1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận Nhân vật cô đầu trong Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 (Qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu)

177 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua những sáng tác của các tác giả tiêu biểu có sự xuất hiện của nhân vật cô đầu trong văn học từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930, chúng tôi mong muốn dựng lại bức chân dung hoàn

Trang 1

M ỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do ch ọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 9

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của khóa luận 12

7 Cấu trúc khóa luận 12

N ỘI DUNG 14

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT 14

1.1 Khái niệm nhân vật văn học 14

1.2 Đôi nét về cô đầu 15

1.2.1 V ấn đề tên gọi và khái niệm cô đầu 15

1.2.2 Nguồn gốc xuất hiện cô đầu 17

1.2.3 Cô đầu và những thay đổi của nghề nghiệp qua các thời kỳ 20

1.2.3.1 Cô đầu trong thời kỳ ca trù được sử dụng ở các nghi lễ 20

1.2.3.2 Cô đầu trong thời kỳ ca trù trở thành hình thức giải trí 24

1.2.3.3 Cô đầu trong thời kỳ ca trù biến chất 26

1.3 Khái quát v ề nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam 28

1.3.1 Nhân vật cô đầu trong văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X – cuối thế kỷ XIX) 28

1.3.2 Nhân vật cô đầu trong văn học hiện đại Việt Nam (từ năm 1900 đến nay) 38

1.4 Đặc điểm của các sáng tác viết về nhân vật cô đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 43

1.4.1 Sự phong phú về tác giả, tác phẩm 43

1.4.2 S ự đa dạng trong cách thể hiện 48

1.4.3 Nguyên nhân làm cho sáng tác thơ văn về cô đầu xuất hiện nhiều 52

Tiểu kết chương I 55

Trang 2

CHƯƠNG II: NHÂN VẬT CÔ ĐẦU TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ NỬA CUỐI

THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1930 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 56

2.1 Nhân vật cô đầu – con người hội tụ: sắc, tài, tâm 56

2.1.1 Sắc đẹp 56

2.1.2 Tài năng 61

2.1.3 Phẩm chất, tính cách 69

2.1.3.1 Sự tự ý thức về nhân phẩm 69

2.1.3.2 Khát v ọng tình yêu, hạnh phúc 71

2.2 Nhân vật cô đầu – con người của sự tha hóa 79

2.2.1 Những biểu hiện của sự tha hóa 79

2.2.2 Nguyên nhân c ủa sự tha hóa 84

2.3 Nhân vật cô đầu – con người của số phận bi kịch 87

2.3.1 Hoàn cảnh xuất thân đáng thương 87

2.3.2 Cuộc sống thiếu thốn, tủi nhục 89

2.3.3 Đời sống tinh thần nhiều đau thương, mất mát 94

2.4 Thái độ, tình cảm của tác giả đối với nhân vật cô đầu 97

2.4.1 Thái độ mỉa mai, chế giễu, thiếu tôn trọng 97

2.4.2 Tình c ảm yêu thương, đồng cảm, trân trọng 101

Tiểu kết chương II 106

CHƯƠNG III: NHÂN VẬT CÔ ĐẦU TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1930 NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 108 3.1 Thể loại 108

3.1.1 Thơ hát nói 108

3.1.2 Thơ Nôm Đường luật 115

3.1.3 Một số thể loại khác 119

3.2 Ngôn ngữ 125

3.2.1 Ngôn ng ữ mang đậm chất bác học 126

3.2.2 Ngôn ngữ bình dân, đời thường 130

3.3 Nghệ thuật miêu tả nhân vật 134

Trang 3

3.4 Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật 138

3.4.1 Thời gian nghệ thuật 139

3.4.2 Không gian ngh ệ thuật 146

3.5 Giọng điệu 149

3.5.1 Giọng điệu khôi hài, giễu cợt 150

3.5.2 Gi ọng điệu cảm thương 153

Tiểu kết chương III 158

KẾT LUẬN 160

TÀI LIỆU THAM KHẢO 165

PH Ụ LỤC 169

Phụ lục 1: Bảng khảo sát số lượng những câu thơ bằng chữ Hán trong các bài hát nói về nhân vật cô đầu của 5 tác giả tiêu biểu 169

Phụ lục 2: Hình ảnh về nghệ thuật ca trù và cô đầu 172

Trang 4

DANH M ỤC CÁC BẢNG

B ảng 1: Những tác phẩm thuộc giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm

1930 viết về nhân vật cô đầu trong Việt Nam ca trù biên khảo

B ảng 2: Những tác phẩm của 5 tác giả tiêu biểu trong giai đoạn từ nửa cuối

th ế kỷ XIX đến năm 1930 viết về nhân vật cô đầu

Trang 5

M Ở ĐẦU

“Tự cổ sầu chung kiếp xướng ca Mênh mông tr ời đất vẫn không nhà

Người ơi, mưa đấy? Hay sênh phách?

Tay y ếu gieo lòng xuống chiếu hoa.”

(S ầu chung – Trần Huyền Trân)

Từ xưa đến nay, những người phụ nữ làm nghề đàn ca hát xướng luôn phải chịu nhiều sự thiệt thòi và cái nhìn khắt khe của xã hội Nhân vật này đã tạo nên một tình cảm đặc biệt và sức hấp dẫn kỳ lạ đối với các văn nhân dù ở bất cứ giai đoạn nào Vào những năm nửa cuối thế kỷ XIX đến 1930, người phụ nữ làm nghề ca hát đã bước vào trang viết của các tác giả một cách đông đảo, chân thực

và sống động Đó chính là cô đầu – một nhân vật phức tạp, bí ẩn và không bao

giờ làm người ta ngưng tìm tòi, khám phá

1 Lí do ch ọn đề tài

1.1 Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 được xem là giai đoạn văn học đầy biến động và phức tạp Một trong những đặc điểm nổi bật của nó chính là sự nở rộ của nhiều hình tượng văn học, nổi bật trong đó là hình tượng người phụ nữ Nếu như ở thời kỳ trước, người phụ nữ xuất hiện trong văn chương gắn với tiếng nói bênh vực, ca ngợi thì đến giai đoạn này cái nhìn của các tác giả với người phụ nữ đã trở nên đa chiều Hình tượng người phụ nữ được nhắc đến thường là người mẹ, người vợ, cung nhân, chinh phụ, liệt nữ… Trong

đó hình tượng nhân vật cô đầu xuất hiện đông đảo trong nhiều tác phẩm đặc sắc

và tạo ra sự đối nghịch trong quan điểm của các nhà thơ Nghiên cứu về hình tượng nhân vật cô đầu để phát hiện được nét mới mẻ trong thân phận và cái nhìn

của các tác giả so với hình tượng người phụ nữ nói chung; đồng thời, góp phần

Trang 6

hiểu thêm về hiện thực xã hội nhiều biến động và sự phong phú, đa dạng trong dòng chảy văn học của thời kỳ này

1.2 Thông qua những sáng tác của các tác giả tiêu biểu có sự xuất hiện của nhân vật cô đầu trong văn học từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930, chúng tôi mong muốn dựng lại bức chân dung hoàn chỉnh về một nhân vật văn hóa có

những đặc điểm riêng về ngoại hình, tính cách, số phận Từ đó thấy được địa vị

của cô đầu trong nghệ thuật ca trù nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung

1.3 Trong lịch sử phát triển, cô đầu được xem là sự kết tinh của những vẻ đẹp, của nhan sắc, tài năng và tâm hồn Đến nửa cuối thế kỷ XIX, hát xướng với

họ trở thành một nghề để mưu sinh Do đặc thù nghề nghiệp, họ phải thường xuyên tiếp xúc với nam giới, nhất là những văn nhân tài tử, những con người phong lưu và say mê nghệ thuật ca trù Vì vậy, thái độ, cách nhìn, tình cảm của văn nhân đối với cô đầu rất đa diện, đa chiều Có người cảm thông, trân trọng nhưng cũng có người châm biếm, chế giễu Nghiên cứu hình tượng nhân vật cô đầu và cái nhìn của tác giả đối với họ sẽ mang đến cho chúng ta những lý giải đầy đủ và xác đáng nhất về sự tiến bộ hay cổ hủ của nhà Nho đối với thân phận của người phụ nữ, cụ thể là cô đầu Qua đó, người đọc sẽ có một cái nhìn thoáng đạt, đúng đắn hơn khi tiếp cận nhân vật này

1.4 Bên cạnh việc miêu tả một cách tự nhiên và chân thực chân dung cô đầu, các tác giả còn thể hiện những phong cách nghệ thuật khác nhau khi xây dựng nhân vật Nghiên cứu về nhân vật cô đầu sẽ cho chúng ta thấy được những nét đặc sắc về thể loại, nghệ thuật miêu tả nhân vật, sử dụng ngôn từ, giọng điệu, xây dựng không gian và thời gian nghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ tiêu biểu trong giai đoạn văn học từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930

1.5 Ngoài ra, ca trù vốn được xem là một bộ môn nghệ thuật xuất hiện lâu đời và là một di sản văn hóa của dân tộc Nó gắn liền với lễ hội, phong tục, tín

Trang 7

ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về môn nghệ thuật này Trong đó, việc nghiên cứu ca trù trong mối quan hệ với văn học luôn là một đề tài hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của nhiều người Tìm hiểu nhân vật cô đầu trong các sáng tác văn học chính là một minh chứng cho mối quan hệ mật thiết, khăng khít giữa ca trù và văn chương Từ đó thấy được sự hòa quyện giữa ca trù với văn học nói chung và tình cảm đặc biệt giữa văn nhân với cô đầu nói riêng

Hơn nữa, nghiên cứu về nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa

cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 còn cung cấp cho người đọc những thông tin về nguồn gốc, lịch sử phát triển của nghệ thuật ca trù Thông qua những tác phẩm giai đoạn này, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về đời sống cô đầu, những biến động của

ca trù trong giai đoạn mà nó trở thành dần biến chất và suy tàn

Từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn “Nhân vật cô đầu trong văn học

Vi ệt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 (Qua sáng tác của một số tác giả tiêu bi ểu)” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp này

2 L ịch sử vấn đề

2.1 Các công trình nghiên c ứu về nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam

t ừ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930

Công trình Vi ệt Nam ca trù biên khảo của hai tác giả Đỗ Bằng Đoàn và

Đỗ Trọng Huề chính là một nguồn tư liệu quý giá và cung cấp tương đối đầy đủ những thông tin liên quan đến ca trù và cô đầu Cuốn sách tóm tắt về lược sử ca trù, những danh từ chuyên môn trong nghề ca trù, giáo phường, những lối ca trù,

nhạc khí, những truyện ả đào lưu danh sử sách, những vị tiền bối hay nghe hát,

hợp tuyển những bài ca trù và giới thiệu về những tác giả chuyên sáng tác ca trù

Riêng đối với nhân vật cô đầu, hai tác giả đã đề cập những phương diện sau: khái niệm ả đào và cô đầu, phân biệt cô đầu nòi và cô đầu rượu, thông tin về

