1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Bắc Thịnh trong hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở vụ Xuân 2020 tại Thiệu Hóa Thanh Hóa

78 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 679,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Bắc Thịnh trong hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở vụ Xuân 2020 tại Thiệu Hóa Thanh HóaNghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Bắc Thịnh trong hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở vụ Xuân 2020 tại Thiệu Hóa Thanh Hóa 1.2.3. Dinh dưỡng khoáng của cây lúa Cũng như các loại cây trồng khác, lúa phải hút từ đất một loạt chất khoáng N, P, K, Ca, Mg, Fe, Si… trong đó phân ra các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng. Có 3 nguyên tố chủ yếu là đạm, lân và kali. Trong quá trình dinh dưỡng khoáng của cây lúa có sự tương quan mật thiết giữa chất này với chất khác, quá trình này phụ thuộc nhiều vào điều kiện bên ngoài và kỹ thuật canh tác. Lá lúa là bộ phận có lượng protein cao và tiến hành quang hợp mạnh mẽ. Đạm của lá lúa là nguồn protein chính của hạt. Bẹ lá tích trữ các sản phẩm khác của quang hợp như tinh bột. Lân được tích trữ ở thân cũng là nguồn lân chính của hạt. Rễ không tích trữ nhiều chất dinh dưỡng, nhiệm vụ chính của chúng là hút thức ăn. Bông lúa là nơi tích trữ các chất protein, đường và các chất khoáng chuyển về trong quá trình làm hạt. Khi thiếu đạm, lân và lưu huỳnh thì chiều dài lá, số lượng lá, số lượng bông và số lượng hạt trên bông đều giảm. Thiếu kali và magie sẽ làm giảm năng suất lúa và khối lượng 1.000 hạt. Tuy nhiên, thành phần hoá học của bông không bị ảnh hưởng nhiều do những thiếu hụt ấy. Nói chung các chất được đồng hoá thường di chuyển tới những bộ phận đang sinh trưởng mạnh và sẽ cung cấp năng lượng và vật chất cho các bộ phận này sinh trưởng và phát triển. Trong thời kỳ đẻ nhánh, các chất này di chuyển đến các lá đang phát triển của cây mẹ và của nhánh rồi đến rễ. Trong thời kỳ phân hoá và phát triển đòng, chúng di chuyển đến những đòng non, đến các lá trên và các lóng đang phát triển. Sau khi lúa trỗ, các chất đồng hoá ở các lá trên được chuyển về hạt còn các chất đồng hoá ở các lá dưới được chuyển về các bộ phận phía dưới của cây (Bùi Huy Đáp, 1980) 3. Theo Nguyễn Như Hà (2006) 5, bón phân lót trước khi cấy giúp cho cây lúa nhanh bén rễ, đẻ nhánh sớm và mạnh, cần bón lót nhiều phân đạm khi gieo cấy trong điều kiện nhiệt độ thấp, cấy các giống ngắn ngày hay giống đẻ nhánh kém, mật độ cần gieo cấy thưa. Vì vậy, có thể nói mật độ cấy là một yếu tố thực tế khá quan trọng để xác định lượng phân bón hợp lý đối với cây lúa. 1.3. Những nghiên cứu về mật độ, tuổi mạ và số dảnh cấy đối với cây lúa Quần thể ruộng bao gồm tất cả các khóm lúa đã được gieo cấy ở ruộng từ khi gieo đến khi thu hoạch. Mỗi khóm lúa trong quá trình phát triển đã ảnh hưởng đến các khóm khác mà trước hết ảnh hưởng đến các khóm ở gần nó. Ngược lại nó cũng chịu ảnh hưởng của sự phát triển của các khóm lúa khác. Nói cách khác các cá thể và quần thể có mối ảnh hưởng qua lại chặt chẽ, chi phối sự sinh trưởng và phát triển của cả ruộng lúa trong suốt quá trình cây lúa sinh trưởng cho đến lúc chín. Mục đích chính của việc trồng lúa không phải là có một số khóm lúa tốt mà là để đạt năng suất lúa cao, nghĩa là năng suất của cả ruộng lúa cao (Bùi Huy Đáp, 1980) 3. Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng: Khi cây lúa ra được 4 lá thật là có khả năng đẻ nhánh và cứ ra được một lá đẻ được một nhánh. Khi nhánh có trên 4 lá xanh, có thể sống hoàn toàn tự lập, trở thành một nhánh hữu hiệu rồi thành bông sau này. Tuy vậy, mầm hoặc nhánh cũng có thể thoái hóa hoặc phát triển không đầy đủ 4 lá nếu điều kiện đẻ muộn, hoặc do điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi: Thiếu nước, gặp nhiệt độ thấp, thiếu dinh dưỡng, thiếu ánh sáng, quần thể quá rậm rạp, sâu bệnh gây hại, đây chính là đẻ nhánh vô hiệu (Nguyễn Văn Hoan, 1999) 6; Nguyễn Thị Lẫm và CS, 2003) 10. Cùng với mật độ cấy (số dảnhkhóm và số khómm2), đẻ nhánh góp phần tạo nên số lượng bôngm2 đất, sức đẻ nhánh hữu hiệu càng cao thì càng có ý nghĩa kinh tế, tức là cấy ít dảnh cơ bản mà vẫn có nhiều bông, sẽ tiết kiệm được chi phí về giống lúa, về công làm mạ. Lợi dụng đặc điểm đẻ nhánh của cây lúa, trong thâm canh muốn tăng số bông trên ruộng lúa thì ngoài việc cấy đúng mật độ, chúng ta nên xúc tiến các biện pháp để lúa đẻ nhánh sớm, đẻ tập trung, làm tăng sức đẻ hữu hiệu, không để quần thể quá rậm rạp, tốn dinh dưỡng của mẹ. Trên cây lúa chỉ có những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻ thấp, có số lá nhiều, điều kiện dinh dưỡng thuận lợi mới có điều kiện phát triển đầy đủ để trở thành nhánh hữu hiệu. Biện pháp kỹ thuật nên áp dụng là: Gieo cấy những giống lúa đẻ tập trung và xúc tiến đẻ sớm bằng cách cấy mạ non, cấy nông tay, bón phân lót, bón thúc đẻ, làm đất kỹ, giữ đủ nước. Năng suất, số bông và số nhánh không nhất thiết tỷ lệ với nhau. Nhưng thường nếu năng suất cao thì số bông cũng nhiều, do đó số nhánh đẻ cũng cao, vì vậy muốn tăng năng suất lúa phải làm cho lúa đẻ nhánh nhiều. Tăng số nhánh là một việc dễ dàng, nhưng nhiều khi không những không tăng được số bông mà lúa lại dễ bị lốp và sâu bệnh phá hại. Có nhiều trường hợp tuy tăng số nhánh nhưng không đạt được sản lượng cao như ý muốn, nhưng cũng có trường hợp tăng số nhánh mà tăng được năng suất. Đứng về phương diện sinh trưởng của cây lúa mà xét thì có 2 mặt sảy ra. Thứ nhất là bộ rễ lúa có được chăm sóc, quản lý tốt không. Thứ hai là bộ phận trên mặt đất, đặc biệt là việc điều chỉnh số nhánh có thích hợp không (Togari Matsuo, 2005) 15. Theo Nguyễn Văn Hoan, 2003 7, số dảnh cần cấy phụ thuộc trước hết vào số bông cần đạt trên 1 m2, và căn cứ vào mật độ đã chọn để đạt được số bông theo tối ưu. Nguyên tắc chung của việc xác định số dảnh cấy của một khóm lúa, dù được cấy ở mật độ khác nhau, tuổi mạ khác nhau nhưng cuối cùng cần đạt được số bông cần thiết và độ lớn của bông theo yêu cầu để đạt được số lượng hạt thócm2 như mong muốn . Mật độ là số cây, số khóm có được trên một đơn vị diện tích, với lúa cấy thì mật độ được đo bằng đơn vị khómm2. Trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao (cấy dầy) thì số bông càng nhiều, song số hạtbông càng ít (bông bé), tốc độ giảm số hạtbông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ. Vì thế cấy dầy quá sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên nếu cấy với mật độ quá thưa đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn thì rất khó hoặc không thể đạt được số bông tối ưu. Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với các giống lúa khác nhau đều khẳng định: Khi các khâu kỹ thuật khác được duy trì thì chọn một mật độ vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên đơn vị diện tích gieo cấy (Nguyễn Văn Hoan, 2003 ) 7. Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào đặc điểm của giống, điều kiện đất đai, nước tưới, dinh dưỡng, trình độ thâm canh của người dân… Khi nghiên cứu về vấn đề này Togari Matsuo (2005) 15 đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa, còn ngược lại phải cấy dầy. Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dầy không có lợi bằng giống to bông, vùng lạnh nên cấy dầy hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dầy hơn lúa gieo sớm. Đối với nhóm lúa thường gieo mạ thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến thì nên cấy mạ non. Bố trí cấy với mật độ thưa hơn so với cách gieo mạ truyền thống. Mạ non cấy 2 3 dảnhkhóm (mạ non chưa đẻ), 30 35 khómm2 để sau thời kỳ đẻ nhánh có số nhánh tương đương như loại mạ thâm canh, khoảng cách 25 x 12 cm thường được ưa chuộng (Nguyễn Văn Hoan, 2003) 6. Đối với cấy mạ non khi cần đạt 910 bôngkhóm và mật độ 35 39 khómm2 thì chỉ cần cấy 2 dảnh mạkhóm, không nên cấy nhiều dảnh hơn vì loại mạ non đẻ khỏe, cấy nhiều dảnh cây lúa sẽ đẻ ra nhiều nhánh quá nhỏ, yếu, tỷ lệ bông hữu hiệu thấp. Hoặc số bôngkhóm nhiều hơn so với dự định sẽ làm cho số hạtbông ít đi, bông lúa nhỏ, năng suất không đạt yêu cầu. Khi cần đạt 1112 bôngkhóm ở mật độ 29 32 khómm2, cần cấy 3 dảnhkhóm để một dảnh mạ sinh ra 4 bông lúa to đều nhau (Nguyễn Văn Hoan, 2003) 7. Ở Nhật Bản, mạ tốt là mạ non, cấy xuống cây mạ bén rễ rất nhanh, mật độ cấy tiêu chuẩn ở Hokkaido là 35 x 15 cm, mỗi khóm 2 dảnh. Theo kết quả nghiên cứu của trạm thí nghiệm nông nghiệp ở Hokkaido cho thấy trong một phạ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học hoàn toàn củariêng tôi, kết quả nghiên cứu không trùng lặp với các luận văn, luận án và cáccông trình nghiên cứu đã công bố

- Số liệu trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực theo kếtquả thu được tại địa điểm mà tôi tiến hành nghiên cứu

- Tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được ghi rõnguồn gốc

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên

Thanh Hóa, ngày 04 tháng 8 năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Tâm

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong qúa trình hoàn thành luận văn, ngoài trách nhiệm và sự cố gắngcủa bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các Thầy cô giáo, bạn

bè, đồng nghiệp và người thân

Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS.Nguyễn Bá Thông là người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thựchiện đề tài Thầy đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài và hoàn thiện luận vănnghiêm túc, khoa học theo đúng quy trình

Tôi xin gửi lời cảm ơn trân thành cảm tới các Thầy Cô giáo khoaNông- Lâm- Ngư nghiệp Trường Đại Học Hồng Đức, các Thầy cô giáo trựctiếp giảng dạy đã giúp đỡ và trang bị cho tôi những kiến thức chuyên ngànhquan trọng trong suốt thời gian học tập

Tôi xin được cảm ơn tới các thầy Cô giáo phụ trách phòng thí nghiệm,các thầy cô Trung tâm Thông tin- Thư viện đã giúp đỡ tôi trong quá trình thựchiện các thí nghiệm và thu thập tài liệu tham khảo

Tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan Huyện ủy- UBND huyện ThiệuHóa, Đảng Ủy- UBND xã Thiệu Lý đã tạo điều kiện và giúp đỡ để tôi hoànthành luận văn này

Cuối cùng tôi xin được nói lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè

và đồng nghiệp đã luôn bên tôi, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôihoàn thành luận văn này

Thanh Hóa, ngày 04 tháng 8 năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Tâm

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT (KÝ HIỆU) vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích- yêu cầu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 7

1.2 Nghiên cứu một số đặc điểm của cây lúa liên quan đến kỹ thuật canh tác lúa cải tiến (SRI) 8

1.2.1 Đặc điểm của lá lúa 8

1.2.2 Đặc điểm đẻ nhánh của cây lúa 9

1.2.3 Dinh dưỡng khoáng của cây lúa 10

1.3 Những nghiên cứu về mật độ, tuổi mạ và số dảnh cấy đối với cây lúa 11

1.4 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) trên Thế giới 15

1.4.1 Sự hình thành và ý nghĩa của hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) 15

1.4.2 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Trung Quốc 16

Trang 4

1.4.3 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở

Thái Lan 17

1.4.4 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Campuchia 18

1.4.5 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Iran 19

1.4.6 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở một số nước khác 20

1.5 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Việt Nam 21

1.6 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Thanh Hóa 26

1.7 Những nhận xét rút ra từ phần tổng quan 28

Chương 2 ĐỐI TƯƠNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.1 Giống lúa thí nghiệm 29

2.1.2 Các loại vật liệu khác 29

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

2.3 Nội dung nghiên cứu 29

2.4 Phương pháp nghiên cứu 30

2.4.1 Điều tra phân tích điều kiện khí hậu thời tiết ở huyện Thiệu Hóa trong quan hệ với sự phát triển của các giống lúa chất lượng và hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) 30

2.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm và các biện pháp kỹ thuật canh tác 30

2.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp đánh giá 33

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết huyện Thiệu Hóa với việc thâm canh cây lúa nước 37

Trang 5

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Thiệu Hoá 37

3.1.2 Điều kiện khí hậu thời tiết huyện Thiệu Hóa 37

3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa Bắc Thịnh trong hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa- Thanh Hóa 40

3.2.1 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến thời gian sinh trưởng, phát triển qua các giai đoạn của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa 40

3.2.2 Ảnh hưởng của tuôỉ mạ và số dảnh cấy đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại Thiệu Hóa 42

3.2.3 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến động thái đẻ nhánh của giống Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa 44

3.2.4 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI trong vụ Xuân 2017 tại Thiệu Hoá 46

3.2.5 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến đặc điểm nông sinh học của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI ở vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hoá 48

3.2.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa 50

3.2.7 Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh hại chính của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa 55

3.2.8 Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa 57

3.2.9 Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến hiệu quả kinh tế của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI tại vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa 62

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Đề nghị 64

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC……… ……….P1

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT (KÝ HIỆU)

TT Chữ viết tắt (ký hiệu) Nghĩa của chữ viết tắt (ký hiệu)

6 NCUDKHKT Nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật

7 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

12 RCB Kiểu bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn

toàn (Randomize Complet Block Design)

16 SRI Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System

Rice Intensification- SRI)

DANH M C CÁC B NG ỤC CÁC BẢNG ẢNG

Số

3.1 Diễn biến của các yếu tố khí hậu thời tiết (nhiệt độ, lượng mưa, số

giờ nắng trung bình 6 tháng đầu năm) từ 2012- 38

Trang 8

3.2 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến thời gian sinh

trưởng, phát triển qua các giai đoạn của giống lúa Bắc Thịnh

trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa

413.3 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến động thái tăng

trưởng chiều cao cây của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI vụ

Xuân 2017 tại Thiệu Hóa 43

3.4 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến động thái đẻ nhánh của

giống Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa 45

3.5 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến khả năng đẻ nhánh của

giống Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa 47

3.6 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến đặc điểm nông

sinh học của giống Bắc Thịnh trong SRI ở vụ Xuân 2017 tại

huyện Thiệu Hóa 49

3.7 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến chỉ số diện tích lá của

giống Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa 51

3.8 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến lượng chất khô

tích luỹ qua các giai đoạn của giống Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân

2017 tại Thiệu Hóa 53

3.9 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến mức độ nhiễm sâu

bệnh hại của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện

Thiệu

Hóa

56

3.10 Ảnh hưởng của tuổi mạ đến các yếu tố cấu thành năng suất và

năng suất của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện

Thiệu

Hóa

58

3.11 Ảnh hưởng của số dảnh cấy đến các yếu tố cấu thành năng

suất và năng suất của giống Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại

Trang 9

Thiệu Hóa 593.12 Ảnh hưởng tương tác của tuổi mạ và số dảnh cấy đến các yếu tố

cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa Bắc Thịnh trong

SRI vụ Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa 603.13 Ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến hiệu quả kinh tế của

giống Bắc Thịnh trong hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở vụ

Xuân 2017 tại huyện Thiệu Hóa- Thanh Hóa 63

DANH M C CÁC HÌNH ỤC CÁC BẢNG

Số

3.1 Đồ thị ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến chỉ số diện

tích lá giống Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tại huyện

Thiệu Hóa 523.2 Đồ thị ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến lượng chất

Trang 10

khô tích luỹ của giống Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tạihuyện Thiệu Hóa 543.3 Đồ thị ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến năng suất

thực thu của giống lúa Bắc Thịnh trong SRI vụ Xuân 2017 tạiThiệu Hóa 61

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System Rice Intensification- SRI) đã

được Chương trình IPM Quốc gia, Cục Bảo vệ thực vật hướng dẫn nông dânứng dụng từ năm 2002 Đến nay SRI được ứng dụng trên quy mô rộng hàngvạn ha ở nhiều tỉnh, thành phố phía Bắc Ngày 15/10/2007 Bộ Nông nghiệp

và PTNT đã có Quyết định số 3062/QĐ-BNN- KHCN công nhận (SRI) là tiến

bộ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất lúa ở các tỉnh miền Bắc [1]

Kết quả ứng dụng tại các tỉnh cho thấy: Trên diện tích áp dụng SRI,lượng thóc giống giảm từ 60 đến 80%, phân đạm giảm 20 đến 25%, tăng năngsuất bình quân 9 đến 15% Canh tác theo SRI tạo điều kiện sinh thái đồngruộng, bất lợi cho bệnh khô vằn, bệnh bạc lá, bệnh đạo ôn, bệnh nghẹt rễ, ốcbươu vàng… phát sinh phát triển và gây hại, đồng thời tăng khả năng chốngchịu điều kiện ngoại khó khăn cho cây lúa Tiền lãi thu được của ruộng ápdụng SRI tăng trung bình trên 2 triệu đồng/ha, giá thành/kg thóc giảm trung bình

342 đồng đến 520 đồng, tiết kiệm được khoảng 1/3 chi phí về thủy lợi [33]

Ở huyện Thiệu Hóa- Thanh Hóa, cây lúa vẫn là cây lương thực quantrọng, chủ lực trong cơ cấu cây trồng Tại đây, các giống lúa chất lượng như:Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, Thiên ưu 8; Bắc Thịnh, Bắc Xuyên… đãđưa vào sản xuất được nông dân chấp nhận, vì chúng cho năng suất ổn định

và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là chất lượng thương trường, giábán cao hơn gạo thường 2.000- 3.000 đồng/kg Tuy nhiên, các giống lúa nàyvẫn đang canh tác theo phương thức truyền thống nên chưa phát huy hết tiềmnăng năng suất, bị nhiễm sâu bệnh hại ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng.Người dân vẫn áp dụng các biện pháp: Cấy nhiều dảnh, cấy mật độ dày và cấy

mạ già điều này dẫn đến quần thể cây lúa rậm rạp, tiêu hao nhiều chất dinhdưỡng và là cơ sở cho các loại sâu bệnh phát sinh phát triển và gây hại Mặt

Trang 12

khác, tuổi mạ và số dảnh cấy có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển vànăng suất của cây lúa do ảnh hưởng trực tiếp đến kết cấu quần thể ruộng lúatrong suốt quá trình Mối quan hệ giữa tuổi mạ, số dảnh cấy, mật độ, cũngnhư sự tương tác giữa chúng trong hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) đượcứng dụng tại huyện Thiệu Hóa- Thanh Hóa chưa có nhiều và nghiên cứu

Để góp phần hoàn thiện quy trình thâm canh cây lúa theo hệ thốngcanh tác lúa cải tiến (SRI) tại huyện Thiệu Hóa- Thanh Hóa trong vụ Xuân

đối với giống lúa chất lượng, việc “Nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi mạ và

số dảnh cấy đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Bắc Thịnh trong hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở vụ Xuân 2017 tại Thiệu Hóa- Thanh Hóa” là hoàn toàn cần thiết, đáp ứng yêu cầu thâm canh cây

lúa theo SRI tại địa phương

2 Mục đích- yêu cầu của đề tài

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được điều kiện khí hậu thời tiết của huyện Thiệu Hóa quan

hệ với sự sinh trưởng, phát triển các giống lúa chất lượng trong hệ thống canhtác lúa cải tiến (SRI)

- Xác định được tuổi mạ và số dảnh cấy đạt năng suất, hiệu quả kinh tếcao trong hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở vụ Xuân tại Thiệu Hóa

- Xác định được ảnh hưởng của tuổi mạ và số dảnh cấy đến sinhtrưởng, phát triển và năng suất của giống Bắc thịnh

Trang 13

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Kết quả của đề tài sẽ đóng góp thêm phần lý luận cho việc hoàn thiệnquy trình canh tác lúa cải tiến SRI các giống lúa chất lượng tại huyện ThiệuHóa và tỉnh Thanh Hóa;

- Giúp các cơ sở sản xuất tiếp cận và làm chủ được quy trình canh táclúa cải tiến SRI góp phần thực hiện thành công chương trình phát triển lúachất lượng cao tại Thanh Hóa;

- Làm cơ sở cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuấtlúa hàng hoá tại Thanh Hóa

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Xác định tuổi mạ và số dảnh cấy phù hợp để hoàn thiện quy trìnhcanh tác lúa cải tiến SRI hiện nay tại huyện Thiệu Hóa nhằm tiết kiệm giống,chi phí sản xuất, giảm sâu bệnh hại, bảo vệ môi trường

- Góp phần thay đổi tập quán canh tác hiện nay để phù hợp với điềukiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện Thiệu Hóa, thúc đẩy sản xuất lúa theohướng sản xuất hàng hóa

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1.1 Cơ sở khoa học của ruộng lúa năng suất cao

Năng suất lúa được hình thành từ các yếu tố cấu thành năng suất, đó là:

Số bông/m2, số hạt chắc/bông và khối lượng 1.000 hạt Năng suất có quan hệchặt chẽ với các yếu tố cấu thành năng suất Nhưng giữa các yếu tố cấu thànhnăng suất trong một quần thể ruộng lúa lại có quan hệ tương tác thông quamối quan hệ giữa quần thể và cá thể Trong đó: Số bông/m2 đặc trưng choquần thể, số hạt chắc/bông và P.1000 hạt đặc trưng cho cá thể Mối quan hệnày thể hiện tính thống nhất và mâu thuẫn Khi cá thể tốt sẽ tạo điều kiện tạonên quần thể tốt, nhưng khi cả quần thể tốt sẽ hạn chế cá thể phát triển: Khi sốbông tăng quá cao sẽ làm cho số hạt chắc/bông và P.1000 hạt giảm…

