹ kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc: Hướng tiếp cận và một số vấn đề lý thuyết” (2011) và “Thử tiếp cận hệ thống đối với chính sách đối ngoại Mỹ dưới chính quyền Obama” (2012) và trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế của tác giả Lê Đình Tĩnh nghiên cứu
về chính sách của Hoa Kỳ ở những giai đoạn khác nhau và phân tích lý thuyết Một số công trình nghiên cứu gần đây về chính sách của Hoa Kỳ với các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương là cuốn "Asia Pacific countries and the US rebalancing strategy" do tác giả David W.F.Wang chủ biên, Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ của Đài Loan xuất bản (2016) nghiên cứu về chính sách xoay trục sang châu Á của Chính quyền Tổng thống Barack Obama; quan điểm của các nước, vùng lãnh thổ và tổ chức trong khu vực đối với chiến lược này, tác động của chiến lược đối với tranh chấp Biển Đông từ góc nhìn của Đài Loan Cuốn "The Obama doctrine: a legacy of contibuity in US foreign policy" do Michelle Bentley và Jack Holland đồng chủ biên, đánh giá toàn bộ thời gian Tổng thống Obama tại nhiệm, phân tích một số di sản đối ngoại như
Trang 17thỏa thuận hạt nhân với Iran, hiệp định chống biến đổi khí hậu ở Paris, quá trình bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ - Cuba; phân tích sự khác biệt giữa chính sách đối ngoại của Tổng thống Obama với chính sách của Tổng thống Bush Cuốn
"American grand strategy and East Asian security in the twenty-first century" của David C Kang phân tích tình hình an ninh khu vực Đông Á và quan hệ của Hoa Kỳ với các quốc gia trong khu vực như Triều Tiên, Nhật Bản, Hàn Quốc, Phi-líp-pin, Singapore, Indonesia, Việt Nam, đặc biệt là hợp tác an ninh Các bài viết “Về chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ hiện nay” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004), “Mỹ và an ninh Đông Nam Á hiện nay” (Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 1 (60), 2005), “Thách thức phi đối xứng trong chiến lược an ninh quốc gia Mỹ: Nhận thức và đối phó” (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 3 (84), 2005) và “Đông Nam Á và Chiến lược tái cân bằng của Mỹ” (Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 3 (94), 2013) của tác giả Lê Đình Tĩnh phân tích khía cạnh an ninh trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và làm rõ chính sách của Hoa Kỳ với khu vực Đông Nam Á
Về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Việt Nam có cuốn “Các vấn đề
nghiên cứu về Hoa Kỳ” (Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2011) của các tác giả Nguyễn Thái Yên Hương, Tạ Minh Tuấn Cuốn sách là công trình nghiên cứu về
Mỹ trên các lĩnh vực: lịch sử, văn hóa, xã hội, kinh tế; đặc biệt là hệ thống chính trị, pháp luật và chính sách đối ngoại của Mỹ Cuốn “Chính sách đối ngoại Mỹ: Tiếp cận từ Thuyết hiện thực mới và trường hợp Việt Nam sau khi bình thường hoá quan hệ đến nay” (Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, 2020) của tác giả Lê Đình Tĩnh là công trình nghiên cứu chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ góc độ lý thuyết hiện thực mới lần đầu được công bố có giá trị tham khảo lớn Cuốn sách hệ thống hóa những quan điểm chủ yếu của thuyết Hiện thực mới, vận dụng và đối chiếu vào phân tích chính sách đối ngoại Hoa Kỳ, làm rõ các nội dung của chính sách đối ngoại Hoa Kỳ sau Chiến tranh Lạnh dưới góc độ Hiện thực mới, đặc biệt
áp dụng vào chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam kể từ khi hai nước bình thường hóa đến nay Cuốn "Hoa Kỳ: Cam kết và mở rộng" (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997) của tác giả Lê Bá Thuyên, cuốn "Chính sách đối ngoại của một
số nước lớn trên thế giới" (Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2008) của tác giả Phạm Minh Sơn cũng nghiên cứu chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam thông
Trang 18qua phân tích chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với một số đối tác trên thế giới Ngoài ra, bài viết “What we should learn from Vietnam” của Richard A Falk, 02/1/2011 nói về tác động của cuộc chiến tranh với Việt Nam đối với chính sách của Hoa Kỳ nói chung và chính sách của Hoa Kỳ tại Châu Á nói riêng Báo cáo của Congressional Research Service “US-Vietnam Relations in 2010: Current Issues and Implications for U.S policy” của Mark E Manyin (2010) đề cập các vấn đề trong quan hệ với Việt Nam và các hàm ý chính sách trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
Khảo sát các tài liệu nghiên cứu của Hoa Kỳ, nghiên cứu sinh chủ yếu tìm thấy nhiều công trình viết về cuộc chiến tranh Việt Nam1 hoặc quan hệ trong giai đoạn trước bình thường hóa năm 1995
2.2 Các nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Việt Nam và chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Hoa Kỳ
Văn bản chính thức nhất đề cập tới đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam là nội dung văn kiện các Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam – được coi là sự kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của Đảng và của nhân dân, ngoài đánh giá việc thực hiện các cương lĩnh xây dựng đất nước, các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội nhiệm kỳ trước đó, văn kiện đại hội nêu nghị quyết đại hội, đề ra chiến lược phát triển, đường lối của Đảng trong nhiệm kỳ đó, trong đó
có đường lối đối ngoại tổng thể
Ngoài văn kiện đại hội, có các cuốn sách chính về chính sách đối ngoại của Việt Nam phải kể đến như “Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới” (2011) của tác giả Phạm Bình Minh, cuốn “Chính sách đối ngoại của Việt Nam” (2018) của Nguyễn Anh Cường và Phạm Quốc Thành, cuốn “Về Chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam” (2018) của Vũ Dương Huân, cuốn “Tiếp cận Chính sách đối ngoại Việt Nam” (2018) của Nguyễn Vũ Tùng (đều do Nxb Chính trị quốc gia sự thật xuất bản) đề cập các vấn đề chung liên quan đến chính sách và chính sách đối ngoại, các thuật ngữ và khái niệm; giới thiệu một số trường hợp vận hành của quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại trong một số giai đoạn cách mạng tiêu biểu của Việt Nam Tác
1 Theo cách gọi của Hoa Kỳ
Trang 19giả Vũ Dương Huân phân tích chính sách đối ngoại từ nhận thức đến hình thành
tư duy và hoạch định chính sách với mục tiêu cao nhất là “lợi ích quốc gia”; cũng dành một phần lớn trong tác phẩm của mình phân tích tu tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, trong đó khẳng định nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” với “dĩ bất biến” là lợi ích quốc gia-dân tộc Gần đây nhất, Nxb Chính trị quốc gia sự thật xuất bản cuốn “Ngoại giao Việt Nam 2001-2005” (2020) của Bộ Ngoại giao Đây là công trình nghiên cứu công phu thực hiện bởi tập thể những nhà ngoại giao giàu kinh nghiệm, đứng đầu là nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ
Vũ Khoan, phân tích đầy đủ, sâu sắc tất cả các góc cạnh của đối ngoại Việt Nam trong 15 năm đầu thế kỷ XXI (2001-2015), một thời kỳ chứng kiến những chuyển biến cơ bản của thế giới và khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cũng như những bước chuyển mình quan trọng của đất nước
