1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội

84 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả Lê Thị Hoài Mây
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Liên Châu
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội
Thể loại khóa luận
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 459 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Trong suốt chiều dài lịch sử dụng nước và giữ nước của dân tộc ta đã có biết bao nhiêu vĩ nhân, anh hùng mà cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và nhân cách của họ tiêu biểu cho lý tưởng, ý chí, khát vọng của dân tộc và xu hướng phát triển của thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người như vậy. “Hồ Chí Minh” - những chữ ấy đã trở thành một biểu tượng, một niềm tự hào của dân tộc ta và của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới. Dân tộc ta sinh ra Hồ Chủ Tịch, và chính Người - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới - người mà tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đánh giá là đã “để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại” - đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Tư tưởng và lý luận cách mạng mà Người để lại cho dân tộc ta và nhân loại là một di sản vô cùng quý giá. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại” và “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Chính vì vậy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam. Tư tưởng của Người bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn, phong phú, trong đó vấn đề nhân lực chất lượng cao và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao chiếm một vị trí quan trọng. Người xem “vô luận việc gì đều do người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. Con người là chủ thể kiến tạo nên toàn thể xã hội, nếu là con người có đủ đức và tài thì họ sẽ làm được nhiều việc có ích, và nếu những người đó tham gia vào các công việc của nhà nước, được tạo điều kiện để phát huy đạo đức và tài năng, thì họ sẽ làm được nhiều việc “ích quốc, lợi dân”. Từ quan niệm “vô luận việc gì đều do người làm ra”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “cán bộ quyết định mọi việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là chân lý nhất định”. Đây là lôgic tư tưởng độc đáo, đặc sắc của Hồ Chí Minh về vấn đề nhân lực chất lượng cao và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thành động lực chủ yếu đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Vấn đề này đang đặt ra cho nền giáo dục đại học Việt Nam một nhiệm vụ hết sức to lớn và cấp bách. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và coi đây là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN luôn được Nhà nước Việt Nam coi là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn lớn nhất của đất nước. Là một cơ sở giáo dục đầu ngành trong hệ thống trường Đại học Quốc gia Hà Nội chiếm tỷ lệ Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ nhiều nhất trên cả nước. Từ nhận thức một cách sâu sắc vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong xã hội nói chung và đội ngũ cán bộ giảng viên trong giáo dục đại học nói riêng, cùng với quá trình thực tập tốt nghiệp tại Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN tôi lựa chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội” 2. Tình hình nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh là một di sản quý báu của Đảng và nhân dân Việt Nam. Với tính cách nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng đã được nhiều học giả nghiên cứu và phân tích. Đã có nhiều tác phẩm, đề tài khoa học với nhiều cách tiếp cận khác nhau về sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao được tiếp cận thông qua nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nói chung, về đạo đức của cán bộ, đảng viên nói riêng; hoặc thông qua nghiên cứu những vấn đề về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; hoặc được vận dụng nghiên cứu trong sự nghiệp Công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước…. Nói chung, vấn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao đã được tiếp cận, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau và cũng đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã đạt được áp dụng trong lĩnh vực giáo dục và cụ thể về đội ngũ cán bộ, giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học tôi thấy việc nghiên cứu trực tiếp vận dụng những quan điểm của Hồ Chí Minh về nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn là vấn đề cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Chính vì thế, tôi đã lựa chọn đề tài nói trên với mong muốn góp phần tìm hiểu một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN sau quá trình trải nghiệm thực tế qua đợt thực tập tại trường này. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN. 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định là nghiên cứu, làm rõ: - Các quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao và việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. - Thực trạng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN. - Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN. 4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao. 4.2 Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu: Cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQGHN. 4.3 Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi về không gian: Cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN. Phạm vi về nội dung: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao. 5. Phương pháp nghiên cứu: 5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận và các văn bản có liên quan 5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: - Phương pháp quan sát - Phương pháp điều tra - Phương pháp chuyên gia - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 5.3. Các phương pháp bổ trợ xử lý số liệu: 6. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của việc nghiên cứu - Xét về ý nghĩa khoa học: Khóa luận tốt nghiệp đã giúp tôi trao dồi thêm kinh nghiệm thực tế, sự vận dụng những kiến thức đã được học trên giảng đường vào trong quá trình thực tập, đặc biệt nâng cao khả năng nghiên cứu, khả năng tiếp cận, phân tích vấn đề cho bản thân tôi. - Xét về thực tiễn: Khóa luận tốt nghiệp đã phản ánh rõ được thực trạng đội ngũ cán bộ, giảng viên và quá trình quy hoạch cán bộ, giảng viên Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN. Đó là kết quả phản ánh của quá trình tiếp cận thực tế trong đợt thực tập tốt nghiệp của tôi, thông qua việc vận dụng những kiến thức lý thuyết đã được học trên giảng đường vào thực tiễn, sự tận tình giúp đỡ và chỉ bảo của các chuyên viên Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo để tăng thêm sự hiểu biết về lĩnh vực xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 7. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu khoa học này còn được cấu tạo gồm 3 chương: Chương 1: Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao và việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên tại Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN. Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao tại Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Sau một quá trình nghiên cứu đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội”, đến nay tôi đã hoàn thành khóa luận.

Để có được sản phẩm nghiên cứu như ngày hôm nay, tôi xin gửi lời cảm

ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Học viện, lãnh đạo Khoa Quản lý và các thầy

cô trong Khoa Quản lý đã giúp đỡ, động viên; tập thể cán bộ, giáo viên, nhânviên Trung tâm Đảm bảo chất lượng Đào tạo - Trường Đại học Khoa học Xãhội và Nhân văn - ĐHQGHN; cán bộ thư viện Học viện Quản lý giáo dục và

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luậntốt nghiệp

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới giảng viên TS NguyễnLiên Châu - người đã hướng dẫn tận tình và cho tôi nhiều ý kiến quý báutrong quá trình tôi nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do kinh nghiệm cũng như thời gian nghiêncứu còn hạn hẹp nên chắc rằng luận văn còn nhiều thiếu sót Tôi rất mongnhận được sự cảm thông, góp ý và chỉ dạy của thầy cô

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Lê Thị Hoài Mây

Trang 2

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 7

Chương 1: QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ VIỆC SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 6

1.1 Quan niệm về con người, nhân tố con người, nguồn nhân lực hay nguồn lực con người 6

1.1.1 Khái niệm con người 6

1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực hay nguồn lực con người 8

1.1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực 8

1.1.2.2 Các nhân tố tác động tới việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực 10

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao 11

1.3 Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong tư tưởng Hồ Chí Minh 20

Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀO VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN 30

2.1 Tổng quan về Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN 30

2.1.1 Tổng quan 30 2.1.2 Sơ đồ phân cấp tổ chức Trường ĐH.KHXH&NV

Trang 3

2.2 Thực trạng về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,

giảng viên Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN 33

2.2.1 Sự cần thiết về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,

giảng viên Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN 33 2.2.2 Căn cứ về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng

viên Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN 34 2.2.3 Thực trạng tình hình và kết quả nâng cao chất lượng đội

ngũ CB, GV Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN 40

2.2.3.1 Nhà trường có kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng phát

triển đội ngũ giảng viên và nhân viên; quy hoạch bổ nhiệm cán

bộ quản lí đáp ứng mục tiêu chức năng, nhiệm vụ và phù hợp

với điều kiện cụ thể của đơn vị đào tạo đại học; có quy trình,

tiêu chí tuyển dụng, bổ nhiệm rõ ràng minh bạch 40 2.2.3.2 Nhà trường có chính sách, biện pháp tạo điều kiện cho đội

ngũ cán bộ quản lý và giảng viên tham gia các hoạt động chuyên

môn, nghiệp vụ ở trong và ngoài nước 43 2.2.3.3 Đội ngũ cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức, năng lực

quản lý chuyên môn, nghiệp vụ và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

46 2.2.3.4 Nhà trường có đủ số lượng giảng viên để thực hiện

chương trình giáo dục và nghiên cứu khoa học; đạt được mục

tiêu của chiến lược phát triển giáo dục nhằm giảm tỷ lệ trung

bình sinh viên/ giảng viên 49 2.2.3.5 Đội ngũ giảng viên đảm bảo trình độ chuẩn được đào

tạo của nhà giáo dục được quy định Giảng dạy theo chuyên

môn được đào tạo; đảm bảo cơ cấu chuyên môn và trình độ

theo quy định; có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu

về nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học 50

Trang 4

2.2.3.6 Đội ngũ giảng viên được đảm bảo cân bằng về kinh

nghiệm công tác chuyên môn và trẻ hóa của đội ngũ giảng viên

theo quy định 51

2.2.3.7 Đội ngũ kỹ thuật viên, nhân viên đủ số lượng, có năng lực chuyên môn và được định kỳ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, phục có hiệu quả cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học 52

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI TRƯỜNG ĐH.KHXH&NV – ĐHQGHN 57

