Ở Tiểu học, văn miêu tả chiếm khá nhiều thời lượng trong các thể loại Tập làm văn. (Ở lớp 4 văn miêu tả có 30 tiết, chiếm khoảng 50% thời lượng toàn bộ chương trình tập làm văn). Văn miêu tả được chia thành các kiểu bài khác nhau căn cứ vào đối tượng miêu tả. Các kiểu bài miêu tả ở lớp 4 bao gồm: tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật. Tất cả đều là các chủ đề khá gần gũi nhưng lại khó so với các em vì khả năng trình bày, diễn đạt vấn đề thông qua nói và viết đối với nhiều em là rất khó khăn, lúng túng; các em rất e ngại, sợ phải trình bày, diễn giải một vấn đề nào đó mà thầy cô, bạn bè yêu cầu. Nhiều em rất sợ, rất ngán ngẩm khi nhắc đến Tập làm văn. Bản thân các em cũng gặp nhiều khó khăn trong việc cảm nhận cái hay, cái đẹp trong các bài văn, bài thơ được học. Với mong muốn giúp các em biết diễn đạt trôi chảy, trình bày những câu văn, ý văn giàu hình ảnh, có cảm xúc, tôi đã mạnh dạn đặt vấn đề và thực hiện: “Một số kinh nghiệm dạy tốt phân môn Tập làm văn lớp 4 dạng bài miêu tả”
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Một số kinh nghiệm dạy tốt phân môn Tập làm văn lớp 4
dạng bài miêu tả
-TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Một số kinh nghiệm dạy tốt phân môn Tập làm văn lớp 4 dạng bài miêu tả
Trong chương trình giáo dục Tiểu học, Tiếng Việt là môn học chiếm vị tríquan trọng, nó có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho họcsinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động,
tương ứng với chúng là bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Thông qua việc dạy
học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học sinh những kiếnthức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của ViệtNam và nước ngoài, bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữgìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách conngười Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phân môn Tập làm văn là một phân môn có
vị trí đặc biệt trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học, nó đảm nhiệm việc hình thành
và phát triển cho học sinh kĩ năng nói và viết Đây là những kĩ năng quan trọnghàng đầu của học sinh ở bậc học đầu tiên trong nhà trường phổ thông
Ở Tiểu học, văn miêu tả chiếm khá nhiều thời lượng trong các thể loạiTập làm văn (Ở lớp 4 văn miêu tả có 30 tiết, chiếm khoảng 50% thời lượngtoàn bộ chương trình tập làm văn) Văn miêu tả được chia thành các kiểu bàikhác nhau căn cứ vào đối tượng miêu tả Các kiểu bài miêu tả ở lớp 4 bao gồm:
tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật Tất cả đều là các chủ đề khá gần gũi nhưng lạikhó so với các em vì khả năng trình bày, diễn đạt vấn đề thông qua nói và viếtđối với nhiều em là rất khó khăn, lúng túng; các em rất e ngại, sợ phải trìnhbày, diễn giải một vấn đề nào đó mà thầy cô, bạn bè yêu cầu Nhiều em rất sợ,rất ngán ngẩm khi nhắc đến Tập làm văn Bản thân các em cũng gặp nhiều khókhăn trong việc cảm nhận cái hay, cái đẹp trong các bài văn, bài thơ được học
Trang 2Với mong muốn giúp các em biết diễn đạt trôi chảy, trình bày những câu văn, ý
văn giàu hình ảnh, có cảm xúc, tôi đã mạnh dạn đặt vấn đề và thực hiện: “Một
số kinh nghiệm dạy tốt phân môn Tập làm văn lớp 4 dạng bài miêu tả”
Trong bản sáng kiến này, tôi đề xuất một số giải pháp để dạy và học tốtphân môn Tập làm văn thể loại miêu tả:
+ Rèn cho học sinh các kĩ năng xác định yêu cầu của đề, quan sát, tìm ý vàlập dàn ý
+ Cung cấp cho học sinh các kiến thức văn học, qua tiết Tập làm văn và cácmôn học khác để giúp học sinh tích lũy vốn từ miêu tả và lựa chọn từ khi miêutả
+ Hướng dẫn học sinh sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi viết văn
Để bản kinh nghiệm có thể áp dụng cần:
+ Điều kiện: Người giáo viên phải hết lòng say sưa với nghề, yêu thương,quan tâm tới học sinh Biết tôn trọng ý kiến của học sinh, gợi mở sự sáng tạocủa các em, tránh áp đặt kiến thức Tham khảo sâu rộng các tài liệu khác cóliên quan để có vốn từ giúp học sinh học tốt môn học Nhà trường đảm bảo đủtrang thiết bị, sách, vở học sinh; sách giáo viên và các phương tiện dạy học hiệnđại như máy chiếu, máy tính
+ Thời gian: Trong suốt năm học
+ Đối tượng áp dụng sáng kiến: Giáo viên Tiểu học, học sinh lớp 4,5
Áp dụng sáng kiến này, tôi thấy có tính khả thi, học sinh đã hứng thú họcphân môn Tập làm văn và đặc biệt là thể loại văn miêu tả Kết quả học tập đượcnâng lên rõ rệt Sáng kiến này có thể đưa ra áp dụng rộng rãi khi dạy và học thểloại văn miêu tả ở trường tiểu học
Trang 3MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Đất nước Việt Nam ngày càng đổi mới và phát triển Đời sống vật chất, tinhthần ngày càng nâng cao Văn hoá xã hội ngày càng có nhiều thành tựu rực rỡ.Trong công cuộc xây dựng và phát triển này, Đảng ta đã vạch ra mô hình xâydựng chủ nghĩa xã hội là để cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, vănminh Bất kì một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế, chính trị thì cần phảichú trọng đến công tác phát triển giáo dục và đào tạo Muốn phát triển giáo dụccần quan tâm đến chuẩn mực ngôn ngữ của quốc gia, muốn phát triển tốt vềngôn ngữ phải đặc biệt chú ý quan tâm đến dạy và học môn Tiếng Việt Mộttrong những mục đích dạy Tiếng Việt ở Tiểu học được xác định rõ theo vănbản dự thảo chương trình môn học do Tiểu ban Tiếng Việt (Bộ Giáo dục và
Đào tạo) biên soạn năm 1996 là: “Trang bị cho học sinh những hiểu biết ban
đầu về văn học, văn hoá, ngôn ngữ văn hoá thông qua một số sáng tác văn học
và một số loại văn bản khác của Việt Nam và thế giới, nhằm hình thành ở các
em nhu cầu thưởng thức cái đẹp, khả năng rung cảm trước cái đẹp, trước những buồn, vui, yêu, ghét của con người”
Học Tiếng Việt tốt là các em đã góp phần giữ gìn sự trong sáng của TiếngViệt, giữ gìn vốn văn hoá của dân tộc Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã hếtsức chú ý đến việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Trong phát biểu dựhội nghị “Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt về mặt từ ngữ” do viện ngôn
ngữ tổ chức từ ngày 26 đến ngày 30/10/1979, Thủ tướng nói: “Giữ gìn sự trong
sáng của Tiếng Việt và chuẩn hoá nó là để phục vụ sự phát triển của trí tuệ con người Việt Nam, sự phát triển của xã hội chủ nghĩa của chúng ta” Thủ tướng
Trang 4đã chỉ rõ ngành Giáo dục và Nhà trường phải lo, nhất là nhà trường phổ thông:
“Đúng vậy, trường học, nhất là trường phổ thông, nói chung các loại trường
khác là cái lò tốt để rèn luyện con người Việt Nam mới, XHCN về mọi mặt, ở đây là nói về viết tốt, nói tốt Đây không chỉ là vấn đề ngôn ngữ, đây còn là vấn
đề tư duy, vấn đề phong cách” (Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt về mặt từ
ngữ - NXB - KHXH, 1981)
Việc dạy các môn học nói chung và dạy môn Tiếng Việt nói riêng ở Tiểu họcđang hướng tới mục tiêu chung của giáo dục Mỗi phân môn, mỗi tiết học của
môn Tiếng Việt đều hướng đến mục đích phát triển các kĩ năng "nghe, nói,
đọc, viết " cho học sinh Trong môn Tiếng Việt, phân môn nào cũng quan trọng
một trong những phân môn góp phần rèn luyện cho học sinh sử dụng tiếng mẹ
đẻ, tạo điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày và học tốt cácmôn học khác đó là phân môn Tập làm văn Nếu như các môn học và phân mônkhác của môn Tiếng Việt cung cấp cho các em một hệ thống các kiến thức, kĩnăng thì phân môn Tập làm văn tạo điều kiện cho các em thể hiện các kiến thức
và rèn luyện các kĩ năng đó một cách linh hoạt, thực tế và hệ thống hơn Chínhnhững văn bản nói, viết mà các em có được từ phân môn Tập làm văn đã thểhiện những hiểu biết thực tế, những kĩ năng sử dụng Tiếng Việt mà các emđược học ở môn Tiếng Việt và các môn học khác