Hầu như không có tài liệu tiếng Anh nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Việt Nam với Hoa Kỳ Trong nước, một số nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hoa
Kỳ có đề cập một phần tới nội dung này song ít có công trình nghiên cứu sâu riêng Nguyễn Anh Cường tìm hiểu về “Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hoá và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976-2006)” trong Luận án tiến sỹ năm
2012, trong đó hệ thống hoá sự phát triển tư duy đối ngoại của Đảng với Hoa Kỳ và với thế giới, cũng như quan điểm của chính quyền Hoa Kỳ trong quan hệ với Đông Nam Á và Việt Nam; tái hiện lại quá trình lãnh đạo của Đảng tiến tới bình thường hóa trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 1976 đến năm 1995 và thời kỳ phát triển quan hệ giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực từ năm 1996 đến năm 2006 Qua đó thấy được vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, những thuận lợi và những khó khăn phải lường trước trong quan hệ với Hoa Kỳ Bài viết “Chính sách của Việt Nam với Mỹ và quan hệ Việt-Mỹ những năm đầu thế kỷ XXI: thực trạng và triển vọng” của tác giả Hà Mỹ Hương (Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) phân tích chính sách của Việt Nam đối với Hoa Kỳ và thực trạng quan hệ song phương những năm đầu thế kỷ XXI, từ đó đưa nhận xét và dự báo triển vọng cho những thập niên đầu thế kỷ XXI
2.3 Các công trình nghiên cứu về quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ
Có khá nhiều các nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ Các nghiên cứu hoặc là nêu tổng quan hoặc hệ thống hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên
Trang 20một hoặc nhiều lĩnh vực cụ thể; hoặc là phác họa quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ hai nước trong từng khoảng thời gian cụ thể; hoặc phân tích mục tiêu, chiến lược và những tính toán lợi ích của Hoa Kỳ khi tiến hành bình thường hóa và thúc đẩy quan hệ với Việt Nam; hoặc xác định vị trí của mối quan
hệ với Việt Nam trong chính sách khu vực của Hoa Kỳ và của mối quan hệ với Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; hoặc chỉ ra những thành tựu
và hạn chế trong quá trình bình thường hóa cũng như trong thời gian phát triển quan hệ giữa hai nước từ đó rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với việc thiết lập và đẩy manh quan hệ với Hoa Kỳ
Về quan hệ song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, có khá nhiều nghiên cứu sinh
đã chọn chủ đề này làm đề tài cho luận án tiến sĩ của mình, như “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ (1995-2005)” của tác giả Trần Nam Tiến (2008); “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ năm 1991 đến năm 2006” của tác giả Vũ Thị Thu Giang (2011)… Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã mô tả quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ qua trong các khung thời gian cụ thể, phân tích các điểm song trùng về lợi ích, các nhân tố tác động đến quan hệ và dự báo chiều hướng phát triển của quan hệ, từ đó đề xuất các kiến nghị thúc đẩy quan hệ Nghiên cứu
"Why the US should normalize with Vietnam” của tác giả Frederick Brown (VBJ, 1993) phân tích nguyên nhân vì sao Hoa Kỳ phải bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Báo cáo nghiên cứu Kỷ yếu hội thảo khoa học, “Quan hệ Việt-Mỹ sau 15 năm bình thường hoá”, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Châu Mỹ, Hà Nội, tháng 7/2010; Báo cáo Đề tài nghiên cứu khoa học về
“Quan hệ Việt-Mỹ từ khi hai nước lập quan hệ ngoại giao chính thức đến nay (7/1995 – 1/1997)”, An Mạnh Toàn, Bộ Ngoại giao Bài viết “The United States and Vietnam: Road to normalization” của Frederick Brown (2000) trong cuốn
“Honey and Vinegar: Incentives, Sanctions and Foreign Policy” của Richard Haass, Meghan L O’Sullivan, Brookings Institutions Press, 2000 Tài liệu của
Cơ quan Nghiên cứu thuộc Quốc hội Hoa Kỳ (CSR) "The U.S.-Vietnam relations in 2009: the current issues and the implications for US foreign policy" của Mark E Manyin (2009) điểm lại thực trạng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ và những vấn đề cần tiếp tục thúc đẩy trong quan hệ hai nước Đến năm 2014, ông
Trang 21đã tổng hợp mối quan hệ này với những phát triển mới trong một nghiên cứu có tên "U.S.-Vietnam Relations in 2014: Current Issues and Implications for U.S Policy", CRS 2014 R40208 Nghiên cứu "A New Era in U.S.-Vietnam Relations: Deepening Ties Two Decades after Normalization" (2014) của Murray Hiebert, Phuong Nguyen và Gregory B Poling khái quát một cách có hệ thống sự phát triển của chính sách mỗi nước đối với nhau và tiến trình phát triển của cặp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ Nghiên cứu “Quan hệ Việt - Mỹ thời kỳ sau Chiến tranh lạnh (1990 - 2000)” của Lê Văn Quang đã xem xét quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ theo góc độ lịch sử, chủ yếu đề cập một cách có hệ thống về các bước phát triển của quan hệ từ trước khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến cuối thế
kỷ 20; “Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ” của Đỗ Đức Định đề cập khía cạnh kinh tế trong quan hệ giữa hai nước từ năm 1954 đến năm 2000 Cuốn
“Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: thực trạng và triển vọng” (2010) của Trần Nam Tiến đã phác họa một cách hệ thống lịch sử 10 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ, từ năm 1995 đến năm 2005 Các công trình nghiên cứu đã xuất bản thành sách về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cũng khá phong phú, như Bùi Thị Phương Lan (2011), Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 1994-
2000, Nxb Khoa học Xã hội; Trần Nam Tiến (2010), Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Thực trạng và Triển vọng, Nxb Thông tin và Truyền thông, TP Hồ Chí Minh; Nguyễn Mại (chủ biên), Lê Đình Tĩnh và các tác giả (2008), Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ: Hướng về phía trước, Nxb Tri thức, Hà Nội… Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế của Học viện Ngoại giao, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội từ 1995 đến nay cũng có nhiều bài viết về quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ song chủ yếu mô tả, phân tích thực trạng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong những giai đoạn cụ thể và dự báo triển vọng Ngoài các công trình nghiên cứu về tổng thể quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong những
giai đoạn cụ thể, có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh/lĩnh vực hợp tác trong quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ như kinh tế-thương mại, an
ninh-quốc phòng, các vấn đề dân chủ, nhân quyền… Các bài báo, sách, công trình nghiên cứu này chủ yếu mô tả, phân tích các khía cạnh trong quan hệ Việt Nam –
Trang 22Hoa Kỳ, trong đó nhân tố ý thức hệ không được đề cập tới, hoặc chỉ được nêu thoáng qua như một sự khác biệt hệ thống chính trị giữa hai nước