3.1 Ý nghĩa thực tiễn 57

3.2 Phương hướng và giải pháp 58

3.2.1 Những phương hướng cơ bản 58

3.2.2 Một số giải pháp chủ yếu 59

3.2.2.1 Giải pháp 1 59

3.2.2.3 Giải pháp 2 60

3.2.2.3 Giải pháp3 62

3.2.2.4 Giải pháp 4 62

3.2.2.5 Giải pháp 5 63

3.2.2.6 Giải pháp 6 64

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤLỤC 72

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

ĐHKHXH&NV : Đại học Khoa học xã hội và nhân vănĐHQGHN : Đại học Quốc gia Hà Nội

NCKH : Nghiên cứu Khoa học

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong suốt chiều dài lịch sử dụng nước và giữ nước của dân tộc ta đã cóbiết bao nhiêu vĩ nhân, anh hùng mà cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và nhâncách của họ tiêu biểu cho lý tưởng, ý chí, khát vọng của dân tộc và xu hướngphát triển của thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người nhưvậy “Hồ Chí Minh” - những chữ ấy đã trở thành một biểu tượng, một niềm tựhào của dân tộc ta và của nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới

Dân tộc ta sinh ra Hồ Chủ Tịch, và chính Người - Anh hùng giải phóngdân tộc, danh nhân văn hoá thế giới - người mà tổ chức Giáo dục - Khoa học

- Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đánh giá là đã “để lại dấu ấn trongquá trình phát triển của nhân loại” - đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta,non sông đất nước ta Tư tưởng và lý luận cách mạng mà Người để lại chodân tộc ta và nhân loại là một di sản vô cùng quý giá Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Tư tưởng Hồ ChíMinh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bảncủa cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạochủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triểncác giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhânloại” và “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân

ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”

Chính vì vậy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhtrở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhândân Việt Nam

Tư tưởng của Người bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn, phong phú, trong

đó vấn đề nhân lực chất lượng cao và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng caochiếm một vị trí quan trọng Người xem “vô luận việc gì đều do người làm ra

và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”. Con người là chủ thể kiến tạo nên

toàn thể xã hội, nếu là con người có đủ đức và tài thì họ sẽ làm được nhiều

Trang 7

việc có ích, và nếu những người đó tham gia vào các công việc của nhà nước,được tạo điều kiện để phát huy đạo đức và tài năng, thì họ sẽ làm được nhiềuviệc “ích quốc, lợi dân” Từ quan niệm “vô luận việc gì đều do người làm ra”,Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “cán bộ quyết định mọi việc”, “muônviệc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém Đó là chân lý nhấtđịnh” Đây là lôgic tư tưởng độc đáo, đặc sắc của Hồ Chí Minh về vấn đềnhân lực chất lượng cao và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế cũng như trong sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở thànhđộng lực chủ yếu đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước Vấn đềnày đang đặt ra cho nền giáo dục đại học Việt Nam một nhiệm vụ hết sức tolớn và cấp bách Nghị quyết Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Phát triển,nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

và coi đây là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bềnvững đất nước”

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN luôn đượcNhà nước Việt Nam coi là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học xãhội nhân văn lớn nhất của đất nước Là một cơ sở giáo dục đầu ngành trong

hệ thống trường Đại học Quốc gia Hà Nội chiếm tỷ lệ Giáo sư, Phó Giáo sư,Tiến sĩ nhiều nhất trên cả nước

Từ nhận thức một cách sâu sắc vai trò của nguồn nhân lực chất lượngcao trong xã hội nói chung và đội ngũ cán bộ giảng viên trong giáo dục đạihọc nói riêng, cùng với quá trình thực tập tốt nghiệp tại Trường Khoa học Xã

hội và Nhân văn - ĐHQGHN tôi lựa chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội”

2 Tình hình nghiên cứu

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một di sản quý báu của Đảng và nhân dân Việt

Trang 8

Nam Với tính cách nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động củaĐảng, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vềnhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng đã được nhiều học giảnghiên cứu và phân tích Đã có nhiều tác phẩm, đề tài khoa học với nhiềucách tiếp cận khác nhau về sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong tưtưởng Hồ Chí Minh.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực và nguồn nhân lựcchất lượng cao được tiếp cận thông qua nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh vềđạo đức nói chung, về đạo đức của cán bộ, đảng viên nói riêng; hoặc thông quanghiên cứu những vấn đề về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; hoặc đượcvận dụng nghiên cứu trong sự nghiệp Công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước….Nói chung, vấn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao đã được tiếpcận, nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau và cũng đã đạt được nhiều kết quảđáng ghi nhận

Tuy nhiên, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã đạt được áp dụngtrong lĩnh vực giáo dục và cụ thể về đội ngũ cán bộ, giảng viên trong cơ sởgiáo dục đại học tôi thấy việc nghiên cứu trực tiếp vận dụng những quan điểmcủa Hồ Chí Minh về nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn là vấn đềcần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu Chính vì thế, tôi đã lựa chọn đề tài nóitrên với mong muốn góp phần tìm hiểu một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thựctiễn to lớn trong công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viênTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN sau quá trình trảinghiệm thực tế qua đợt thực tập tại trường này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn

nhân lực chất lượng cao để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viênTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ

nghiên cứu được xác định là nghiên cứu, làm rõ:

Trang 9

- Các quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượngcao và việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thực trạng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường ĐH.KHXH&NV ĐHQGHN

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao vàoviệc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh vềnguồn nhân lực chất lượng cao

4.2 Khách thể nghiên cứu:

Khách thể nghiên cứu: Cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên TrườngĐại học KHXH&NV - ĐHQGHN

4.3 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi về không gian: Cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN

Phạm vi về nội dung: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viênTrường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN trên nền tảng tưtưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận và các văn bản có liên quan

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trang 10

5.3 Các phương pháp bổ trợ xử lý số liệu:

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của việc nghiên cứu

- Xét về ý nghĩa khoa học: Khóa luận tốt nghiệp đã giúp tôi trao dồi

thêm kinh nghiệm thực tế, sự vận dụng những kiến thức đã được học trêngiảng đường vào trong quá trình thực tập, đặc biệt nâng cao khả năng nghiêncứu, khả năng tiếp cận, phân tích vấn đề cho bản thân tôi

- Xét về thực tiễn: Khóa luận tốt nghiệp đã phản ánh rõ được thực trạng

đội ngũ cán bộ, giảng viên và quá trình quy hoạch cán bộ, giảng viên TrườngĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN Đó là kết quả phản ánh của quá trình tiếp cậnthực tế trong đợt thực tập tốt nghiệp của tôi, thông qua việc vận dụng nhữngkiến thức lý thuyết đã được học trên giảng đường vào thực tiễn, sự tận tìnhgiúp đỡ và chỉ bảo của các chuyên viên Trung tâm đảm bảo chất lượng đàotạo để tăng thêm sự hiểu biết về lĩnh vực xây dựng, phát triển và nâng caochất lượng nguồn nhân lực

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, bài nghiêncứu khoa học này còn được cấu tạo gồm 3 chương:

Chương 1: Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao và việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên tại Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao tại Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN.

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1:

QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA

NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ VIỆC

SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO.1.1 Quan niệm về con người, nhân tố con người, nguồn nhân lực hay

nguồn lực con người.

1.1.1 Khái niệm con người

Khái niệm con người là khái niệm gốc có tính chất bao trùm Theo quanđiểm triết học Mácxít: con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thựcthể xã hội Bản chất con người được thể hiện:

- Bản chất con người thể hiện sự thống nhất giữa “cái sinh học” và “cái

xã hội”.

“Cái sinh học” đó là những cái thiên về những yếu tố hữu sinh, hữu cơ,những cái về mặt phát sinh gắn bó với tổ tiên động vật của con người, nhữngcái làm cho con người hình thành và hoạt động như một cá thể, một hệ thốngphục tùng các quy luật sinh học

“Cái xã hội” của con người là tất cả những quan hệ, những biến đổi xuấthiện do ảnh hưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những quy định vềmặt xã hội tạo nên mỗi cá nhân con người (ý thức, tư duy, tâm lý, phẩm chấtđạo đức, năng lực…) của con người thuộc cái “cái xã hội”

“Cái sinh học” là cái có trước, là tiền đề cho sự hình thành và phát triểncủa “cái xã hội” Còn “cái xã hội” là cái quyết định, nhờ nó mà “cái sinh học”trong con người được nâng lên trên trình độ của con vật “Cái xã hội” đượchình thành và phát triển từ sự tác động qua lại giữa con người và hoàn cảnhthông qua hoạt động thực tiễn và giao lưu của con người

Trang 12

- Bản chất con người thể hiện sự thống nhất giữa “cái cá nhân” và “cái cộng đồng”.

“Cái cá nhân” là cái riêng, cái không lặp lại ở người khác, là cơ sở đểphân biệt người này với người khác

“Cái cộng đồng” là cái chung của mỗi người khi con người cùng sốngtrong một thời đại lịch sử-xã hội nhất định

- Bản chất con người thể hiện sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân loại.

