1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo 20 năm thực hiện nghị quyết số 13 của trung ương

6 364 8

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 40,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 13NQTW ngày 18 tháng 03 năm 2002, Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể

Trang 1

HỘI CCB TỈNH LÀO CAI

HỘI CCB HUYỆN BÁT

XÁT

Số: /BC- CCB

CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT

NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bát Xát, ngày tháng 9 năm 2021

BÁO CÁO Tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18 tháng 03 năm 2002, Hội nghị lần thứ 5, Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa IX về

tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể

Thực hiệc công văn 614/CCB-PT-VP, ngày 16 tháng 8 năm 2021 Về việc báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/03/2002

về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Hội Cựu chiến

binh huyện Bát Xát báo cáo như sau:

I CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT, THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT:

Ngay sau khi có Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/03/2002 của Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW Đảng (khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Ban thường vụ Hội CCB huyện đã tổ chức phổ biến quán triệt nội dung tinh thần Nghị quyết đến các đồng chí ủy viên Ban chấp hành Hội CCB huyện Chỉ đạo các tổ chức Hội cơ sở triển khai công tác tuyên truyền về Luật HTX, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế hợp tác và HTX Phối hợp với các cơ quan ban ngành liên giới thiệu, tổ chức tham quan các mô hình kinh tế hợp tác và HTX kiểu mới ở địa phương, tổ chức các lớp tuyền tuyên truyền Luật HTX, phổ biến các chính sách hỗ trợ phát triển HTX, Kỹ năng quản lý và hỗ trợ phát triển HTX cho cán bộ, hội viên CCB, phát triển HTX gắn liền với việc xây dựng nông thôn mới Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp với Trạm trồng trọt và bảo vệ thực vật, lồng ghép các cuộc tập huấn và hội thảo của ngành nông nghiệp tuyên truyền Luật HTX

Các đơn vị hội cơ sở đã tổ chức quán triệt đến cán bộ, hội viên viên và nhân dân; xây dựng chương trình hành động, kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị quyết của Hội Tăng cường phối hợp với các ban ngành đoàn thể tuyên truyền Nghị quyết qua hệ thống phương tiện truyền thanh và bằng nhiều hình thức phong phú, thiết thực khác Đã có 100% tổ chức cơ sở Hội với 95% hội viên, CCB tham gia học tập Nghị quyết

II KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT:

1 Về thống nhất nhận thức trong quan điểm phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã

Trang 2

- Sau học tập quán triệt Nghị quyết 13-NQ/TW, các văn bản chỉ đạo của tỉnh, huyện về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, trong hệ thống chính trị và nhân dân đã nâng cao sự thống nhất về tư tưởng, nhận thức rõ hơn các quan điểm, chủ trương và giải pháp của Đảng đối với kinh tế tập thể.Trong cán bộ, hội viên đã có sự chuyển biến nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế tập thể và quan điểm phát triển kinh tế của Đảng, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của mình trong việc thể chế hóa, tổ chức thực hiện Nghị quyết

- Về xác lập môi trường thể chế và tâm lý xã hội thuận tiện cho kinh tế tập thể, hợp tác xã phát triển: Trong Hội CCB, cán bộ, hội viên là thành viên HTX, tổ hợp tác đã tạo được không khí phấn khởi, tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế tập thể; góp vốn, góp sức xây dựng và phát triển HTX, tổ hợp tác

- Công tác thể chế, chỉ đạo và tuyên truyền: Kết quả việc thể chế và chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Trung ương, các văn bản chỉ đạo của Tinh ủy, huyện trong thời gian qua đã tạo môi trường thuận lợi duy trì thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp và trên một số lĩnh vực ngành nghề khác, song công tác tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết ở một số tổ chức Hội vùng cao chưa duy trì thường xuyên và chưa mở rộng đến các đối tượng như: nông dân, người lao động, thành viên HTX, chủ trang trại, công tác tuyên truyền chưa gắn với thực hiện cụ thể nên đạt hiệu quả chưa cao

2 Những hoạt động trong việc tuyên truyền, vận động hội viên vào sự phát triển kinh tế tập thể; vai trò hỗ trợ của Hội đối với các hội viên tham gia vào các tổ chức kinh tế tập thể; vai trò giám sát, phản biện, bảo vệ hội viên trong quá trình xây dựng và thực hiện các quy định pháp luật, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với kinh tế tập thể, đối với HTX, THT do CCB làm chủ:

Thực hiện phong trào thi đua CCB giúp nhau làm kinh tế, nâng cao đời sống, giúp nhau xoá đói giảm nghèo, làm giàu hợp pháp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của CCB Trong những năm qua, Hội Cựu chiến binh huyện Bát