2.4 Các công trình nghiên cứu về ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Qua khảo sát, nghiên cứu các tài liệu, có thể khẳng định, chưa có một nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống nào, kể cả trong và ngoài nước, về vấn đề
ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Có một số công trình nghiên cứu
về “ý thức hệ” song chỉ nghiên cứu về vấn đề này trong chính sách đối ngoại của
Hoa Kỳ như cuốn sách “Ideology and U.S Foreign Policy” (2009) của tác giả
Michael H Hunt, hay đề cập lướt qua mà không đi sâu phân tích nhân tố ý thức
hệ trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Michael H Hunt lập luận rằng có một hệ
tư tưởng đã định hình chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ - một hệ tư tưởng dựa trên quan niệm về “Sứ mệnh quốc gia”2, về chủng tộc, và sự thù địch đối với các cuộc cách mạng xã hội Tác phẩm cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa ý thức hệ
và chính sách đối ngoại và cho rằng ý thức hệ có thể là một công cụ hủy diệt trong tay của một quốc gia không thể phân biệt giữa một chính sách đối ngoại đế quốc và một chính sách đối ngoại nhân đạo Trong tương quan với chính sách đối ngoại, Hunt cho rằng, với ý nghĩa to lớn, ý thức hệ là động lực cốt lõi đằng sau chính sách đối ngoại và đưa ra ba lý do chính giải thích tại sao ý thức hệ là động lực đằng sau chính sách đối ngoại, gồm (i) trước hết Hoa Kỳ là "quốc gia
vĩ đại"; (ii) chính sách đối ngoại phần lớn là một tư tưởng hệ mang tính chủng tộc và dựa trên các giá trị văn hóa; (iii) ý thức hệ của Hoa Kỳ dựa trên lập trường
về các cuộc cách mạng trong suốt chiều dài lịch sử, đồng thời dành hẳn một chương sau đó để luận giải mỗi lý do Hunt cũng nhấn mạnh giá trị “tự do” của ý
thức hệ Hoa Kỳ, coi đó là động lực chính quyết định chính sách
Peter Warren, Bich Nga Miller, Louis X Cheroutes, Arthur N Gilbert, trong tập tài liệu “Understanding America in Vietnam”, Đại học, Denver, Colorado, Hoa
Kỳ (1997) dành một chương nói về “Ý thức hệ Hoa Kỳ: các giá trị cơ bản”, nhận định các giá trị của ý thức hệ của Hoa Kỳ bao gồm: chủ nghĩa cá nhân (individualism), tài sản (property), tự do (freedom) và bình đẳng (equality), đồng thời khẳng định “siêu giá trị” (supervalue) của Hoa Kỳ là “dân chủ”; giải thích quan điểm của Hoa Kỳ về tự do, dân chủ và bình đẳng Theo đó, bình đẳng được
2 National Greatness
Trang 23nhìn nhận từ các khía cạnh khác nhau (bình đẳng về cơ hội và bình đẳng điều kiện) hay trong các lĩnh vực (bình đẳng về xã hội và kinh tế, bình đẳng về chính trị và pháp lý), trong đó bình đẳng về xã hội và kinh tế là nền tảng cho bình đẳng
về chính trị và pháp lý “Dân chủ” là “siêu giá trị của Hoa Kỳ”, là “cốt lõi của ý thức hệ Hoa Kỳ”, là “kết quả tất yếu khi có đủ các yếu tố chủ nghĩa cá nhân, tài sản, tự do và bình đẳng”
Đề cập đến vấn đề ý thức hệ có các cuốn “Ideologies and political theory”,
“Ideology: a Very short introduction”, “The oxford handbook of political ideologies” của tác giả Michael Freeden; cuốn “50 political ideas” của Ben Dupre (2010) định nghĩa và giải thích các khái niệm lý thuyết chính trị như tự
do, bình đẳng, dân chủ, cách mạng; các hệ tư tưởng như CNXH, dân chủ xã hội, chủ nghĩa cộng sản, CNTB, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa đa văn hóa… Michael Freeden cũng giới thiệu một cách tiếp cận mới về vai trò của các ý thức hệ trong nền chính trị quốc tế Song các cuốn này không đề cập tới vấn đề ý thức hệ trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ cũng như trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ Cuốn sách “Một số vấn đề về đảng cầm quyền và đảng đối lập trong đời sống chính trị Hoa Kỳ” của các tác giả Nguyễn Thị Hạnh (chủ biên), Nguyễn Kim Anh, Lê Thu Hà (Nxb Khoa học xã hội, 2012) làm rõ một số vấn đề về đảng cầm quyền và đảng đối lập trong đời sống chính trị Hoa Kỳ trên các khía cạnh: quá trình hình thành và các giai đoạn phát triển của hai đảng; làm rõ nội dung và phương thức hoạt động của hai đảng trong đời sống chính trị Hoa Kỳ, từ
đó rút ra một số đánh giá về đảng cầm quyền và đảng đối lập trong lịch sử chính trị Hoa Kỳ Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế của Nguyễn Thị Huyền Trang về “Tác động của nhân tố đảng phái đến chính sách đối ngoại của Chính quyền Obama” (2018) làm rõ quan điểm đối ngoại của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hoà thể hiện trong chính sách đối thoại của Chính quyền Barack Obama, từ đó phân tích tác động của nhân tố đảng phái đến chính sách đối ngoại của Chính quyền Obama để đưa ra khung phân tích, giúp dự báo về tác động của nhân tố đảng phái đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ giai đoạn hậu Obama Công trình luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế về “Quy trình hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ: trường hợp xây dựng quan hệ Đối tác Chiến lược Việt-Mỹ” của tác giả Lê Chí Dũng (năm 2016) phân tích hệ thống hoạch
Trang 24định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, các nhân tố tác động tới hệ thống hoạch định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ qua nghiên cứu các trường hợp điển hình, nghiên cứu xác định các nhân tố tác động tới hệ thống hoạch định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ để dẫn tới sự hình thành quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam
- Hoa Kỳ năm 2013 và từ đó đưa ra một số dự đoán đối với khả năng hình thành quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian tới, trong đó đề cập tới nhân tố ý thức hệ TBCN và hệ giá trị của Hoa Kỳ đóng vai trò như những nguyên tắc bất thành văn và định hướng hcung cho nguyên tắc và mục tiêu của
hệ thống hoạch định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
Gần đây, một số bài viết của một số tác giả có đề cập đến vấn đề ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ như “Vietnam – US relations balancing ideology and geopolitics” và “The dramatic transformation in US-Vietnam relations” của Cường T Nguyễn, Đại học Chicago (2015); “A breakthrough in US-Vietnam relations” của Alexander L Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương (APCSS), trực thuộc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (2015); “The future of Vietnam – U.S Relations” của tác giả Tạ Minh Tuấn (2010); “Ideology remains persistent barrier in advancing Vietnam-US relationship” của tác giả Li Kaisheng, Học viện Khoa học Xã hội Thượng Hải-Trung Quốc; “The right way to Read US-Vietnam Relations today” của tác giả Tôn Nữ Thị Ninh (06/7/2015) trên các trang The Diplomat, Brookings.edu, Globaltimes.cn Các bài viết này có đề cập tới vấn đề ý thức hệ như là nhân tố tác động tới quan hệ hai nước, cho rằng khác biệt về ý thức hệ vẫn sẽ là rào cản cho tương lai của quan hệ; nhưng “các nhà lãnh đạo sẽ “tái định nghĩa” ý thức hệ
để phù hợp với các mục tiêu chính sách đối nội và đối ngoại” (Cường T Nguyễn) Li Kaisheng cho rằng ý thức hệ là một trong ba yếu tố quyết định tới chính sách đối ngoại cân bằng giữa hai nước lớn là Hoa Kỳ và Trung Quốc Các bài “Quan hệ Mỹ - Trung: Yếu tố ý thức hệ, lợi ích quốc gia và tương quan so sánh lực lượng” (Tạp chí Châu Mỹ ngày ngay, số 12 (177), 2012) của Lê Đình Tĩnh phân tích các yếu tố trong quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc, trong đó có yếu