Khi xã hội có giai cấp, mỗi con người đều thuộc một giai cấp nhất định,

có cùng lợi ích và bảo vệ cho lợi ích chung đó

Mỗi con người đều là con người thuộc một dân tộc nhất định mang trong

đó bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ của dân tộc đó

Khi con người tham gia giao lưu, hội nhập quốc tế, tiếp thu nền văn hóanhân loại sẽ mang tính nhân loại

- Bản chất con người thể hiện sự thống nhất giữa tính thời đại và tính lịch sử.

Con người mang tính thời đại là con người mang những đặc trưng xã hộicủa thời đại đó mà con người đang sống

Con người mang tính lịch sử là con người đang sống trong một giai đoạnlịch sử nhất định, vừa kế thừa những tinh hoa của quá khứ và những khuyếttật phản ánh những nét lạc hậu, tiêu cực của quá khứ

- Con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của lịch sử.

Con người là sản phẩm của xã hội vì suy cho đến cùng môi trường xãhội (đặc biệt là giáo dục) có vai trò chủ đạo quyết định việc đinh hướng vàphát triển nhân cách con người

Trang 13

Con người là chủ thể của lịch sử vì con người biết chủ động tác độngtrong nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan phục vụ cho mục đích củamình Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra conngười đến mức ấy.

Như vậy, có thể hiểu khái quát về bản chất con người như sau: Bản

chất con người là một chỉnh thể thống nhất biện chứng giữa các mặt: sinh học và xã hội; cá nhân và cộng đồng; tính giai cấp và tính nhân loại; tính thời đại và tính lịch sử; đồng thời con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử Như Các Mác đã chỉ ra rằng: trong tính hiện thực của nó,

bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội

1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực hay nguồn lực con người

1.1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Về khái niệm nguồn nhân lực, trước hết là khái niệm dùng để phân biệtvới các khái niệm khác trong hệ thống các nguồn lực tạo ra phát triển kinh tế -

xã hội (bao gồm vật lực, tài lực, nhân lực)

Các nguồn lực quan trọng phát triển ở nước ta hiện nay bao gồm:

- Nguồn lực con người;

- Tài nguyên thiên nhiên;

- Vị trí địa lý;

- Cơ sở vật chất và tiềm lực khoa học kỹ thuật;

- Các nguồn lực nước ngoài

Nguồn nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khácnhau, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm khácnhau về nguồn nhân lực

Trên phạm vi quốc gia, nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độtuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động Nguồn nhânlực của quốc gia phụ thuộc chặt chẽ vào việc quy định tuổi lao động củanhà nước và khả năng tham gia lao động của từng cá nhân cụ thể Để làm

Trang 14

sáng tỏ bản chất, nội dung, cấu trúc của khái niệm nguồn nhân lực cần xemxét nó trong mối quan hệ tương quan với các khái niệm “yếu tố con người”

và “nhân tố con người”

Khái niệm nhân tố con người có ý nghĩa hẹp hơn khái niệm yếu tố conngười Nhân tố con người chỉ là những đặc trưng tâm lý-xã hội trong yếu tốcon người Khi con người tham gia với tư cách là “yếu tố con người”, trởthành một tiềm năng, một điều kiện cần phát huy, tạo động lực phát triển củamột quá trình xã hội thì được coi là “nguồn nhân lực” Khái niệm nguồn lựccon người bao gồm các tiêu chí về số lượng, chất lượng con người và quản lýnguồn nhân lực; là việc cụ thể hóa khái niệm nhân tố con người Trong cácnguồn lực thì nguồn nhân lực là quan trọng nhất, quyết định nhất

Khi nói đến nguồn nhân lực, có người thường đồng nhất với sức ngườitrong sản xuất Quan niệm như thế dẫn đến ngộ nhận sức người trong sản xuấtchỉ là sức cơ bắp Nguồn nhân lực con người trước tiên thể hiện ở sức ngườitrong sản xuất, song không phải chỉ là sức cơ bắp mà là cái cốt lõi, cái chủyếu trong nguồn lực con người ở thời đại ngày nay với đặc trưng là xu thếtoàn cầu hóa, phát triển kinh tế trí thức đó chính là hàm lượng trí tuệ, trình độ,năng lực lao động sáng tạo, là những phẩm chất tâm lý của con người trongnền sản xuất hiện đại; là tập hợp chỉ số phát triển của con người, là chất lượngvăn hóa mà bản thân nó và xã hội có thể huy động cho phát triển xã hội

Như vậy, khi nói đến nguồn nhân lực là muốn đề cập đến một tài sản,một nguồn vốn-vốn người có khả năng sinh sôi, nảy nở và không ngừng pháttriển trong quá trình khai thác và sử dụng

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng định nghĩa về nguồn nhân lực

của Liên hợp quốc có tính khái quát hơn cả: “Nguồn nhân lực là tổng thể sức

dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội”1

1 Dẫn theo: Georget T.Milkovich, John W Boudreau: Quản trị nguồn nhân lực,

Nxb.Thống kê, Hà Nội, 2005, tr.21

Trang 15

Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia hay mỗi tổ chức có một số đặc điểm

cơ bản sau đây:

- Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản nhất, nó có tính quyết định

- Nguồn nhân lực chỉ được phát huy hiệu quả thông qua quá trìnhlao động

- Nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm có ảnh hưởng lớn đến quá trình tổchức, quản lý và sản xuất

Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức được cấu thành bởi bayếu tố cơ bản sau đây:

- Số lượng nguồn nhân lực là con số biểu thị sự có nhiều hay ít người laođộng đang làm việc trong nền sản xuất xã hội Số lượng người lao động cho tathấy quy mô sử dụng lao động của xã hội

- Cơ cấu nguồn nhân lực là cách tổ chức, phân bố lực lượng lao độngtrong nền sản xuất xã hội

- Chất lượng nguồn nhân lực là những yếu tố cấu thành nên những nănglực, giá trị của nguồn lực lao động ở con người trong quá trình sản xuất

Lý luận và thực tiễn phát triển xã hội ở nhiều nước, trong đó có Việt

Nam đã chỉ ra rằng trong nhiều nguồn lực, thì nguồn nhân lực có vai trò

quyết định nhất đối với phát triển kinh tế - xã hội, vì con người vừa là một

nguồn lực của phát triển, vừa là chủ thể chủ động để phát huy một nguồn lựckhác Mặt khác, do tính đặc thù lao động của con người mang tính sáng tạo vàkhông cạn kiệt, muốn có khả năng phát triển bền vững thì phải quan tâm pháttriển cả về trí tuệ, năng lực và đạo đức cho con người

1.1.2.2 Các nhân tố tác động tới việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực

Theo Từ điển tiếng Việt thì hiệu quả là “kết quả như yêu cầu của việc

làm mang lại”1 Trong cuốn Quản lý nguồn nhân lực của tác giả Paul Harsey,

Ken Blan Hard, thuật ngữ hiệu quả được hiểu một cách ngắn gọn đó là đó là

sự đạt tới của các mục đích đã được định hướng2

1 Hoàng Phê: Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2005, tr.324

2 Xem: Paul Harsey, Ken Hard: Quản lý nguồn nhân lực, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1995, tr.45

Trang 16

Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu về hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực là

sự đối chiếu các kết quả đạt được với toàn bộ nguồn nhân lực mà xã hội hay

tổ chức đã sử dụng, nhằm đánh giá mức độ đạt tới các mục đích đã đề ra

Có nhiều nhân tố tác động tới việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực,song chủ yếu vẫn là các nhân tố sau:

- Chính sách sử dụng nguồn nhân lực;

- Công tác hoạch định nguồn nhân lực;

- Công tác tuyển dụng nguồn nhân lực;

- Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực;

- Bố trí, sử dụng nguồn nhân lực;

- Chế độ đãi ngộ và khen thưởng;

- Môi trường làm việc và cơ hội thăng tiến

Trong chiến lược phát triển và sử dụng nguồn nhân lực của các quốc giahiện nay, vấn đề phát hiện, đào tạo, thu hút, trọng dụng nguồn lực chất lượngcao là then chốt và có ý nghĩa quyết định

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đãbiết có bao vĩ nhân anh hùng, mà cuộc đời, sự nghiệp tư tưởng và nhân cáchcủa họ tiêu biểu cho lý tưởng, ý chí khát vọng của dân tộc và xu hướng pháttriển của thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người như vậy

Tư tưởng và lý luận cách mạng Người để lại cho dân tộc ta và nhân loại làmột tài sản vô cùng quý giá, bao quát trên nhiều lĩnh vực, trong đó có vấn đề

về lĩnh vực nguồn nhân lực chất lượng cao Từ việc nhận thức sâu sắc vai tròcủa nhân tài trong xã hội nói chung cũng như trong sự nghiệp cách mạng nóiriêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt trân trọng và trọng dụng nguồn nhânlực chất lượng cao, đồng thời cũng xây dựng nên một hệ thống quan điểm vềviêc phát hiện đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng caonhằm đáp ứng những yêu cầu trong từng giai đoạn cách mạng