Muốn vậy ngay từ khi các em còn nhỏ cần phải trang bị và cung cấp các kiếnthức cho các em một cách đầy đủ và toàn diện, đúng đắn Đặc biệt với HS Tiểuhọc, nơi đặt nền móng cho tương lai của mỗi em HS
Nhưng hiện nay, đa số các em học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 4nói riêng đều rất sợ học phân môn Tập làm văn và không biết nói gì ? viết gì ?đặc biệt là với văn miêu tả Bên cạnh đó, học sinh Tiểu học năng lực và tư duycòn hạn chế, vốn sống còn nghèo nàn, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ chưa cao, diễnđạt ý còn rời rạc, lủng củng Ngay cả bản thân giáo viên đôi khi cũng không tựtin lắm khi dạy phân môn này so với các môn học khác
Để học sinh yêu thích phân môn Tập làm văn người giáo viên cần sử dụnglinh hoạt các phương pháp dạy học kết hợp hình thức tổ chức dạy học phù hợp
Trang 5để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức góp phần nuôi dưỡng và phát triển mốiquan tâm của các em với thiên nhiên, khêu gợi ở các em lòng yêu cái đẹp, khảnăng phát triển ngôn ngữ Muốn vậy, người giáo viên cần có những biện phápnhất định giúp giờ học đạt hiệu quả cao và giúp các em học tốt Xuất phát từnhững lí do trên tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu, vận dụng và đưa ra một số kinh
nghiệm qua đề tài: "Một số kinh nghiệm dạy tốt phân môn Tập làm văn lớp 4
dạng bài miêu tả”
2 Cơ sở lí luận của vấn đề :
Quá trình dạy học là một quá trình tư duy sáng tạo – người giáo viên là một kĩ
sư tâm hồn, hơn nữa cũng là một nhà làm nghệ thuật Việc dạy học ngày nayluôn dựa trên cơ sở phát huy tính tích cực chủ động của học sinh Chính vì thế
nó đòi hỏi người giáo viên phải luôn có sự sáng tạo, tự cải tiến phương phápdạy học của mình nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học Mỗi môn học ởTiểu học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cung cấp chotrẻ những kiến thức cần thiết Trong môn Tiếng Việt, phân môn Tập làm văn ởTiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng trong học tập và trong thực tiễn cuộcsống Từ đó nâng cao năng lực cảm nhận diễn ra ở mỗi cá nhân, tạo điều kiệncho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày để học tốt các môn học khác.Phân môn Tập làm văn theo các hình thức đơn, thư, báo cáo thuyết trình, kểchuyện, miêu tả, học sinh có khả năng vận dụng thuần thục và để thể hiện kiếnthức, những hiểu biết thực tế, kĩ năng sử dụng Tiếng Việt mà các em đã đượchọc ở phân môn Tập làm văn và các môn học khác Từ đó các em ý thức hơntrong việc học Tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Tuy nhiênmôn Tập làm văn là một môn học khó, đòi hỏi học sinh phải kiên trì, ham họchỏi, có vốn sống, óc tưởng tượng phong phú, đáp ứng yêu cầu phát triển ngàycàng cao của xã hội Yêu cầu phân môn Tập làm văn đòi hỏi học sinh Tiểu họcsau khi hoàn thành chương trình có khả năng diễn đạt một vấn đề trôi chảy, nói,viết thành câu gãy gọn, rõ ý, viết được những câu văn miêu tả, diễn đạt ý nghĩa,tình cảm bằng những kiểu câu phức tạp đúng và hay, có giá trị gợi tả, gợi cảm.Tiến tới viết đoạn văn, bài văn hay, có tính lôgíc, chân thực, giàu hình ảnh Để
Trang 6đáp ứng yêu cầu đó không chỉ có sự nỗ lực của giáo viên mà còn phụ thuộc rấtnhiều vào học sinh Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quantrọng của môn Tiếng Việt Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh tạo lập vănbản, góp phần dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt Đểlàm được một bài văn không những học sinh phải sử dụng cả bốn kỹ năng:nghe - nói - đọc - viết mà còn phải vận dụng các kỹ năng về Tiếng Việt, về cuộc sống thực tiễn Vì vậy Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp, có liênquan mật thiết đến các môn học khác.