tố ý thức hệ, có thể tham khảo cho việc phân tích yếu tố này trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Bài viết “Bàn về tư duy chiến lược: Lý thuyết, thực tiễn và trường hợp Việt Nam” (2017), “Mục tiêu cường quốc tầm trung và viễn cảnh
Trang 25ngoại giao Việt Nam sau năm 2030” (2018) cũng của tác giả Lê Đình Tĩnh trên Tạp chí Nghiên cứu quốc tế nêu một số đề xuất với Việt Nam liên quan đến ý thức hệ, phát triển quan hệ với các cường quốc dựa trên nền tảng lợi ích quốc gia Như vậy, các bài viết cũng chỉ đề cập “thoáng qua” hoặc đề cập đến nhân tố
ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ nhưng không phân tích sâu tác động của nhân tố này đối với chiều hướng phát triển của quan hệ
Tóm lại, qua quá trình tìm hiểu, thu thập và nghiên cứu tài liệu liên quan, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu về Hoa Kỳ cả trong nước và ngoài nước khá phong phú và đa dạng, song chủ yếu là về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Cũng có khá nhiều nghiên cứu, chủ yếu là nghiên cứu trong nước, về quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, một số nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, hoặc một vài tài liệu nghiên cứu đề cập tới các lĩnh vực hợp tác hay các khía cạnh của mối quan hệ này, trong đó có vấn đề
ý thức hệ có giá trị cho việc kế thừa, phát triển Song có thể khẳng định rằng chưa có một công trình nghiên cứu mang tính tổng quát và có hệ thống về nhân
tố ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ cả trong nước và nước ngoài với những khía cạnh sau trong quan hệ: hệ thống hóa các lý thuyết về ý thức hệ, ý thức hệ trong quan hệ quốc tế, ý thức hệ trong so sánh với lợi ích quốc gia và yếu
tố tương quan so sánh lực lượng; tác động của nhân tố ý thức hệ tới quá trình vận động và chiều hướng phát triển của quan hệ; nhân tố ý thức hệ trong tương quan với một số vấn đề nhạy cảm trong quan hệ
Những thiếu sót đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu về vai trò, tác động của nhân tố
ý thức hệ đối với quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ về hình thức, mức độ tác động và trên các kênh quan hệ cụ thể, trên cơ sở các lý thuyết về ý thức hệ, ý thức hệ trong quan
hệ quốc tế; ý thức hệ trong tương quan với lợi ích quốc gia, ý thức hệ biểu hiện ở vấn đề dân chủ, nhân quyền; mối liên hệ giữa ý thức hệ với một số chủ đề nhạy cảm có liên quan trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ như hội chứng chiến tranh, diễn biến hòa bình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ sự vận động và chiều hướng tác động của nhân tố ý thức hệ đến quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ kể từ khi bình thường hóa đến hết nhiệm kỳ của
Trang 26Chính quyền Donald Trump (cuối năm 2020) và dự báo xu hướng tác động của
nhân tố này trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề ý thức hệ trong quan hệ quốc tế, trong so sánh với lợi ích quốc gia và trong chính sách đối ngoại của Việt Nam và Hoa Kỳ
- Nghiên cứu tác động của nhân tố ý thức hệ đối với sự phát triển của quan
hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, trong tương quan với các nhân tố tác động khác trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ kể từ khi bình thường hóa đến nay về hình thức, mức độ và trên các kênh quan hệ cụ thể
- Đánh giá mối liên hệ giữa ý thức hệ với một số vấn đề trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ như hội chứng chiến tranh, vấn đề dân chủ, nhân quyền, diễn biến hòa bình
- Liên hệ đến quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc soi chiếu dưới góc nhìn của nhân tố ý thức hệ
- Đánh giá những đặc điểm, chiều hướng vận động của quan hệ, từ đó dự báo về triển vọng và khuyến nghị nằm thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nhân tố ý thức hệ trong quan hệ song phương Việt Nam-Hoa Kỳ kể từ khi
bình thường hoá năm 1995
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Luận án giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu về 01 nhân tố trong các nhân tố tác động đến quá trình vận động và phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là nhân tố ý thức hệ Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn (sự vận động, tác động) của nhân tố này trong quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, nhìn từ góc độ Việt Nam
Về thời gian: Luận án giới hạn nghiên cứu nhân tố ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ khi bình thường hóa (năm 1995) đến hết nhiệm kỳ của Chính quyền Tổng thống Donald Trump (năm 2020)
Trang 27Về không gian: Việt Nam, Hoa Kỳ và khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó lưu ý đến đối chiếu với tam giác quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ - Trung Quốc bởi là quốc gia láng giềng, với thể chế chính trị và nền văn hoá tương đồng, Trung Quốc không thể được tách rời khi nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, đặc biệt là dưới lăng kính ý thức hệ Việt Nam nằm giữa vùng giao thoa cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, sự đan xen giữa sự ràng buộc về ý thức hệ và sự song trùng các lợi ích quốc gia giữa Việt Nam và Trung
Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ có tác động chi phối lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu và các nghiệm vụ nghiên cứu như trên, luận án kết hợp vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nghiên cứu quan
hệ quốc tế như phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp lô-gíc, phương pháp điều tra, phương pháp thống kê và phân tích tài liệu, phương pháp
dự báo, phương pháp điển cứu, phương pháp truy nguyên, phương pháp phân tích chính sách
Phương pháp lịch sử, phương pháp lô-gíc và phương pháp hệ thống nhằm giải đáp các vấn đề lý luận, làm rõ những luận điểm có mối liên hệ và tác động đối với đối tượng nghiên cứu, có thể giúp lý giải đối tượng nghiên cứu trong một chỉnh thể Các phương pháp như điều tra, thống kê, phân tích chính sách, phương pháp điển cứu (nghiên cứu trường hợp) được sử dụng nhằm xây dựng các phân tích có tính chất định tính và định lượng đối với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Phương pháp phân tích chính sách được sử dụng nhằm làm rõ vị trí của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của nước kia, từ đó có cơ sở nghiên cứu quan hệ song phương Với tư cách là người tham gia một số sự kiện nổi bật trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, tác giả cũng dự kiến sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp để củng cố, minh họa, cung cấp thêm các lập luận và cứ liệu cho các luận điểm cần chứng minh
Các phương pháp này được sử dụng bổ trợ cho nhau chứ không mang tính loại trừ lẫn nhau, và điều này cho thấy bản chất phức tạp và đa ngành của đối tượng cần nghiên cứu Nhằm góp phần làm rõ thêm những minh họa về mặt chính sách và với mục tiêu làm sâu thêm số khía cạnh trong phân tích nhân tố ý thức hệ, luận án cũng lựa chọn sử dụng phương pháp điển cứu với việc lựa chọn 03 trường