đã xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế như các mô hình (1+5) ở Cốc Mỳ, Quang Kim, Bản Vược, mô hình góp vốn quay vòng tại thị trấn Bát Xát, Bản Qua, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, xác định rõ nội dung trong tâm, trọng điểm tuyên truyền vận động hội viên Cựu chiến binh chấp hành, thực hiện tốt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Pháp luật Nhà nước, Nghị quyết của Hội; Trọng tâm là thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Bát Xát đã cụ thể hóa bằng 5 chương trình 12 đề án của Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XXII, XXIII; Đặc biệt là

đề án chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đề án giảm nghèo để cụ thể hóa đưa vào kế hoạch, chương trình công tác hàng năm Chỉ đạo Hội CCB cơ sở, đẩy mạnh công tác vận động hội viên phát huy thế mạnh của từng gia đình, từng vùng chuyển dịch

cơ cấu kinh tế cho phù hợp; hướng dẫn áp dụng kỹ thuật đưa những giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, mạnh dạn vay vốn đầu tư vào

Trang 3

sản xuất kinh doanh, dịch vụ phát triển kinh tế gia đình, động viên Cựu chiến binh

là chủ trang trại, hợp tác xã, DN kinh doanh dịch vụ, nâng cao năng lực sản xuất, tinh thân phục vụ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, tích cực trao đổi kinh nghiệm tìm đầu ra trong sản xuất kinh doanh; giúp đỡ hộ Cựu chiến binh nghèo, gia đình chính sách gặp khó khăn trong cuộc sống Chỉ đạo Hội Cựu chiến binh cơ sở vận động hội viên tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đồng thời tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy, sự tạo điều kiện của Chính quyền và các ban ngành, tạo cơ chế chính sách cho Cựu chiến binh nhận khoán, đấu thầu, khai phá đất hoang hóa, bến bãi…mở trang trại, xây dựng nhà xưởng, mở cửa hàng để phát triển sản xuất kinh doanh; tận dụng tối đa các nguồn lực, các dự án của Trung ương, của tỉnh hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, giúp hộ nghèo phát triển sản xuất tăng thu nhập nâng cao đời sống

Ngoài các mô hình sản xuất kinh doanh Hội CCB trong toàn huyện còn xây dựng được chân quỹ, vôn nội bộ cho nhau vay trong toàn Hội Hiện nay tổng quỹ hội cơ sở là 1.050.000.000 đồng, bình quân đạt 625.000 đ/hội viên, vốn nội bộ cho nhau vay trong toàn Hội là: 1.200.000.000 đ ; Phối hợp với ngân hàng Chính sách

xã hội huyện triển khai cho 18/21 tổ chức Hội cơ sở nhận uỷ thác vốn vay, quản lý

57 tổ tiết kiệm với 1.554 hộ vay dư nợ 67,294 tỷ đồng, tăng 19,848 tỷ đồng so với năm 2016 Phát huy nội lực trong Cựu chiến binh các cơ sở Hội đã vận động xây dựng vốn tương trợ giúp nhau bằng ngày công, cây con giống giá trị thành tiền 986 triệu đồng hỗ trợ 208 lượt hộ Cựu chiến binh phát triển kinh tế gia đình; Phối hợp với các cơ quan chuyên môn của huyện tổ chức 106 lớp tập huấn cho 2.816 lượt người tham gia

về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, hướng dẫn hoạch toán thu chi trong gia đình, cách tiếp cận thị trường, giới thiệu việc làm đã góp phần nâng cao nhận thức của hội viên và Nhân dân

Với kết quả trên trong những năm qua Hội Cựu chiến binh huyện tích cực tuyên truyền, vận động hội viên thực hiện phong trào Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi đã có sức lan tỏa rộng rãi và phát triển Toàn Hội hiện

có có tổng đàn trâu, bò, ngựa trong toàn Hội là 2.833 con, bình quân mỗi hội viên

có 1,7 con, diện tích cỏ voi trồng được trên 11,2 ha ; 02 hợp tác xã, 03 Doanh nghiệp; 2 tổ hợp tác sản xuất; 8 trang trại, 41 gia trại, nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh do hội viên CCB làm chủ, 303 gia đình hội viên tham gia trồng và chăm sóc bảo vệ 743,2 ha rừng các hộ đã mạnh dạn vay vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, dịch vụ trở thành hộ sản xuất kinh doanh giỏi, có thu nhập từ 150 – 450 triệu đồng