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa, mỗi thời kỳ sẽtập trung vào một hoạt động trung tâm nhằm tạo ra những yếu tố nhất địnhgóp phần tạo nên năng suất lúa sau này Thời kỳ đầu từ gieo hạt đến cuối đẻnhánh hữu hiệu là thời gian quyết định số bông/m2 Mật độ cấy và sức đẻnhánh hữu hiệu sẽ làm cho số bông/m2 nhiều hay ít Hai yếu tố nói trên đượcquyết định ngay từ thời gian đầu là khi gieo hạt và đẻ nhánh Nếu để qua giaiđoạn đó, sau này không còn cơ hội tác động Nắm được cơ cấu hình thành vàthời gian quyết định từng yếu tố là điều cần thiết, là cơ sở khoa học để tácđộng các biện pháp kỹ thuật có hiệu quả (Nguyễn Thị Lẫm, 1999) [9]

Theo Nguyễn Văn Hoan, 2003 [7], số dảnh cấy của một khóm lúa phụthuộc trước hết vào số bông cần đạt/m2 và căn cứ vào mật độ đã chọn để đạtđược số bông theo ý muốn Nguyên tắc chung của việc xác định số dảnh cấy là:

Trang 15

Một khóm lúa dù cấy ở mật độ khác nhau, tuổi mạ khác nhau nhưng cuốicùng cũng đạt số bông theo yêu cầu như mong muốn Mật độ là số cây, sốkhóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích, với lúa cấy thì mật độ đượctính bằng khóm/m2 Trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao (cấy dầy)thì số bông càng nhiều, song số hạt/bông càng ít (bông bé), tốc độ giảm sốhạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ Vì thế, cấy dầy quá sẽ làm chonăng suất giảm nghiêm trọng Tuy nhiên, nếu cấy với mật độ quá thưa đối vớicác giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn rất khó hoặc không thể đạt được

số bông tối ưu Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với các giốnglúa khác nhau đều khẳng định: Khi các khâu kỹ thuật khác được duy trì thìchọn một mật độ vừa phải và tuổi mạ thích hợp là phương án tối ưu để đạtđược số lượng hạt thóc nhiều nhất trên đơn vị diện tích gieo cấy Xác địnhđược mật độ gieo cấy và tuổi mạ hợp lý là biện pháp kỹ thuật làm giảm sự pháhoại của sâu bệnh hại và tăng đáng kể năng suất, chất lượng lúa cuối vụ [37]

1.1.1.2 Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) và khả năng áp dụng

Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI (System of Rice Intensification) do

nhà khoa học người Pháp Fr.Laulaniere giới thiệu tại Madagasca vào nhữngnăm 1980, sau đó được Norman Uphoff thuộc Viện Quốc tế về Lương thực,Nông nghiệp và Phát triển của Trường Đại học Cornell (Hoa Kỳ) phổ biếnrộng rãi SRI đang được đánh giá là kỹ thuật thâm canh đầy triển vọng ở hơn

30 nước trên thế giới, bởi nó thỏa mãn được cả 2 mục tiêu là đạt được hiệuquả kinh tế và phát triển nông nghiệp bền vững Cơ sở kỹ thuật của SRI làthay đổi một số hoạt động canh tác chủ yếu thông qua tác dụng tương hỗ củachúng tạo điều kiện cho tiềm năng di truyền cho cây lúa được phát huy và qua

đó thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển để tạo năng suất cao [30], [32]

Fr Laulaniere và các đồng nghiệp của ông gọi SRI là một phươngpháp, một nguyên lý dựa trên những kết quả và kết luận rút ra từ những quansát thực tế Những nguyên tác cơ bản của SRI đó là:

Trang 16

- Tuổi mạ: Mạ non cấy khi cây mạ đạt 8-12 ngày tuổi, xúc mạ nhẹnhàng ra khỏi đám mạ và đưa ra ruộng, mạ được cấy ngay trong ngày Việc này

sẽ giúp cho cây lúa có khả năng đẻ nhánh nhiều và hệ rễ sinh trưởng tốt hơn

- Cấy 1- 2 dảnh/khóm với các khoảng cách cấy thưa khác nhau tùy vàođất Khoảng cách rộng sẽ tạo điều kiện cho bộ rễ có khoảng không để pháttriển Đây là một nhân tố quyết định thành công của SRI

- Khoảng cách cấy: Các hàng cách nhau khoảng 20- 30 cm, theo hìnhvuông hoặc hình lưới để dễ dàng cho việc làm cỏ sục bùn và giúp cây có đủánh sáng mặt trời

- Cấy cẩn thận: Do cấy mạ non nên cây mạ thường bị tổn thương,nhưng khả năng phục hồi rất nhanh, cấy theo SRI làm giảm lượng hạt giống

so với cấy mạ thường Khi cấy mạ thường, rễ cây mạ bị tổn thương khi nhổcấy, có thể bị chết nếu gặp điều kiện thời tiết bất thuận

- Quản lý tưới tiêu: Tưới nước theo phương pháp tưới, tiêu xen kẽ Có thểtưới nước vừa phải, hoặc thay phiên tháo nước và tưới nước cho ruộng trongsuốt quá trình sinh trưởng của lúa; giữ nước ở mức 1- 2 cm khi cây lúa trổ bông

- Bón phân: Khuyến khích bón phân hữu cơ, có thể kết hợp với bónphân tổng hợp Việc kết hợp bón phân hữu cơ và phân hóa học giúp đảm bảocân bằng dinh dưỡng cho đất

- Làm cỏ và quản lý sâu bệnh: Làm cỏ thủ công có thể cào cỏ và đồngthời làm thông thoáng tầng mặt của đất Khuyến khích áp dụng phương phápQuản lý dịch hại tổng hợp (IPM)

Ở Việt Nam: Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI đã được áp dụng tại 24tỉnh thành kể từ năm 2003 Kết quả của hệ thống này đã hứa hẹn về mặt hiệuquả kinh tế cũng như sản xuất nông nghiệp bền vững Mục đích chính củaSRI ở nước ta là phát triển một hệ thống sản xuất lúa bền vững Nguyên tắc

và các ứng dụng thực tiễn dựa trên quản lý hiệu quả việc canh tác lúa để tối

đa hóa năng suất SRI đã được thử nghiệm thành công trong những điều kiện

Trang 17

đa dạng tại một số địa phương ở Việt Nam, đặc biệt là những hộ nông dân có

ít ruộng Người dân, cán bộ nông nghiệp và nhà nghiên cứu đã nhận thấy: SRItạo ra sản lượng cao hơn cũng nhờ giảm nhu cầu của vật tư đầu vào, giảm:Phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, nước tưới SRI cũng làm cho đất giữ được

độ phì nhiêu và bảo vệ môi trường khỏi bị ô nhiễm [32]

Mặc dù đây là một phương pháp trồng lúa hiệu quả và thân thiện vớimôi trường, nhưng để nông dân áp dụng và nhân rộng phải làm thay đổi nhậnthức của họ, những người đã quá quên thuộc với phương pháp canh tác truyềnthống Một khi người nông dân đã chấp nhận thay đổi thì SRI có thể mang lạinguồn thu nhập đáng kể cho người trồng lúa, đặc biệt là những người nghèo.Điều này đã được minh chứng qua nhiều nước châu Á khi mà các tổ chứccộng đồng hỗ trợ người dân áp dụng phương thức canh tác này [31]

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Cây lúa nước giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp lương thực chocon người ở nhiều nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, câylúa còn là một nông sản xuất khẩu mang lại giá trị cho ngành nông nghiệp.Phương hướng sản xuất lúa của Việt Nam là tập trung khai thác, đầu tư thâmcanh ở những vùng có điều kiện thuận lợi để cây lúa có thể phát huy tối đatiềm năng của giống

So với các nước khác, Việt Nam là nước nông nghiệp nhưng bình quânđất nông nghiệp/đầu người lại ít nhất Nếu so sánh, chúng ta hiện có khoảng

90 triệu dân nhưng chỉ có gần 4,2 triệu ha đất trồng lúa, bình quân 466

m2/người, ở Thái Lan có 63 triệu dân nhưng có tới 9,6 triệu ha trồng lúa nênbình quân của họ tới 1.500 m2/người, gấp hơn 3 lần chúng ta Việt Nam hiệnnay được xếp thứ 13 về dân số Mật độ dân số cao gấp 2 lần so với TrungQuốc, gấp 6,7 lần so với quy chuẩn của thế giới Đất chật, người đông nênviệc thâm canh, tăng vụ là nhiệm vụ tất yếu của nền nông nghiệp (Nguyễn

Ngọc Lâm, 2014) [8].

Trang 18

- Trong sản xuất lúa hiện nay ở Việt Nam, người nông dân vẫn còn tậpquán đầu tư quá mức về phân bón hoá học (đặc biệt là phân đạm), lượnggiống và thuốc bảo vệ thực vật Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đếnhiệu quả sản xuất lúa không cao mà còn gây ô nhiễm môi trường Nhiềunghiên cứu của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long và những nghiên cứu hợptác Quốc tế với JIRCAS Nhật Bản cho thấy có thể tiết kiệm từ 50- 60% lượnghạt giống mà năng suất vẫn không thay đổi Vì thế, một yêu cầu cấp thiết hiệnnay là chúng ta phải có những giải pháp khoa học giúp thâm canh lúa vàhướng đến phát triển một nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả (NguyễnNgọc Lâm, 2014) [8].

1.2 Nghiên cứu một số đặc điểm của cây lúa liên quan đến kỹ thuật canh tác lúa cải tiến (SRI)

1.2.1 Đặc điểm của lá lúa

Lá lúa giữ vai trò quan trọng trong đời sống của cây Thông qua sự sinhtrưởng và màu sắc của lá ta biết được cây lúa sinh trưởng nhanh hay chậm, tốthay xấu Màu sắc, kích thước phiến lá, góc lá thay đổi theo giống lúa, thời kỳsinh trưởng và hàm lượng dinh dưỡng trong đất Hướng chọn giống là chọnnhững giống lá có phiến lá to, bản lá dày, màu xanh đậm, góc lá hẹp sẽ có lợicho quang hợp và tăng hiệu quả sử dụng ánh sáng

Trong quần thể ruộng lúa tồn tại lá của nhánh mẹ và lá của nhánh con.Tất cả tạo nên chỉ số diện tích lá (LAI) của quần thể Chỉ số diện tích lá củaruộng lúa đạt cao nhất vào lúc trước trỗ bông khoảng 7 ngày, vì lúc đó số láđạt tối đa và diện tích từng lá tương đối ổn định Chỉ số diện tích lá của ruộnglúa có thể đạt đến 10 hoặc hơn chút ít, sau khi trỗ bông thì giảm xuống bởimột số lá già và chết đi

Trên thân chính của lúa có tổng số lá nhất định, tùy từng giống mà cótổng số lá khác nhau Mỗi lá đều có chức năng nhất định tùy từng giai đoạnsinh trưởng Trong cùng một thời kỳ thì lá hoạt động động mạnh nhất là lá thứ

Trang 19

hai từ trên xuống (lá công năng) Quan sát hình thái và sức sống của lá công năng,

ta biết được sinh trưởng của cây lúa tốt hay xấu (Nguyễn Văn Hoan, 1999) [6]

1.2.2 Đặc điểm đẻ nhánh của cây lúa

Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ đếnquá trình hình thành số bông và năng suất cây lúa Cấy cây non, các nhánhmọc ra từ thân chính được gọi là nhánh cấp 1 (cây lúa thường có từ 5-7 nhánhcấp 1) Các nhánh mọc ra từ nhánh cấp 1 gọi là nhánh cấp 2 và các nhánhmọc ra từ nhánh cấp 2 gọi là nhánh cấp 3 Nhánh cấp 1 phát triển ở giữa thânchính và lá thứ hai kể từ gốc Mặc dù vẫn dính liền vào thân cây mẹ tới tận nhữnggiai đoạn phát triển sau, nhưng nhánh cấp 1 vẫn độc lập kể từ khi nó có rễ riêng