Trang 28hợp điển hình là: (i) Quá trình Hoa Kỳ kết thúc đàm phán về việc Việt Nam gia nhập WTO; Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (tháng 7/2015) và (ii) Quan hệ kênh đảng Việt Nam – Hoa Kỳ Luận án cũng vận dụng thêm phương pháp dự báo nhằm phác hoạ triển vọng của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ nhìn từ lăng kính của nhân tố ý thức hệ
6 Những đóng góp của Luận án
Về mặt khoa học, luận án góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận
và thực tiễn về vấn đề ý thức hệ trong quan hệ quốc tế và trong quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ Mặc dù có nhiều nghiên cứu về quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, song với phạm vi nghiên cứu tập trung vào nhân tố
ý thức hệ, Luận án giải đáp câu hỏi về tác động của nhân tố này trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ khi bình thường hóa đến nay Luận án định vị và đánh giá
về nhân tố ý thức hệ trong quan hệ với các yếu tố có liên quan khác trong quan
hệ Việt Nam – Hoa Kỳ như văn hóa, lịch sử; hội chứng chiến tranh; dân chủ, nhân quyền; diễn biến hòa bình để giải thích liệu đâu là nguyên nhân thực sự/cốt lõi của các vấn đề tồn tại trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Ngoài việc phân tích vai trò, tác động, Luận án xác định chiều hướng vận động của nhân tố ý thức
hệ trong quá trình phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, từ đó đề xuất các giải pháp tiếp tục thúc đẩy quan hệ trong thời gian tới
Về mặt thực tiễn, luận án là công trình nghiên cứu có ý nghĩa đối với công tác chuyên môn, nghiên cứu của cá nhân, và là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách hoặc các cơ quan nghiên cứu liên quan ở Việt Nam
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung của Luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ý thức hệ trong quan hệ quốc
tế và trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Việt Nam Chương 1 giải đáp
các vấn đề lý luận bao gồm lý luận về ý thức hệ trong quan hệ quốc tế, trong đó làm rõ quan điểm về ý thức hệ của các trường phái chính trong quan hệ quốc tế; vấn đề ý thức hệ trong mối liên hệ với nhân tố lợi ích quốc gia Từ việc làm rõ ý thức hệ Việt Nam và ý thức hệ Hoa Kỳ, chương này cũng sẽ phân tích Việt Nam
Trang 29và Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại của nước kia, đánh giá dấu ấn của ý thức
hệ và lợi ích quốc gia dân tộc trong chính sách đối ngoại của mỗi nước
Chương 2: Tác động của nhân tố ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam –
Hoa Kỳ Chương 2 nghiên cứu sự vận động và tác động của nhân tố ý thức hệ
trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, đặt trong tương quan với các nhân tố khác
tác động đến quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ như lịch sử chiến tranh, lợi ích kinh
tế-thương mại, địa chiến lược, nhân tố Trung Quốc…; đồng thời đặt ý thức hệ
trong mối liên hệ với một số chủ đề nhạy cảm có liên quan trong quan hệ Việt
Nam – Hoa Kỳ như hội chứng chiến tranh, vấn đề dân chủ, nhân quyền và diễn
biến hòa bình
Chương 3: Dự báo về nhân tố ý thức hệ trong quan hệ Việt Nam – Hoa
Kỳ và khuyến nghị Chương 3 của luận án tái khẳng định cơ sở lý luận và thực
tiễn của các dự báo, liên hệ tới quan hệ giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc từ góc độ ý
thức hệ, từ đó đưa ra các kịch bản của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ góc độ ý
thức hệ theo mức độ chi phối của ý thức hệ đối với mối quan hệ, và đề xuất các
khuyến nghị nhằm gia tăng mặt song trùng về lợi ích, giảm thiểu tác động cản trở
của nhân tố ý thức hệ đến sự phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
Trang 30“lợi ích quốc gia” Với lăng kính tổng hợp được soi chiếu dựa trên quan điểm của thuyết hiện thực, thuyết tự do, thuyết kiến tạo, chủ nghĩa Mác Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về ý thức hệ, trên cơ sở làm rõ ý thức hệ Việt Nam và ý thức
hệ Hoa Kỳ, tác giả cũng sẽ phân tích và đánh giá vấn đề ý thức hệ trong chính sách đối ngoại của mỗi nước và phác hoạ Việt Nam và Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại của nước kia
1.1 Lý luận về ý thức hệ trong quan hệ quốc tế
Thế kỷ 19, Karl Marx nhìn nhận ý thức hệ với nghĩa tiêu cực là một “buồng tối máy ảnh” thể hiện “hình ảnh bóp méo” của sự thật khách quan về đấu tranh giai cấp; là phương tiện để củng cố quyền lực và phục vụ các lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội Sau này, Lenin phát triển khái niệm của Marx cho rằng
“trí thức cách mạng” có thể cung cấp cho giai cấp công nhân một ý thức hệ, có thể “can thiệp vào tiến trình lịch sử”3
3 H.M Drucker, Marx’s concept of Ideology, Vol 47, No 180 (1972), Cambridge University Press, 152-160
Trang 31Đầu thế kỷ 20, Karl Mannheim4 đã phát triển nội dung ý thức hệ là một hệ
tư tưởng được chia sẻ bởi một nhóm xã hội nhất định, có sự phân biệt giữa hệ tư tưởng “cục bộ” và “tổng thể”, ý thức hệ, giữa hệ tư tưởng “đại diện cho thế giới quan toàn diện” và “đại diện cho các nhóm xã hội cụ thể”, giữa hệ tư tưởng phục
vụ cho trật tự xã hội hiện tại và hệ tư tưởng trong trong tương có thể tạo ra biến đổi xã hội5 Cho rằng quan điểm của Karl Marx về CNTB và ý thức hệ là thực dụng, Max Weber6 tập trung nghiên cứu yếu tố văn hoá, nhất là tư tưởng của đạo Kitô trong việc hình thành và phát triển CNTB ở các nước tư bản Mỹ, Anh7 Giữa thế kỷ 20, đại diện của chủ nghĩa hiện thực Hans Morgenthau lại cho rằng ý thức hệ không chỉ tồn tại ở các nước tư bản mà cả các thể chế khác, cuộc đấu tranh giành quyền lực, vốn là yếu tố cơ bản xác định nền chính trị quốc tế, luôn khoác “lớp nguỵ trang” ý thức hệ”8
Từ những năm 70 của thế kỷ 20, nội dung về ý thức hệ được nghiên cứu rộng hơn Michael Freeden trình bày những tranh luận xung quanh ý thức hệ, nghiên cứu tầm quan trọng của ý thức hệ trong việc hiểu bản chất của chính trị học, giải thích tại sao hệ tư tưởng xứng đáng được tôn trọng như “một hình thức chính của tư duy chính trị’, tính trung tâm của ý thức hệ vừa là “một hiện tượng chính trị” vừa là “một khuôn khổ tổ chức của tư duy và hành động chính trị” [208] Terry Eagleton định nghĩa ý thức hệ theo góc nhìn văn hoá như “một hệ thống nhất các biểu tượng, giá trị và niềm tin”, không chỉ được phản ánh trong
bộ não của các cá nhân mà còn được biểu lộ công khai và có thể được tìm thấy trong các nghi lễ và biểu tượng của xã hội”9 Malcom Haminton cho rằng “ý thức hệ là hệ thống các quan niệm chung của tập thể, các ý tưởng được coi là thực tế, các niềm tin và thái độ ủng hộ hoặc biện hộ cho một hình thái cụ thể của các quan hệ chính trị hay kinh tế”10 Từ điển Cambridge định nghĩa ý thức hệ là
4 Nhà xã hội học người Đức có ảnh hưởng trong, là nhân vật chủ chốt trong xã hội học cổ điển, đồng thời là một trong những người sáng lập nên xã hội học tri thức
5 Karl Mannheim, Ideology and Utopia, Vol.103, No.1, Twentieth-Century Classics Revisited, The MIT Press, 1974, p 83-89