Trang 8

những tập quán và cuộc sống của cô đầu, kể về những truyện ả đào trong lịch sử,

tập hợp những bài hát nói có hình ảnh nhân vật cô đầu… Theo hai tác giả, cô đầu

là người có đạo đức, nhân cách, có nhiều công lao với dân tộc và đặc biệt họ có mối liên hệ mật thiết với các văn nhân Cuốn sách này, cũng chính là nguồn tài

liệu mà chúng tôi sẽ sử dụng để khảo sát phục vụ cho việc nghiên cứu bởi nó tập

hợp một số lượng lớn các sáng tác có sự xuất hiện của nhân vật cô đầu trong Văn

học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX đến 1930

Trong Ca trù phía sau đàn phách của tác giả Nguyễn Xuân Diện, ông đã

giới thiệu khái quát những vấn đề liên quan đến ca trù, đời sống đào nương và

mối quan hệ giữa văn nhân với ả đào Nguyễn Xuân Diện khẳng định “Thưởng

th ức ca trù gọi là nghe hát, chứ không phải là xem hát Đào nương ca trù chỉ

ng ồi yên gần như bất động trong suốt cuộc hát trên một mảnh chiếu cạp điều,

chương hàng nghìn bài thơ viết bằng chữ Nôm chứa đựng rất nhiều tâm trạng,

r ất nhiều biến thái vi tế của tâm hồn Việt Nam qua nhiều thế kỷ với các tên tuổi tiêu biểu như: Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Dương Tự Nhu, Nguyễn Hàm Ninh, Chu Mạnh Trinh, Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, Bùi Kỷ, Tản Đà…” [3, 132] Trong hàng nghìn

bài thơ mà tác giả nhắc đến không thể không kể đến những bài thơ có sự xuất

hiện của nhân vật cô đầu, đặc biệt là các sáng tác trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930

Luận văn Thạc sĩ Nhân vật ả đào từ cuộc sống đến thơ văn của tác giả

Đoàn Thị Anh Đào là một công trình mang tính tổng hợp về nghề nghiệp, đời

sống của người ả đào từ trong cuộc sống đến những trang thơ từ lúc ca trù xuất

hiện đến lúc suy tàn Luận văn cũng đã nhắc đến và phân tích một số tác phẩm

Trang 9

có sự xuất hiện của nhân vật cô đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 trong

tiến trình văn học Việt Nam

Trong Luận văn Thạc sĩ Hình ảnh người kỹ nữ trong văn học trung đại

Vi ệt Nam, tác giả Vũ Thị Hoàng Yến mang đến một cái nhìn tổng quan nhất về

người kỹ nữ trong văn học từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX Trong đó, tác giả đã dành

hai đề mục để nói về nhân vật cô đầu “Cô đầu và những nét đẹp của mối tình tài

tử - giai nhân”, “Cô đầu và những biểu hiện tha hóa vào cuối thế kỷ XIX” Tác

giả khẳng định: “Hình ảnh cô đầu hiện lên trong niềm mến mộ và trân trọng của

các văn nhân Những bài thơ viết về cô đầu chiếm một số lượng khá nhiều, thường làm theo thể hát nói – một thể ca trù được các tao nhân mặc khách ưa chu ộng nhất” [38, 66] Tuy chỉ dành hai tiểu mục nói đến cô đầu trong văn học

nửa cuối thế kỷ XIX nhưng cũng có thể thấy rõ tác giả đã đề cập đến nhân vật này ở hai khía cạnh hoàn toàn trái ngược nhau: vẻ đẹp và sự tha hóa

Trong Luận văn Thạc sĩ Người ả đào qua các nguồn tư liệu từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, tác giả Hoàng Thị Ngọc Thanh đã tập trung khảo sát

các nguồn tư liệu và các tác phẩm văn học có sự xuất hiện của nhân vật ả đào nhằm mục đích “dựng lại chân dung người ả đào như một nhân vật văn hóa, vừa

là ch ủ nhân của thể hát ca trù, vừa là đối tượng của thơ hát nói và sáng tác văn chương nói chung có thân phận và đặc điểm riêng” [26, 12] Công trình đã cung

cấp một cái nhìn tương đối bao quát về nhân vật ả đào, nêu được đặc điểm nhân vật qua các nguồn tư liệu và cái nhìn đa chiều từ phía người thưởng thức

Điểm qua các công trình có nhắc đến nhân vật cô đầu trong văn học từ nửa

cuối thế kỷ XIX đến năm 1930, có thể thấy rằng vấn đề này thường được đặt trong một tổng thể lớn, được nhìn nhận ở cấp độ chung chứ không được đem ra nghiên cứu độc lập Ngoài ra, hầu như các tác giả đều đề cập nhân vật cô đầu ở

Trang 10

phương diện nội dung còn nghệ thuật xây dựng hình tượng chưa được chú ý khai thác

2.2 Các công trình nghiên c ứu về nhân vật cô đầu trong sáng tác của 5 tác

gi ả tiêu biểu (Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Trần Tế Xương, Dương Tự Nhu, T ản Đà) từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930

Đối với tác giả Nguyễn Khuyến, trong bài viết Hai loại chân dung phụ

n ữ, Trần Thị Băng Thanh và Phạm Tú Châu đã phân ra hai mạch cảm hứng

chính khi viết về phụ nữ của Nguyễn Khuyến chính là “Những gương mặt yêu

thương” và “Những vai nữ lệch” Trong đó, những cô đầu rượu, tức là những cô

gái bán thân xác để lấy tiền được xếp vào “Những vai nữ lệch” và thể hiện hai thái độ khác biệt Ông “không miệt thị những con gái nhà lành vì hoàn cảnh bắt

v ần thơ ngoa ngoắt đến như “Đĩ cầu nôm”” [27, 259] Theo hai tác giả thì “thái

độ rạch ròi, quyết liệt “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” cũng là một nét khá tiêu bi ểu trong tính cách nhà nho” [27, 259]

Trong bài viết Nét riêng trong hát nói, tác giả Nguyễn Đức Mậu đã xếp 2

bài thơ viết về cô đầu của Nguyễn Khuyến là bài Bóng đè cô đầu và Duyên nợ

vào mạch phóng khoáng, mềm mại bên cạnh mạch trào phúng Đặc biệt, tác giả

đánh giá 2 tác phẩm “Tuy đã thanh thoát hơn nhưng dấu ấn của tính cách

Nguy ễn Khuyến in đậm nét trong hát nói của ông vẫn làm thành nét riêng, không

[27, 358] Nguyễn Đức Mậu đã cho rằng, những bài hát nói có sự xuất hiện của

cô đầu đã góp phần làm nên nét riêng của Nguyễn Khuyến trong hát nói

Đối với tác giả Trần Tế Xương, trong Luận án Tiến sĩ Thơ Tú Xương trong ti ến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam, Đoàn Hồng Nguyên trong mục

“Kiểu hình tượng và sự thể hiện hình tượng người phụ nữ thị dân” đã xếp những

Trang 11

bài thơ viết về cô đầu của Tú Xương vào “thơ viết cho người tình” Tác giả nhấn

mạnh “Chính cái đẹp của cảm hứng tình yêu hướng thượng ấy của Tú Xương đã

không dưới một lần cứu cho chuyện quan hệ tình cảm eo sèo ở xóm Bình Khang

Nguyên, những bài thơ viết cho cô đầu của Tú Xương xuất phát từ tình yêu và nó góp phần phát triển dòng thơ tình trung đại

Văn Tâm trong Tính Chất và giá trị văn thơ trào phúng của Tú Xương

có nhận định: “Để mỉa mai trào phúng, Tú Xương hay vẽ nên những hình ảnh kì

l ạ Con đĩ của Tú Xương không phải là con đĩ “có tàn có tán, có hương án bàn độc” như con đĩ của Nguyễn Khuyến” [24, 269] Qua đây, chúng ta thấy được sự

khẳng định của Văn Tâm về nét khác biệt, độc đáo của Tú Xương trong việc xây

dựng hình ảnh “con đĩ” (phần lớn ám chỉ những cô đầu rượu) so với một thi nhân khác cũng viết về nhân vật này là Nguyễn Khuyến

Tú Mỡ trong bài Tính chất trào lộng trong thơ Tú Xương cho rằng viết

về gái đĩ ở Tú Xương có hai thái độ rõ ràng Thứ nhất, đối với những “gái đĩ, về

già hết duyên rồi mới đi tu” thì ông xem đó là “một sản phẩm của chế độ đồi

tr ụy” và “mắng phủ đầu dữ dội” Thứ hai, ông “sau nghĩ lại thương người đàn

bà, n ạn nhân của xã hội dâm ô, sa ngã nay đã biết quy thiện” [24, 288]

Ở một phương diện khác, Nguyễn Đình Chú trong bài Tú Xương, nhà thơ

l ớn của dân tộc lại nói về mối quan hệ giữa Trần Tế Xương và các cô đầu Theo

Nguyễn Đình Chú “Trời sinh ra Tú Xương là thuộc giống đa tình, “nòi tình”,

kia mà”, “Trường hợp Tú Xương, dĩ nhiên không phải là chuyện giữa cái anh hùng và cái phong tình, mà là cái nghĩa tình và cái phong tình Nhìn vào cảnh

“đi hát mất ô trong thơ Tú Xương” thì rõ Tình gì mà tệ mạt thế Nhót cả ô của người tình! Nhưng điều đáng quý là Tú Xương phong tình ở đây đã không chịu

để cho cái tầm thường, cái đớn hèn từ phía kia đè tất cả xuống…” [24, 423] Tác

Trang 12

giả đã cho ta thấy quan hệ giữa cô đầu và Tú Xương chính là sự “phong tình”, là

“nghĩa tình”, hai thứ tưởng chừng như không thể hòa hợp nay lại cùng tồn tại trong bản thân tác giả

Đối với tác giả Tản Đà, Hà Như Chi trong Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu – Thân th ế, sự nghiệp văn chương viết: “Tản Đà ưa ăn ngon, thích thơ rượu, mê

hát ả đào – hành lạc đối với ông là cái lẽ độc nhất còn níu giữ ông lại trên cõi đời buồn tẻ này” [4, 271] Tản Đà chán đời, tôn thờ khoái lạc và xem cô đầu là

người mình có thể bên cạnh để quên đi mọi buồn phiền “Dù sao uống rượu bên

người ngọc đối với thi sĩ cũng là một cớ để khỏi chán đời” [4, 272]

Nguyễn Thiên Thụ trong bài viết Thực và mộng trong tình mẫu tử của

T ản Đà đã đưa ra lí giải vì sao mà Tản Đà thường hay viết về nhân vật cô đầu

Theo tác giả, chính vì mẹ và em gái của Tản Đà là người của xóm Bình Khang nên điều này đã tác động sâu sắc đến nội dung văn chương của ông Những tình

cảm, những tư tưởng của Tản Đà trong các tác phẩm có liên hệ đến đào nương

như Thề Non Nước, Trần Ai Tri Kỷ, Kiếp Phong Trần và phần Bình Khang Ca

Phả trong Tản Đà Vận Văn đều có hình ảnh mẹ và em gái Tản Đà

Riêng đối với hai tác giả khác mà khóa luận khảo sát là Dương Khuê và Dương Tự Nhu, hầu như chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu một cách chi tiết về nhân vật cô đầu trong sáng tác của hai nhà thơ

