Hiện nay nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây lànhiệm vụ trọng tâm bởi chỉ có con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới đưa nướcta trở nên giàu mạnh, đồng thời xây dựng được một xã hội công bằng, dân chủ, vănminh, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, từ đó rút ngắn khoảng cách lạc hậu với cácnước phát triển, hòa vào dòng thác chung của nhân loại. Đại hội VIII của Đảng nhậnđịnh rằng nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, nhiệm vụ đặt ra cho thờikỳ đầu là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa cơ bản đã hoàn thành cho phép nước tabước vào thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng ta đãđưa ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước trong điều kiện mới. Những quan điểm này được Hội nghị lần thứ bảy BanChấp hành Trung ương khóa VII và tiếp tục được bổ sung hoàn thiện trong các Đại hộiVIII , IX , X , XI của Đảng. Một trong những quan điểm cơ bản đó là “Công nghiệphóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa , hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức“.Thực hiện đề tài này, em muốn tìm hiểu và thể hiện cái nhìn của mình về công nghiệphóa hiện đại hóa, về nền kinh tế tri thức, vai trò của nền kinh tế tri thức và hiểu đượctại sao công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại phải gắn với phát triển kinh tế tri thức, và sựvận dụng điều đó trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Nguyễn Gia Tâm - 1851030156 - 010100500315
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN ĐƯỜNG LỐI CÁCH
MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TÊN ĐỀ TÀI: “CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Ở VIỆT NAM”
Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Bích Loan
Thành phố Hồ Chí Minh, 03 tháng 07 năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU - 1 -
CHƯƠNG 1: CÔNG NGHIỆP HÓA,HIỆN ĐẠI HÓA - 1 -
1.1 KHÁI NIỆM CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - 1 -
1.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - 2 -
1.3 ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - 3 -
CHƯƠNG 2: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC - 4 -
2.1 KHÁI NIỆM KINH TẾ TRI THỨC - 4 -
2.2 ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC - 5 -
2.3 TẠI SAO CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA PHẢI GẮN VỚI NỀN KINH TẾ TRI THỨC? - 7 -
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - 8 -
3.1 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN - 8 -
3.1.1 THUẬN LỢI - 8 -
Trang 33.1.2 KHÓ KHĂN - 9 -
3.2 VẬN DỤNG - 9 -
KẾT LUẬN - 11 -
TƯ LIỆU THAM KHẢO - 12 -
Trang 4- 1 -
MỞ ĐẦU
Hiện nay nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây là nhiệm vụ trọng tâm bởi chỉ có con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới đưa nước
ta trở nên giàu mạnh, đồng thời xây dựng được một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, từ đó rút ngắn khoảng cách lạc hậu với các nước phát triển, hòa vào dòng thác chung của nhân loại Đại hội VIII của Đảng nhận định rằng nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ đặt ra cho thời
kỳ đầu là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa cơ bản đã hoàn thành cho phép nước ta bước vào thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng ta đã đưa ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới Những quan điểm này được Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII và tiếp tục được bổ sung hoàn thiện trong các Đại hội VIII , IX , X , XI của Đảng Một trong những quan điểm cơ bản đó là “Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa , hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức“ Thực hiện đề tài này, em muốn tìm hiểu và thể hiện cái nhìn của mình về công nghiệp hóa - hiện đại hóa, về nền kinh tế tri thức, vai trò của nền kinh tế tri thức và hiểu được tại sao công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại phải gắn với phát triển kinh tế tri thức, và sự vận dụng điều đó trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
CHƯƠNG 1: CÔNG NGHIỆP HÓA,HIỆN ĐẠI HÓA
1.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Lịch sử công nghiệp hóa trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm Vào giữa thế kỷ XVIII, một số nước phương Tây, mở đầu là nước Anh đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp, với nội dung chủ yếu là chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí Đây là mốc đánh dấu sự khởi đầu cho tiến trình công nghiệp hóa của thế giới Tuy vậy, phải đến thế kỷ XIX, khái niệm công nghiệp hóa mới được dùng để thay thế cho khái niệm cách mạng công nghiệp, mặc dù sau cách mạng công nghiệp ở Anh, một thế
hệ công nghiệp hóa đã diễn ra ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản Có thể khái
Trang 5- 2 -