6 Nhà xã hội học, sử học, luật gia và kinh tế chính trị người Đức, được coi là một trong những nhà lý thuyết quan trọng nhất về sự phá triển của xã hội phương Tây hiện đại
7 Webber, Max, The Protestant Ethic and the spirit of capitalism, 1905
8 Morgenthau, Hans, Politics among Nations: The struggle for Power and Peace, 5th ed New York, 1973
9 Terry Eagleton, Clifford Geertz Ideology as a cultural system, 1st edition, London, 1994, p.16
10 Malcolm B Hamilton, The elements of the concept of Ideology, Political Studies 35 (1987), p18-38
Trang 32“hệ thống các đức tin hay nguyên tắc, đặc biệt là đức tin hay nguyên tắc mà một
hệ thống chính trị, một đảng phái chính trị, hay một tổ chức chính trị lấy làm nền tảng” Còn theo từ điển American Heritage ý thức hệ là “một hệ thống các ý tưởng phản ánh nhu cầu xã hội và nguyện vọng của một người, một nhóm người, một giai cấp hay một nền văn hoá” hoặc “một tập hợp các học thuyết và ý tưởng cấu thành cơ sở của một hệ thống chính trị hoặc kinh tế” [272, tr.896] Từ điển Penguin về quan hệ quốc tế ghi rằng “ý thức hệ chính trị là tập hợp các giả định
và ý tưởng mang tính học thuyết về quá khứ, hiện tại và tương lai của các vấn đề trong hệ thống chính trị hoặc kinh tế” [216]
Ý thức hệ và hệ giá trị có sự liên quan, nếu ý thức hệ là tập hợp các tín điều thì
hệ giá trị là tập hợp các tiêu chuẩn Trên cơ sở “ý thức hệ” là hệ thống những quan điểm triết học hay chính trị, thì khi ta nói đến một 'ý thức hệ' nào đó tức là chúng
ta nói đến một chủ nghĩa nhất định như ý thức hệ Nho giáo, ý thức hệ TBCN, ý thức hệ XHCN… Ý thức hệ sẽ quy định các giá trị theo đó Ý thức hệ TBCN sẽ quy định các giá trị như thị trường tự do, các giá trị dân chủ, nhân quyền…
Sự khác biệt về ý thức hệ liên quan đến nội dung luận án, cụ thể là giữa hai chủ thể Việt Nam và Hoa Kỳ, cần được hiểu là sự khác biệt giữa ý thức hệ TBCN của Hoa Kỳ, trong sự đối lập với ý thức hệ XHCN của Việt Nam
CNTB là một hình thái kinh tế-xã hội của xã hội loài người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu, phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu Âu
và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tại Hà Lan và Anh ở thế kỷ
17 Từ điển Cambridge định nghĩa CNTB là một hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội trong đó tài sản, doanh nghiệp và công nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, chứ không phải là nhà nước, được quản lý hướng tới việc tạo ra các lợi nhuận lớn nhất có thể cho các tổ chức và cá nhân thành công [185] Từ điển Merriam-Webster, CNTB là một hệ thống kinh tế được đặc trưng bởi quyền sở hữu tư nhân hoặc doanh nghiệp đối với hàng hóa, bởi các khoản đầu tư được xác định theo quyết định tư nhân và giá cả, sản xuất, phân phối được quyết định bởi cạnh tranh trong một thị trường tự
do [245] Dù có nhiều định nghĩa khác nhau, song tựu chung lại, CNTB là một hình thái kinh tế xã hội đặc trưng bởi các yếu tố kinh tế tư nhân, sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất, lợi nhuận, tích lũy vốn, lao động tiền lương, trao đổi tự nguyện,
hệ thống giá và thị trường tự do và cạnh tranh
Trang 33CNXH là một trong ba ý thức hệ chính trị lớn hình thành trong thế kỷ 19 bên cạnh chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo thủ CNXH được hiểu là hệ tư tưởng hay hệ thống kinh tế đối lập với CNTB Từ điển Merriam-Webster định nghĩa CNXH là (i) lý thuyết kinh tế và chính trị ủng hộ sở hữu và quản lý các phương tiện sản xuất và phân phối hàng hóa thuộc tập thể hoặc chính phủ; (ii) một hệ thống xã hội hoặc nhóm người trong đó sở hữu và quản lý các phương tiện sản xuất và phân phối hàng hóa thuộc tập thể hoặc nhà nước; (iii) một giai đoạn của xã hội trong lý thuyết Mác-xít chuyển tiếp giữa CNTB và chủ nghĩa cộng sản và được phân biệt bằng cách phân phối hàng hóa không đồng đều và trả tiền công theo công việc được thực hiện [245] Những người theo CNXH hay ủng hộ CNXH công kích CNTB gây ra bất công xã hội, phân hóa giàu nghèo, chế độ đẳng cấp, nạn bóc lột lao động, lối sống thực dụng, tha hóa con người
Như vậy, CNXH là hình thái xã hội đối lập với CNTB, được đặc trưng bởi yếu tố sở hữu tập thể/nhà nước Theo học thuyết Mác-Lê-nin, CNXH là hình thái
xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn CNTB với 3 thuộc tính cơ bản: (i) xóa bỏ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu (toàn dân và tập thể) đối với tư liệu sản xuất (tư bản, đất đai); (ii) nguồn lực kinh tế được quản lý, phân phối theo kế hoạch của Nhà nước, sản xuất và phân phối theo chỉ tiêu pháp lệnh, không theo cơ chế thị trường; (iii) làm theo năng lực và hưởng theo lao động Đảng Cộng sản Việt Nam định hình rõ nét và cụ thể hơn CNXH bằng một
hệ thống các quan điểm lý luận về CNXH với 8 đặc trưng được khái quát là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” [37, tr.69-70, 70-73]
Theo quan điểm của Karl Marx, chủ nghĩa cộng sản là một hình thái kinh tế
xã hội và hệ tư tưởng chính trị ủng hộ việc thiết lập xã hội phi nhà nước, không giai cấp, tự do, bình đẳng, dựa trên sự sở hữu chung và điều khiển chung
Trang 34đối với các tư liệu và các phương tiện sản xuất nói chung Chủ nghĩa cộng sản sẽ
là giai đoạn cuối cùng của lịch sử, đạt được qua một cuộc cách mạng vô sản Karl Marx khẳng định rằng cách duy nhất để giải quyết các vấn đề của kinh
tế thị trường TBCN và di sản của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa dân tộc là tầng lớp lao động (vô sản), những người mà theo Marx là lực lượng chính tạo ra của cải vật chất trong xã hội và là những người bị tầng lớp tư bản (tư sản) bóc lột, đứng lên làm tầng lớp cầm quyền thay cho giới tư sản để thiết lập một xã hội tự
do, không phân biệt giai cấp hay chủng tộc Theo quan điểm của những người cộng sản, chủ nghĩa cộng sản là con đường để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại Thực hiện chủ nghĩa cộng sản thông qua cách mạng, bao gồm cách mạng lật đổ chế độ "người bóc lột người", và cách mạng xây dựng xã hội mới Trong vai trò một hệ tư tưởng chính trị, chủ nghĩa cộng sản thường được xem là một nhánh của CNXH
1.1.2 Luận giải về nhân tố ý thức hệ trong các trường phái chính trong quan
hệ quốc tế
1.1.2.1 Thuyết hiện thực
Đây là một trong những lý thuyết kinh điển trong nghiên cứu chính trị học quốc tế Chủ nghĩa hiện thực có ảnh hưởng mạnh mẽ tới tư duy hoạch định chính sách đối ngoại của các quốc gia Thuyết hiện thực đưa ra 3 luận điểm chính: Thứ nhất, tình trạng xung đột giữa các quốc gia là thường trực Theo thuyết hiện thực, về bản chất, hệ thống quan hệ quốc tế là một hệ thống vô chính phủ, không tồn tại một quyền lực đứng trên các quốc gia nhằm điều chỉnh và quản lý mối quan hệ giữa họ với nhau Đảm bảo an ninh quốc gia là nhu cầu thường trực
và nâng cao quyền lực nhằm tự bảo đảm an ninh và sự tồn tại của mình trong hệ thống là mục tiêu của các quốc gia, dẫn tới tình trạng thường trực của quan hệ quốc tế là mâu thuẫn, xung đột và đối đầu, trong nhiều trường hợp dưới hình thức chiến tranh hoặc xung đột vũ tranh Nền chính trị quốc tế là cuộc đấu tranh gianh giành quyền lực [49, tr.6-7]