Trang 17

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia Nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh

mà hưng thịnh Nguyên khí suy thì đất nước yếu mà thấp hèn” Đoạn văn trên

do Thân Nhân Trung soạn và được khắc trên bia đá đặt tại văn miếu Quốc Tửgiám đã nói lên tầm quan trọng của nhân tài – nhân tố quyết định đến sự hưngvong của quốc gia, sự trường tồn và phát triển của dân tộc Tiếp nối và pháthuy truyền thống của cha ông, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò và

vị trí của nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp cách mạng Ngườixem “vô luận việc gì đều do người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đềuthế cả” Nếu con người làm ra tất cả, thì con người có tài năng - đức độ(nguồn nhân lực chất lượng cao) lại càng có vai trò quan trọng

Để phát hiện đúng những nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước,

đầu tiên phải hiểu rõ khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Khái niệm

nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ dùng cho tất cả những người có học vấn cao, hoặc có bằng cấp cao về mặt chuyên môn mà khái niệm này còn bao hàm nhiều đối tượng thuộc mọi tầng lớp trong xã hội, những người thực

sự tài năng trong xã hội Có thể hiểu nguồn nhân lực chất lượng cao là những người có tài năng trội hơn, có những đóng góp lớn hơn nhiều so với người bình thường trong xã hội Nguồn nhân lực chất lượng cao trước hết phải là những người có nhân cách tốt, mang đầy đủ những giá trị tốt đẹp của một xã hội nhất định, có trí thông minh, trí tuệ phát triển, có một số phẩm chất nổi bật mà ít người đó, đồng thời phải là người giàu tính sáng tạo, có những tư duy độc đáo, sắc sảo mà người thường không có, có khả năng dự báo và suy diễn tốt và giải quyết công việc nhanh, chính xác, mang lại hiệu quả cao, là người gây được ảnh hưởng lớn trong xã hội… nguồn nhân lực chất lượng cao có thể xuất hiện ở nhiều lứa tuổi, nhiều địa phương, ở các tầng lớp người trong xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận rõ tầm quan trọng của nguồn nhânlực chất lượng cao đối với tiến trình phát triển đất nước Người đã đánh giá

Trang 18

rất cao vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của lực lượng trí thức, nhân tài haycòn gọi đó là nguồn nhân lực chất lượng cao Người nói: “ Đảng và Chínhphủ ta rất quý những người trí thức của dân, vì dân” Để hiểu rõ được kháiniệm nguồn nhân lực chất lượng cao, trước hết chúng ta cần đi sâu tìm hiểukhái niệm trí thức và nhân tài.

- Thứ nhất, là về trí thức:

Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học Liên Xô thì “trí thức là một

nhóm xã hội bao gồm những người lao động trí óc phức tạp và có học vấnchuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó Sự tồn tại của trí thức với tínhcách là một nhóm xã hội đặc biệt gắn liền với sự phân công lao động xã hộigiữa lao động trí óc và lao động chân tay”1

Từ điển chủ nghĩa khoa học xã hội Việt Nam xác định: “Trí thức là một

nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm nghề lao động phức tạp và cóhọc vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó”

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt câu

hỏi “Trí thức là gì?” Trả lời câu hỏi này Người chỉ rõ: “Trí thức là hiểu biết.Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản.Khoa học tự nhiên do đó mà ra Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranhđấu xã hội Khoa học xã hội do đó mà ra Ngoài hai cái đó, không có trí thứcnào khác” 2

Trong bài Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc, Người xác định

tri thức là “những người lao động trí óc” Vậy “lao động trí óc là ai?” Câu trảlời của Hồ Chí Minh: “Là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học,văn nghệ, những người làm bàn giấy, ”3

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về

1Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, Nxb.Tiến bộ, Mátxcơva, Nxb.Sự thật, Hà Nội,

1986, tr.360.

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr 275.

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 7, tr 71

Trang 19

xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, có đoạn: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độhọc vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập,sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần vàvật chất có giá trị đối với xã hội” 1

- Thứ hai, về nhân tài:

Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học viết: “Nhân tài là người có tài

năng xuất sắc” Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “nhân tài là người có tài”.

Nhân tài là bộ phân ưu tú của trí thức Họ là những người tài giỏi, cónhững cống hiến, những công trình về lý luận, chính trị, kinh tế, khoa học, kỹthuật, công nghệ, có khả năng lãnh đạo quản lý Đó là những người học rộng,học sâu, giàu óc sáng tạo, tư duy sâu sắc, có khả năng phán đoán, dự báo tốt,làm việc độc lập, tự chủ Đó là những người có tài năng thực sự, có nhữngcống hiến cho đất nước và nhân loại 2

Từ những tìm hiểu trên có thể nhận định nguồn nhân lực chất lượng cao

là những người có phẩm chất cá nhân xuất chúng, hiệu quả công việc của học

có tác động lớn đến xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm nguồn nhân lựcchất lượng cao là những “người tài đức có thể làm những việc ích nước lợidân”, “là những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiênquyết dũng cảm nhất”3 Như vậy, với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguồn nhân lựcchất lượng cao không phải chỉ do họ có phẩm chất, năng lực gì, mà quantrọng hơn, là phẩm chất và năng lực ấy có hướng đến phục vụ lợi ích cho xãhội, cho đất nước hay không Nếu có năng lực mà không làm được nhữngviệc có lợi cho dân, cho nước, thì không đủ để được coi là nguồn nhân lựcchất lượng cao

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương

khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr 81-82

2 Nguyễn Khánh Bật: Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr 9

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 5, tr 262

Trang 20

Ở Việt Nam cũng như ở các nước khác, trong quá khứ cũng như tronghiện tại, nguồn nhân lực chất lượng cao có một vai trò rất quan trọng Chính

vì vậy, ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, chính trong lúc phải đốiphó với muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao quan điểmtrọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó nổi bật là những bài viết

về trí thức, nhân tài

Người nói: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc Ở nước khác nhưthế, ở Việt Nam càng như thế”1 Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy cái thiếulớn nhất sau khi giành chính quyền là trí thức Người chỉ rõ chương trình kiếnthiết của nước Việt Nam trước tiên là làm cho dân khỏi khổ, khỏi dốt Muốnthế thì phải ra sức tăng gia sản xuất, muốn tăng gia sản xuất và có kết quả tốtcần có tư bản, trí thức và lao động Người khẳng định: Chúng tôi có tàinguyên, dân chúng tôi cần cù chịu khó, chúng tôi đủ sức lao động Người kêugọi các nhà tư bản Pháp và các nước đầu tư vào Việt Nam làm ăn theo nguyêntắc hai bên cùng có lợi Vấn đề còn lại, cái thiếu lớn nhất lúc này là trí thức.Người còn nói: “Trí thức phục vụ nhân dân bây giờ cũng cần, kháng chiếnkiến quốc cũng cần, tiến lên xã hội chủ nghĩa càng cần, tiến lên cộng sản chủnghĩa lại càng cần”2 Chính xuất phát từ thực tế ấy chúng ta mới thấu hiểumong ước của Người có được nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đắc lựccho sự nghiệp kiến quốc

Ngày 14/11/1945, Người ra viết bài “Nhân tài và Kiến quốc”, trong đónhấn mạnh: “sau 80 năm bị bọn Pháp thực dân giày vò, nước Việt Nam ta cái

gì cũng kém cỏi, chỉ có lòng sốt sắng của dân là rất cao Nay muốn giữ vữngnền độc lập thì chúng ta phải đem hết lòng hăng hái đó vào con đường kiếnquốc Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc Kháng chiến có thắng lợi thìkiến quốc mới thành công Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mớimau thắng lợi Kiến thiết cần có nhân tài Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 5, tr 184.

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 8, tr 56, 59.

Trang 21

lắm nhưng khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngàycàng phát triển nhiều thêm”1 Trong kháng chiến cũng như trong kiến quốc,đặc biệt là trong kiến thiết ngoại giao, kinh tế, kiến thiết quân sự, kiến thiếtgiáo dục đều cần nhân tài cùng với trí thức là nguồn nhân lực chất lượng caochung tay góp sức Không có sự đóng góp tài năng và sức lực của nguồn nhânlực chất lượng cao này thì kháng chiến và kiến quốc khó thành công Chính vìvậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “đồng bào ai có tài năng và sáng kiến

về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kếhoạch rõ ràng cho Chính phủ Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách

kỹ lưỡng có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”2 Qua bài viết trên của

Hồ Chí Minh, có thể thấy, Người đã đặc biệt đánh giá cao vai trò của nguồnnhân lực chất lượng cao đối với đất nước, đồng thời cũng thể hiện rõ quanđiểm của Người cho rằng, muốn giải quyết được những vấn đề khó khăntrong bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước phải thực

sự trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, phải tạo điều kiện để đội ngũnày đóng góp tài năng của họ

Nói đến vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, Hồ Chí Minh đặcbiệt nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ Nhànước có tài, đức Công việc Nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực, có tác độngmạnh mẽ nhất đến mọi mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi phải có một đội ngũcán bộ, công chức tốt để thi hành công vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh xác địnhcán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thíchcho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúngbáo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”3 Nhưvậy, theo quan điểm của Người, người cán bộ có mối quan hệ chặt chẽ vớiNhà nước, nhân dân; là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ và quần chúng Nhiệm

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5 Nxb CTQG, HN, 2000, tr 99.