Trong quá trình dạy một tiết Tập làm văn, để đạt mục tiêu đề ra ngoàiphương pháp của thầy, học sinh cần phải có vốn kiến thức ngôn ngữ về đờisống thực tế, khả năng nói và viết phải trôi chảy, lưu loát rõ ràng để người nghehiểu được nội dung mình cần nói, cần viết Đó chính là yêu cầu cần đạt trongviệc rèn luỵên khả năng giao tiếp và góp phần đắc lực vào việc giữ gìn, pháthuy sự trong sáng của Tiếng Việt và hình thành nhân cách con người ViệtNam
3 Thực trạng của vấn đề
3.1 Về phía giáo viên
Qua thực tế giảng dạy và dự giờ thăm lớp, tôi thấy nhiều giáo viên đã mạnhdạn đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các môn học nói chung và phân mônTập làm văn nói riêng Tuy nhiên một số giáo viên còn yêu thích phương pháp
cũ nghĩa là cho học sinh học nhiều, nhớ nhiều để bắt chước rồi làm văn Vớimột số giáo viên do lựa chọn phương pháp dạy học không thích hợp, chưa vậndụng thành công phương pháp dạy học tích cực, học sinh còn bị đặt ở thế thụđộng lĩnh hội tri thức nên giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác chưa sâuphần kiến thức văn bản thuộc yêu cầu của bài học Ví dụ có bài học, bài đọcđưa ra chỉ nhằm giúp học sinh biết kết cấu 3 phần của bài văn, có bài chỉ yêucầu học sinh xác định vai trò của các câu mở đoạn có bài chỉ xác định trình tựmiêu tả trong đoạn Nhưng giáo viên lại để học sinh sa đà tìm hiểu, khai tháctất cả những nội dung kiến thức có trong đoạn văn, bài văn đó, khiến giờ học
Trang 7nặng nề về kiến thức, không đảm bảo được thời gian cho phép của tiết học Kếtquả giờ dạy chưa cao, chưa phát huy hết khả năng sáng tạo của học sinh
Đại đa số giáo viên đều dạy học sinh quan sát tìm ý một cách đại khái, cácchỉ dẫn về phương pháp giảng dạy còn sơ lược, kinh nghiệm giảng dạy củagiáo viên về quan sát tìm ý chưa nhiều dẫn đến học sinh gặp vướng mắc trongnhững bài quan sát tìm ý của văn miêu tả
3.2 Về phía học sinh
- Do khả năng tư duy của học sinh Tiểu học còn dừng lại ở mức độ tư duyđơn giản trực quan nên việc làm văn của học sinh còn gặp nhiều khó khăn.Chất lượng cảm thụ văn học của học sinh chưa đồng đều dẫn đến chất lượnglàm văn chưa cao
- Sự hướng dẫn của sách giáo khoa chưa thật cụ thể, chưa dễ hiểu Sách giáokhoa chưa có nhiều đoạn văn mẫu phù hợp với địa phương để giới thiệu chohọc sinh tham khảo
Qua thực tế giảng dạy lớp 4, tôi thấy chất lượng học môn Tập làm văn củahọc sinh chưa cao Chỉ được một số ít học sinh biết viết văn có bộc lộ trí tuệ vàcảm xúc Còn lại phần lớn các bài văn miêu tả của các em có bố cục chưa cânđối, mang tính liệt kê các chi tiết, bộ phận một cách đơn giản Trình tự tả chưahợp lý, chọn lọc chi tiết chưa tiêu biểu, đặc sắc, thiếu hình ảnh, diễn đạt chưamạch lạc Đặc biệt là học sinh chưa nói, viết theo cách cảm, cách nghĩ củamình
Cuối học kì I năm học 2015 – 2016, nhà trường tổ chức kiểm tra định kì đốivới học sinh khối 4 phân môn Tập làm văn có đề bài như sau :
“ Hãy tả chiếc cặp sách của em hoặc của bạn em”.