Thời gian đẻ nhánh của cây lúa được tính từ khi lúa bén rễ hồi xanh đếnkhi làm đốt, làm đòng Tuy nhiên ở ruộng mạ cũng có hiện tượng đẻ nhánhnếu mạ gieo thưa hoặc những cây mạ quanh bờ có thể đẻ 1- 2 nhánh đầu tiênkhi có 4- 5 lá (gọi là mạ ngạnh trê), nhưng ngay lúc đó mật độ cây trongruộng mạ tăng lên và quá trình đẻ nhánh ngừng lại Về khả năng đẻ nhánh củacây lúa thì phụ thuộc vào phạm vi mắt đẻ (tức là số lá trên cây mẹ, tuổi mạ và sốlóng đốt kéo dài) và điều kiện ngoại cảnh, đặc biệt là mật độ và phân bón [35]

Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh của cây lúa: Có rấtnhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự đẻ nhánh, xong có 4 yếu tố ảnh hưởng trựctiếp là: Giống, khoảng cách cấy, mùa vụ gieo cấy và mức bón đạm

- Giống: Các giống thường có sự khác nhau về khả năng đẻ nhánh Khả

năng đẻ nhánh của một giống có thể đạt được mức tối đa bằng cách cấy thưatrên đất giàu dinh dưỡng Nhưng trong những điều kiện thực tế đồng ruộng thìkhông thể nào đạt tới đích ấy

- Khoảng cách cấy: Khi ta tăng khoảng cách cấy giữa các cây (tức là

mật độ cấy càng thưa) thì số nhánh lúa trên 1 cây càng tăng, nhưng đạt giớihạn nhất định Nếu cấy với mật độ quá thưa đến bất hợp lý thì số nhánh lúatrên một đơn vị diện tích sẽ bị giảm đi Vì vậy, với một giống lúa nhất định,

Trang 20

ngay từ khi nghiên cứu chọn tạo giống các tác giả đã phải nghiên cứu để đưa

ra một mật độ cấy cùng với điều kiện chăm sóc thích hợp trong quy trình kỹthuật của giống lúa đó

- Mùa vụ gieo cấy: Thời gian đẻ nhánh của một giống lúa dài hay ngắn

phụ thuộc vào thời vụ gieo cấy Vụ xuân có thời gian đẻ nhánh dài hơn vụ mùa

và trong cùng một vụ thì vụ sớm sẽ có thời gian đẻ nhánh dài hơn vụ muộn

- Mức phân đạm: Có một nguyên tắc, nếu bón lượng cao hơn và sớm

hơn thì số nhánh đẻ cũng nhiều hơn Nếu bón thúc đạm sớm, quá trình đẻnhánh sẽ diễn ra sớm hơn Nếu bón phân nhiều, bón thúc muộn, thời gian đẻnhánh sẽ kéo dài hơn (Stoop W A, Uphoff N and Kassam A, 2015) [24]

1.2.3 Dinh dưỡng khoáng của cây lúa

Cũng như các loại cây trồng khác, lúa phải hút từ đất một loạt chấtkhoáng N, P, K, Ca, Mg, Fe, Si… trong đó phân ra các nguyên tố đa lượng,trung lượng và vi lượng Có 3 nguyên tố chủ yếu là đạm, lân và kali Trongquá trình dinh dưỡng khoáng của cây lúa có sự tương quan mật thiết giữa chấtnày với chất khác, quá trình này phụ thuộc nhiều vào điều kiện bên ngoài và

kỹ thuật canh tác Lá lúa là bộ phận có lượng protein cao và tiến hành quanghợp mạnh mẽ

Đạm của lá lúa là nguồn protein chính của hạt Bẹ lá tích trữ các sảnphẩm khác của quang hợp như tinh bột Lân được tích trữ ở thân cũng lànguồn lân chính của hạt Rễ không tích trữ nhiều chất dinh dưỡng, nhiệm vụchính của chúng là hút thức ăn Bông lúa là nơi tích trữ các chất protein,đường và các chất khoáng chuyển về trong quá trình làm hạt

Khi thiếu đạm, lân và lưu huỳnh thì chiều dài lá, số lượng lá, số lượngbông và số lượng hạt trên bông đều giảm Thiếu kali và magie sẽ làm giảmnăng suất lúa và khối lượng 1.000 hạt Tuy nhiên, thành phần hoá học củabông không bị ảnh hưởng nhiều do những thiếu hụt ấy

Trang 21

Nói chung các chất được đồng hoá thường di chuyển tới những bộ phậnđang sinh trưởng mạnh và sẽ cung cấp năng lượng và vật chất cho các bộphận này sinh trưởng và phát triển Trong thời kỳ đẻ nhánh, các chất này dichuyển đến các lá đang phát triển của cây mẹ và của nhánh rồi đến rễ Trongthời kỳ phân hoá và phát triển đòng, chúng di chuyển đến những đòng non,đến các lá trên và các lóng đang phát triển Sau khi lúa trỗ, các chất đồng hoá

ở các lá trên được chuyển về hạt còn các chất đồng hoá ở các lá dưới đượcchuyển về các bộ phận phía dưới của cây (Bùi Huy Đáp, 1980) [3] TheoNguyễn Như Hà (2006) [5], bón phân lót trước khi cấy giúp cho cây lúanhanh bén rễ, đẻ nhánh sớm và mạnh, cần bón lót nhiều phân đạm khi gieocấy trong điều kiện nhiệt độ thấp, cấy các giống ngắn ngày hay giống đẻnhánh kém, mật độ cần gieo cấy thưa Vì vậy, có thể nói mật độ cấy là một yếu

tố thực tế khá quan trọng để xác định lượng phân bón hợp lý đối với cây lúa

1.3 Những nghiên cứu về mật độ, tuổi mạ và số dảnh cấy đối với cây lúa

Quần thể ruộng bao gồm tất cả các khóm lúa đã được gieo cấy ở ruộng

từ khi gieo đến khi thu hoạch Mỗi khóm lúa trong quá trình phát triển đã ảnhhưởng đến các khóm khác mà trước hết ảnh hưởng đến các khóm ở gần nó.Ngược lại nó cũng chịu ảnh hưởng của sự phát triển của các khóm lúa khác.Nói cách khác các cá thể và quần thể có mối ảnh hưởng qua lại chặt chẽ, chiphối sự sinh trưởng và phát triển của cả ruộng lúa trong suốt quá trình cây lúasinh trưởng cho đến lúc chín Mục đích chính của việc trồng lúa không phải là

có một số khóm lúa tốt mà là để đạt năng suất lúa cao, nghĩa là năng suất của

cả ruộng lúa cao (Bùi Huy Đáp, 1980) [3] Các nhà khoa học Nhật Bản chorằng: Khi cây lúa ra được 4 lá thật là có khả năng đẻ nhánh và cứ ra được một

lá đẻ được một nhánh Khi nhánh có trên 4 lá xanh, có thể sống hoàn toàn tựlập, trở thành một nhánh hữu hiệu rồi thành bông sau này Tuy vậy, mầmhoặc nhánh cũng có thể thoái hóa hoặc phát triển không đầy đủ 4 lá nếu điềukiện đẻ muộn, hoặc do điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi: Thiếu nước, gặp

Trang 22

nhiệt độ thấp, thiếu dinh dưỡng, thiếu ánh sáng, quần thể quá rậm rạp, sâubệnh gây hại, đây chính là đẻ nhánh vô hiệu (Nguyễn Văn Hoan, 1999) [6];Nguyễn Thị Lẫm và CS, 2003) [10].

Cùng với mật độ cấy (số dảnh/khóm và số khóm/m2), đẻ nhánh gópphần tạo nên số lượng bông/m2 đất, sức đẻ nhánh hữu hiệu càng cao thì càng

có ý nghĩa kinh tế, tức là cấy ít dảnh cơ bản mà vẫn có nhiều bông, sẽ tiếtkiệm được chi phí về giống lúa, về công làm mạ Lợi dụng đặc điểm đẻ nhánhcủa cây lúa, trong thâm canh muốn tăng số bông trên ruộng lúa thì ngoài việccấy đúng mật độ, chúng ta nên xúc tiến các biện pháp để lúa đẻ nhánh sớm,

đẻ tập trung, làm tăng sức đẻ hữu hiệu, không để quần thể quá rậm rạp, tốndinh dưỡng của mẹ Trên cây lúa chỉ có những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻthấp, có số lá nhiều, điều kiện dinh dưỡng thuận lợi mới có điều kiện pháttriển đầy đủ để trở thành nhánh hữu hiệu Biện pháp kỹ thuật nên áp dụng là:Gieo cấy những giống lúa đẻ tập trung và xúc tiến đẻ sớm bằng cách cấy mạnon, cấy nông tay, bón phân lót, bón thúc đẻ, làm đất kỹ, giữ đủ nước

Năng suất, số bông và số nhánh không nhất thiết tỷ lệ với nhau Nhưngthường nếu năng suất cao thì số bông cũng nhiều, do đó số nhánh đẻ cũngcao, vì vậy muốn tăng năng suất lúa phải làm cho lúa đẻ nhánh nhiều Tăng sốnhánh là một việc dễ dàng, nhưng nhiều khi không những không tăng được sốbông mà lúa lại dễ bị lốp và sâu bệnh phá hại Có nhiều trường hợp tuy tăng

số nhánh nhưng không đạt được sản lượng cao như ý muốn, nhưng cũng cótrường hợp tăng số nhánh mà tăng được năng suất Đứng về phương diện sinhtrưởng của cây lúa mà xét thì có 2 mặt sảy ra Thứ nhất là bộ rễ lúa có đượcchăm sóc, quản lý tốt không Thứ hai là bộ phận trên mặt đất, đặc biệt là việcđiều chỉnh số nhánh có thích hợp không (Togari Matsuo, 2005) [15]

Theo Nguyễn Văn Hoan, 2003 [7], số dảnh cần cấy phụ thuộc trước hếtvào số bông cần đạt trên 1 m2, và căn cứ vào mật độ đã chọn để đạt được sốbông theo tối ưu Nguyên tắc chung của việc xác định số dảnh cấy của một

Trang 23

khóm lúa, dù được cấy ở mật độ khác nhau, tuổi mạ khác nhau nhưng cuốicùng cần đạt được số bông cần thiết và độ lớn của bông theo yêu cầu để đạtđược số lượng hạt thóc/m2 như mong muốn

Mật độ là số cây, số khóm có được trên một đơn vị diện tích, với lúacấy thì mật độ được đo bằng đơn vị khóm/m2 Trên một đơn vị diện tích nếumật độ càng cao (cấy dầy) thì số bông càng nhiều, song số hạt/bông càng ít(bông bé), tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ Vì thếcấy dầy quá sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng Tuy nhiên nếu cấy vớimật độ quá thưa đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn thì rấtkhó hoặc không thể đạt được số bông tối ưu Các kết quả nghiên cứu củanhiều nhà khoa học với các giống lúa khác nhau đều khẳng định: Khi cáckhâu kỹ thuật khác được duy trì thì chọn một mật độ vừa phải là phương ántối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên đơn vị diện tích gieo cấy(Nguyễn Văn Hoan, 2003 ) [7] Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quantrọng, nó phụ thuộc vào đặc điểm của giống, điều kiện đất đai, nước tưới,dinh dưỡng, trình độ thâm canh của người dân… Khi nghiên cứu về vấn đềnày Togari Matsuo (2005) [15] đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúamọc tốt thì nên cấy mật độ thưa, còn ngược lại phải cấy dầy Giống lúa chonhiều bông thì cấy dầy không có lợi bằng giống to bông, vùng lạnh nên cấydầy hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieomuộn nên cấy dầy hơn lúa gieo sớm

Đối với nhóm lúa thường gieo mạ thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến thìnên cấy mạ non Bố trí cấy với mật độ thưa hơn so với cách gieo mạ truyềnthống Mạ non cấy 2- 3 dảnh/khóm (mạ non chưa đẻ), 30- 35 khóm/m2 để sauthời kỳ đẻ nhánh có số nhánh tương đương như loại mạ thâm canh, khoảngcách 25 x 12 cm thường được ưa chuộng (Nguyễn Văn Hoan, 2003) [6] Đốivới cấy mạ non khi cần đạt 9-10 bông/khóm và mật độ 35- 39 khóm/m2 thì chỉcần cấy 2 dảnh mạ/khóm, không nên cấy nhiều dảnh hơn vì loại mạ non đẻ

Trang 24

khỏe, cấy nhiều dảnh cây lúa sẽ đẻ ra nhiều nhánh quá nhỏ, yếu, tỷ lệ bônghữu hiệu thấp Hoặc số bông/khóm nhiều hơn so với dự định sẽ làm cho sốhạt/bông ít đi, bông lúa nhỏ, năng suất không đạt yêu cầu Khi cần đạt 11-12bông/khóm ở mật độ 29- 32 khóm/m2, cần cấy 3 dảnh/khóm để một dảnh mạsinh ra 4 bông lúa to đều nhau (Nguyễn Văn Hoan, 2003) [7].