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4 Nxb CTQG, HN, 2004, tr 99.

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5 Nxb CTQG, HN, 2000, tr 269.

Trang 22

vụ của người cán bộ là truyền đạt và tổ chức nhân dân thực thi đường lối, chủtrương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, đồng thời giúp Đảng vàNhà nước nắm bắt những thông tin phản hồi từ nhân dân để qua đó Đảng vàNhà nước điều chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách Để làm được nhưvậy, người cán bộ phải là người có tài năng và phẩm chất để phổ biến, truyềnđạt cho quần chúng, được quần chúng tin cậy, gửi gắm; nếu cán bộ dở thìchính sách hay cũng không thể thực hiện được.

Qua việc xác định vai trò vô cùng quan trọng của đội ngũ cán bộ đối với

sự phát triển của cách mạng, Người khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọicông việc”, “cán bộ là tiền vốn của đoàn thể Có cán bộ mới làm ra lãi Bất cứchính sách,công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi, không cócán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”1 Xem cán bộ là “gốc”, là “vốn”, Chủtịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh cán bộ là lực lượng chủ đạo tiên phong,góp phần rất lớn đến sự thành bại của phong trào cách mạng, chính vì vậy, họphải là những người có đạo đức và tài năng

Với tinh thần như thế, Hồ Chí Minh cho rằng, Nhà nước phải tập hợpđược vào đội ngũ của mình những người tài đức, và nhân dân cũng phải giúpnhà nước chọn lọc, phát hiện và giới thiệu người tài đức tham gia các cơ quanquyền lực Chúng ta đều biết cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên của nước ViệtNam mới được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm như thế nào, và thực chất củacuộc Tổng Tuyển cử ấy đã được Hồ Chí Minh nói rõ: “Tổng tuyển cử là mộtdịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánhvác công việc nước nhà”2

Để làm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của nguồn nhân lựcchất lượng cao, chúng ta cần xem xét thêm quan điểm của Hồ Chí Minh vềmối quan hệ giữa trí thức, nhân tài và quần chúng nhân dân

Cần phải khẳng định ngay rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quần

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4 Nxb CTQG, HN, 2000, tr 46.

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4 Nxb CTQG, HN, 2004, tr 133.

Trang 23

chúng nhân dân là lực lượng có sức mạnh (tinh thần và vật chất) to lớn nhất,không ai sánh nổi Tư tưởng này của Hồ Chí Minh không chỉ bắt nguồn từquan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò sáng tạo ra lịch sử của quầnchúng nhân dân, mà còn bắt nguồn từ triết học - chính trị truyền thống củaphương Đông, và đặc biệt là từ nhận thức của Hồ Chí Minh về thực tiễn cácphong trào của quần chúng nhân dân trong quá khứ và hiện tại.

Tuy nhiên, sức mạnh to lớn của nhân dân chỉ được phát huy khi nhândân được giác ngộ và tổ chức thông qua vai trò của trí thức, của nhân tài HồChí Minh luôn quan niệm, Đảng Cộng sản Việt Nam phải là tổ chức củanhững con người ưu tú nhất, cả về đạo đức và tài năng, chẳng hạn Người đãtừng nói: “trong Đảng ta, gồm những người có tài, có đức Phần đông nhữngngười hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết, dũng cảmnhất đều ở trong Đảng ta”1, đồng thời, tài năng của các cá nhân cũng chỉ đượchoàn chỉnh khi làm nên sự nghiệp lớn, mà muốn thế, thì không thể không dựavào nhân dân Đó là phương diện thứ nhất trong quan hệ giữa trí thức, nhântài và nhân dân

Mặt khác, trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, tài năng của con người cóphần do bẩm sinh, song những tài năng có ích cho xã hội thì phần nhiều đượchun đúc, rèn luyện từ trí tuệ và kinh nghiệm của chính quần chúng nhân dânqua hàng nghìn năm lịch sử Nói cách khác, trí thức và nhân tài là từ nhân dân

mà ra Quần chúng nhân dân là kho báu nhân tài lớn nhất Hồ Chí Minh chorằng trong quần chúng nhân dân lao động tiềm ẩn một nguồn nhân lực chấtlượng cao cực kì phong phú, là kho báu nhân tài và đồng thời nhân tài nảysinh trong thực tiễn, mà quần chúng là chủ thể của thực tiễn Thực tiễn sinh ranhân tài, nhân dân nuôi dưỡng nhân tài, đó là một quan điểm cơ bản của chủnghĩa Mác - Lênin và của Hồ Chí Minh về quan hệ giữa trí thức, nhân tài và

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4 Nxb CTQG, HN, 2000, tr 133.

Trang 24

thực tiễn; trí thức, nhân tài và quần chúng Trong bài nói tại Hội nghị bấtthường Ban Chấp hành Trung ương toàn Nga năm 1919, Lênin đã chỉ ra rằng:nếu nhìn vào quãng đường mà một vị lãnh tụ cách mạng vô sản đi qua, chúng

ta lập tức phát hiện ra rằng tài tổ chức trác việt của đồng chí ấy đã được rènluyện nên trong quá trình đấu tranh lâu dài, rằng mọi phẩm chất tốt đẹp củanhà đại cách mạng có ở vị lãnh tụ cách mạng vô sản đó đều do đồng chí tự rènluyện trong môi trường cách mạng quần chúng gian khổ

Tri thức tài năng của nguồn nhân lực chất lượng cao này bắt nguồn từthực tiễn mà quần chúng nhân dân lại là chủ thể của thực tiễn xã hội Do đó,quần chúng nhân dân là cơ sở để trí thức, nhân tài ra đời và tồn tại Sự trưởngthành của trí thức và nhân tài, dù là nhân tài kiệt xuất, nhân tài vĩ đại, đềukhông tách rời khỏi kinh nghiệm thực tiễn xã hội, trí tuệ và lực lượng củaquần chúng, không tách rời sự nuôi dưỡng của nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh người học trò xuất sắc của chủ nghĩa Mác Lênin, từ sớm đã nắm bắt được quy luật đó Người tường nói: “một giây,một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng”1 HồChí Minh luôn xem trọng sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân Ngườichỉ rõ nhân dân Việt Nam không chỉ cần cù chịu khó mà còn thông minhsáng tạo, “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề đơn giản mau chóng đầy

-đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”.Chính vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng trí thức, nhân tài – nguồn nhân lựcchất lượng cao phải luôn gắn bó với quần chúng nhân dân, không thể táchrời họ Nguồn nhân lực chất lượng cao muốn phát huy hết tài năng, muốnrèn luyện bồi dưỡng cho khả năng của mình thì phải đi sâu vào phong tràoquần chúng, lắng nghe ý kiến nhân dân, nắm vững tâm tư nguyện vọng vàđiều quan trọng là phải học hỏi nhân dân Nếu có ý thức tìm hiểu nghiêm

1 Hồ Chí MINH: Toàn tập, tập 5 Nxb CTQG, HN, 2000, tr 693.

Trang 25

túc với tinh thần cầu thị thì qua các phong trào quần chúng và các cuộc tiếpxúc với nhân dân mỗi một trí thức, nhân tài sẽ có thêm kinh nghiệm và sựhiểu biết Cách học từ nhân dân là cách học tốt nhất để bồi đắp thêm tàinăng lực, phẩm chất của mình.

Và cũng theo quan niệm của Hồ Chí Minh người tài phải học hỏi quầnchúng đồng thời phải ra sức phục vụ quần chúng Người xem nguồn nhân lựcchất lượng cao - người cán bộ giỏi là “công bộc”, là “người đầy tớ trung thànhcủa nhân dân”, và “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm Việc gì có hạiđến dân ta phải hết sức tránh Ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu takính ta”1

Như vậy, Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguồn nhân lực

chất lượng cao, trước hết là những người lao động có nhân cách phát triển toàn diện, vừa hồng, vừa chuyên- vừa có đức, vừa có tài; trong đó, đức là gốc, là mục tiêu cao đẹp Đức và tài gắn bó chặt chẽ với nhau để tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao Khi người cán bộ đưa tài năng của mình hết lòng, hết sức phụng sự tổ quốc , phục vụ nhân dân, tức là có đạo đức cao cả

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4 Nxb CTQG, HN, 2000, tr 56-57.

Trang 26

hiền tài thì được thưởng; người nào có tài mà bị khuất, mà không ai tiến cử thìđược tự tiến cử Hiền tài được tiến cử và hiền tài tự tiến cử đều được vuatrọng dụng Thời Tây Sơn, vua Quang Trung đã ban “Chiếu học”, trong đókhẳng định “việc dựng nước lấy học làm đầu, trị dân lấy nhân tài làm gốc”.