Như vậy, điểm qua các công trình, bài nghiên cứu, có thể thấy vấn đề nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 không phải chưa được nhắc đến Tuy nhiên, các công trình hoặc phạm vi quá rộng, hoặc chưa đề cập trọn vẹn, đầy đủ các khía cạnh của nhân vật này Qua việc tìm hiểu

đề tài “Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm

1930 (qua sáng tác c ủa một số tác giả tiêu biểu)”, chúng tôi hi vọng góp thêm

một hướng nghiên cứu mới, cách tiếp cận mới về nhân vật cô đầu Những ý kiến,

Trang 13

công trình đi trước là tiền đề, định hướng đúng đắn và gợi mở quý báu để chúng tôi hoàn thành đề tài này

3 M ục đích nghiên cứu

3.1 Với đề tài “Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế

k ỷ XIX đến năm 1930 (qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu)”, trước hết,

khóa luận nhằm mục đích tái hiện, phân tích chân dung nhân vật cô đầu và nghệ thuật xây dựng nhân vật này qua sáng tác của các tác giả tiêu biểu Từ đó sẽ thấy được bối cảnh lịch sử xã hội của giai đoạn lúc bấy giờ và thái độ của các nhà thơ, nhà văn Người đọc sẽ có cái nhìn tương đối bao quát, toàn diện về nhân vật cô đầu, góp phần khẳng định thành tựu của giai đoạn văn học từ nửa cuối thế kỷ XIX đến 1930 vốn được xem là một giai đoạn phát triển rực rỡ và phức tạp

3.2 Tiếp theo, thông qua những khảo sát, phân tích, công trình còn mong

muốn khẳng định vai trò của nhân vật cô đầu trong dòng văn học tài tử giai nhân nói riêng và văn học Việt Nam nói chung

3.3 Ngoài ra, công trình còn nhằm cung cấp thêm những thông tin về nguồn gốc, đặc điểm, lịch sử phát triển của bộ môn nghệ thuật ca trù Đặc biệt là đời sống, hoàn cảnh, tính cách phức tạp của cô đầu

3.4 Tìm hiểu đề tài “Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối

th ế kỷ XIX đến năm 1930 (qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu)”, khóa luận

còn nhằm mong muốn góp phần định hướng vào việc dạy đọc – hiểu những tác phẩm trong nhà trường có sự xuất hiện của nhân vật cô đầu Trong bối cảnh chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn đã quy định rõ các tiêu chí và yêu cầu để lựa chọn văn bản (ngữ liệu), theo chúng tôi, văn bản viết về cô đầu

của các tác giả trong giai đoạn này hoàn toàn phù hợp và có khả năng đưa vào

dạy học trong nhà trường bởi những giá trị to lớn về mặt nội dung cũng như nghệ thuật

Trang 14

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

4 1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu của khóa luận là nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 thông qua khảo sát các sáng tác của một số tác giả tiêu biểu Cụ thể, khóa luận sẽ tiến hành khảo sát sáng tác của 5 tác giả:

cập trong khóa luận chủ yếu dựa vào những công trình chính sau:

- Đối với tác giả Nguyễn Khuyến: “Nguyễn Khuyến tác phẩm” do Nguyễn Văn

Huyền sưu tầm, NXB Nghệ An, 2008

- Đối với tác giả Dương Khuê: “Việt Nam ca trù biên khảo” của tác giả Đỗ Bằng

Đoàn và Đỗ Trọng Huề, NXB Sài Gòn, 1962

- Đối với tác giả Trần Tế Xương: “Tú Xương toàn tập” của Trung tâm nghiên

cứu quốc học, NXB Văn học, 2010

- Đối với tác giả Dương Tự Nhu: “Việt Nam ca trù biên khảo” của Đỗ Bằng

Đoàn và Đỗ Trọng Huề, NXB Sài Gòn, 1962

- Đối với tác giả Nguyễn Khắc Hiếu: “Tuyển tập Tản Đà” do Nguyễn Khắc

Xương sưu tầm, NXB Hội nhà văn, 2002

Trang 15

Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm một số bài hát nói của các tác giả khác trong “Việt Nam ca trù biên khảo” của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề

(NXB Sài Gòn, 1962) nhằm mục đích mang đến một cái nhìn toàn diện và bao quát hơn về nhân vật cô đầu trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930

Trong quá trình nghiên cứu, để thấy được nét độc đáo, đặc sắc của hình tượng nhân vật cô đầu trong giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XIX đến năm

1930, chúng tôi sẽ liên hệ với nhân vật cô đầu trong sáng tác văn chương ở giai đoạn trước hoặc sau để thấy rõ những nét tương đồng cũng như khác biệt

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp lịch sử

Với phương pháp này, chúng tôi sử dụng để tìm hiểu bối cảnh giai đoạn

nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 Đồng thời, chúng tôi còn tìm hiểu sự hình thành và những giai đoạn phát triển của nghệ thuật ca trù gắn với sự chuyển biến

của nhân vật cô đầu

kết luận khái quát về nhân vật để người đọc dễ hình dung và tiếp cận nhất Đây

là phương pháp chính mà chúng tôi sử dụng trong khóa luận này

5.4 Phương pháp so sánh

Trang 16

Với phương pháp này, chúng tôi sử dụng để so sánh nhân vật cô đầu trong sáng tác của các tác giả tiêu biểu giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930

với các tác giả thời kì trước và sau Đồng thời, chúng tôi sẽ nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện nhất trong sự đối sánh giữa các tác giả với nhau Từ đó, rút ra

những điểm tương đồng, khác biệt và khái quát lên đặc trưng hình tượng nhân

vật cô đầu trong cả giai đoạn Đây cũng là phương pháp được sử dụng xuyên

suốt trong toàn khóa luận

6 Đóng góp của khóa luận

6.1 Ý nghĩa khoa học

Với việc đi sâu tìm hiểu về nhân vật cô đầu trong giai đoạn nửa cuối thế

kỷ XIX đến năm 1930 thông qua sáng tác của một số tác giả tiêu biểu, khóa luận

hi vọng sẽ góp thêm một cách hiểu toàn diện và đúng đắn về kiểu nhân vật đầy thú vị này Qua đó, giúp người đọc có cái nhìn phù hợp, cặn kẽ và cảm nhận được nét độc đáo của nhân vật cô đầu trong văn chương

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Giai đoạn văn học từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930 là mảnh đất màu

mỡ đã nảy sinh nhiều cây bút xuất sắc như: Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Trần

Tế Xương, Tản Đà… Sáng tác của các tác giả này đã và đang được đưa vào

giảng dạy ở nhà trường phổ thông Vì thế, việc tìm hiểu về nhân vật cô đầu trong sáng tác của các tác giả trên là điều rất quan trọng, góp phần đưa ra những định hướng trong việc lựa chọn ngữ liệu và nội dung dạy ở chương trình phổ thông

7 C ấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được triển khai thành ba chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề khái quát

Trang 17

Trong chương này, chúng tôi sẽ khái quát về khái niệm và vai trò của nhân

vật văn học; giới thiệu về khái niệm, nguồn gốc và những thay đổi của cô đầu qua các thời kỳ lịch sử Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ mang đến một cái nhìn tổng quan về nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam và đặc điểm của các sáng tác

viết về cô đầu trong giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XIX đến năm 1930

Chương 2: Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế

k ỷ XIX đến năm 1930 nhìn từ phương diện nội dung

Trong chương này, chúng tôi đi sâu khai thác nhân vật cô đầu trên phương

diện nội dung Cụ thể là tìm hiểu về đặc điểm của những cô đầu chân chính,

những cô đầu bị tha hóa, số phận và khát vọng của cô đầu qua các sáng tác tiêu

biểu Ngoài ra, chúng tôi còn chỉ ra thái độ, tình cảm đa chiều, phức tạp của các tác giả đối với nhân vật này

Chương 3: Nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam từ nửa cuối thế

k ỷ XIX đến năm 1930 nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trong chương này, chúng tôi sẽ nghiên cứu những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc khắc họa nhân vật cô đầu của các tác giả tiêu biểu Cụ thể là trên các phương diện: thể loại, ngôn ngữ, nghệ thuật xây miêu tả nhân vật, giọng điệu, thời gian - không gian nghệ thuật

Trang 18

N ỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT 1.1 Khái ni ệm nhân vật văn học

Theo T ừ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên thì “Nhân vật là đối tượng (thường là con người) được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn học ngh ệ thuật” [20, 901]

Theo Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học thì nhân vật văn học là

“Hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn v ẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loại cây, các sinh thể hoang đường được gán cho nh ững đặc điểm giống với con người” [1, 303]

Trong Giáo trình lý lu ận văn học tập 2 do Trần Đình Sử chủ biên đã xem

nhân vật văn học là “là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người

trong tác ph ẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [23, 114]

Từ những ý kiến trên, có thể hiểu một cách khái quát, nhân vật văn học chính là “hình tượng các cá thể con người” trong tác phẩm văn học Nhân vật

văn học thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người và không thể đồng nhất với con người có thật bởi nó đã được nhà văn nhận thức và tái tạo trong tác phẩm

Cô đầu là một lớp người có thật, tồn tại lâu dài trong xã hội và bước vào sáng tác của nhiều nhà văn, nhà thơ với một diện mạo riêng, được khắc họa với

những đặc điểm nổi bật về ngoại hình, hành động, tính cách Có thể khẳng định

cô đầu chính là một nhân vật văn học và in dấu nhiều đặc trưng của con người

thời đại mà họ xuất hiện Thậm chí nhiều nhân vật cô đầu cụ thể trong tác phẩm

đã trở nên nổi tiếng, được đọc giả biết đến rộng rãi như: Cô Cầm (Long Thành

Trang 19

c ầm giả ca – Nguyễn Du), Vân Anh (Thề non nước – Tản Đà), đào Hồng, đào

Tuyết (Gặp đào Hồng đào Tuyết – Dương Khuê)… Đó chính là một thành tựu

lớn bởi các tác giả đã đóng góp cho văn học một loại nhân vật đầy sinh động, đặc sắc

1.2 Đôi nét về cô đầu

1.2.1 V ấn đề tên gọi và khái niệm cô đầu

Tên gọi cô đầu xuất hiện khá muộn vào khoảng cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX Trước đó họ thường được gọi bằng những cái tên như: ả đào, đào nương Các khái niệm đào nương, ả đào, ả đầu, cô đầu thực chất là dùng để chỉ chung một người Chúng tôi đã tiến hành khảo sát cách giải thích khái niệm cô đầu của một số nhà nghiên cứu sau:

Trong T ừ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đã xem cô đầu, ả đào, ả