Ở Nhật Bản, mạ tốt là mạ non, cấy xuống cây mạ bén rễ rất nhanh, mật

độ cấy tiêu chuẩn ở Hokkaido là 35 x 15 cm, mỗi khóm 2 dảnh Theo kết quảnghiên cứu của trạm thí nghiệm nông nghiệp ở Hokkaido cho thấy trong mộtphạm vi mật độ nhất định thì năng suất hầu như không thay đổi Mật độ cấythích hợp nhất thay đổi tùy theo lượng phân bón và đặc tính giống Ở vùngnhiệt đới như Ấn Độ, đối với giống lúa chín sớm cấy mật độ 15 x 15 cm, mỗikhóm lúa 2 dảnh, với lúa chín muộn khoảng cách 20 x 20 cm hoặc 15 x 23cm,mỗi khóm 2 dảnh Còn những nơi đất tốt có thể cấy 30 x 15 cm (TanakaAkira, 2015) [14]

Tại Việt Nam khi tiến hành thí nghiệm trên giống lúa khang dân 18 vớicác khoảng cách cấy khác nhau thay đổi từ 30 x 30 cm, 20 x 15 cm, 20 x 10

cm, 15 x 15 cm, 10 x 15 cm Với các số dảnh khác nhau trong mỗi khóm thayđổi từ 1 dảnh, 2 dảnh, 3 dảnh, 4 dảnh, cho thấy thời gian đẻ của giống lúakhang dân 18 thay đổi rõ với các mật độ khác nhau Mật độ khóm càng caothời gian đẻ càng ngắn dù mật độ dảnh trong khóm cao hay thấp Mật độ dảnhtrong khóm càng cao đối với cùng mật độ khóm thì thời gian đẻ cũng rútngắn, trừ các mật độ khóm tương đối thưa 30 x 30 cm; 20 x15 cm (NguyễnThị Lẫm và CS, 2003 [10] Qua các nghiên cứu các nhà khoa học cho rằng:Nếu cấy càng nhiều dảnh lúa thì bông lúa càng ít hạt, ví dụ: Cấy 1.000 dảnh/

m2 thì 1 bông trung bình có 22 hạt; cấy 500 dảnh/m2 1 bông có 44 hạt; 250dảnh/m2 1 bông có 82 hạt, 33 dảnh/m2 1 bông có 119 hạt Giống lúa khangdân 18 cho năng suất cao nhất ở mật độ 33 khóm/m2, mỗi khóm cấy 1 dảnh.Tăng lên 3 dảnh trên 1 khóm, năng suất còn khá (xếp thứ 2), nhưng đã kém so

Trang 25

với mật độ trên Và càng tăng số khóm hay số dảnh thì năng suất càng giảm,nếu tăng số dảnh lên 7 lần so với công thức thứ nhất thì năng suất giảm 5tạ/ha 12 (Nguyễn Bá Thông, 2014) [13].

1.4 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) trên Thế giới

1.4.1 Sự hình thành và ý nghĩa của hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI)

Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) được phát hiện đã làm thay đốiphương thức canh tác của cây lúa, góp phần tăng thêm năng suất từ 50- 100%,thậm trí cao hơn Đồng thời với việc giảm được lượng giống, tiết kiệm nước,phân bón, hóa chất nông nghiệp và cả nhân lực lao động, nên hiệu quả kinh tếkhá cao (Abha Mishra and V.M.Salokhe, 2015) [16] Với SRI chỉ có một câyđược cấy vào một mẫu hình vuông, khoảng cách giữa các cây ít nhất là 25 cmvới 15- 20 cây/m2 thay vì 50- 100 cây/m2 Rễ cây có thể lan theo mọi hướng

và tất cả các lá nhận được ánh sáng mặt trời đủ để cho bộ máy quang hợp hoạtđộng Việc trồng dày là cơ sở thực tế dẫn đến việc trồng trọt hạn chế, độ chephủ của lá yếu đi và làm cho lá sớm bị già cỗi, đặc biệt là ở giai đoạn sinhtrưởng sinh thực (Anuradha Saha and Vijiay Bharti (2012) [17]

Phương pháp canh tác theo SRI đã chứng minh được rằng chúng có lợithế khi áp dụng với các giống lúa thuần cũng như các giống lúa lai Năng suấtcao hơn đã được khẳng định ở hàng loạt các quốc gia như: Trung Quốc,Gambia, Ấn Độ, Indonesia, Myanma, Srilanka…Thực tế SRI bị chậm lại mộtphần là do ảnh hưởng bởi cuộc cách mạng xanh ở châu Á- cuộc cách mạngdựa trên giống mới và đòi hỏi đầu tư nhiều phân bón, nhiều nước Phươngpháp SRI trái ngược lại là không yêu cầu việc sử dụng giống mới và đầu tưnhiều từ bên ngoài Nông dân có thể tăng sản lượng của mình bằng cách tiếptục trồng bất cứ giống gì mà họ đang sử dụng, làm giảm lượng hạt giống,

Trang 26

nước tưới, phân bón và công lao động Tuy nhiên điều này khá đối lập vớikhả năng suy nghĩ và nhận thức của nhiều người nông dân.

1.4.2 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Trung Quốc

SRI bắt đầu được nghiên cứu và đánh giá ở Trung Quốc từ năm

1999-2000 sau khi các nhà khoa học đã được tiếp cận SRI từ bài viết ILEIA bởiJustin Rabenandrasana tại hội thảo của N.Uphoff về SRI tại Trường Đại họcNông nghiệp Nam Ninh tháng 12/1998 Thử nghiệm đầu tiên về SRI đượcthực hiện tại Trường Đại học Nông nghiệp Nam Ninh của Cao Weixing vàsau đó là áp dung rộng rãi tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa lai vàonăm 2010 (Norman Uphoff, 2012) [22]

Các nhà khoa học tại Trường Đại học Nông nghiệp Trung Quốc BắcKinh cũng đã thử nghiệm kỹ thuật SRI trên cả hai nền đất trũng và đất caođều đạt kết quả rất tốt Năm 2010 là một năm mà hạn hán kéo dài, nhưngnhững ruộng lúa ứng dụng kỹ thuật SRI, năng suất lúa vẫn cao hơn hẳn năngsuất của vụ năm 2009 với phương pháp canh tác thông thường Năm 2009,SRI đã làm tăng năng suất lên 35,2%, tiết kiệm nước tưới tới 43,2% Theonhững người nông dân thì nét đặc biệt hấp dẫn của SRI là giảm bớt được sứclao động theo cách cấy thông thường (Norman Uphoff, 2012) [22]

Năng suất bình quân của những ruộng lúa canh tác theo SRI đạt 10- 12tấn/ha, cao hơn so với phương pháp sản xuất truyền thống (năng suất 6-7,5tấn/ha) Thậm chí với mô hình trình diễn ở tỉnh Zhejing, canh tác theo phươngthức của SRI đã làm tăng năng suất lên 13,5 tấn/ha, những người nông dân ởđây đã cấy với khoảng cách hàng cách hàng là 50 x 50 cm, và họ đã giảmđược 30- 40% lượng nước tưới sử dụng, 70% thuốc trừ sâu bệnh hại (NormanUphoff, 2012) [22]

Từ năm 2009- 2012, Học viện Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc đãthử nghiệm về SRI với hơn 100 địa điểm, sau khi thu hoạch có hơn 60 điểm

Trang 27

có năng suất trung bình là 10,5 tấn/ha, so với phương pháp thông thường là7,5 tấn/ha, tăng hơn 3 tấn/ha Đặc biệt phương thức canh tác theo SRI sử dụng

ít nước hơn và giảm công lao động của người nông dân

Cuộc họp chiến lược về phát triển lúa gạo được tổ chức tại Bắc Kinh,Trung Quốc, tham gia hội nghị có đại biểu của 12 tỉnh có sản lượng gạo lớnnhất và các đại biểu của các viện nghiên cứu Sản lượng gạo của Trung Quốctrong năm năm trở lại đây là vấn đề được nhấn mạnh tại hội nghị, vấn đề đặt

ra là phải khôi phục lại sản xuất lúa gạo tại Trung Quốc Kỹ thuật SRI đãđược đề nghị đẩy mạnh tại 12 tỉnh và được mở rộng tất cả các địa phươngtrong phạm vi toàn quốc Cho đến năm 2011 tại Tỉnh Tứ Xuyên đã có340.000 ha trồng lúa áp dụng phương pháp canh tác lúa cải tiến SRI và tạiTỉnh Chiết Giang là 210.000 ha (Norman Uphoff, 2012) [22]

Phương pháp SRI được áp dụng rộng rãi ở Trung Quốc là: Cấy mạ non,cấy ít dảnh, tiết kiệm được lao động và hạt giống, giảm thủy lợi, tiết kiệmnước, sử dụng nhiều phân bón hữu cơ, sử dụng ít phân bón vô cơ hơn, gópphần nhiều vào nền nông nghiệp bền vững

1.4.3 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Thái Lan

Thí nghiệm về SRI đầu tiên tại Thái Lan bằng việc thử nghiệm hai giốnglúa nếp và ba giống lúa tẻ, với đặc điểm sinh trưởng mẫn cảm với ánh sáng ngàyngắn, đã được trồng theo phương pháp canh tác truyền thống và theo chế độquản lý của SRI (cấy mạ non 17 ngày tuổi so với phương pháp canh tác truyềnthống là cấy mạ già 34 ngày tuổi) Cấy theo khoảng cách rộng 25 x 25 cm, vàcấy 1 dảnh/khóm Kết quả cho thấy việc cấy mạ non và cấy 1 dảnh với năng suấtđạt được là 5,11 tấn/ha so với phương pháp truyền thống chỉ đạt 4,3 tấn/ha

Các nhà khoa học nông nghiệp của Thái Lan đã chia sẻ những báo cáokinh nghiệm có được về SRI từ Madagasca và Srilanka với các thành viênkhác của mạng lưới nông nghiệp bền vững tại miền Bắc Thái Lan [23] Khi

kỹ thuật SRI đã trở nên phổ biến thì những người nông dân địa phương đã

Trang 28

quan tâm rất nhiều về các vấn đề như: Nguồn cung cấp dinh dưỡng hữu cơ,sâu bệnh hại, kiểm soát ốc bươu vàng…, đặc biệt người dân quan tâm đến chế

độ quản lý nước và diệt trừ cỏ dại (Abha Mishra and V.M.Salokhe (2015) [16]

1.4.4 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Campuchia

Cây lúa là cây lương thực quan trọng nhất ở Campuchia, năm 2007,

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông nghiệp Campuchia Centre Etude et de Developpement agricole Cambodgien) đã được thành lập

(CEDAC-như một tổ chức phi Chính phủ với mục đích để phát triển nông nghiệp quy

mô nhỏ thông qua việc nghiên cứu, đào tạo và phát triển cộng đồng Tổ chứcnày đã và đang hợp tác với nông dân để xúc tiến, đẩy mạnh nền nông nghiệpbền vững, với mục tiêu là sản xuất hợp lý trong vùng trang trại, hiệu quả sinhthái của các biện pháp thâm canh lúa và sự hòa hợp của các cây trồng trong hệthống canh tác (Max Whitten and John Schiller, 2011)[21]