Kế thừa và phát triển quan điểm của các bậc tiền nhân Theo quan điểmcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cóđúng, có tạo nên hiệu quả hay không trước hết phải phụ thuộc vào người cán

bộ lãnh đạo quản lý Người nói: “lãnh đạo khéo thì tài nhỏ có thể hoá thànhtài to, lãnh đạo không khéo thì tài to cũng hoá thành tài nhỏ” Người lãnh đạobiết “cất nhắc cán bộ phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khácthêm hăng hái Như thế công việc nhất định chạy”, “nếu vì lòng yêu ghét, vìthân thích, vì nể nang nhất định không ai phục tùng mà gây nên mối lôi thôitrong Đảng Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào” Việc sử dụngđúng đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao là trách nhiệm của các cấp lãnhđạo, bởi vì không đánh giá sử dụng đúng tài năng sẽ dẫn đến phí phạm nguồnnhân lực và đó là sự lãng phí lớn nhất của đất nước

Hồ Chí Minh chỉ ra những chứng bệnh mà người lãnh đạo quản lýthường mắc phải khi sử dụng cán bộ, đó là: “ham dùng người bà con, anh emquen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài Ham dùng những kẻnịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực Ham dùng những ngườitính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình”.Hậu quả là, khi những người kia làm bậy, làm sai, mình cũng cứ bao dung,che chở khiến cho họ càng ngày càng hư hỏng, lại tìm cách trù úm, trả thùnhững người chính trực Đó chính là những nạn “ô dù”, “che chắn”, “phecánh”, “trù dập” Làm như vậy cố nhiên “là hỏng cả công việc của Đảng,hỏng cả danh giá của người lãnh đạo” Trong sử dụng cán bộ, người lãnh đạotránh được những bệnh trên mới trở nên công tâm, chính trực, mới phát hiện,

Trang 27

bồi dưỡng và đào tạo cho cách mạng những cán bộ có đức có tài.

Theo Hồ Chí Minh, muốn dùng cán bộ đúng thì người quản lý phải cần

có “năm phải”:

Một là, “mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ mộtcách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ không bị rời bỏ”.Hai là, “phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gũi với những ngườimình không ưa”

Ba là, “phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồngchí còn kém, giúp cho họ tiến bộ”

Bốn là, “phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà cách xa cán

Để sử dụng đúng nguồn nhân lực chất lượng cao khâu quan trọng nhất làviệc đánh giá đúng tài năng, đạo đức của họ Người nói “mỗi lần xem xét lạinhân tài một mặt thì tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người

hủ hoá đã lòi ra”1 Trước khi sử dụng cán bộ, phải nhận xét, đánh giá rõ ràng:

“chẳng những xem xét công tác của họ mà còn phải xem xét cách sinh hoạtcủa họ Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ mà còn phải xemviệc làm của họ có đúng với lời nói bài viết của họ hay không? Chẳng những

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5 Nxb CTQG, HN, 2000, tr 618.

Trang 28

xem xét họ đối với ta như thế nào mà còn phải xem xét họ đối với người khácnhư thế nào Ta nhận họ tốt, còn phải xem xét số nhiều đồng chí có nhận họtốt hay không? Phải biết ưu điểm của họ mà cũng phải biết khuyết điểm củahọ”1 Người phân biệt rõ hai hạng người đối lập nhau: một là, những ngườihay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnhlệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốcmình, những người như thế tuy họ làm được việc cũng không phải là cán bộtốt; hai là, những người cứ cắm đầu vào làm việc, không ham khoe khoang,

ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ,tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng Đóthực sự là cán bộ cách mạng

Sau khi đánh giá đúng tài năng, phẩm chất của nguồn nhân lực chấtlượng cao, người lãnh đạo quản lý phải sử dụng nguồn nhân lực này một cáchhợp lý Người lãnh đạo phải làm cho mọi trí thức, nhân tài có năng lực, sởtrường, trình độ, hoàn cảnh khác nhau đều có khả năng cống hiến được nhiềunhất cho sự nghiệp cách mạng Phương châm dùng người của Hồ Chí Minh là

“tuỳ tài mà dùng người” Người nói: “Việc dùng nhân tài, ta không nên căn

cứ những điều kiện qua khắt khe tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làmviệc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy Biết dùng ngườinhư vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”2 Biết tuỳ tài mà dùng người thì sẽphát huy tối đa năng lực, trí tuệ của họ và do đó công việc sẽ thành công.Người nhận xét “thường chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng người Thí dụ:thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao.Thành thử cả hai ngườiđều lúng túng”

Cả cuộc đời làm cách mạng, trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng

và Nhà nước, với nghệ thuật dùng người của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5 Nxb CTQG, HN, 2000, tr 688.

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4 Nxb CTQG, HN, 2000, tr 39.

Trang 29

phát huy hết tài năng của mọi tầng lớp nhân dân cho cuộc kháng chiến.Trường hợp ông Phạm Khắc Hoè là một trong những trường hợp điển hìnhcho cách dùng người của Bác Phạm Khắc Hoè là một nhân sĩ, từng là Đổng

lý ngự tiền văn phòng của Triều đình Huế, nhờ sự cảm hoá, dìu dắt của HồChủ tịch mà trở thành một cán bộ quan trọng dưới chế độ mới, từng tham giacác cuộc đàm phán Pháp - Việt với tư cách là Cố vấn kiêm Tổng thư kí Đoànđại biểu Việt Nam Ông đã viết: “tôi vô cùng tự hào đã chọn con đường Bác

đã vạch ra cho toàn thể đồng bào Tôi tự thề với mình sẽ suốt đời phấn đấunoi gương Bác, cố gắng vươn lên không ngừng, hiến dâng cả tâm hồn và thểlực của mình cho Tổ quốc, cho dân tộc”1 Không chỉ Phạm Khắc Hoè, trườnghợp Giáo sư Trần Đại Nghĩa cũng là trường hợp thể hiện tài dùng người củaBác Giáo sư Trần Đại Nghĩa là một kĩ sư quân sự,một nhà khoa học lớn,cũng là một nhà quản lý khoa học kĩ thuật cấp cao Tháng 5 năm 1946, cảmđộng trước tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã theo Người từ Pháptrở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần Tháng 12 năm 1946, ôngđược Hồ Chủ tịch trực tiếp giao cho làm Cục trưởng Cục quân giới kiêm giámđốc Nha nghiên cứu quân giới, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Với tài năng củamình, gíáo sư Trần Đại Nghĩa được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng tráchtrên nhiều cương vị khác nhau như cục trưởng cục pháo binh, phó chủ nhiệmTổng Cục hậu cần, phó chủ nhiệm Tổng cục kĩ thuật, chủ nhịêm Uỷ ban Kiếnthiết cơ bản nhà nước, chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kĩ thuật nhà nước…Ông được phong quân hàm thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiênnăm 1948 Tất cả những điều đó thể hiện quan điểm “tuỳ tài mà dùng người”của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đã “tuỳ tài mà dùng người”, người lãnh đạo phải làm cho đội ngũ nguồnnhân lực của mình yên tâm công tác, vui vẻ, thoải mái làm tốt công việc, cống

1 Trần Đương: Bác Hồ với nhân sĩ thức Nxb Thanh niên, HN, 2008, tr 78.

Trang 30

hiến được nhiều nhất cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân Đểlàm được điều đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh cần thực hiện tốt các vấn đềvừa thể hiện cách lãnh đạo khéo léo vừa bộc lộ cái tâm của người lãnh đạo:

Một là, khiến cho nguồn nhân lực chất lượng cao “cả gan nói, cả gan đề

ra ý kiến” Người lãnh đạo muốn biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của mình tốthay xấu, không có gì bằng khuyên cán bộ của mình mạnh dạn đề ra ý kiến vàphê bình Như thế chẳng những không phạm gì đến uy tín của người lãnh đạo

mà lại tỏ ra thật thà dân chủ trong Đảng Nếu cán bộ không nói năng, không

đề xuất ý kiến, không phê bình thậm chí lại tâng bốc mình thế là một hiệntượng rất xấu Điều đó chưa thực sự phát huy dân chủ trong nội bộ cơ quanđơn vị

Hai là, khiến cho nguồn nhân lực chất lượng cao có gan phụ trách, có

gan làm việc Để hoàn thành công việc đòi hỏi bản thân người cán bộ phải có

đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Năng lực của con người không phải làhoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do công tác, do rèn luyện mà

có Cách lãnh đạo đúng hay sai cũng góp phần vào năng lực của họ

Ba là, không nên tự tôn, tự đại, mà phải hỏi ý kiến cấp dưới Tự cao, tự

đại là một căn bệnh trong lãnh đạo Nó không chỉ ở chỗ tự đề cao mình, tự tônmình mà còn ở chỗ tự cho mình cái quyền đã lãnh đạo là đúng hết, có quyềnnày, quyền kia Mắc chứng bệnh này thường đánh giá thấp và coi thườngngười khác Khéo dùng cán bộ thì trước hết tự bản thân người lãnh đạo phảitiêu diệt bệnh đó Nếu ý kiến của cán bộ cấp dưới đúng ta phải nghe theo,khuyên họ thường đề xuất ý kiến để nâng cao tinh thần và sáng kiến của họ.Nếu ý kiến của họ không đúng ta nên dùng thái độ thân thiết giải thích cho họhiểu, quyết không được nóng nảy, quở trách, giễu cợt họ Nếu họ phê bình ta,

ta phải vui vẻ thừa nhận, không nên tỏ vẻ bất bình để lần sau họ không dámphê bình nữa Nếu cấp dưới không yên tâm làm việc, mình phải xem xét công