đầu là cùng một khái niệm và đưa ra cách giải thích ngắn gọn cô đầu là “người

ph ụ nữ làm nghề hát ca trù thời trước” [20, 2]

Theo Nguyễn Xuân Diện trong Ca trù phía sau đàn phách thì “Ả đào là

người ca nữ (có thể cũng đồng thời là vũ nữ) của nghệ thuật truyền thống của người Việt Đây là từ chỉ chung cho các bộ môn nghệ thuật ca múa nhạc cổ của

Vi ệt Nam Ả đào là chỉ người hát, khác với hát ả đào là từ chỉ một bộ môn ca múa nh ạc” [3, 139]

Theo Nguyễn Đức Mậu trong Ca trù nhìn từ nhiều phía thì “Ả đào là

thành viên quan tr ọng của tiệc ca trù, vai trò của ả đào là làm ca sĩ cho tiệc hát nhưng khác với ca sĩ ở chỗ ả đào vừa hát vừa gõ phách Ả đào là nữ giới, kép là nam gi ới” [14, 20]

Ngoài ra, Nguyễn Hoàng Anh Tuấn trong Vai trò của ca nương trong

ngh ệ thuật ca trù đã đưa ra định nghĩa: “Ả đào là tên gọi (cổ xưa nhất) đã có từ đời Lý Thái Tổ (thế kỷ thứ XI), theo truyền thuyết về Đào thị có nhan sắc, giỏi ca

Trang 20

hát được vua khen tặng, nên dân gian gọi ca nương hát ca trù là ả đào nhằm chỉ người con gái đẹp, hát hay Từ đây, ta có nội hàm của khái niệm ả đào là chức danh c ủa một nữ nghệ nhân hát ca trù, còn được gọi là cô đầu” [33, 13]

Như vậy, từ định nghĩa của các nhà nghiên cứu, có thể thấy khái niệm cô đầu dùng để chỉ những người nghệ nhân nữ trong ca trù, có nhiệm vụ vừa hát, v ừa gõ phách Ngoài ra, họ còn được gọi bằng những cái tên khác như: đào nương, ả đào, cô đào, ả đầu… Trong đó, vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX

đến năm 1930 thì tên gọi đặc trưng và phổ biến nhất chính là cô đầu

Nguyên nhân c ủa việc có sự chuyển đổi tên gọi từ đào nương, ả đào sang cô đầu là bởi: thứ nhất, nhiều người cho rằng chữ “ả” trong “ả đào” có

nghĩa là “cô”, người ta thường có cách nói là “cô ả” nên “ả đào” tức là “cô đào”

và từ “cô đào” bị nói trệch đi thành “cô đầu” Thứ hai, tên gọi này bắt nguồn từ

một tục lệ riêng của nghệ thuật ca trù đó là những danh ca ả đào khi dạy cho học trò thành nghề thì mỗi khi đi hát học trò phải trích ra một món tiền để cung dưỡng cho người thầy Số tiền ấy gọi là tiền đầu Sau này, người ta dùng tiếng

“cô” thay tiếng “ả” để thể hiện sự tôn trọng và rõ ràng hơn, tiếng “đầu” thay cho tiếng “đào” để bày tỏ sự tán tụng, ca ngợi bậc danh ca lão luyện, đã dạy cho nhiều học trò thành tài và được tặng nhiều món tiền đầu Vũ Bằng nhận định

“Tiếng cô thay tiếng ả cho rõ ràng, tiếng đầu thay tiếng đào để tỏ ý tán tụng bậc

danh ca” [33, 97] Bắt nguồn từ tục lệ đó mà mọi người bắt đầu dùng phổ biến tên gọi cô đầu thay cho ả đào ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Xoay quanh tên gọi cô đầu có rất nhiều tranh cãi, nhiều người cho rằng tên

gọi cô đầu là một tên gọi với nghĩa xấu “Cô đầu, cô đít, cô đuôi” (thành ngữ),

nó khác với tên gọi ả đào vốn chỉ những con người của nghệ thuật thực thụ Nhưng thực ra, người hát ả đào có tên gọi là cô đầu phần lớn vào thời điểm khi

mà họ đã tích lũy được vốn liếng, kinh nghiệm, đủ sức hoạt động độc lập, không

Trang 21

còn phụ thuộc vào giáo phường như ở giai đoạn trước Họ tự mình đứng ra mở các nhà hát (ca quán) ở thành thị để hoạt động nghề hát và dạy hát ca trù Vì thế cái tên cô đầu chính là một cách gọi khác của ả đào chứ không phải mang nghĩa xấu như nhiều người vẫn ngộ nhận

Trong công trình nghiên cứu này, một số chỗ chúng tôi sẽ dùng những tên

gọi khác như: ả đào, đào nương… thay vì dùng cô đầu nhằm mục đích phù hợp

với đặc trưng của từng giai đoạn lịch sử và từng tác phẩm cụ thể

1.2.2 Ngu ồn gốc xuất hiện cô đầu

Cô đầu chính là chủ nhân thực thụ của nghệ thuật ca trù Song về thời điểm xuất hiện nhân vật này vẫn còn nhiều tranh cãi Trong điều kiện của hướng tìm hiểu qua thư tịch còn nhiều hạn chế, bởi hầu như không có một tư liệu nào đầy đủ về thời điểm ra đời chính xác của cô đầu Vì vậy, khi nghiên cứu về nguồn gốc của cô đầu nhiều người đã lấy các sự tích, truyền thuyết làm tư liệu

Hai tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề trong Việt Nam ca trù biên

kh ảo có thuật lại một sự tích về tổ của cô đầu như sau: Vào đời nhà Lê có Đinh

Lễ, người làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh thường ôm cây đàn nguyệt đến bên suối gảy và ca hát để hòa với tiếng suối chảy trong khe Một hôm, Sinh đem đàn và rượu vào rừng thông để tiêu khiển, gặp được hai ông cụ già Đó chính là Lý Thiết Quải và Lã Đại Tiên (Lã Động Tân) Hai cụ già đưa cho Sinh khúc gỗ ngô đồng và tờ giấy vẽ kiểu mẫu đàn và dặn đóng đàn như trong giấy Tiếng đàn ấy sẽ trừ được ma quỷ, giải được phiền muộn Nhờ tiếng đàn kỳ diệu, Sinh chữa được bệnh cho rất nhiều người ở nhiều nơi Một lần, Sinh đến châu Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, chàng đã chữa khỏi bệnh câm cho người con gái tên Hoa, con của vị quan châu Bạch Đình Sa Sau đó, hai người nên vợ chồng và sống hòa hợp cùng nhau ở bên nhà Bạch công Sinh đặt ra lối múa hát mới, rồi lấy hai thanh tre vót thực đẹp để cho nàng gõ lên trên mảnh gỗ

Trang 22

theo với nhịp đàn mà hát, hai vợ chồng cùng nhau về quê Sinh ở Cổ Đạm để lập nghiệp Ít lâu sau, Sinh gặp lại các vị tiên ông, được ghi tên vào tiên phả rồi cùng nhau hóa đi Vợ Sinh biết chuyện bèn cho hết gia tài rồi đóng cửa và dạy con em trong làng hát múa Dân làng Cổ Đạm nhớ ơn nàng, lập đền thờ gọi là đền tổ cô đầu, hay là đền Bạch Hoa Công chúa Lịch triều phong tặng Đinh Lễ là Thanh

Xà Đại vương, Bạch Hoa là Mãn Đào Hoa công chúa

Với sự tích này, Đinh Lễ và Bạch Hoa chính là tổ sư của ca trù Nguồn gốc của cô đầu xuất phát từ chính Bạch Hoa công chúa, nàng là người đã truyền

dạy những kỹ thuật, bí quyết cho con em múa hát từ lúc chồng hóa đi cho đến lúc nàng qua đời

Nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Diện trong Ca trù phía sau đàn phách đã

nhắc một sự tích về tổ nghề ở Lỗ Khê: Vào đời Lê Thái Tổ, có người họ Đinh, tên Lễ, ở động Hoa Lư, huyện An Khang, phủ Trường Yên, đạo Thanh Hóa, theo vua Lê dấy nghĩa ở Lam Sơn chống lại giặc Minh được mười năm Ông có vợ là

Trần Minh Châu, con nhà trâm anh Một hôm, ông đi đến động Bích Đào, gặp được Đông Phương Sóc báo cho sẽ sinh được quý tử lấy được vợ tiên Một đêm,

vợ ông nằm mộng thấy rắn xanh lọt vào lòng và từ đó có mang Ngày mồng 6 tháng 4 năm Quý Tị, bà sinh một con trai, diện mạo khôi ngô tên là Đinh Dự Đinh Lễ mang quân đi đánh giặc Minh và dựng đồn trại ở làng Lỗ Khê, huyện Đông Ngàn, đạo Kinh Bắc Đinh Dự lớn lên học vấn tinh thông, cầm, kỳ, thi, họa, ca xướng hơn người Đinh Dự khi dạo chơi ở huyện Gia Định, phủ Thuận

An, trang Đông Cứu tình cờ gặp cô gái Đường Hoa, sắc đẹp như tiên, hai người

liền kết vợ chồng và về trang Lỗ Khê lập giáo phường Được tin Thái Tổ bệnh

nặng, vợ chồng Đinh Dự tới đàn hát cho vua nghe, vua liền khỏi bệnh, đánh

thắng giặc Minh Sau đó, vua cho mời vợ chồng Đinh Dự vào thưởng công, ban tước Đường Hoa phu nhân tâu với vua mình là tiên và bay đi mất, Đinh Dự biến

Trang 23

thành con rắn xanh thật dài to rồi cũng đi mất Vua cho vợ chồng là bề tôi trung nghĩa, truyền hịch cho thần tử các giáo phường đến kinh đô rước mỹ tự về giáo phường của mình thiết lập từ đường để thờ phụng Về sau, Lê Thánh Tông gia phong cho Đinh công là Thanh Xà Đại Vương, gia phong Mãn Đường Hoa là công chúa

Đối với thần tích ở Lỗ Khê, hai vợ chồng Đinh Dự chính là người đã khai sinh ra ca trù Trong đó, Đường Hoa công chúa được xem như là vị tổ của cô đầu

về sau Nàng được miêu tả “lấy việc học giáo phường, thể cách 9 lối ca làm

bi ến hóa thiện duyên, chu du thiên hạ, dạy dỗ cho các phường để truyền lưu thiên c ổ tiếng thơm” [3, 12]

Có thể thấy, các truyền thuyết về ca trù đều có một điểm chung là xác định

tổ nghề chính là một nam và một nữ mặc dù tên gọi không giống nhau Người nữ chính là người đã truyền dạy những kỹ thuật ca hát cho đời sau và đó chính là nguồn gốc xuất hiện cô đầu

Bên cạnh truyền thuyết, chúng tôi xin được điểm qua một số tài liệu có

nh ắc đến nguồn gốc và sự xuất hiện của cô đầu

Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn ghi lại vào năm 1025 rằng: “Khi ấy có con

h át là Đào thị, giỏi nghề hát, thường được ban thưởng Người bấy giờ hâm mộ

ti ếng của Đào thị, phàm các con hát đều gọi là đào nương”