quát, công nghiệp hóa là quá trình tạo sự chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp với nền kinh tế lạc hậu, dựa trên lao động thủ công, năng suất thấp sang nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế hiện đại, dựa trên lao động sử dụng bằng máy móc, tạo ra năng suất lao động cao Như vậy, công nghiệp hóa là quá trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành nước công nghiệp hiện đại với trình độ công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, có năng suất lao động cao trong các ngành kinh tế quốc dân Hiện đại hóa là quá trình tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại Trong điều kiện của Việt Nam, Đảng ta xác định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”
1.2 Quan điểm của Đảng ta trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4 năm 2006), khi khẳng định đường lối tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ "mục tiêu trực tiếp" mà chúng ta cần phấn đấu thực hiện trong 5 năm 2006 – 2010 là "sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại" Để thực hiện "mục tiêu trực tiếp" này, chúng ta phải có được một lực lượng sản xuất đạt trình độ phát triển cao, một cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại dựa trên sự phát triển mạnh mẽ với tốc độ ngày càng tăng của khoa học và công nghệ hiện đại; phải "tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức
là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp
Trang 6- 3 -
việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, trong từng dự án kinh tế – xã hội" Theo quan điểm của Đảng, trong thời đại ngày nay, những tiến bộ về kinh tế, xã hội cùng với sự mở rộng và tăng cường hợp tác phát triển với các nước và các tổ chức quốc
tế là cơ sở để chúng ta đẩy tới một bước công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Xác định công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm, có tầm quan trọng hàng đầu, là con đường duy nhất giúp chúng ta không chỉ thoát khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn so với các nước trong khu vực Đông – Nam Á và trên thế giới, mà còn giữ được ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ quyền quốc gia và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa
Đảng ta cũng đã xác định rõ định hướng phát triển 6 ngành và lĩnh vực chủ yếu trong quá trình thực hiện tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta trong thời gian tới Đó là: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân; phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng, dịch vụ; phát triển kinh tế vùng; phát triển kinh tế biển, chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu công nghệ, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên
1.3 Đặc trưng của nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả
Trang 7- 4 -
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo Đồng thời lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư vào công nghệ
Khoa học công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại; tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định Bên cạnh đó, công nghiệp hóa hiện đại hóa phải kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh
CHƯƠNG 2: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
2.1 Khái niệm kinh tế tri thức
Từ thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, nhanh chóng về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động Đây là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa đặc biệt: lực lượng sản xuất xã hội đang chuyển từ kinh tế tài nguyên sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ
Vậy nền kinh tế tri thức là gì? Có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng dễ chấp nhận nhất hiện nay là định nghĩa của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra năm 1995: “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống”
Với định nghĩa trên, có thể hiểu kinh tế tri thức là trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất xã hội, theo đó trong quá trình lao động của từng người lao động và toàn bộ lao động xã hội, trong từng sản phẩm và trong tổng sản phẩm quốc dân thì hàm
Trang 8- 5 -
lượng lao động cơ bắp, hao phí lao động cơ bắp giảm đi vô cùng nhiều trong khi hàm lượng tri thức, hao phí lao động trí óc tăng lên vô cùng lớn
Trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác động to lớn tới sự phát triển
là những ngành dựa vào tri thức, dựa vào những thành tựu mới của khoa học, công nghệ Đó có thể là những ngành kinh tế mới dựa trên công nghệ cao (như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học ); nhưng cũng có thể là những ngành kinh tế truyền thống (như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) được ứng dụng khoa học, công nghệ cao
Một ngành kinh tế có thể coi là đã trở thành ngành kinh tế tri thức khi giá trị do tri thức tạo ra chiếm tỷ lệ áp đảo (khoảng 70%) trong tổng giá trị sản xuất của ngành đó Một nền kinh tế được coi là đã trở thành nền kinh tế tri thức khi tổng sản phẩm các ngành kinh tế tri thức chiếm khoảng 70% tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Trên thế giới hiện nay, ở các nước thuộc tổ chức OECD, các ngành kinh tế tri thức
đã đóng góp trên 50% GDP (Mỹ 55,3%, Nhật Bản 53%, Canađa 51% ) Nhiều nước công nghiệp mới và các nước đang phát triển cũng đang hướng mạnh vào kinh tế tri thức, tập trung nỗ lực để phát triển nhanh một số ngành kinh tế tri thức, như công nghệ thông tin, internet, thương mại điện tử, công nghệ phần mềm