SRI được giới thiệu với Campuchia bởi CEDAC vào năm 2005, trongnhững năm đầu tiên, nông dân rất khó chấp nhận những nguyên tắc của SRI,đặc biệt là việc cấy mạ non lần lượt trong một ô vuông thay cho các hàng.Nhưng những kết quả đạt được về sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa đãlàm cho mọi người dân chấp nhận các kỹ thuật này Khi những ruộng lúa ápdụng canh tác theo SRI bắt đầu trỗ và vào chắc, những người nông dân rấtngạc nhiên và muốn tìm hiểu về SRI Mặc dù nhìn thấy kết quả của các biệnpháp SRI, họ vẫn nghĩ rằng những người nông dân làm thí nghiệm đã nhậnđược những hạt giống đặc biệt và nhiều nông dân quan tâm đã bắt đầu đặthàng hạt giống cho mùa tới

Năm 2006, sau hai lượt thí nghiệm, một vào mùa mưa và một vào mùakhô, CEDAC đã giành được sự tin tưởng của nông dân tham gia mô hình vềSRI Họ cũng đã sửa đổi các nguyên tắc canh tác của SRI cho phù hợp với tậpquán canh tác của nhiều địa phương khác nhau (Max Whitten and John

Trang 29

Schiller, 2011) [21] Bên cạnh đó, CEDAC còn chia sẻ kinh nghiệm của họ vềSRI với những nước khác trong vùng, họ đã thiết lập sự liên hệ để chia sẻkinh nghiệm với Khoa Nông học- Trường Đại học Los Banos, Philippines

(UPLB- University of the Philippines at Los Banos), họ cũng chia sẻ kinh

nghiệm của họ với các cán bộ nông nghiệp của Community Aid Abroad(CAA), một tổ chức phi chính phủ Cuối tháng 10, đầu tháng 11, người nôngdân ở Campuchia đã được chia sẻ kinh nghiệm từ các thành viên của các tổchức phi chính phủ đến từ Thái Lan, Indonesia, Philippines, Bangladesh và

Ấn Độ (Max Whitten and John Schiller, 2011) [21]

Do những thành công ban đầu của SRI, Chính phủ Campuchia đã chínhthức bắt đầu ủng hộ và thúc đẩy phát triển SRI trong năm 2007 Kể từ đó SRI đãđược đẩy mạnh trong tất cả các tỉnh của Campuchia Theo báo cáo chính thứccủa MAFF, số nông dân của Campuchia tham gia SRI là 504.000 nông dân, baogồm hàng vạn ha diện tích canh tác Năng suất trung bình của SRI là 4,53 tấn/ha,

so với năng suất lúa bình quân của cả nước là 3,62 tấn/ha… Bắt đầu từ thời điểmnày Campuchia đã thay đổi hệ thống canh tác của họ, khi áp dụng SRI họ có thểtăng năng suất lên gấp đôi hoặc gấp 3 sản lượng Năng suất lúa tăng từ 2,5-2,8tấn/ha lên 3,5- 5 tấn/ha (từ 50 đến 150%), lượng hạt giống giảm từ 70- 80%,phân bón hóa học giảm 50% (từ 150 kg/ha xuống còn 75 kg/ha) [23]

1.4.5 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Iran

Iran là một đất nước hồi giáo với 1,25 triệu ha đất trồng trọt, lúa mỳ,lúa gạo và lúa mạch là một trong những loại ngũ cốc quan trọng nhất Sảnxuất đủ lương thực là mục tiêu quan trọng của nước này Lượng gạo bìnhquân trên đầu người ở Iran là 34- 35 kg/người/năm Diện tích trồng lúa thayđổi từ năm này sang năm khác, lớn nhất là năm 2008 với diện tích 615 nghìn

ha, sản lượng đạt 2,77 triệu tấn Năng suất lúa bị ảnh hưởng nặng nề bởi sâubệnh, kỹ thuật trồng trọt, sự khác nhau về phương thức canh tác và điều kiện

Trang 30

kinh tế (Bahman Amiri Larijani, 2011) [18].

Những lý do chính mà SRI được quan tâm ở Iran là: Sự phổ biến củatrang trại nhỏ với những cánh đồng trồng lúa có diện tích dưới 0,7 ha Giáphải trả cho công lao động ở đây là rất lớn, nguồn nước tưới bị thiếu hụt Nhucầu của mỗi địa phương là khác nhau, làm giảm sản lượng và dễ bị ảnh hưởngbởi sâu bệnh (Bahman Amiri Larijani, 2011) [18]

SRI bắt đầu được nghiên cứu và thực hành ở Iran vào năm 2005 vớidiện tích thử nghiệm là 2 ha, với 3 khoảng cách cấy là 25 x 25 cm, 30 x 30

cm, 40 x 40 cm, sử dụng mạ non tuổi và chỉ cấy 1 dảnh, với 3 phương thứccanh tác đó là: Canh tác theo truyền thống của địa phương, canh tác theo theoSRI và phương thức canh tác sử dụng lúa lai Kết quả cho thấy canh tác theophương pháp truyền thống đạt sản lượng thấp nhất Việc sử dụng mạ non tuổi,cấy 1 dảnh và khoảng cách cấy hàng rộng đã làm tăng cường hoạt động của

hệ vi sinh vật đất, làm tăng khả năng thông thoáng của đất, từ đó làm cho bộ

rễ cây khỏe, cây lúa có khả năng chống chịu với sâu bệnh tốt hơn Nhữngcông thức cấy với khoảng cách 25 x 25 cm và 30 x 30 cm cho năng suất caonhất, đạt từ 6,95 tấn/ha đến 7,03 tấn/ha Lượng hạt giống đã giảm từ 60- 70kg/ha xuống còn 10 kg/ha (Bahman Amiri Larijani, 2011) [18]

1.4.6 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở một số nước khác

Tại Ấn Độ những thí nghiệm về hiệu quả của phương pháp canh táckhác nhau đối với năng suất cây lúa trên đồng ruộng đã được tiến hành vàtheo dõi trong suốt năm 2008 đến 2010 tại Viện Nghiên cứu về Nông nghiệp.Trong tất cả các phương pháp canh tác thì phưong thức canh tác theo SRI chochiều cao cây là 82,5 cm, sự tích lũy vật chất khô là 558 gam/m2 Năng suấthạt đạt 5,47 tấn/ha, năng suất sinh vật học là 7,66 tấn/ha Năng suất củaphương thức canh tác theo SRI tăng lên so với các phương pháp khác từ 5,2-7,8% Tuy nhiên SRI đã tiết kiệm được 14,5% lượng nước so với phương

Trang 31

pháp thông thường (Anuradha Saha and Vijiay Bharti, 2012) [17].

Ở châu Phi những thử nghiệm về SRI cũng được thực hiện tại Gambiavới năng suất dao động từ 5,4-8,3 tấn/ha Ở Châu Mỹ la tinh được thực hiệnđầu tiên tại Cuba, năng suất đạt 9,1 tấn và 9,56 tấn/ha khi canh tác theo SRI

Theo nguyên lý của SRI, các biện pháp này sẽ cho kết quả tốt trong bất

kỳ môi trường nào Kết qủa này cũng có thể khác nhau đối với việc sử dụngcác giống lúa khác nhau Cho đến nay tất cả các giống lúa đều phản ứng tíchcực với phương pháp này Năng suất đạt cao nhất là ở những giống lúa lai caosản và có thể đạt tới 17,8 tấn/ha với giống BG358 ở Srilanka

Tuy nhiên năng suất tối đa không phải là mục tiêu chính của SRI, cái

mà SRI đem lại đó là một nền nông nghiệp bền vững, góp phần nâng caonăng suất, tăng hiệu quả sử dụng đất và nguồn nước, do đó sẽ góp phần đadạng hóa các hệ thống sản xuất trong nông nghiệp

1.5 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Việt Nam

Trong hội thảo trao đổi kinh nghiệm về thâm canh lúa cải tiến (SRI)giữa các nước châu Á tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan), Weijun Zhou (2013)[26] cho biết trong số gần 30 nước áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến(SRI), thì Ấn Độ và Việt Nam là hai nước đạt kết quả khả quan nhất

Kỹ thuật SRI bắt đầu được nghiên cứu ở Việt Nam từ vụ Xuân 2004,nghiên cứu SRI được thực hiện trong hai năm trên cả giống lúa thuần và lúalai ở 2 tỉnh là Thái Nguyên và Bắc Giang Qua thời gian nghiên cứu đã chonhững kết quả đó là:

- Sinh trưởng của cây lúa: Sự khác biệt giữa kỹ thuật SRI và các biệnpháp kỹ thuật thông thường hiện đang áp dụng đó là cấy mạ non, mật độ cấythưa, số dảnh cấy ít, chế độ tưới nước hợp lý đã cung cấp đầy đủ ôxy trongđất làm bộ rễ lúa phát triển mạnh ngay sau khi cấy Sự sinh trưởng mạnh thể

Trang 32

hiện rõ nhất ở khả năng đẻ nhánh cao Mặc dù mật độ cấy ở các công thứcSRI rất thưa, chỉ bằng 30- 40% so với đối chứng, nhưng do cây lúa ít bị cạnhtranh về dinh dưỡng và ánh sáng nên cây lúa đẻ nhánh sớm, đẻ khỏe và đạt sốnhánh/khóm cao và kết quả là số nhánh/m2 ở công thức SRI không thấp hơn

so với đối chứng Đồng thời không thấy có sự sai khác có ý nghĩa về tỷ lệ đẻnhánh hữu hiệu giữa công thức đối chứng và công thức SRI (Hoàng Văn Phụ,2005) [11]; (Hoàng Văn Phụ, Nguyễn Hoài Nam, 2005) [12]

- Khả năng chống chịu bệnh khô vằn: Với mật độ cấy thưa, cấy mạnon, chế độ nước cạn xen kẽ, kỹ thuật SRI đã tạo môi trường thông thoánghơn trong quần thể ruộng lúa do đó đã làm giảm tỷ lệ bệnh khô vằn rõ rệt.Trong thí nghiệm vụ Xuân 2010 tại Thái Nguyên, tỷ lệ bệnh khô vằn của lúa

từ 70% ở công thức đối chứng giảm xuống còn 50,8% và 17,9% ở các côngthức có mật độ là 17 và 13 khóm/m2 Như vậy, việc giảm mật độ cấy có thểlàm giảm nhiệt độ, độ ẩm tương đối trong quần thể ruộng lúa và làm giảm tácnhân gây hại của bệnh khô vằn, làm hiệu suất quang hợp và hệ số kinh tế tăng lên

rõ rệt

- Năng suất lúa: Các yếu tố kỹ thuật của SRI đã tạo một điều kiện thuậnlợi cho các đặc điểm di truyền của cây lúa phát huy tác dụng, được thể hiện ởcác yếu tố cấu thành năng suất Các công thức SRI mặc dù có số bông/m2 thấphơn so với đối chứng, nhưng lại có ưu thế vượt trội về bông to và số hạt chắc/bông Chính những điều này đã quyết định năng suất của lúa khi áp dụng SRIcao hơn hẳn so với đối chứng Tùy theo việc áp dụng các biện pháp đơn lẻhay tổng hợp kỹ thuật SRI mà năng suất lúa vượt hơn so với đối chứng từ 4,5-24% Tại Thái Nguyên vụ Xuân 2005 giống Khang dân 18 được cấy ở tuổi

mạ 14 ngày, mật độ 11 khóm/m2 và áp dụng chế độ nước tưới theo SRI năngsuất đạt 8,53 tấn/ha, vượt đối chứng 23,2% và giống khang dân 18 cấy trong

vụ Mùa ở tuổi mạ 14 ngày, mật độ cấy 17 khóm/m2, chế độ nước theo SRI đãđạt năng suất 6,23 tấn/ha vượt đối chứng 24,3% (Hoàng Văn Phụ, 2005) [11];(Hoàng Văn Phụ, Nguyễn Hoài Nam, 2005) [12]

Trang 33

- Hiệu quả kinh tế: Áp dụng kỹ thuật SRI làm giảm chi phí hạt giống từ56- 76%, tiết kiệm nước 62%, giảm công cấy và thuốc trừ sâu, trong khi đónăng suất lúa tăng lên Do đó kỹ thuật SRI làm tăng hiệu quả sử dụng đất, laođộng, đầu tư và tăng thu nhập Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiêncứu SRI ở Đông Anh- Hà Nội, giảm chi phí giống 55%, phân vô cơ 42%,thuốc trừ sâu 50%, và năng suất tăng 21%.

- Bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững: Phân tích ưuđiểm của SRI về khía cạnh môi trường cho thấy để đạt năng suất lúa cao, SRIkhông yêu cầu tăng cường phân bón hóa học, trong khi đó lại giảm thuốc trừsâu do cây lúa sinh trưởng và phát triển mạnh nên có thể chống chịu tốt hơn

về vấn đề sâu bệnh hại Điều này có thể giảm việc sử dụng thuốc trừ sâu bệnh

và thuốc trừ cỏ, do đó nâng cao chất lượng đất và nước Các biện pháp quản

lý cây trồng, đất, nước và dinh dưỡng của SRI góp phần tăng cường sự hoạtđộng và đa dạng của hệ vi sinh vật đất, đây là nhân tố quyết định đến tính bềnvững trong hệ thống sản xuất lúa (Hoàng Văn Phụ, 2005) [11]; (Hoàng VănPhụ, Nguyễn Hoài Nam, 2005) [12]

- Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) đã được áp đầu tiên tại 7 tỉnh,thành phố là: Hà Nội, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Nghệ An

và Hà Tĩnh và đến vụ Xuân 2014 được mở rộng trên 21 tỉnh thành ở miềnBắc Qua theo dõi cho thấy: Việc áp dụng SRI làm giảm chi phí đầu vào, tăngnăng suất làm lợi thêm cho nông dân từ 1,8- 3,5 triệu đồng/ha/vụ [36]

- Ứng dụng SRI mang lại hiệu quả cao về mặt kinh tế, xã hội và môitrường, ngoài ra canh tác theo SRI còn thể hiện rất rõ ưu thế đối phó của câylúa đối với những tác động của biến đổi khi hậu như: Tăng khả năng chống đổcủa cây, cây lúa khỏe hơn có thể chống chịu tốt hơn trong điều kiện bão gió;tăng khả năng kháng sâu bệnh giúp cho cây lúa có thể chống chịu được tốthơn sự tấn công của dịch sâu bệnh, đặc biệt là những loại mới xuất hiện, nôngdân chưa có kinh nghiệm đối phó; canh tác theo SRI có thể tiết kiệm được30% lượng nước tưới, điều này rất hữu ích trong điều kiện khan hiếm nguồn

Trang 34

nước tưới Ngoài ra, canh tác theo SRI có thể góp phần hạn chế tác động gâyhiệu ứng nhà kính [31].

- Nhờ có sự tác động của cơ chế chính sách, sự hỗ trợ của Nhà nướcnên chưa đầy 3 năm (2010- 2013) đã có trên 40% diện tích gieo trồng của HàNội được áp dụng SRI và sẽ tăng mạnh trong những năm tới Theo Chi cụcBảo vệ Thực vật Hà Nội, nếu Thành phố có những chính sách khuyến khíchthỏa đáng, từ nay đến năm 2020, Hà Nội sẽ cơ bản thay thế được cách canhtác lúa truyền thống của nông dân Điều đó đồng nghĩa với việc cho dù diệntích cấy lúa của Hà Nộ có bị thu giảm nhưng sản lượng vẫn sẽ bảo đảm [29]

- Tại Phú Thọ nhằm giúp nông dân giảm chi phí đầu vào trong canh tácsản xuất lúa, tăng năng suất, bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe conngười Năm 2010, được sự giúp đỡ của Trung tâm phát triển nông thôn bềnvững SRD, Chi cục bảo vệ Phú Thọ đã triển khai xây dựng mô hình áp dụngbiện pháp canh tác lúa cải tiến (SRI) tại 10 khu của huyện Lâm Thao Trên

mô hình đã tiến hành các công thức thí nghiệm như: Mật độ cấy/m2, liềulượng bón phân đạm, kali… và so sánh đối chứng với ruộng canh tác theo tậpquán của nông dân Kết quả bước đầu cho thấy, áp dụng các biện pháp kỹthuật của SRI đã giảm lượng giống, lượng nước tưới, lượng đạm và thuốc bảo

vệ thực vật từ đó hiệu quả kinh tế cao hơn so với tập quán nông dân bao gồm:

+ Về giống: Mô hình sử dụng 2 giống Khang dân 18 và giống lúa laiBồi tạp Sơn Thanh Lượng giống làm theo SRI là 11 kg/ha, giảm 66- 80% sovới tập quán; trong đó Khang dân 18 giảm là 44,5 kg/ha, Bồi tạp Sơn Thanhgiảm là 22 kg/ha

+ Về phân bón: Bón phân theo SRI, lượng đạm giảm so với tập quánnông dân là 33% (tương đương 84 kg/ha), NPK giảm 25% (tương đương 139kg/ha), tăng lượng kali 50% (tương đương 55,5 kg /ha)

+ Về nước tưới: Lượng nước tưới theo SRI giảm 2- 3 lần tưới/vụ, tươngđương giảm 20- 30% chi phí bơm nước Bên cạnh đó, việc điều tiết nước theo

Trang 35

giai đoạn phát triển của cây lúa sẽ làm giảm độ chua, giảm chất độc có trongđất, kích thích bộ rễ phát triển, tăng khả năng đẻ nhánh, tạo điều kiện câytrồng sinh trưởng phát triển tốt.

+ Về thuốc BVTV: Làm theo SRI ruộng lúa thông thoáng, cứng cây,sâu bệnh ít hơn do đó số lần phun thuốc BVTV giảm 1,6 lần so với thực hiệncanh tác theo tập quán

+ Về hiệu quả kinh tế: Làm theo SRI chi phí giảm so với tập quán từ0,377- 1,759 triệu đồng/ha Lãi tăng hơn so với tập quán từ 2,414- 4,971 triệuđồng/ha Giá thành sản phẩm giảm từ 317- 477 đồng/kg thóc

Để đạt được năng suất cũng như hiệu quả kinh tế cao trong sản xuấtthâm canh lúa, kỹ thuật đòi hỏi phải cấy mạ non từ 1,8- 2,5 lá, cấy thưa 35-

40 khóm/m2, cấy 1- 2 dảnh/khóm, cấy nông tay Thực hiện quản lý điều tiếtnước như rút nước giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, giữ nước nông 3- 5 cmgiai đoạn sinh trưởng sinh thực Cày bừa, làm đất kỹ, làm cỏ sớm khi cỏ chưamọc kết hợp sục bùn phá váng Bón phân đầy đủ, cân đối và hợp lý Thườngxuyên kiểm tra thăm đồng phát hiện sớm để chủ động phòng trừ kịp thời khisâu bệnh đến ngưỡng [28]

- Tại Hà Tĩnh: Diện tích gieo cấy lúa hằng năm biến động từ 102- 108nghìn ha, năng suất lúa bình quân hàng năm đạt 46 tạ/ha do trình độ thâmcanh của người dân chưa cao Năm 2008 được sự giúp đỡ của Cục BVTV, tổchức Oxfam Quebec và sự chỉ đạo của Sở NN&PTNT Chi cục BVTV HàTĩnh đã triển khai thực hiện nghiên cứu và ứng dụng hệ thống canh tác lúa cảitiến (SRI) tại: Can Lộc, Thạch Hà, thị xã Hồng Lĩnh và Đức Thọ Mục đíchchính của chương trình là nâng cao năng lực và tính tự quyết cho nông dân,cải tiến dần các biện pháp canh tác lúa theo tập quán, giảm chi phí đầu vào,tăng năng suất và hiệu quả sản xuất

Sau 2 năm thực hiện, chương trình đã mang lại một số kết quả khả quan

Trang 36

nhất định cả về chi phí phân bón, năng suất, chất lượng Trong vụ ĐôngXuân 2008- 2009, gieo cấy giống IR1820 và HT1 theo tập quán thì lượnggiống sử dụng là 60 kg/ha trong khi đó áp dụng chương trình SRI chỉ sử dụng

từ 20- 22 kg/ha (giảm 38- 40 kg/ha); vụ Hè Thu giống lúa Bắc Thơm số 7 cấytheo tập quán sử dụng 65 kg/ha nhưng khi sử dụng chương trình SRI chỉ là 25kg/ha (tiết kiệm 40 kg/ha); giống lúa lai Thuỵ Hương 308 cũng giảm được từ25- 30 kg/ha lượng giống khi sử dụng chương trình này

Về lượng phân bón: Ruộng áp dụng SRI và ruộng tập quán chủ yếukhác biệt nhau về lượng đạm, lượng đạm urê ruộng SRI bón cho vụ ĐôngXuân từ 140-150 kg/ha; vụ Hè Thu 130- 140 kg/ha (giảm 30- 40kg/ha) so vớiruộng tập quán Đặc biệt khi thâm canh lúa áp dụng chương trình SRI thì hầuhết các ruộng lúa không sử dụng thuốc BVTV hoặc sử dụng 1 lần, trong khi

đó ruộng canh tác theo tập quán thường phải sử dụng 2- 4 lần phun/vụ

Hiệu quả từ SRI rất rõ: Thống kê trong vụ Hè Thu năm 2008, giốngBắc Thơm số 7 gieo cấy Can Lộc cho năng suất bình quân đạt 5,15 tấn/ha sovới đối chứng cùng giống là 4,41 tấn/ha, lãi thuần thu được từ ruộng SRI caohơn ruộng đối chứng 7,216 triệu/ha; giống Thuỵ Hương 308 năng suất đạt7,26 tấn/ha so với sản xuất đại trà cùng giống là 6,13 tấn/ha, tăng 1,13 tấn/ha(18,4%), lợi nhuận đạt 17,08 triệu đồng/ha cao hơn sản xuất đại trà 8, 03 triệuđồng/ha Trong vụ Đông Xuân 2008- 2009 thực hiện nghiên cứu cho thấy ởmật độ cấy thưa 30 cây mạ/m2 đều cho năng suất cao nhất; trên giống lúa HT1năng suất bình quân đạt 5,30 tấn/ha và lãi thu được cao hơn ruộng đối chứng7,914 triệu đồng/ha Vụ Hè Thu 2009 trên diện tích áp dụng SRI đều chonăng suất cao hơn từ 0,4- 0,5 tấn/ha, hiệu quả kinh tế tăng từ 12-15%

Việc áp dụng chương trình thâm canh lúa cải tiến SRI ngoài tác độngđến tập quán và hiệu quả trong sản xuất lúa còn nâng cao năng lực và tư duycủa người nông dân, từ đó người nông dân sẽ tự tin hơn, chủ động hơn khiđưa ra quyết định trong sản xuất như: Quyết định áp dụng các biện pháp kỹthuật, đầu tư chi phí sản xuất đầu vào cho chương trình ngoài ra còn giúp

Trang 37

người dân hiểu biết hơn về tác động của thuốc BVTV đối với con người vàmôi trường sống [27].