trên năm; Tiêu biểu là hội viên Vũ Ngọc Vinh, Nguyễn Văn Hùng xã Bản Vược, Đoàn Thanh Quang Thị trấn Bát Xát, Nông văn Dén xã Mường Hum ( Kinh doanh dịch vụ ); Phan Văn Giang xã Mường Hum ( trồng chè), Hoàng Mộc Lan xã Bản Qua trồng cây cao su kết hợp nuôi thủy sản; Châu Văn Nùng xã Quang Kim (kinh doanh tổng hợp), Hiện nay toàn Hội có 151 hộ sản xuất kinh doanh giỏi

các cấp, tăng 36 hộ so với năm 2016, chiếm 11,6% trên tổng số hội viên; Trong đó

có 96 hộ Cựu chiến binh nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững góp phần giảm tỷ

lệ hộ nghèo trong Hội từ 14,7% năm 2016 xuống còn 4,95% năm 2021

3 Công tác phát triển hợp tác xã:

Trang 4

Trước khi có Nghị quyết 13-NQ/TW, toàn Hội không có Hợp tác xã, Tổ hợp tác sản xuất náo, chỉ có 01 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu Anh Vinh kinh doanh ổn định, có hiệu quả, đúng phương án và điều lệ qui định, tạo được nguồn thu nhập cho thành viên và ngày càng được cải thiện nâng lên

Sau triển khai, thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW ngày 18/3/2002, các văn bản của tỉnh, huyện, tính đến nay trong toàn Hội có 2 HTX (Hợp tác xã sản xuất miến dong tại xã Cốc Mỳ, HTX sản xuất phân bón tại xã Trung Lèng Hồ), 3 doanh nghiệp vừa và nhỏ (Công ty TNHH Chí Hiếu sản xuất vật liệu xây dựng xã Mường Hum, cơ sở kinh doanh đồ mộc xã Bản Qua, doanh nghiệp anh Vinh xã Bản Vược), 2 tổ hợp tác sản xuất (Tổ hợp tác sản xuất rượu xã Bản Xèo, Tổ hợp tác sản xuất cây dược liệu xã Pa Cheo) Tổng số thành viên của hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất là 6 thành viên Tổng số lao động làm việc thường xuyên trong hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất và các doanh nghiệp do hội viên làm chủ là 79 lao động, thu nhập bình quân của lao động làm việc thường xuyên là 50 triệu đồng/năm Tổng số cán

bộ quản lý HTX là 2 người Số cán bộ quản lý về cơ bản đã qua đào tạo đạt trình

độ sơ cấp, trung cấp chuyên nghiệp

Doanh thu bình quân của HTX, tổ hợp tác sản xuất, các doanh nghiệp do Hội CCB làm chủ thực hiện năm 2020 là trên 60 tỷ đồng, lợi nhuận gần 2 tỷ đồng

Ngoài việc mang lại thu nhập cho các thành viên các đơn vị kinh tế hợp tác tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội ở địa phương: hỗ trợ quỹ bảo trợ trẻ em khuyết tật, quỹ tấm lòng vàng, quỹ khuyến học, quỹ đền ơn đáp nghĩa,

III Những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện Nghị quyết:

Việc triển khai, quán triệt Nghị quyết tại một số đơn vị hội cơ còn chưa được quan tâm do vậy, bên cạnh sự đồng tình, nhất trí cao với các chủ trương và giải pháp đã nêu trong Nghị quyết, vẫn còn những bâng khuâng vướng mắc trong tổ chức thực hiện Nghị quyết

Một bộ phận cán bộ, hội viên chưa thực sự tin tưởng vào mô hình HTX kiểu mới theo Luật HTX, chưa nhận biết rõ sự khác nhau giữa mô hình HTX kiểu mới hiện nay với hoạt động của HTX cũ trước đây, các doanh nghiệp nhà nước còn e

dè chưa gắn bó, chưa mạnh dạn liên doanh liên kết với HTX, còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hướng dẫn, chỉ đạo của ngành cấp trên Trong một bộ phận thành viên HTX, hội viên, CCB còn hoài nghi về mô hình HTX mới, chưa tin vào các giải pháp tháo gỡ khó khăn, giải quyết tồn tại theo tinh thần chỉ đạo của các Nghị quyết Cán bộ, hội viên là thành viên HTX còn lúng túng trong việc củng cố tổ chức, đổi mới nội dung hoạt động của HTX, còn có tư tưởng trông chờ vào hỗ của Nhà nước cho HTX như thời bao cấp trước đây

IV Nguyên nhân của yếu kém, tồn tại :

- Kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại của hội viên CCB phát triển chưa mạnh, sản xuất của hộ hội viên ở nhiều nơi còn mang tính tự cấp, tự túc, quy mô nhỏ, nên nhu cầu hợp tác chưa cao

Trang 5

- Những tồn tại do lịch sử để lại cho HTX sau chuyển đổi, đặc biệt là công nợ trong HTX; ảnh hưởng của cách nghĩ, cách làm của mô hình HTX cũ đối với cán

bộ, hội viên làthành viên khá nặng nề và phức tạp

- HTX, THT hoạt động với hai mục đích: Kinh tế và xã hội, nên rất khó cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác

- Nguyên nhân nội tại quan trọng nhất là đa số các HTX nông nghiệp của hội viên CCB chưa thực sự đổi mới về tổ chức và hoạt động theo đúng các nguyên tắc

và giá trị của HTX nên thiếu động lực để phát triển

- Nhận thức và chỉ đạo của chính quyền các cấp, nhiều nơi chính quyền chưa thực sự quan tâm đúng mức tới lãnh đạo, chỉ đạo phát triển HTX, chủ yếu là ra văn bản chỉ đạo, nhưng ít có hành động cụ thể

- Tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ HTX kém hiệu quả Tình trạng chung là các cơ chế chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển HTX đã được ban hành tương đối đầy đủ nhưng không được triển khai thực hiện tốt

- Trình độ cán bộ quản lý hợp tác xã còn hạn chế trong điều hành quản lý hợp tác xã, chưa năng động để tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với thành phần kinh tế tập thể như ưu đãi về thuế, đất đai,

V Bài học kinh nghiệm.

- Kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn mà nòng cốt là HTX có vị trí quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, song HTX nông nghiệp có những đặc thù riêng gắn với nông nghiệp, nông dân và cộng đồng xã hội, nên các HTX không tự hình thành và hoạt động độc lập mà cần có sự lãnh đạo, vận động, hướng dẫn của Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp, ở phường, xã nơi nào có sự lãnh đạo tập trung, thống nhất; sự chỉ đạo cụ thể, sát sao của chính quyền thì ở đó phong trào kinh tế tập thể phát triển

- Sự phát triển và thành công của HTX là do chính HTX quyết định mà yếu tố

cơ bản là năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, đứng đầu là Chủ tịch HĐQT HTX Nhà nước có vai trò quan trọng, tạo môi trường thuận lợi, định hướng, chỉ đạo, hướng dẫn và hỗ trợ HTX trong quá trình phát triển, nhất là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, tạo nguồn nhân lực cho HTX

- Phát huy dân chủ trong các hoạt động của HTX, đặc biệt vấn đề xử lý công nợ; thu chi và phân phối, làm lành mạnh công tác tài chính trong HTX để thành viên gắn bó với HTX và thúc đẩy HTX mở rộng các hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ

- Phương án sản xuất - kinh doanh, dịch vụ của HTX phải mang tính khả thi

và gắn với thị trường, HTX mở rộng liên doanh, liên kết với các thành phần kinh

tế, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp để tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm; đồng thời huy động vốn hoạt động HTX; dạy nghề cho thành viên, mở mang ngành

nghề mới, khai thác thế mạnh tiềm năng của kinh tế hộ ở địa phương

VI ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:

Trang 6

Đề nghị các Sở ngành tỉnh triển khai và thực hiện chính sách hỗ trợ, khuyến khích thành lập hợp tác xã, chính sách hỗ trợ đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng là hội viên CCB làn chủ các hợp tác xã

Về tín dụng: đề nghị tỉnh cần có chính sách khuyến khích về vốn tín dụng cho Hợp tác xã, Tổ hợp tác sản xuất vay vốn theo phương án khả thi về sản xuất kinh doanh của Hợp tác xã, Tổ hợp tác (vay vốn tín chấp)

Hỗ trợ xây dựng thương hiệu các mặt hàng hiện có đặng trưng của từng vùng Hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật nông nghiệp trong sản xuất, cho các Hợp tác xã gắn với tạo sản phẩm an toàn

Đề nghị các Sở, ngành tỉnh quan tâm, khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động xúc tiến thương mại, tham gia hội chợ, triển lãm để tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường tiêu thụ để quảng bá các sản phẩm do hội viên CCB sản xuất

Trên đây là báo cáo 20 năm thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Bộ Chính trị về đổi mới nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể của Hội CCB huyện Bát Xát./

Nơi nhận : T.M BAN THƯỜNG VỤ

- Hội CCB tỉnh ( b/c) ; CHỦ TỊCH

- Lưu : Hội CCB huyện,

Bùi Thanh Hải

Ngày đăng: 18/08/2021, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w