2.2 Đặc trưng của nền kinh tế tri thức
Trong nền kinh tế tri thức, các yếu vật chất cũng như hàm lượng vật chất trong các sản phẩm ngày càng giảm, hàm lượng tri thức, lao động chất xám, lao động trí óc tăng lên, chiếm tỷ trọng ngày càng cao lớn trong giá trị sản phẩm
Cũng trong nền kinh tế tri thức, các sản phẩm trí tuệ dựa vào nguồn lực hàng đầu là tri thức Đây là nguồn vốn cơ bản của quá trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội, thay
vì chỉ là đất đai, tài nguyên và vốn tiền tệ như trước đây Thông tin, kiến thức lao động
có trình độ cao được sử dụng nhiều, ít sử dụng tài nguyên thiên nhiên Những trung tâm công nghệ cao được hình thành Đặc biệt tri thức khoa học và công nghệ cùng với lao động kỹ thuật cao là thành phần quan trọng của lực lượng sản xuất, là lợi thế phát
Trang 9- 6 -
triền kinh tế Nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa Sự sáng tạo đổi mới trở thành yêu cầu thường xuyên đối với mọi người
Cơ cấu kinh tế kỹ thuật thay đổi một cách sâu sắc, theo hướng tri thức hóa, làm thay đổi phương thức tổ chức và quản lý không chỉ trong các ngành đó mà còn tác động đến các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế Do những thay đổi trong cơ cấu kinh tế - kỹ thuật sẽ làm thay đổi về chất trong cơ cấu sản phẩm, làm thay đổi cơ cấu giá trị sản phẩm; điều này tất yếu dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu lao động xã hội
Quy trình công nghệ trong sản xuất luôn luôn được thay đổi, làm cho năng xuất lao động ngày càng tăng, cường độ lao động ngày càng giảm, chủng loại sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng sản phẩm ngày càng cao, giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cuộc sống…sự cạnh tranh được tạo điều kiện đầy đủ, sự tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, tạo ra lợi thế cho quốc gia, tác động lớn đến đời sống xã hội
Siêu xa lộ thông tin trong hệ thống mạng toàn cầu được hình thành, có ảnh hưởng to lớn đến lĩnh vực khoa học, kinh tế và văn hóa, quan hệ quốc tế, đặc biệt giúp mở rộng thị trường cho các nước… bởi vì nó đảm bảo sự tham gia đông đảo của tất cả các quốc gia trên thế giới Siêu xa lộ thông tin sẽ tạo ra một xã hội tri thức, xã hội thông tin mà không có biên giới
Trong điều kiện của kinh tế tri thức, các thành tựu khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin được phổ biến và ứng dụng hết sức nhanh chóng, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các ngành kinh tế được tri thức hóa đều phải dựa vào công nghệ mới để đổi mới và phát triển Chỉ khi nào các ngành công nghệ cao, ứng dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật hiện đại, có giá trị mới do tri thức đem lại chiếm trên 2/3 tổng giá trị thì kinh tế tri thức mới được tỏ rõ Tiêu chí của kinh tế tri thức: hơn 70% GDP phải được tạo ra từ các ngành sản xuất dịch vụ áp dụng công nghệ cao; hơn 70% giá trị gia tăng là do trí tuệ mang lại; hơn 70% công nhân tri thức trong cơ cấu lao động; hơn 70% cơ cấu vốn là vốn con người Nền kinh tế và xã hội luôn luôn đổi mới,
Trang 10- 7 -
cái mới ngày càng nhiều Đó là đặc trưng của sự phát triển, của sự tiến hóa xã hội và sự phát triển từ cái mới
2.3 Tại sao công nghiệp hóa-hiện đại hóa phải gắn với nền kinh tế tri thức?
Từ thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, do tác động mạnh mẽ của khoa học – công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu,… nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, nhanh chóng về cơ cấu, chứ năng và phương thức hoạt động Trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác động to lớn tới sự phát triển là những ngành dựa vào tri thức, dựa vào những thành tựu mới về khoa học, công nghệ,…
Một ngành kinh tế có thể coi là đã trở thành ngành kinh tế tri thức khi giá trị do tri thức tạo ra chiếm tỷ lệ áp đảo (khoảng 70 %) trong tổng giá trị sản xuất của ngành đó Một nền kinh tế được coi là đã trở thành nền kinh tế tri thức khi tổng sản phẩm các ngành kinh tế tri thức chiếm khoảng 70% tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn quý nhất, là nguồn lực hàng đầu, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh tế có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng Trong đó các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ ngày càng tăng, ngày càng chiếm
đa số
Trong nền kinh tế tri thức, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực và thiết lập được các mạng thông tin đa phương diện được phủ khắp cả nước, nối với hầu hết các tổ chức, các gia đình Thông tin trở thành nguồn tài nguyên quan trọng nhất của nề kinh tế
Trong nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực nhanh chống được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành yêu cầu thường xuyên đối với mọi người và phát triển con người trở thành nhiệm vụ trung tâm của xã hội Trong nền kinh tế tri thức, mọi hoạt động đều có liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa kinh tế, có tác động tích cực hoặc