1.6 Tình hình nghiên cứu và áp dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) ở Thanh Hóa

Thanh Hóa là một tỉnh có tiềm năng sản xuất nông nghiệp, trong đódiện tích gieo trồng lúa khá từ 254.000- 255.000 ha/năm Cây lúa được trồngtrong phạm vi toàn tỉnh, từ miền Núi, đồng Bằng và ven Biển với trình độcanh tác khác nhau Thực trạng việc canh tác lúa của nông dân trong tỉnh chothấy, hiện vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm, trong đó phải kể đến việc bónphân không cân đối, đặc biệt là lạm dụng phân đạm, bón đạm không kết hợpvới làm cỏ sục bụn, nên phân không được vùi sâu dẫn đến dễ bị mất đạm do

bị rửa trôi, bay hơi Bón phân không đúng thời điểm cây lúa cần, bón nhiềulần, bón thúc muộn dẫn đến cây lúa đẻ nhánh không tập trung, nhiều dảnh vôhiệu, làm cho ruộng lúa có năng suất thấp Lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật.Cấy dầy, cấy nhiều dảnh gây lãng phí giống, Việc canh tác như trên khôngnhững đang làm tăng chi phí sản xuất mà còn góp phần làm ảnh hưởng khôngtích cực đến khí hậu và môi trường của người dân Chính vì vậy, việc đưa ra một môhình cách tác lúa thích hợp và bền vững cho người dân là hết sức cần thiết [33]

Từ vụ Mùa năm 2012 đến nay, Trung tâm Khuyến nông Thanh Hóa đãphối hợp với Trạm Khuyến nông các huyện Thiệu Hóa, Yên Định, Đông Sơn,Triệu Sơn, Tĩnh Gia… và Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn triển khaithực hiện mô hình ứng dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) trong sảnxuất lúa với quy mô hàng nghìn ha Kết quả của mô hình cho thấy: Canh táclúa theo SRI đã được nông dân chấp nhận và đánh giá cao vì đã giảm đượchơn 60% lượng giống, 30% lượng phân đạm và hầu như không cần dungthuốc BVTV, lợi nhuận tăng từ 7- 10 triệu đồng/ha So với tập quán canh tác

cũ, ruộng lúa áp dụng SRI ít bị sâu bệnh gây hại Bệnh khô vằn giảm 2- 3 lần,sâu cuốn lá giảm 3- 4 lần, rầy nâu giảm 6 lần… Ngoài ra, ứng dụng SRI cònmang lại hiệu quả về xã hội và môi trường

Trang 38

Nhận thấy phương pháp canh tác lúa cải tiến (SRI) qua các năm đãmang lại hiệu quả, nên trong năm 2016 huyện Thiệu Hóa đã phối hợp vớiTrung tâm Khuyến nông tỉnh xây dựng 7 mô hình sản xuất lúa theo SRI, vớidiện tích đạt 40 ha mỗi vụ Các mô hình đều không sử dụng hoặc sử dụngBVTV rất ít so với bên ngoài nên sản phẩm an toàn, hiệu quả kinh tế cao,năng suất tăng từ 10-12% so với cấy lúa thường, lợi nhuận tăng trung bình 4,7triệu đồng/ha [33].

Từ kết quả của mô hình đã góp phần nâng cao trình độ thâm canh củangười nông dân, đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế, giảm chi phí,hạn chế lượng phân bón dư thừa trong đất, giữ gìn nguồn tài nguyên nước vàcải thiện môi trường bền vững

1.7 Những nhận xét rút ra từ phần tổng quan

- Ở Thanh Hóa nói chung và huyện Thiệu Hóa nói riêng, cây lúa vẫn làcây lương thực thiết yếu đóng vai trò quan trọng trong đời sống và phát triểncủa cộng đồng Với tỷ trọng cao về diện tích và sản lượng, sản xuất lúa gạocủa Thiệu Hóa luôn giữ vị trí hàng đầu trong nền nông nghiệp hiện nay

- Canh tác cây lúa theo SRI là một phương pháp tiếp cận tiên tiến trongthâm canh nhằm phát triển một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, nhiều kếtquả nghiên cứu đã khẳng định hiệu quả kinh tế của mô hình Đây là cơ sởkhoa học quan trọng trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới trong canh táccây lúa tại vùng thâm canh lúa năng suất chất lượng và hiệu quả cao củahuyện Thiệu Hóa

Trang 39

Chương 2 ĐỐI TƯƠNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Giống lúa thí nghiệm

Thí nghiệm sử dụng giống Bắc Thịnh (Thuần Việt 2), giống lúa doTrung tâm NCUDKHKT giống cây trồng nông nghiệp Thanh Hóa chọn tạo từ

tổ hợp lai MS4/Hương thơm số 1 Giống đã được Bộ Nông nghiệp và PTNTcông nhận là giống Quốc gia năm 2016 Vụ Xuân: Thời gian sinh trưởng 135-

140 ngày, năng suất 6,5- 7,0 tấn tạ/ha Chất lượng khá, cơm dẻo, ngon, có vịđậm mùi thơm nhẹ Có khả năng chống chịu khá với các loại sâu bệnh hại

2.1.2 Các loại vật liệu khác

- Phân bón: Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh (độ ẩm: 30%; Hữu cơ:15%; P2O5hh: 1,5%; Acid Humic: 2,5%; Trung lượng: Ca:1,0%; Mg: 0,5%; S:0,3%; Các chủng Vi sinh vật hữu ích: Aspergillus sp:1 x 106CFU/g;Azotobacter: 1x106CFU/g; Bacillus: 1x106CFU/g) Đạm: Sử dụng đạm urê (46%N) Lân: Sử dụng lân supe đơn (16% P205); Kali: Sử dụng kali clorua (60% K20)

- Thuốc trừ sâu bệnh gồm: Angun 5WDG, Silsau 4.0EC, Vitako40WG; thuốc trừ bệnh: Anvil 5SC, Bumb 650WP, Tilt super 300EC,Bassa50EC có trên thị trường tại huyện Thiệu Hóa

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đề tài luận văn được thực hiện tại xã Thiệu Lý, huyện Thiệu Thanh Hóa, vụ Xuân 2017 (từ tháng 1/2017 đến 6/2017)

Hóa-2.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra phân tích diễn biến của các yếu tố khí hậu thời tiết huyệnThiệu Hóa trong quan hệ với sự sinh trưởng của giống lúa chất lượng trong hệthống canh tác lúa cải tiến (SRI)

Ngày đăng: 18/08/2021, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2007), Quyết định công nhận tiến bộ kỹ thuật“Ứng dụng hệ thống thâm canh tổng hợp trong sản xuất lúa ở các tỉnh phía Bắc”(Số: 3062/QĐ-BNN-KHCN), ngày 15 tháng 10 năm 2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định công nhận tiến bộ kỹ thuật"“Ứng dụng hệ thống thâm canh tổng hợp trong sản xuất lúa ở các tỉnhphía Bắc”
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2007
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2011), Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống lúa (QCVN 01-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảonghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống lúa
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2011
3. Bùi Huy Đáp (1980), Cây lúa Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, tr.377-476 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lúa Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Đáp
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹthuật
Năm: 1980
4. Nguyễn Huy Hoàng, Lê Hữu Cần, Nguyễn Bá Thông, Lê Quốc Thanh, Nguyễn Đình Hiền, Lê Đình Sơn, Pham Anh Giang (2017), Giáo trình Phương pháp thí nghiệm và Thống kê sinh học, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhPhương pháp thí nghiệm và Thống kê sinh học
Tác giả: Nguyễn Huy Hoàng, Lê Hữu Cần, Nguyễn Bá Thông, Lê Quốc Thanh, Nguyễn Đình Hiền, Lê Đình Sơn, Pham Anh Giang
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tếQuốc dân- Hà Nội
Năm: 2017
5. Nguyễn Như Hà (2006), Giáo trình bón phân cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, tr 13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bón phân cho cây trồng
Tác giả: Nguyễn Như Hà
Nhà XB: NXB Nôngnghiệp
Năm: 2006
6. Nguyễn Văn Hoan (1999), lúa lai và kỹ thuật thâm canh, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: lúa lai và kỹ thuật thâm canh
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Nhà XB: NXB Nôngnghiệp Hà Nội
Năm: 1999
7. Nguyễn Văn Hoan (2003), Cây lúa và kỹ thuật thâm canh cao sản ở hộ nông dân, NXB Nghệ An, tr.210-272 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây lúa và kỹ thuật thâm canh cao sản ở hộnông dân
Tác giả: Nguyễn Văn Hoan
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2003
8. Nguyễn Ngọc Lâm (2014), Giải pháp bền vững cho cây lúa (theo nguồn:Báo Nông Nghiệp Việt Nam) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giải pháp bền vững cho cây lúa
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Năm: 2014
9. Nguyễn Thị Lẫm (1999), Giáo trình cây lúa, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.27-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây lúa
Tác giả: Nguyễn Thị Lẫm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
10. Nguyễn Thị Lẫm, Hoàng Văn Phụ, Dương Văn Sơn, Nguyễn Đức Thạnh (2003), Giáo trình cây lương thực, NXB Nông nghiệp, tr. 43-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây lương thực
Tác giả: Nguyễn Thị Lẫm, Hoàng Văn Phụ, Dương Văn Sơn, Nguyễn Đức Thạnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
11. Hoàng Văn Phụ (2005), Kết quả nghiên cứu kỹ thuật thâm canh lúa SRI (System of Rice Intensification) vụ xuân 2005 tại Thái Nguyên và Bắc Giang ‟Tạp chí khoa học và công nghệ” ĐH Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu kỹ thuật thâm canh lúa SRI(System of Rice Intensification) vụ xuân 2005 tại Thái Nguyên và BắcGiang" ‟Tạp chí khoa học và công nghệ
Tác giả: Hoàng Văn Phụ
Năm: 2005
12. Hoàng Văn Phụ, Nguyễn Hoài Nam (2005), “Nghiên cứu hệ thống kỹ thuật thâm canh lúa SRI (System of Rice Intensification) trong vụ xuân 2004 tại Thái Nguyên”, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 53 (3+4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu hệ thống kỹ thuậtthâm canh lúa SRI (System of Rice Intensification) trong vụ xuân 2004 tạiThái Nguyên”
Tác giả: Hoàng Văn Phụ, Nguyễn Hoài Nam
Năm: 2005
13. Nguyễn Bá Thông (2014), Kết quả nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh cây lúa theo mô hình quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) tại Thanh Hóa.Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn số 17/2014, tr. 26-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâmcanh cây lúa theo mô hình quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) tại Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Bá Thông
Năm: 2014
14. Tanaka Akira (2015), Bàn về sinh thái lúa nhiệt đới, NXB Nông nghiệp, tr.193-195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về sinh thái lúa nhiệt đới
Tác giả: Tanaka Akira
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2015
17. Anuradha Saha and Vijiay Bharti (2012), Efficacy of different crop establishment methods on growth, yield and economics of rice (oryzasativa L.), Sher-e-Kashmir University of Agricultural sciences and Technology-Jammu, Chatha, pp.1-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Efficacy of different cropestablishment methods on growth, yield and economics of rice(oryzasativa L.)
Tác giả: Anuradha Saha and Vijiay Bharti
Năm: 2012
18. Bahman Amiri Larijani (2011), The system of Rice Intensification (SRI) in Islamic Republic of Iran, Head of Agronomy group, HARAZ Technology development and Extension center amol, Mazandaran, Iran, pp. 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The system of Rice Intensification (SRI) inIslamic Republic of Iran
Tác giả: Bahman Amiri Larijani
Năm: 2011
22. Norman Uphoff (2012), Report on visit to China for review of System of Rice Intensification (SRI), Activities and Progress, Cornell International Institute for Food, agriculture and Development. Cornell University, pp. 1- 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report on visit to China for review of System of RiceIntensification (SRI), Activities and Progress
Tác giả: Norman Uphoff
Năm: 2012
25. Uphoff N (2003), Higher yields with fewer external inputs- The System of Rice Intensification to agricultural sustainability Sách, tạp chí
Tiêu đề: Higher yields with fewer external inputs-
Tác giả: Uphoff N
Năm: 2003
15. Togari Matsuo (2005), Sinh lý cây lúa, NXB Nông nghiệp, tr. 30-120.Tiếng Anh Khác
16. Abha Mishra and V.M.Salokhe (2015), Growing more rice with less water in Asia: identifying and exploring opportunities through system of rice intensification, Agricultural systems and Engineering Asian institute of technology Bangkok, Thailand Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w