Thứ hai, các nước phải tự cứu mình Trong môi trường vô chính phủ không tồn tại cơ chế giải quyết xung đột và tranh chấp có tính cưỡng chế Các nước phải
“trông” vào chính mình, bằng nỗ lực của mình để bảo đảm lợi ích của mình Trong mọi hoàn cảnh, lợi ích quốc gia đều là tiêu chí cho mọi hành động quốc gia,
Trang 35là yếu tố bất định duy nhất của chính sách, như câu nói nổi tiếng của Henry John Temple Palmerston – Thủ tướng Vương quốc Liên hiệp Anh và Ai-len, trong phát biểu trước Hạ viện Anh ngày 03/01/1848, rằng trong quan hệ quốc tế “không có đồng minh bất diệt, cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia dân tộc là bất diệt và vĩnh viễn”11
Thứ ba, vai trò chủ đạo của các nước lớn Về lý thuyết, các nước tham gia quan hệ quốc tế đều có độc lập, chủ quyền và bình đẳng với nhau về mặt luật pháp, và đều theo đuổi lợi ích quốc gia của mình Tuy nhiên, mục tiêu, định hướng chính sách của các nước lớn ảnh hưởng đến tiến trình và kết quả của quan hệ giữa các nước nói riêng và đến quan hệ quốc tế nói chung, từ đó thay đổi cấu trúc của quan hệ quốc tế và quyết định trật tự quốc tế
Trên cơ sở đó, thuyết hiện thực thực quan niệm lợi ích quốc gia là mục tiêu của các quốc gia, mà một trong những lợi ích quốc gia tối thượng là sự tồn vong của dân tộc, yếu tố ý thức hệ là công cụ Thuyết Domino là học thuyết chính trị-đối ngoại theo chủ nghĩa hiện thực của chính phủ Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, lần đầu tiên xuất hiện dưới thời của Tổng thống Dwight D Eisenhower để chỉ về nguy cơ phát triển của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương
mà trọng tâm là tại Miền Nam Việt Nam Thuyết domino giả định rằng nếu Việt Nam rơi vào tay lực lượng cộng sản thì các nước còn lại trong khu vực Đông Nam
Á cũng sẽ sụp đổ theo như những quân bài domino, và học thuyết này cũng sau này đã được sử dụng để biện minh cho phần lớn các nỗ lực của Hoa Kỳ dành cho Chiến tranh Việt Nam [189]
Như vậy, thuyết hiện thực không xem trọng vấn đề ý thức hệ, miễn là phục
vụ lợi ích quốc gia – dân tộc Ý thức hệ là công cụ để tập hợp lực lượng đấu tranh, tăng cường sức mạnh Ý thức hệ là phương tiện để thực hiện một mục tiêu chứ không phải là mục tiêu
1.1.2.2 Thuyết tự do
Cùng với Thuyết hiện thực, Thuyết tự do là một trong những trường phái quan trọng nhất trong lý thuyết quan hệ quốc tế, cũng là lý thuyết có lịch sử lâu đời nhất Thuyết tự do đưa ra một số luận điểm liên quan đến ý thức hệ và lợi ích như sau:
11 Nguyên văn “We have no eternal allies, and we have no perpetual enemies Our interests are eternal and perpetual, and those interests it is our duty to follow”
Trang 36Thứ nhất, lợi ích quốc gia là đa dạng, sự đa dạng lợi ích được quy định bởi quốc gia được cấu thành từ nhiều nhóm lợi ích khác nhau Các quốc gia đều theo đuổi thường xuyên các lợi ích này trong quan hệ quốc tế, nên quan hệ quốc tế là
sự đan xen nhiều lợi ích khác nhau Theo Thuyết tự do, những lợi ích quốc gia quan trọng nhất là hoà bình (chính trị) và thịnh vượng (kinh tế), do đó chính trị và kinh tế là hai lĩnh vực cơ bản nhất trong quan hệ quốc tế Theo đó, các quốc gia có
sự gắn bó mật thiết về kinh tế thì có xu hướng gắn bó về chính trị, dù có sự khác biệt về thể chế chính trị [97]
Thứ hai, những người dựa trên chủ nghĩa tự do kinh tế coi phát triển kinh tế thị trường là phương cách quan trọng để thúc đẩy hợp tác Kinh tế thị trường được xây dựng trên cơ sở tự do kinh tế và phần nào là tự do chính trị Kinh tế thị trường tác động đến quan hệ quốc tế bằng nhiều cách khác nhau: đem lại sự thịnh vượng – mục tiêu chung của các quốc gia, giúp thúc đẩy lợi ích chung trong quan hệ quốc tế; phát triển kinh tế thị trường đòi hỏi thúc đẩy hợp tác bởi đây là phương thức quan hệ chủ yếu trong kinh tế thị trường Kinh tế thị trường cũng dẫn đến yêu cầu phải duy trì môi trường an ninh để phát triển, tạo áp lực từ trong nước đối với chính sách đối ngoại theo hướng hoà bình, hợp tác
Thứ ba, chủ nghĩa tự do mới nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau trong quan hệ quốc tế Dân chủ và kinh tế thị trường phát triển sẽ dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn ảnh hưởng sang các lĩnh vực khác, tạo sự hiểu biết và tạo điều kiện cho sự hợp tác, tạo sự trao đổi các giá trị
và thúc đẩy toàn cầu hoá, tạo tính hướng đích chung cho quan hệ quốc tế Sự phụ thuộc lẫn nhau cũng làm giảm nguy cơ xung đột giữa các quốc gia, kể cả những xung đột về mặt khác biệt ý thức hệ, khác biệt các giá trị, bởi cái giá phải trả cho xung đột là lớn hơn cho các chủ thể trong một mối quan hệ phụ thuộc [97]
Thứ tư, một nhánh của chủ nghĩa tự do - thuyết hoà bình dân chủ - đề cao vai trò của dân chủ như cách thức quan trọng duy trì hoà bình, thúc đẩy hợp tác và đảm bảo an ninh trong quan hệ quốc tế Thuyết này cũng cho rằng cần phải phổ biến dân chủ hoá ra toàn cầu, các chủ thể khác biệt về ý thức hệ phải trở thành dân chủ [97] Thứ năm, với việc đề cao vai trò của thể chế quốc tế trong việc quản lý xung đột, duy trì hoà bình, thúc đẩy hợp tác và hội nhập Các thể chế quốc tế được lập ra để phục vụ các mẫu số chung lợi ích giữa các quốc gia Việc tham gia các thể chế quốc
Trang 37tế sẽ giúp tăng cường hiểu biết, gia tăng lòng tin, thúc đẩy hợp tác và hội nhập, hạn chế khả năng xung đột hoặc giúp giải quyết xung đột Hợp tác đa phương sẽ xoá nhoà, giảm bớt vấn đề ý thức hệ Việc Việt Nam gia nhập các thể chế quốc tế như WTO, hay Hoa Kỳ tham gia các cơ chế của ASEAN giúp tạo ra các giá trị chung giữa hai nước, từ đó giảm bớt tác động cản trở do sự khác biệt về ý thức hệ tạo ra Chủ nghĩa tự do với nền tảng của thuyết đa nguyên cũng giải thích rất rõ chính sách đối ngoại hay quan hệ chịu tác động của chính trị nội bộ, các nhóm lợi ích khác nhau Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với Việt Nam, đặc biệt là vấn đề nhân quyền, thương mại, thường chịu tác động giữa các nhóm có quan điểm khác biệt trong quốc hội, hoặc giữa hai đảng phái Dân chủ và Cộng hoà Thuyết tự do thúc đẩy các giá trị dân chủ tự do, tự do trong các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức; tuyệt đối hóa quyền tự do cá nhân và chủ trương hạn chế sự can thiệp của nhà nước đối với các hoạt động của cá nhân Chủ nghĩa tự do là cơ sở của tư duy bá quyền, cho rằng mô hình và các giá trị của ý thức hệ TBCN của mình cần được phổ biến trên phạm vi thế giới, thực hiện các cuộc "cách mạng màu" trên thế giới của Hoa Kỳ
Thuyết tự do cũng cho rằng hợp tác và hội nhập sẽ thay thế dần cho xung đột
và trở là xu hướng phát triển của quan hệ quốc tế, sự phát triển của nhận thức lý trí khiến các chủ thể ngày càng quan tâm hơn đến lợi ích tuyệt đối, lâu dài so với lợi ích tương đối, ngắn hạn, hợp tác sẽ thay thế dần cho tình trạng xung đột trong quan hệ quốc tế
1.1.2.3 Thuyết kiến tạo
Thuyết kiến tạo xuất hiện từ lâu trong khoa học xã hội, song gần đây mới trở nên có ảnh hưởng trong chuyên ngành quan hệ quốc tế, hiện là học thuyết phê bình
có ảnh hưởng nhất trong nghiên cứu quan hệ quốc tế Quan điểm kiến tạo lấy vấn