Vi ệt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ có kể vào đời vua Lý Thái Tổ (1010 –

1028) có người ca nhi tên là Đào Thị có tài nghệ giỏi và hát hay từng được nhà vua ban thưởng Sau đó vì mến mộ danh tiếng của Đào Thị nên những người đi hát đều được gọi là Đào nương

Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề lại kể một câu chuyện khác là vào cuối

đời nhà Hồ (1400 – 1407) có người ca nhi họ Đào, quê ở làng Đào Đặng, huyện

Trang 24

Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, lập mưu kế giết được nhiều giặc Minh, cứu cho khắp vùng được yên ổn cho nên khi nàng mất, dân làng ở đây nhớ ơn nên lập đền thờ,

gọi thôn nàng ở là thôn Ả Đào Từ đó về sau thì những người làm nghề ca hát như nàng đều được gọi là ả đào

Mặc dù các tài liệu kể trên có sự khác biệt về thời gian đào nương xuất hiện nhưng có thể thấy tên gọi này xuất hiện khá sớm Điểm chung của các tài liệu khi nói về nguồn gốc của cô đầu là đều xem nó xuất phát từ một nàng ca nhi họ Đào tài hoa xuất chúng

Tóm lại, vấn đề nguồn gốc xuất hiện của cô đầu đến nay vẫn luôn gây nhiều tranh cãi Các nhà nghiên cứu chỉ có thể dựa vào một số tài liệu nhắc đến những khái niệm liên quan sớm nhất và truyền thuyết kể lại Trải qua nhiều thế kỷ, cô đầu đã có sự chuyển biến đáng kể song hành cùng các thời kỳ phát triển của ca trù

1.2.3 Cô đầu và những thay đổi của nghề nghiệp qua các thời kỳ

Trong bất kỳ một ngành nghề nào, ở mỗi giai đoạn đều có những sự thay đổi, phát triển Nghệ thuật ca trù cũng vậy, trải qua nhiều thế kỷ từ lúc ca trù xuất hiện trong thư tịch cổ vào thế kỷ XV, nó đã phát triển đến đỉnh cao và rồi rơi vào tàn lụi Đi kèm với sự biến chuyển của ca trù là sự thay đổi của cô đầu

Cô đầu mặc dù là chủ nhân của bộ môn nghệ thuật này nhưng ở mỗi thời kỳ lại

có những điểm khác biệt và nổi bật riêng

1.2.3.1 Cô đầu trong thời kỳ ca trù được sử dụng ở các nghi lễ

Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Diện trong Ca trù phía sau đàn phách,

ca trù đã xuất hiện trong thư tịch cổ vào khoảng thế kỷ XV và tư liệu sớm nhất

có sự xuất hiện hai chữ “ca trù” chính là Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn

của Tiến sĩ Lê Đức Mao Bài thơ giúp người đọc hình dung ra không khí của một đại lễ trang nghiêm, hào hùng ở lễ hội cầu phúc đầu xuân của làng Đổng Ngạc

Trang 25

cuối thế kỷ XV Các cô đầu hát những bài thơ ca ngợi thành hoàng làng và cầu

phúc cho dân làng: “Thọ bôi kể chục, ca trù điểm trăm - Mừng nay tiệc ca trù thị

y ến” Qua hai câu thơ, có thể thấy vào thế kỷ XV, ca trù là một lối hát dùng thẻ

để thưởng và buổi tiệc ca trù được mở để ca ngợi một vị thần Như vậy, ca trù khi xuất hiện đầu tiên chính là một lối hát thờ, hát trong các dịp tế lễ ở đình làng

và cô đầu trong thời kỳ này luôn phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn mà xã hội

đề ra

Tiêu chu ẩn thứ nhất, cô đầu phải là người có giọng hát đủ để học hát

Đầu tiên, họ phải phát âm đầy đủ và đúng 6 thanh tiếng Việt, không nói ngọng, nói lắp, ngắn lưỡi hay đầy lưỡi Một yêu cầu quan trọng là họ phải có chất giọng

có thể hát được ca trù là giọng kim hoặc giọng thổ đồng Các cụ quan niệm

những người có giọng thổ hay giọng thổ bùn không thể hát được ca trù vì tiếng hát và tiếng đàn sẽ dìm nhau xuống

Để giữ được tiếng hát đẹp, các cô đầu phải kiêng kị rất nhiều thứ Họ không được uống rượu, kiêng ăn các đồ ăn cay, có nhiều mỡ, thậm chí là thịt Các cô còn dùng cơm nếp giã nhuyễn, nắn lại rồi cắt lát thành từng miếng mỏng, phơi khô để ăn trước khi hát để miếng cơm sẽ quyện trôi đờm, khiến tiếng hát trở nên thánh thót, trong trẻo Họ làm như vậy không phải vì muốn được xem là ăn

uống kham khổ mà bởi họ có lương tâm với nghề, muốn gìn giữ cho mình một

giọng hát tuyệt vời

Tiêu chu ẩn thứ hai, cô đầu phải trải qua một quá trình học tập rèn luyện

công phu trước khi được phép đi hát ở các đình làng Theo Việt Nam ca trù biên

h ọc chuyên cần trong 5 năm, mới gọi là biết hát” [8, 54] Sau thời gian tôi luyện,

người nào học tập đã thuần thục muốn đi hát phải tổ chức một buổi lễ công nhận

Trang 26

linh đình gọi là “Lễ mở xiêm áo” với sự chứng kiến của giáo phường, người thân

bạn bè và một quan viên có danh vọng ở trong miền phong lưu hào phóng đến nghe trống

Tiêu chu ẩn thứ ba, cô đầu phải là người có đức hạnh Đi hát thờ, cô đầu

phải có sự đoan trang, chỉnh tề để hát các bài hát có nội dung trang nghiêm, bàn

về sử sách, danh nhân, phong cảnh… Sách Việt Nam ca trù biên khảo từng đề

cập: “Cách hát phải rõ ràng, cần nhiều hơi mà cao giọng cho mọi người nghe

rõ, điệu bộ đoan chính, không được hát lối lẳng lơ, cung bực dập dờn tiếng to

ti ếng nhỏ” [8, 91] Điều này được quy định để phù hợp với tính chất của những

cuộc tế thần trang trọng, để người dân bày tỏ lòng thành kính với thần linh Cô đầu phải là người có đạo đức, đàng hoàng, trong sạch mới xứng đáng để hát ở

những chốn tôn nghiêm, thành kính

Ngoài ra, các cô đầu còn phải có tâm với nghề tổ và hết lòng vì nghệ thuật,

phải có khả năng cảm nhận được văn chương để nắm bắt được “nhãn tự” của bài hát… Khi đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn trên, họ sẽ trở thành những cô đầu

thực thụ, trở thành chủ nhân và là người quan trọng nhất của thuật ca trù

Nơi ở của những cô đầu chính là giáo phường, đó là nơi học tập sinh sống

của cô đầu Sách Việt Nam ca trù biên khảo có đề cập: “Ngày xưa ả đào và kép ở

chung phường chung xóm để luyện tập hát múa cho tiện, chỗ ả đào ở gọi là giáo phường, nghĩa là phường xóm dạy những người đi hát” [8, 47] Mỗi giáo

phường có một người đứng đầu có chuyên môn, uy tín, lo việc quản lý cô đầu và truyền nghề, dạy nghề gọi là quản giáp Giáo phường có rất nhiều những quy định nghiêm ngặt, bắt buộc mọi cô đầu phải tuần theo Nếu như cô đầu làm việc

bất chính, họ sẽ bị quản giáp và các bậc cao niên trong làng trách phạt hoặc bị đuổi khỏi giáo phường và thông báo cho giáo phường khác không nhận họ nữa

Trang 27

Chính cách tổ chức bài bản và nghiêm túc như vậy nên cô đầu và ca trù rất được trân trọng và yêu mến

Bên cạnh việc hát thờ, khi đã trở thành danh ca ở những giáo phường có tiếng, nhiều cô đầu còn được mời về kinh đô để phục vụ các đại lễ cung đình

hoặc các sự kiện quan trọng của quốc gia Họ được chọn là người đón tiếp sứ

giả, truyền tải thông điệp của quốc gia, nhiều khi còn được xem là một quân cờ

để cạnh tranh trên lĩnh vực chính trị Để được vào cung đình, họ phải có quá trình rèn luyện gắt gao, phải luyện tập các lễ nghi, học thuộc các bài hát, kiêng khem ăn uống và trải qua các cuộc sát hạch của quan tỉnh Người được chọn là người có nhan sắc, thông minh, hát múa đúng cách điệu, có tài xướng họa văn thơ, tuân thủ đúng các nghi lễ… Cô đầu được mời vào cung được gọi là đào ngự hay ngự ca Được hát trong cung vua là một vinh dự, nhưng đồng thời cũng gây nên nhiều rắc rối như việc không ai dám lấy cô đầu vì cho rằng họ đã thuộc về đức vua, dẫn đến sự lỡ dở về tình duyên

Các cô đầu được chứng tỏ khả năng, thể hiện mình giỏi hay không giỏi là

ở các cuộc hát thi và hát thi cũng chính là một lối hát của nghệ thuật ca trù Có

ba trường hợp chủ yếu để tổ chức các cuộc hát thi: thứ nhất, cuộc thi do hội đồng

chức sắc một địa phương tổ chức để chọn đào kép hay nhất vào hát thờ ở cửa đình, phục vụ lễ hội địa phương; thứ hai, cuộc thi do ty giáo phường tổ chức

nhằm tuyển lựa cô đầu danh ca đưa vào kinh hát chúc hỗ; thứ ba, cuộc thi do giáo phường tổ chức để công nhận cô đầu đạt đến trình độ được phép hành nghề

hoặc được chọn vào hát thờ tổ trong lễ tế tiên sư Tổ chức các cuộc thi cho cô đầu chính là một niềm vui chung của cộng đồng và cũng là sự khích lệ, nâng cao danh dự cho chính cô đầu

Vào mùa xuân, nhiều nơi sẽ mở các cuộc hát thi để cô đầu các nơi tìm đến thi tài sau khi đã thấy giấy báo Người đạt giải thủ khoa phải là người có tài

Trang 28

năng, phẩm hạnh đúng đắn, hành vi đoan trang như Trần Văn Khê nhận định:

“Vả lại đức hạnh của đào nương là một yếu tố quan trọng trong việc sắp hạng

đào nương lúc hát thi” [14, 144] Mục đích chính của các cô đầu khi tham gia

hát thi không phải vì tiền thưởng mà là để có được danh tiếng và gặp nhiều may

mắn như Việt Nam ca trù biên khảo có viết: “Tục truyền các cô trúng tuyển suốt

năm làm ăn may mắn, cô nào ít tuổi mà thi trúng thủ khoa thì thực là vinh hạnh,

về nhà mở tiệc ăn mừng, được hàng giáp cùng bà con đến mừng đưa tiền giúp đỡ” [8, 110]