Trang 31

tác lãnh đạo không đúng của mình để khắc phục và khuyên gắn cán bộ Nếu

vì công tác không hợp với năng lực, sở trường của họ thì phải tìm công việcthích hợp hơn cho họ làm

Bốn là, phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ Cất nhắc cán bộ phải xuất phát

từ yêu cầu công việc, từ phẩm chất và năng lực của cán bộ Cất nhắc đúngngười, đúng lúc, đúng việc thì làm cho cán bộ thêm hăng hái, tin tưởng vàtoàn tâm phục vụ cách mạng, mọi việc theo đó nhất định đạt hiệu quả cao “điđến nơi đến chốn” Nếu chậm trễ, cất nhắc không đúng người không đúngviệc thì người cán bộ sau này dù có được cất nhắc sử dụng song tính tích cực

ở họ đã vơi, không còn nhiệt huyết, làm cho công việc không có chất lượng,hiệu quả không cao Hồ Chí Minh cho rằng, việc “cất nhắc cán bộ phải vìcông tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái Như thế côngviệc nhất định chạy” Người lưu ý phải có cách cất nhắc cán bộ cho đúng.Theo Người cất nhắc cán bộ không nên làm như “giã gạo” Trước khi cấtnhắc không xem xét kĩ, khi cất nhắc rồi thì không giúp đỡ Khi cán bộ mắc sailầm thì hạ thấp chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên “Một cán bộ bị nhắc lênthả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời” Cất nhắc cán bộ cũng giống nhưviệc đánh giá hiệu quả công tác của cán bộ, có tác động trực tiếp đến “lòng tựtin, tự trọng” của họ Mỗi một con người, đặc biệt là người có tài, lòng tự tin,

tự trọng có vai trò hết sức quan trọng, nếu không có lòng tự trọng là mộtngười vô dụng Chính vì vậy, người lãnh đạo phải “vun trồng lòng tự tin, tựtrọng của họ”, phải đánh giá đúng cán bộ, giao công việc phải phù hợp vớikhả năng của họ, phải thường xuyên giúp đỡ, “khuyên gắn” họ, phải thườngxuyên kiểm tra, uốn nắn không để “tích tiểu thành đại”, đồng thời phải nêu rõnhững ưu điểm thành công của họ Làm thế không phải làm cho họ kiêu căng

mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức Trường hợp tướng NguyễnSơn đã thể hiện sâu sắc quan điểm trên của Hồ Chủ tịch Nguyễn Sơn là một

Trang 32

chiến sĩ cộng sản kiên định, có khí phách, có tính ngang tàng Ông đã học ởtrường quân sự Hoàng Phố, đã tham gia Vạn lý trường chinh của Hồng quânTrung Quốc, sau này là lưỡng quốc tướng quân - người duy nhất được cả ViệtNam và Trung Quốc phong hàm cấp tướng Ngày 20 tháng 1 năm 1948, tạiViệt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 111.SL phong hàm thiếutướng cho Nguyễn Sơn - khu trưởng Khu 4 Các tướng được phong lần nàycó: đồng chí Võ Nguyên Giáp được phong hàm đại tướng, Tổng chỉ huy quânđội quốc gia; đồng chí Nguyễn Bình được phong hàm trung tướng, chỉ huyquân sự miền Nam Vì đồng chí Nguyễn Sơn ở xa nên Chủ tịch Uỷ ban hànhchính liên khu 4 được uỷ nhiệm làm lễ thụ phong, nhưng không hiểu vì saoNguyễn Sơn chần chừ không nhận quân hàm thiếu tướng Nhận được tin này,suy nghĩ một lát, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy một tấm thiệp nhỏ vẫn thườngdùng, viết luôn trên giấy mấy chữ Hán:

Cái gan cần phải to lớn

(nhưng) Cái tâm thì nên tế nhị, chín chắn,

Cái trí phải suy nghĩ cho toàn diện

(và) Hành xử phải vuông vắn, ngay thẳng

Người đã trao tấm thiệp cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch và cử bác sĩ làmphái viên chính phủ từ Việt Bắc vào Khu 4 chủ trì lễ đọc sắc lệnh, trao quânhàm cho Nguyễn Sơn1 Nhận được tấm danh thiếp với mười hai chữ đề tặng

1 Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, tập 4 Nxb CTQG HN 2007, tr 186.

Trang 33

của Bác Hồ gửi cho, Nguyễn Sơn bỗng hiểu ra tất cả và từ đó ông đã cốnghiến hết mình cho cuộc kháng chiến.

Trong cách dùng người của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan tâmtới tính kế thừa giữa các thế hệ nguồn nhân lực chất lượng cao Người luônnhìn xã hội với sự phát triển, tiến hoá không ngừng, nhưng đời con người ta là

có giới hạn, ai cũng phải già, phải được nghỉ ngơi và tất nhiên phải có nguồnnhân lực kế tiếp Mỗi thế hệ nguồn nhân lực sinh ra và trưởng thành trongnhững hoàn cảnh cụ thể khác nhau mỗi người đều có những mặt tài năng vàhạn chế nhất định, tuyệt nhiên không ai giống ai Hồ Chí Minh nhắc nhở: phảithấy giới hạn khắc nghiệt của thời gian để tạo nguồn thay thế bổ sung cho tổchức những lớp người mới, đủ sức lực và tài năng đảm đương nhiệm vụ theonhững yêu cầu mới Người viết: “Đảng ta phải khéo kết hợp cán bộ già vớicán bộ trẻ Không nên coi thường cán bộ trẻ” Việc sử dụng đan xen các thế

hệ cán bộ có vai trò quan trọng trong việc phát huy hết tài năng của mọingười, không phân biệt già - trẻ Người nêu ra một số hạn chế trong việc

“khéo” kết hợp nguồn nhân lực già và nguồn nhân lực trẻ: “Một số ít cán bộgià mắc bệnh công thần, cho mình là người có công lao, hay có thái độ “chachú” với cán bộ trẻ, Đảng viên trẻ nói gì cũng gạt đi, cho là “trứng khôn hơnvịt”, “măng mọc quá tre” Thời đại của chúng ta hiện nay rất oanh liệt Xã hộithế giới phát triển rất nhanh Thế mà các đồng chí lớn tuổi lại coi thường cán

bộ trẻ là không đúng Còn cán bộ trẻ không được kiêu ngạo, phải khiêm tốnhọc hỏi các đồng chí già có kinh nghiệm”

Tiểu kết chương 1:

Là người có kiến thức uyên thâm về Nho học, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu câu nói của Mạnh Tử: “Tôn trọng, sử dụng người có tài, để họ ở vị

Trang 34

trí xứng đáng thì tài năng trong thiên hạ sẽ vui lòng phục vụ triều đình” Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự quan tâm, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ để tranh thủ tập hợp “người tài trong thiên hạ” lúc bấy giờ mà sâu xa hơn là để thế hệ sau tiếp nối cha anh họ cũng hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao là một di sản quan trọng mà Người để lại cho chúng ta Tư tưởng đó là sự kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu và phát triển sáng tạo tinh hoa nhân loại Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao có nội dung phong phú, sâu sắc và toàn diện Quan điểm, phương thức tổ chức, phát huy đức tài của nguồn nhân lực chất lượng cao, phong cách ứng xử của Hồ Chí Minh với nguồn nhân lực chất lượng cao thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam đối với Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức trong giai đoạn hiện nay.