đề “bản sắc” làm xuất phát điểm cho lô-gíc của mình Luận điểm chính của thuyết kiến tạo là thực trạng xã hội được xây dựng nên từ những tranh luận về “giá trị”,
“bản sắc” và “ý thức hệ” Theo đó, thuyết kiến tạo đưa ra các lập luận như sau: Thứ nhất, quốc gia là những chủ thể xã hội Quốc gia không hợp tác với nhau khi giữa chúng tồn tại khác biệt trong cách nhìn nhận về nhau trong bối cảnh xã hội
cụ thể Các nước sẽ khó hợp tác nếu không có chung một bản sắc tập thể, hoặc thậm
Trang 38chí có thể xung đột với nhau nếu vì bản sắc khác nhau mà đưa đến cách nhìn nhận
về lợi ích khác nhau
Thứ hai, thuyết kiến tạo nhấn mạnh đến bản sắc Bản sắc của một quốc gia bao hàm ưu tiên và hành vi tương ứng của quốc gia đó Các quốc gia có thể có nhiều bản sắc và các bản sắc đó có thể trùng nhau ở một số điểm Quốc gia nhận thức về quốc gia khác tuỳ theo bản sắc mà nó gán cho các quốc gia khác, song song với đó nó cũng xác lập bản sắc của chính mình thông qua thực tiễn xã hội hàng ngày Ý thức hệ là một phần của bản sắc, một phần của giá trị mà một quốc gia theo đuổi; và lợi ích quốc gia cũng phần nào được xác định bởi bản sắc Hòa bình, hợp tác không chỉ hạn chế giữa các nước có cùng chế độ chính trị mà còn
có thể mở rộng giữa các nước thuộc các chế độ chính trị khác nhau, nếu giữa các nước đó có thể hình thành bản sắc chung và có lợi ích trong mối quan hệ đó Ý thức hệ giúp các quốc gia một mặt định hình bản sắc, một mặt tái định hình nhận thức của họ về thế nào là lợi ích quốc gia [222]
Thứ ba, hợp tác có xu hướng lâu dài và bền chặt hơn nếu quan hệ giữa các nước được xây dựng trên một bản sắc chung Điều này lý giải cho sự hình thành của các cơ chế hợp tác cấp khu vực hoặc tiểu vùng như EU, ASEAN…
Như vậy, theo các lập luận của thuyết kiến tạo, thì các quốc gia có càng nhiều các điểm tương đồng về bản sắc, giá trị, tư tưởng thì càng có điều kiện
và nền tảng để có quan hệ tốt với nhau Theo lăng kính của thuyết kiến tạo thì các nước có cùng ý thức hệ, có hệ thống chính trị tương đồng thì có cơ sở để có quan hệ tốt với nhau
1.1.2.4 Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học của Mác, Ăng-ghen, Lênin được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại, là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người
Các Mác từng nói “Đằng sau mỗi hành động đều có bóng dáng của lợi ích” và
“tất cả cái gì mà con người đấu tranh để giành lấy, đều dính liền với lợi ích của họ”
Trang 39[92, tr 109] Đằng sau mỗi hoạt động đối ngoại của Việt Nam – bao gồm đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân – đều có bóng dáng của lợi ích Việt Nam và tất cả những gì nhân dân Việt Nam đấu tranh để giành lấy đều dính đến lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam [19]
Giữa các chủ thể quốc gia trong hệ thống quốc tế luôn có những lợi ích trùng hợp và lợi ích khác biệt thậm chí trái ngược, dẫn đến hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế Các Mác cũng từng nói “Ở đâu không có lợi ích chung thì ở
đó không thể có sự thống nhất về mục đích và càng không thể có sự thống nhất về hành động được” Lợi ích song trùng thì dẫn đến hợp tác, lợi ích trái ngược thì dẫn đến đấu tranh, song hợp tác hay đấu tranh đều vì lợi ích quốc gia – dân tộc
Chủ nghĩa Mác-Lênin nêu quy luật về cách mạng XHCN và con đường xây dựng, phát triển đi tới chủ nghĩa cộng sản Vào thời điểm ra đời của học thuyết, những tác giả của chủ nghĩa Mác-Lênin đã phê phán CNTB, chỉ ra bản chất bóc lột, tính quy luật trong sự tồn tại và phát triển của CNTB
Luận điểm chính của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh liên quan đến ý thức hệ là đấu tranh giai cấp, chủ thể chính trong quan hệ quốc tế là giai cấp và quan hệ quốc tế là đấu tranh giai cấp; đấu tranh giữa các quốc gia mà quốc gia là đại diện của giai cấp, do vậy đây là đấu tranh giữa ý thức hệ
Tư tưởng Hồ Chí Minh là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
loại” [35], được hình thành và phát triển trong quá trình lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện Việt Nam, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việ Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới Với cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin mà hạt nhân lý luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ giải quyết vấn đề thuộc về tư duy lý luận mà cao hơn, đó là tư duy hành động, nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn cách mạng Việt Nam đòi hỏi
Hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh trên nền tảng của chủ nghĩa Mác nin được thể hiện qua các nội dung cơ bản như quan niệm về quốc tế và quan hệ
Trang 40Lê-chính trị quốc tế; mục tiêu đối ngoại; tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế; phương châm đối ngoại, phương pháp và nghệ thuật ngoại giao
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là một bộ phận hợp thành trong hệ thống
tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đó bao gồm hệ thống những quan điểm của Người về quốc tế và những hình thức, biện pháp, nghệ thuật xử sự trong quan hệ quốc tế nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng trong từng thời kỳ Những quan điểm đó đã trở thành đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh tính đúng đắn của nó trong cách mạng giải phóng dân tộc và cả trong giai đoạn xây dựng CNXH
Thứ nhất, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối đối ngoại
và hoạt động ngoại giao của Việt Nam phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết với phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến" "Dĩ bất biến" là lợi ích dân tộc, mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, lý tưởng cách mạng, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên CNXH của Đảng Cộng sản, xây dựng
"dân dàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Mục tiêu, nguyên tắc thì
"bất biến", nhưng để triển khai mục tiêu đó cần "vạn biến" bằng các chủ trương, biện pháp, hình thức phù hợp, với sự linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo, khôn khéo, phù hợp với đặc thù của các mối quan hệ trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực khác nhau Tư tưởng Hồ Chí Minh nhất quán trong việc đẩy mạnh lợi ích quốc gia, dân tộc, vượt qua ý thức hệ
Thứ hai, chính sách đối ngoại, hoạt động ngoại giao phải dựa trên sức mạnh bên trong, thực lực thực sự Cách mạng Việt Nam đi theo đường lối độc lập tự cường thì chính sách đối ngoại, hoạt động ngoại giao phải lấy sức mạnh bên trong làm điểm tựa, coi việc xây dựng thực lực chính trị, kinh tế, quân sự, bên trong là nhân tố quan trọng, tạo thế mạnh cho đấu tranh trên mặt trận đối ngoại Và ngược lại, thắng lợi ngoại giao cũng sẽ tạo những tiền đề để phát triển thực lực cách mạng trong nước Thứ ba, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tính chất thời đại và cuộc đấu tranh của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao chính nghĩa, đạo lý và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế Với tinh thần "thêm bạn, bớt thù", Việt Nam luôn mong muốn hòa bình, hữu nghị, muốn là bạn với các nước trên thế giới Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, xử