Như vậy, ngay từ thời kỳ đầu khi ca trù chủ yếu được sử dụng ở các nghi lễ,

cô đầu đã tự nguyện học nghề, tham dự vào nhiều hình thức hát như hát thờ, hát thi… Tuy nhiên, hoạt động nghề nghiệp của cô đầu không diễn ra thường xuyên

mà mang tính chất nghiệp dư, chủ yếu tập trung vào một số thời điểm nhất định trong năm Để trở thành những cô đầu, họ được tuyển chọn rất kỹ, không chỉ cần nhan sắc, tài năng mà còn phải có đức hạnh để đại diện cho cộng đồng

1.2.3.2 Cô đầu trong thời kỳ ca trù trở thành hình thức giải trí

Đến thế kỷ XVIII đầu XIX, ca trù không chỉ dừng lại ở lối hát cửa đình nhằm mục đích ca ngợi thần quyền và vương quyền hay lối hát thi nhằm tuyển

lựa các cô đầu danh ca mà nó đã thay đổi với một gương mặt đầy phong phú và

mới lạ Ở làng quê, ca trù vẫn tồn tại lối hát thờ như giai đoạn trước Còn ở thành

thị, ca trù trở thành một thứ nghệ thuật giải trí phục vụ nhu cầu của đông đảo khán thính giả, trong đó phần lớn là quan lại, văn nhân, nho sỹ… Đặc trưng lớn

nhất của cô đầu trong thời kỳ này là họ trở thành những nghệ sỹ chuyên nghiệp,

Trang 29

cô đầu để tiếp đãi tân khách, ông còn đặt ra những bài hát mới cho ả đào hát

“Trong nhà Chỉnh lúc nào cũng có vài chục người khách, khi ngâm thơ, khi uống

rượu, tùy theo sự hứng thú mà thù tạc với nhau Nhà Chỉnh nuôi mười mấy ca nhi và vũ nữ Chỉnh tự tay soạn ra bài hát, phổ vào đàn sáo, ngày đêm bắt họ ca múa để mua vui” Hay trong Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ cũng viết về không

khí nhộn nhịp tiếng sênh ca ở dinh Nguyễn Khản “Nguyễn Khản thích hát

xướng, gặp khi con hát có tang trở cũng cứ cho tiền bắt hát, không lúc nào bỏ

ti ếng tơ, tiếng nhạc” Có thể nói hiện tượng cô đầu được nuôi trong các gia đình

quan lại đóng vai trò như các gia kỹ của Trung Quốc, tức là kỹ nữ phục vụ giải trí cho quan lại, quý tộc địa phương Song, vai trò của cô đầu có phần thiên về nghệ thuật nhiều hơn là hầu hạ, họ được nuôi dưỡng, chu cấp ăn mặc để phục vụ

ca vũ cho chủ nhân

Nếu như không làm con hát ở nhà quan lại thì cô đầu sẽ tự đi hát để kiếm

tiền trang trải cuộc sống Lúc đó, các xóm ả đào, ca quán xuất hiện Đối tượng

mà họ hướng đến là những vị khách không có điều kiện mua con hát trong nhà nhưng vẫn thích thú với ca trù Cuộc đời của cô đầu sống hoàn toàn bằng nghề hát, giọng hát và nhan sắc chính là yếu tố quyết định cuộc sống nghèo khổ hay

dư giả của họ

Sự đổi khác của nghề nghiệp ở thời kỳ ca trù trở thành hình thức giải trí đã khiến những cô đầu ở chốn thị thành dần dần xa cách với những cô đầu ở nông thôn và gần gũi hơn với geisha của Nhật Bản Geisha là nghệ sỹ kiêm người giải trí truyền thống của Nhật Bản Họ phải thông thạo những môn truyền thống của

Nhật như: hoa đạo, trà đạo, vũ đạo, kịch Nô… Giống như cô đầu khi tự đi hát, họ

phải có khả năng giao tiếp để lôi cuốn khách hàng, trí thông minh, sắc đẹp và

một tài năng nghệ thuật điêu luyện Họ sẽ hát, ngâm thơ với vẻ mặt vui tươi, ngôn từ sắc sảo để thể hiện hết sự quyến rũ của mình, tuy vậy, họ không bao giờ

Trang 30

để mất đi vẻ đoan trang, trong sạch Mặc dù mối quan hệ giữa khách hàng với cô đầu cũng như geisha ở Nhật Bản luôn có những luật lệ quy định không được vượt quá ranh giới nhưng thực chất đó là một tình cảm nhiều phức tạp và đầy bí

ẩn

Tóm lại, trong thời kỳ ca trù trở thành hình thức giải trí, cô đầu chính thức

là những người nghệ sỹ chuyên nghiệp, họ hát ca trù để kiếm sống và xem đó là nghề nghiệp của mình Cô đầu có thể tự đi hát hoặc được các nhà quý tộc, quan lại quyền cao chức trọng mua về để phục vụ riêng

1.2.3.3 Cô đầu trong thời kỳ ca trù biến chất

Điểm đặc biệt là nếu như ở thời kỳ trước, cô đầu đến nhà khách để hát thì

thời kỳ này, khách sẽ đến các ca quán để nghe hát Vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi người Pháp đã đặt xong nền đô hộ tại Đông Dương thì các ca quán mọc lên ngày càng nhiều và tinh thần của ca trù cũng dần biến chất Các cô đầu khi đã tích lũy đủ vốn liếng, kinh nghiệm sẽ rời khỏi giáo phường để ra thành thị mở ca quán Quan viên đến nghe hát, bên cạnh thưởng thức ca nhạc, văn chương thì phần lớn là để họp nhau uống rượu hành lạc, phung phí tiền bạc, thỏa mãn nhục dục Nhiều người xưa nay vốn không biết gì về ca trù nay thấy

việc mở ca quán dễ kiếm lợi nhuận nên họ đua nhau bỏ tiền mở ca quán và mời

cô đầu về hát Hệ quả dẫn đến là cô đầu được phân làm hai loại: cô đầu hát và cô đầu rượu

Cô đầu hát xuất hiện từ khi có ca trù như chúng ta đã tìm hiểu ở hai thời kỳ

trước Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở nông thôn, các giáo phường vẫn duy trì

nề nếp, cô đầu vẫn đi hát thờ ở các đình làng vào các dịp lễ hội và các đám khao

vọng trong nhà dân Ở thành thị, cô đầu hát là những người xinh đẹp, thông minh, có phẩm chất tốt và am hiểu văn chương Cô đầu hát rất được giới văn nghệ sỹ ngưỡng mộ bởi sự tài hoa, cống hiến hết mình cho nghệ thuật dân tộc

Trang 31

Tuy nhiên, trong nội bộ cô đầu hát cũng đã có sự phân hóa thành cô đầu hát đơn thuần và cô đầu vừa đàn hát vừa là tình nhân của quan viên

Cô đầu rượu chính là sản phẩm do các chủ ca quán tạo ra nhằm mục đích

kiếm lợi nhuận Tô Hoài trong bài viết Đào hát, đào rượu từng viết: “Chủ nhà

hát b ỏ ra số tiền cọc buộc chân cô đầu rượu ở nhà hát, chẳng khác thuê con sen, con nhài S ắm cho manh quần lụa trắng, cái áo hàng tơ, đôi guốc “phi mã” sơn then cao gót Cô đào rượu không biết hát, không bận đến việc hát xướng Cô chuyên vi ệc bắt nhân tình hờ với khách hát và sửa soạn màn gối khách nghỉ đêm Và chung chăn với khách đêm ấy nếu khách có lòng và có tiền, mà bây giờ

g ọi là tiền boa” [3, 172] Còn theo Việt Nam ca trù biên khảo thì “Các chủ nhà hát v ề quê mộ những cô gái lỡ làng tình duyên hoặc lười biếng không muốn làm

vi ệc đồng ruộng, đem ra tỉnh làm cô đầu Những cô gái này không biết hát chỉ

h ọc tiếp khách cho khéo, học uống rượu thi với quan viên Cô nào không uống được rượu nhiều phải tập tia ngầm rượu vào khăn cầm tay Quan viên tới, các

cô có b ổn phận tiếp đón; quan viên uống rượu, các cô phải ngồi bồi tiếp, làm thế nào ép được khách uống thực say; quan viên đi ngủ, các cô phải giải chiếu, buông màn Vì không bi ết hát mà chỉ biết mời quan viên uống rượu nên gọi là cô đầu rượu” [8, 56] Như vậy, cô đầu rượu là những cô gái không biết hát, không

xuất thân ở các giáo phường Nhiệm vụ của họ là tiếp khách, hầu rượu, đáp ứng nhu cầu thư giãn của quan viên

Sự xuất hiện của cô đầu rượu đã làm biến dạng hình ảnh thuần nhất, nghiêm túc của cô đầu Họ đã làm cho nghệ thuật ca trù bị mang nhiều tiếng xấu, bước ra ngoài giới hạn của một hoạt động nghệ thuật giải trí Ở nhiều ca quán, cô đầu rượu chính là những cô gái bán thân, ngầm hoạt động mại dâm dưới hình thức hát cô đầu Báo chí trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã có rất nhiều bài phóng sự về các cuộc đánh ghen xảy ra ở các ca quán Khâm Thiên mà nguyên

Trang 32

nhân là do các cô đầu rượu Từ đây, các cô đầu trong ca quán bị xem là những kỹ

nữ bán thân, là người khiến cho các gia đình phải khuynh gia bại sản, vợ chồng

ly tán

Có thể thấy vào giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ca trù đã dần trở nên biến chất, mang tính thương mại chứ không còn giữ được giá trị nghệ thuật đích thực Một thú chơi tao nhã thanh cao dần biến thành nơi chứa chấp sự trăng hoa, trác táng Cô đầu lúc này đã có sự phân hóa rõ: cô đầu hát và cô đầu rượu Chính cô đầu rượu đã làm cho mọi người có ác cảm về cô đầu, xem họ là những

cô gái buôn phấn bán hương, làm suy đồi phong tục của dân tộc

Nhìn một cách tổng quan, ca trù đã trải qua một chặng đường hình thành và phát triển tương đối dài và nhiều biến chuyển Nó trải qua ba thời kỳ lớn: ca trù được sử dụng trong cách lễ nghi, ca trù trở thành hình thức giải trí và ca trù bị

biến chất Ở mỗi thời kỳ, cô đầu đều có những đặc điểm riêng nhưng nhìn chung

sự vận động của cô đầu là đi từ nghiệp dư đến một người nghệ sỹ chuyên nghiệp Đặc biệt, theo thời gian, cô đầu còn có sự phân hóa thành một nhánh khác, đó là

những cô gái vượt ra khỏi giới hạn của nghề nghiệp, đem thân xác ra để lấy tiền

1.3 Khái quát v ề nhân vật cô đầu trong văn học Việt Nam

1.3.1 Nhân v ật cô đầu trong văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X – cuối

th ế kỷ XIX)