Chương 2:

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ

Trang 35

NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀO VIỆC

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN

TẠI TRƯỜNG ĐH KHXH&NV - ĐHQGHN

2.1 Tổng quan về Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN

2.1.1 Tổng quan

Tổ chức tiền thân của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân vănthuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là Trường Đại học Văn khoa Hà Nội (thànhlập theo sắc lệnh số 45 do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 10/10/1945), tiếp đó

là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (thành lập ngày 05.06.1956) Ngày10/12/1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 97/CP thành lập Đạihọc Quốc gia Hà Nội, trong đó có Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn, được thành lập trên cơ sở các khoa xã hội của Trường Đại học Tổng hợp

Hà Nội

Trong hơn sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn luôn được nhà nước Việt Nam coi là một trung tâmđào tạo và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn lớn nhất của đất nước, cónhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học cơ bản trình độ cao, phục vụ chocông cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Thành tích về đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường được thểhiện thông qua các danh hiệu:

- Huân chương Lao động hạng Nhất năm (1981)

- Huân chương Độc lập hạng Nhất (2001)

- Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kì đổi mới (2005)

- Huân chương Hồ Chí Minh (2010)

- 10 nhà giáo được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 16 nhà giáo được

Trang 36

tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học, công nghệ

- 25 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và 56 nhàgiáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú

Trung kiên và tiên phong, chuẩn mực và sáng tạo là những giá trị truyềnthống cốt lõi của nhà trường, luôn được các thế hệ cán bộ, sinh viên giữ gìn

* Tầm nhìn đến 2020

+ Mục tiêu đến năm 2020

Xây dựng trường thành một đại học đứng đầu đất nước về khoa học xãhội và nhân văn, ngang tầm với các đại học danh tiếng trong khu vực, phục vụđắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

+ Định hướng phát triển

Tập trung xây dựng và phát triển một số ngành, chuyên ngành đạt trình

độ quốc tế trên cơ sở quốc tế hoá các chương trình đào tạo, đẩy mạnh các hoạtđộng học thuật và mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học đẳng cấpcao ở khu vực và trên thế giới

Trang 37

2.1.2 Sơ đồ phân cấp tổ chức Trường Đại học KHXH&NV

Ban thanh tra;

Trung tâm đảm bảo

chất lượng đào tạo.

TT NC Phát triển miền núi

và lưu vực sông hồng;

TT NC tôn giáo đương đại;

TT NC và phân tích chính sách;

TT hàn ngữ Seojong Hà Nội;

TT nghiệp vụ báo chí và truyền thông;

TT liên kết và đào tạo tiến

sĩ quốc tế;

Bảo tàng Nhân học.

Trang 38

2.2 Thực trạng về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN.

2.2.1 Sự cần thiết về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường ĐH.KHXH&NV- ĐHQGHN.

Trường ĐH.KHXH&NV- ĐHQGHN là một trung tâm đại học đầu tiên

và lớn nhất nước, có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học cơ bản trình

độ cao phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tinh thần tựlực, tự cường cao độ, các thế hệ cán bộ và sinh viên Nhà trường đã chủ động,sáng tạo, vượt qua khó khăn và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trịđược giao Qua gần 68 năm xây dựng và phát triển, Trường ĐH.KHXH&NV

- ĐHQGHN đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc trên nhiều lĩnh vực khácnhau Trong đó có đội ngũ cán bộ, giảng viên, chuyên viên-là đội ngũ nhânlực tạo nên những thành tích cho Nhà trường Hiện nay, đội ngũ nhân lực củatrường có những điểm mạnh sau:

Đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường hiện nay có trình độchuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu đào tạo nghiên cứu khoa học theomục tiêu sứ mệnh của trường, tạo tiền đề để xây dựng trường theo môhình đại học nghiên cứu

Nhà trường đã áp dụng nhiều hình thức đánh giá chất lượng giảng dạy:qua bảng biểu đánh giá; dự giờ của cán bộ trẻ trực tiếp hoạc gián tiếp, qua ýkiến đánh giá của sinh viên…

Tỉ lệ giữa cán bộ giảng dạy và cán bộ hành chính, phục vụ tương đốihợp lí đảm bảo được sự ổn định trong quá trình hoạt động Với từng cán bộđội ngũ khác nhau, nhà trường có những chiến lược phát triển chuyên mônriêng, các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức được nhà trường tổ chứchàng năm

Trang 39

Nguồn nhân lực thực hiện công tác thư viện có trình độ chuyên môn cao,được Đại học QGHN đầu tư, cùng với phòng tư liệu của các khoa đã và đanggóp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứukhoa học của nhà trường

Bên cạnh những điểm mạnh về nguồn nhân lực như đã nêu trên,Trường ĐH.KHXH&NV - ĐHQGHN còn gặp phải một số vấn đề tồn tại vềđội ngũ cán bộ, giảng viên đó là: Cán bộ trẻ được cử đi học của Trường còngặp nhiều khó khăn về kinh phí Số lượng giảng viên và các nhà khoa học đigiảng dạy và hợp tác nghiên cứu ở các trường đại học và cơ sở nghiên cứucủa các nước tiên tiến còn chưa nhiều Tỷ lệ đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lýđược đào tạo qua các lớp quản lý giáo dục chưa cao Vì vậy chưa phát huyđược sức mạnh tổng hợp của Nhà trường nhằm đạt đến kết quả cao hơn nữa

Tỷ lệ giảng viên/ sinh viên vẫn còn chưa đạt theo quy chuẩn của các trườngđại học tiên tiến Tỷ lệ giảng viên vừa có trình độ cao về chuyên môn, ngoạingữ giỏi còn thiếu so với yêu cầu Khoảng cách thế hệ còn tương đối rõ Độingũ cán bộ trẻ chưa đảm nhận hoàn toàn được những công việc của thế hệtrước để lại

Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ CB, GV của trường làmột vấn đề quan trọng và cấp bách cần phải thực hiện đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

2.2.2 Căn cứ về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường ĐH.KHXH&NV- ĐHQGHN

- Chiến lược của Đảng về phát triển nguồn nhân lực

Thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng đãban hành nhiều nghị quyết về nhiều lĩnh vực liên quan trực tiếp đến việcchăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Nghị quyết Trung ương

2 khóa VIII (12-1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo

Trang 40

trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã thểhiện rõ quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực Nghị quyết nêu:

“Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triểnnhanh và bền vững” Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng nhữngthế hệ con người thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội Nghị quyết xác định: Giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu; Giáo dục,đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân; Phát triểngiáo dục, đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộkhoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh; Thực hiện công bằng

xã hội trong giáo dục và đào tạo; Giữ vai trò nòng cốt của nhà trường cônglập đi đôi với đa dạng hóa các loại hình giáo dục, đào tạo, trên cơ sở Nhànước thống nhất quản lý Phát triển nguồn lực con người một cách toàn diện

về cả trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, thái độ…; Phát triển nguồn nhân lực phải là

sự quan tâm và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội bằng nhiềubiện pháp, trong đó giáo dục và đào tạo là then chốt; Mọi kế hoạch xây dựng,phát triển kinh tế - xã hội phải được đặt trong mối quan hệ không thể tách rờivới kế hoạch đầu tư cho chính sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, tình cảm,niềm vui và hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình và cả cộng đồng ViệtNam, cho xây dựng và phát triển nguồn nhân lực nhiều về số lượng, mạnh vềchất lượng

Những quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lựcthời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong Nghị quyết Trung ương 2 khóaVIII đã nhanh chóng được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách, chươngtrình, dự án, kế hoạch hằng năm và kế hoạch 5 năm nhằm thực hiện các mụctiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ nhận thức “đáp ứng yêu cầu về con

người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ

Ngày đăng: 18/08/2021, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Phạm Ngọc Anh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng đội ngũ trí thức, báo Nhân dân, ngày 20/5/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng độingũ trí thức", báo "Nhân dân
2.Nguyễn Khánh Bật: Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tìm kiếm và trọng dụng nhân tài, Tạp chí Thông tin tư liệu, số 3-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tìmkiếm và trọng dụng nhân tài", Tạp chí "Thông tin tư liệu
3.Nguyễn Khánh Bật: Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
4.Bộ Giáo dục và Đào tạo: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb."Chính trị quốc gia
Nhà XB: Nxb."Chính trị quốc gia"
5.GS.TS Hoàng Chí Bảo: Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ và giải pháp phát triển xã hội vàquản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
6.Ban khoa giáo Trung ương: Triển khai Nghị quyết Đại hội IX của Đảng trên lĩnh vực khoa giáo, Nxb. Chính Trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai Nghị quyết Đại hội IX củaĐảng trên lĩnh vực khoa giáo
Nhà XB: Nxb. Chính Trị quốc gia
7.TS. Nguyễn Liên Châu: Bài giảng “Phát triển và quản lý nhân sự trong giáo dục”, Học viện Quản lý Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và quản lý nhân sựtrong giáo dục
8.Phạm Tất Dong: Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Namtrong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
9.Trần Đương: Bác Hồ với nhân sĩ trí thức , Nxb. Thông tấn, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với nhân sĩ trí thức
Nhà XB: Nxb. Thông tấn
10.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấphành Trung ương khóa X
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại Đảng Cộng sản biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại "Đảng Cộng sản "biểutoàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
16. PGS.TS Trần Đình Huỳnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với trí thức, Tạp chí Lý luận chính trị, số 12-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với trí thức", Tạpchí "Lý luận chính trị
17.Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
18.Hồ Chí Minh: Về giáo dục và đào tạo, Nxb. Lao động-Xã hội, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb. Lao động-Xã hội
19.GS.TS Nguyễn Văn Khánh: Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệViệt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
20.Phạm Ngọc Liên: Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, Nxb. Đại học sư phạm, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp Giáo dụcvà Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Đại học sư phạm
21.Nguyễn Thắng Lợi: Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ trí thức, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7- 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xâydựng đội ngũ trí thức", Tạp chí "Xây dựng Đảng

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w