Nhân vật cô đầu bước vào văn học từ khá sớm Như đã nói, thư tịch ngày nay nói về sự xuất hiện đầu tiên của cô đầu không nhiều Những tác phẩm nhắc

đến sự ra đời của ca trù và cô đầu sớm nhất có thể kể đến Việt sử tiêu án của Ngô

Thời Sỹ và Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề Theo Việt sử tiêu án do Ngô

Thời Sỹ viết thì cô đầu xuất hiện khoảng năm 1028 Còn Truyện Đào Nương

trong Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề ghi chép về nghề xướng ca của nhiều

phụ nữ đẹp làng Đào Đặng huyện Tiên Lữ vào khoảng thời Hồ (1400 – 1407)

Trang 33

Theo những tài liệu mà chúng tôi tiến hành khảo sát, nhân vật cô đầu chính thức bước vào sáng tác văn chương là khoảng từ thế kỷ XV

Giai đoạn văn học từ thế kỉ XV đến hết thế kỷ XVII, nhân vật cô đầu đã

xuất hiện trong văn học với tên gọi đào nương nhưng với số lượng sáng tác không nhiều

Thế kỷ XV, những tác phẩm thơ ca có sự xuất hiện của nhân vật cô đầu chủ

yếu chỉ điểm qua, nhắc đến cụm từ “đào nương” Tuy chưa đi sâu vào miêu tả cuộc đời, số phận của cô đầu, dù vậy nó vẫn cho chúng ta thấy họ là những con người có tài ca hát, là một tầng lớp trong xã hội

Bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao (1462 – 1529)

được viết trước năm 1504 đã có sự xuất hiện của hình ảnh đào nương, đồng thời đánh dấu cho sự xuất hiện của nghệ thuật hát ca trù Ông đã thay mặt các giáp

viết 9 bài thơ để đọc và khen thưởng các cô đào tại đình làng Đông Ngạc:

“Xuân kỳ một giải hàng ngang Thưởng đào hai chữ phụ khang mừng làng”

“Năm năm mở tiệc xướng ca Đào dâng hai chữ “tam đa” chúc mừng”

“Xuân kỳ giải thưởng Đào nương

C ửu như dâng chúc ba hàng nức vui”

(Theo Vi ệt Nam ca trù biên khảo)

Bên cạnh đó, một bài thơ khác cũng được xem là sáng tác trong giai đoạn này có sự xuất hiện hình ảnh cô đầu là Dạ du phỏng đào nương bất ngộ của

Hoàng Nghĩa Phú (1480 - ?):

“Thiên cao nguyệt tiểu ái lương tiêu

H ứng đáo lê viên hận tịch liêu

Ca qu ản tự tòng nhiêu bạch thạch,

Trang 34

Đào nương cánh vị luyến hồng tiêu

Bàn tri ều đăng hạ nhân đồng tháp Túy lúy hoa biên t ửu nhất biều Nhân kh ứ khách đồng sư chủ thy

Kh ởi lai vô hạn cảm minh triều”

Quanh qu ẩn bên hoa chỉ một bầu rượu

Người đi rồi còn khách ngủ cùng chủ,

T ỉnh dậy thấy mang ơn triều đình sáng suốt.”

(Theo Văn học Hán Nôm Hà Tây 10 thế kỷ)

Về tính xác thực của bài thơ chưa thật chắc chắn, nhưng có thể thấy hiện lên trên con chữ là không khí của ca trù thời kỳ bấy giờ Ngay từ khi ra đời, nó

đã có dấu hiệu nhằm phục vụ nhu cầu giải trí cho một bộ phận nho sỹ, thậm chí

có thể là ngoài giải trí nghệ thuật thuần túy Hình ảnh các văn nhân trong đêm khuya đi đến các ca quán để nghe cô đào hát cho thấy sự phóng túng, tự do cùng

những thú vui tao nhã

Những tác phẩm trên có thể xem là các trang viết đầu tiên đánh dấu bước chân của cô đầu trong văn chương với tên gọi cô đào, đào nương Sang đến giai đoạn sau, hình ảnh cô đầu xuất hiện nhiều hơn, không chỉ đơn thuần nhắc tên mà còn được miêu tả với tư cách một nhân vật văn học thực sự

Thế kỷ XVI, tình hình xã hội có phần rối ren khi giai cấp thống trị chỉ lo hưởng thụ và vun vén quyền lợi cá nhân, xa rời nhân dân Hệ quả là những mâu

Trang 35

thuẫn ngày càng sâu sắc, nhân dân lâm vào cảnh đói khổ, điêu linh Thơ văn bấy

giờ đã lên tiếng phê phán giai cấp thống trị, đồng thời cất lên tiếng nói cảm thông với số phận của những người nhỏ bé trong xã hội, đặc biệt là người phụ

nữ Trong đó, nhân vật cô đầu, đào nương được miêu tả không những có nhan

sắc, tài nghệ mà còn nhận được sự cảm thông, trân trọng của tác giả Tiêu biểu

phải kể đến là Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ với Chuyện nàng Túy Tiêu,

Chuyện nghiệp oan của Đào Thị

Túy Tiêu trong Chuy ện nàng Túy Tiêu đã phải chịu nhiều nỗi khổ trong

dinh thự của tên Trụ Quốc, để hy vọng có ngày tái hợp cùng người yêu là Dư Nhuận Chi Hàn Than trong Chuyện nghiệp oan của Đào thị thì trải qua một

cuộc đời đầy sóng gió, hết kiếp người đến kiếp ma, và dù cho có tồn tại ở kiếp nào đi nữa, nàng cũng bị những thế lực thù địch vùi dập Họ đều là những con người có nhan sắc, tài năng nhưng số phận lại lênh đênh, chìm nổi Thông qua

l ục của Nguyễn Dữ đã cho thấy hình ảnh cô đầu hiện lên rõ nét hơn và góp phần

truyền tải những tư tưởng, thông điệp của tác giả Họ đã tạo được một mối thương cảm trong lòng người đọc và làm tiền đề cho sự xuất hiện phổ biến hình ảnh cô đầu ở giai đoạn sau

Giai đoạn văn học từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, cô đầu xuất

hiện trong các tác phẩm văn thơ không còn mơ hồ mà trở thành một nhân vật có tính cách, số phận riêng biệt

Nguyễn Du vốn được biết đến là một nghệ sỹ với trái tim nhân đạo bao la, yêu mến con người, đặc biệt là người phụ nữ Với con hát, đào nương, ông cũng dành một tình cảm đặc biệt Một số tác phẩm mà đào nương xuất hiện và đóng vai trò nhân vật chính, tiêu biểu như: Long Thành cầm giả ca, Điếu La Thành ca

gi ả, Ngộ gia đệ cựu ca cơ… Điểm chung của nhân vật ca nữ trong sáng tác của

Trang 36

Nguyễn Du chính là họ đều có nhan sắc tuyệt trần, tài nghệ xuất chúng nhưng số

phận lại long đong, nghiệt ngã

Cô Cầm trong Long Thành cầm giả ca được ví von là “báu vật vô giá đất

Trường An” với nhan sắc kiêu sa, trong sáng, phong nhã ở tuổi thanh xuân:

“Xuân phong yểm ánh đào hoa diện

Ðà nhan hám thái t ối nghi nhân”

Dịch nghĩa:

“Áo hồng cũng bị mờ nhạt đi trước vẻ mặt hoa đào

Má h ồng men rượu vẻ ngây thơ rất đáng yêu”

(Long Thành c ầm giả ca – Nguyễn Du)

Tuy vậy, khi đã già, khi đã đi qua thời vàng son, cuộc đời nàng thật cô độc,

thê lương, khiến ai cũng ngậm ngùi:

“Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa Nhan xú th ần khô hình lược tiểu Lang t ạ tàn my bất sức trang Thuỳ tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất điệu”

Dịch nghĩa:

“Riêng ở cuối chiếu có người tóc hoa râm

M ặt gầy, thần sắc võ vàng, người nhỏ nhắn Lông mày xác xơ không điểm tô

Ai bi ết đó lại là người tuyệt diệu nhất kinh thành thời xưa.”

(Long Thành c ầm giả ca – Nguyễn Du)

Nàng ca nữ ở đất La Thành trong Điếu La Thành ca giả đẹp như một cành

hồng thắm từ cõi tiên sa xuống, sắc đẹp làm rung động cả sáu khu trong thành nhưng cuộc đời lại yểu mệnh, ngắn ngủi, khi chết đi không ai đoái hoài:

Trang 37

“Thiên hạ hà nhân liên bạc mệnh?

Tr ủng trung ưng tự hối phù sinh.”

Dịch nghĩa:

“Thiên hạ ai kẻ thương người bạc mệnh?

Dưới mồ, chắc cũng hối hận cho kiếp phù sinh.”

(Điếu La Thành ca giả - Nguyễn Du)

Người ca nương trong Ngộ gia đệ cựu ca cơ ngày xưa xinh đẹp, giọng ca có

một không hai nhưng bây giờ đã lấy chồng, có ba con, trở nên xơ xác, tiều tụy, khiến Nguyễn Du phải thốt lên lời cảm thán:

“Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử,

Kh ả liên do trước khứ thời y.”

Dịch nghĩa:

“Nghe nói lấy chồng đã có ba mặt con Nhưng vẫn mặc áo thời trước, đáng thương thay!”

(Ng ộ gia đệ cựu ca cơ – Nguyễn Du)

Nguyễn Du từng thốt lên “Đau đớn thay phận đàn bà – Lời rằng bạc

m ệnh cũng là lời chung” (Truyện Kiều) Câu thơ ấy hoàn toàn đúng khi soi chiếu

vào những nhân vật ca nương trong sáng tác của ông Nguyễn Du là người nghệ

sỹ đã viết nhiều và viết một cách chân thực nhất, cảm xúc nhất về nhân vật ca

nữ, để lại cho đời những kiệt tác giá trị, những nhân vật điển hình

Nói đến nhân vật cô đầu trong giai đoạn văn học này không thể không

nhắc đến Nguyễn Công Trứ Ông đã viết nhiều thi phẩm để nói về tầng lớp

người này trong xã hội như: Một ngày là nghĩa, Cảnh biệt ly, Yêu hoa, Bỡn cô

đầu già, Duyên gặp gỡ… Nguyễn Công Trứ chính là người để lại nhiều giai

thoại với cô đầu nhất, trong đó câu chuyện thường được nhắc đến là câu chuyện

giữa cụ và cô đào Hiệu Thư Theo Nguyễn Công Trứ, văn nhân và cô đầu gặp

Trang 38

nhau là do số phận, đã là tài tử - giai nhân thì sẽ gặp nhau Ông từng viết trong

bài Duyên g ặp gỡ:

“Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên, Trong nh ất kiến, tình duyên như đã

T ỳ bà hữu hạnh phùng Tư mã, Quân t ử đa tình cánh khả lân

Nọ mấy người tài tử giai nhân, Duyên ch ỉ thắm bỗng dần dần đưa lại

D ẫu nghìn dặm băng sơn quế hải,

Đã tình duyên se lại cũng nên gần

Li ễu hoa vừa gặp chúa xuân,

(Duyên g ặp gỡ - Nguyễn Công Trứ)

Viết về cô đầu, ông không điểm mặt, chỉ tên nhưng từng câu thơ, từng từ

ngữ đều nhằm ám chỉ đến nhân vật này Ông dành nhiều bài thơ để khắc họa sự chia ly giữa cô đầu và khách phong lưu:

“Ngao ngán nhẽ kẻ về người ở, Sao k ẻ về người ở đôi nơi

C ất chén quỳnh hãy tạm làm vui, Dòng l ệ chảy, vắn dài chua chát

Nào nh ững lúc tiếng đàn chen tiếng hát, Nào nh ững khi tiếng phách lẫn tiếng sênh.”

(M ột ngày là nghĩa – Nguyễn Công Trứ)

Hay:

“Kẻ về người ở

Nghĩ, bồi hồi thay lúc phân kỳ

Trang 39

Khéo qu ấy người hai chữ tình si,

B ầng bầng lửa biệt ly không chút nguội

… Trót đa mang khúc hát chung đàn, nên dan díu mối tình chưa dứt.”

(K ẻ về người ở - Nguyễn Công Trứ)

Tuy dành tình cảm cho cô đầu, lưu luyến trước những buổi phân ly khi chầu hát đã tan nhưng ở nhiều bài thơ Nguyễn Công Trứ lại có thái độ đùa bỡn, thiếu trân trọng với cô đầu:

“Lật đật qua đèo nóng nực thay, Hai cô thương đến lại cho giày

Ơn này biết lấy chi mà trả, Xin qu ỳ hai gối chống hai tay.”

(C ảm ơn hai cô đầu – Nguyễn Công Trứ)

Câu “Xin quỳ hai gối chống hai tay” là một lối nói đầy ngụ ý, có thể trong

cuộc đời thực, cô đầu không đơn thuần là người phục vụ nhu cầu giải trí nghệ thuật mà còn là đối tượng thỏa mãn nhục dục Chưa dừng lại ở đó, ông còn xem

cô đầu là một thứ giải trí qua đường có tiền là mua được Ông bỡn cợt, trêu ghẹo,

tỏ ra thiếu trân trọng với cồ đầu khi đã già, nhan sắc phai tàn:

“Liếc trông đáng giá mấy mười mươi, Đem lạng vàng mua lấy tiếng cười

Trăng xế nhưng mà cung chẳng khuyết, Hoa tàn song l ại nhị còn tươi

Chia đôi duyên nọ đà hơn một,

Mà nét xuân kia v ẹn cả mười

Vì chút tình duyên nên đằm thắm,

Trang 40

Khéo làm cho b ận khách làng chơi.”

(B ỡn cô đào già – Nguyễn Công Trứ)

Nguyễn Công Trứ là người đã dám công khai những tình cảm của mình với cô đầu, nói lên cái sự hưởng lạc, thể hiện rõ thái độ luyến tiếc, yêu thương hay bỡn cợt, mỉa mai cô đầu Ông yêu thích ca trù bởi vừa được thưởng thức nghệ thuật ca hát, vừa được tự do tình ái với cô đầu

Bên cạnh Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát cũng thường viết về cô đầu nhưng bằng một giọng điệu nhẹ nhàng, kín đáo hơn Ông không chỉ đích danh, không châm chọc, chế giễu mà nói về những mối tình tài tử - giai nhân, dĩ nhiên giai nhân ở đây phần nhiều là những cô đầu Một số bài thơ tiêu biểu của Cao Bá Quát có hình ảnh giai nhân là: Tự tình, Mấy khi gặp gỡ, Tài hoa là nợ, Nhớ giai

nhân, Nghĩ tiếc cho ai, Nhân sinh thấm thoát, Phận hồng nhan có mong manh…

“Tài tử với giai nhân sẵn nợ,

Gi ải cấu nan là chữ làm sao

Tr ải xưa nay chừng đã biết bao, Kìa tan hợp, nọ khứ lưu đâu dám chắc.”

(Nh ớ giai nhân – Cao Bá Quát)

Hay:

“Giai nhân nan tái đắc, Trót yêu hoa nên dan díu v ới tình

Mái tây hiên nguy ệt dãi chênh chênh,

R ầu rĩ mấy xuân về oanh nhớ

Phong lưu công tử đa xuân tứ, Trường đoạn tiêu nương nhất chỉ thư

Nước sông Tương một giải nông sờ, Cho k ẻ đấy người đây mong mỏi

Ngày đăng: 18/08/2021, 13:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. L ạ i Nguyên Ân (biên so ạ n). (2017). 150 thu ậ t ng ữ văn họ c. NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: L ạ i Nguyên Ân (biên so ạ n)
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2017
2. Nguy ễ n Th ị Ng ọ c Châu. (2010). V ấn đề tính d ục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ so sánh. Lu ận văn Thạc sĩ văn họ c. Đạ i h ọc Sƣ phạ m Thành ph ố H ồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ so sánh
Tác giả: Nguy ễ n Th ị Ng ọ c Châu
Năm: 2010
3. Nguyễn Xuân Diện. (2017). Ca trù phía sau đàn phách . NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù phía sau đàn phách
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2017
4. Tr ịnh Bá Dĩnh – Nguy ễn Đứ c M ậ u (tuy ể n ch ọ n và gi ớ i thi ệ u). (2001). T ả n Đà về tác gi ả và tác ph ẩ m. NXB Giáo d ụ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản Đà về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Tr ịnh Bá Dĩnh – Nguy ễn Đứ c M ậ u (tuy ể n ch ọ n và gi ớ i thi ệ u)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
5. Đoàn Thị Anh Đào . (2008). Nhân v ậ t ả đào từ cu ộ c s ống đến thơ văn . Lu ận văn thạc sĩ. Đạ i h ọ c Qu ố c gia Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật ả đào từ cuộc sống đến thơ văn
Tác giả: Đoàn Thị Anh Đào
Năm: 2008
6. Phan C ự Đệ - Tr ần Đình Hƣợ u – Nguy ễ n Trác – Nguy ễ n Hoành Khung - Lê Chí Dũng – Hà Văn Đứ c. (2013). Văn họ c Vi ệ t Nam (1900 – 1945).NXB Giáo d ụ c Vi ệ t Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 – 1945)
Tác giả: Phan C ự Đệ - Tr ần Đình Hƣợ u – Nguy ễ n Trác – Nguy ễ n Hoành Khung - Lê Chí Dũng – Hà Văn Đứ c
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
7. Nguy ễn Đăng Điệ p. (2002). Giọng điệu trong thơ trữ tình. NXB Văn họ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguy ễn Đăng Điệ p
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
8. Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề. (1962). Vi ệ t Nam ca trù biên kh ả o. NXB Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam ca trù biên khảo
Tác giả: Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề
Nhà XB: NXB Sài Gòn
Năm: 1962
9. Nguy ễ n Th ị Thu Giang. (2014). Ti ếng cười trào phúng Tú Xương . Lu ậ n văn Thạc sĩ ngôn ngữ và văn hóa Việ t Nam. Đạ i h ọc Sƣ phạ m Hà N ộ i 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cười trào phúng Tú Xương
Tác giả: Nguy ễ n Th ị Thu Giang
Năm: 2014
11. Nguy ễn Văn Huyền (sưu tầ m). (2008). Nguy ễ n Khuy ế n tác ph ẩ m. NXB Ngh ệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khuyến tác phẩm
Tác giả: Nguy ễn Văn Huyền (sưu tầ m)
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2008
12. Ngô S ỹ Liên. (2003). Đạ i Vi ệ t s ử ký toàn thƣ . NXB Khoa h ọ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thƣ
Tác giả: Ngô S ỹ Liên
Nhà XB: NXB Khoa học
Năm: 2003
13. Hu ỳ nh Lê. (2014). Cái tôi trong thơ Tản Đà . Lu ận văn tố t nghi ệp đạ i h ọ c. Đạ i h ọ c C ần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tôi trong thơ Tản Đà
Tác giả: Hu ỳ nh Lê
Năm: 2014
14. Nguy ễn Đứ c M ậ u (biên so ạ n). (2017). Ca trù nhìn t ừ nhi ề u phía. NXB Quân độ i nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù nhìn từ nhiều phía
Tác giả: Nguy ễn Đứ c M ậ u (biên so ạ n)
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2017
15. Đoàn Hồ ng Nguyên. (2003). Thơ Tú Xương trong tiế n trình hi ện đạ i hóa Văn họ c Vi ệ t Nam. Luận án Tiến sĩ. Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Tú Xương trong tiến trình hiện đại hóa Văn học Việt Nam
Tác giả: Đoàn Hồ ng Nguyên
Năm: 2003
16. Thao Nguy ễ n (tuy ể n ch ọ n). (2013). Tú Xương – Nhà thơ trào phúng xuấ t sắc, một bậc thần thơ thánh chữ . NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tú Xương – Nhà thơ trào phúng xuất sắc, một bậc thần thơ thánh chữ
Tác giả: Thao Nguy ễ n (tuy ể n ch ọ n)
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2013
17. Thao Nguyễn (tuyển chọn). (2013). T ản Đà - Ả o thu ậ t gia v ề ch ữ nghĩa, âm giai và hình tƣợ ng. NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản Đà - Ảo thuật gia về chữ nghĩa, âm giai và hình tƣợng
Tác giả: Thao Nguyễn (tuyển chọn)
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2013
18. Lê Th ị Nguy ệ t. (2008). Nét đẹ p c ủa ngườ i ph ụ n ữ trong ca dao c ổ truy ề n ngườ i Vi ệ t. Lu ận văn thạc sĩ khoa họ c Ng ữ Văn. Đạ i h ọ c Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đẹp của người phụ nữ trong ca dao cổ truyền người Việt
Tác giả: Lê Th ị Nguy ệ t
Năm: 2008
19. Ngô Th ị Ki ề u Oanh. (2012). S ự chuy ể n bi ến trong văn họ c n ử a cu ố i th ế k ỷ XIX qua ba tác gi ả Nguy ễn Đình Chiể u, Nguy ễ n Khuy ến và Tú Xương . Lu ận văn thạc sĩ văn họ c. Đạ i h ọc Sƣ phạ m Thành ph ố H ồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyển biến trong văn học nửa cuối thếkỷ XIX qua ba tác giả Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến và Tú Xương
Tác giả: Ngô Th ị Ki ề u Oanh
Năm: 2012
20. GS Hoàng Phê (ch ủ biên). (2016). T ừ điể n Ti ế ng Vi ệ t. NXB H ồng Đứ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển Tiếng Việt
Tác giả: GS Hoàng Phê (ch ủ biên)
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2016
21. T ừ Quân – Dương Hả i. (2001). Lịch sử kỹ nữ . NXB Tr ẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kỹ nữ
Tác giả: T ừ Quân – Dương Hả i
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w