Lớp 4B của tôi có 30 học sinh , kết quả bài làm văn thu được là:
Số HS
HS đạtđiểm giỏi
HS đạt điểmkhá
HS đạt điểmTB
HS đạt điểmyếu
Trang 8
Nhìn vào bảng thống kê số liệu ta thấy số học sinh đạt điểm trung bình vàyếu còn ở mức cao và thực tế cho thấy các em chưa nắm được cách viết vănmiêu tả đồ vật, nhiều em chỉ nêu được một đến hai bộ phận, đồ vật cần tả, có
em lại chỉ nêu theo ngẫu hứng tự do, không theo một trình tự nhất định, bài vănkhông có hình ảnh, các em không biết sử dụng biện pháp nghệ thuật khi miêu
tả, lời lẽ khô khan dẫn đến kết quả học tập chưa được như mong muốn
4 Các biện pháp thực hiện
Miêu tả là dùng từ ngữ để vẽ lại các chi tiết, đặc điểm của sự việc, hiện
tượng, con người một cách sinh động cụ thể và bất kỳ một hiện tượng nàotrong thực tế khách quan cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả Vănmiêu tả là loại văn giàu cảm xúc, những rung động, những nhận xét tinh tế, dồidào sức sáng tạo nhằm mục đích thông báo thẩm mỹ Người đọc qua văn bảnmỉêu tả nhận thức thực tế khách quan chủ yếu bằng những cảm xúc, nhữngrung động mạnh mẽ của tâm hồn
Do vậy khi viết văn miêu tả người viết phải có kĩ năng và vốn từ để viết đượcnhững câu văn, đoạn văn, bài văn miêu tả giàu hình ảnh, có nội dung hấp dẫn
Từ những vấn đề trên, để giúp học sinh yêu thích và có hứng thú trong việchọc và viết văn đặc biệt là văn miêu tả, tôi đã nghiên cứu và đưa ra một số kinhnghiệm giúp học sinh học tốt phân môn Tập làm văn như sau:
4.1.Xác định yêu cầu của đề bài
Đa số các em biết nhận diện đặc điểm thể loại văn, biết xác định yêu cầu của
đề bài nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số em còn nhầm lẫn khi xác định yêucầu của đề bài đưa ra Do vậy với mỗi đề bài đưa ra tôi luôn giúp các em địnhhướng đúng yêu cầu của đề bằng cách đọc kĩ và xác định các từ ngữ trọng tâmcủa đề bài Dựa vào đó yêu cầu các em nêu được (Đề bài thuộc thể loại gì? Nộidung đề bài văn tả gì? Ở đâu? Trọng tâm? )
Ví dụ: Khi đọc các đề bài sau, yêu cầu đầu tiên của tôi là học sinh phải biết
phân tích đề, xác định được nội dung trọng tâm của đề bằng cách gạch chândưới các từ ngữ quan trọng của đề bài
Trang 9Đề 1: “ Tả một quyển vở mà em thích”: học sinh biết gạch chân một số từquan trọng và biết chọn bất kì quyển vở nào mà mình thích để tả.
Đề 2: “ Tả quyển sách Tiếng Việt”: học sinh phải biết chỉ được tả quyển sáchTiếng Việt
Đề 3: “Tả một cây bóng mát ở sân trường em” Với đề bài này các em cần xácđịnh đúng tả cây bóng mát chứ không phải cây hoa hay cây ăn quả và cây bóngmát mà định tả được trồng ở sân trường chứ không phải ở một nơi nào khác
Đề 4: “Tả một cây bóng mát mà em yêu thích” Với đề bài này các em có thểchọn bất kì cây bóng mát nào, được trồng bất kì ở đâu mà mình thích để tả chứkhông nhất thiết phải là cây được trồng ở sân trường như đề bài số 3
Đề 5: “Tả một con vật nuôi trong gia đình” Với đề bài này các em cần xácđịnh được đối tượng cần tả là một con vật được nuôi nhiều ở các gia đình chứkhông phải tả các con vật em thích ở bất kì đâu,
Đề 6: “Tả một con vật mà em yêu thích” Với đề bài này các em có thể chọnbất kì con vật nào mà em thích ví dụ như chó, mèo, khỉ, công, sư tử, chứkhông hạn hẹp phạm vi như trong đề số 5
Yêu cầu các em xác định đúng yêu cầu của đề là đã rèn cho các em thói quenđọc kĩ đề bài mà trước đó thói quen này ở một số em chưa có Khi đọc kĩ yêucầu các em đã xác định đúng được đối tượng và nội dung cần miêu tả để không
bị lạc hướng
4.2 Quan sát, tìm ý
Đây là một bước quan trọng để giúp các em có kiến thức để làm tốt bài văn.Giáo viên cần giúp cho học sinh biết quan sát một cách khoa học có địnhhướng, biết quan sát bằng nhiều giác quan để miêu tả cho sinh động hấp dẫn
Cần cho học sinh hiểu tầm quan trọng của quan sát là:
+ Tìm ra công dụng, cấu tạo của sự vật, đặc điểm, tính chất của hiện tượng.+ Tìm ra màu sắc, âm thanh, hình ảnh tiêu biểu và cảm xúc của người đối với
sự vật
+ Quan sát bằng nhiều giác quan:
Trang 10- Quan sát bằng mắt: nhận ra màu sắc, hình khối, sự vật.
- Quan sát bằng tai: âm thanh nhịp điệu gợi cảm xúc
- Quan sát bằng mũi: những mùi vị tác động đến tình cảm
- Quan sát bằng vị giác và xúc giác: quan sát cảm nhận
Nhờ cách quan sát này mà các em ghi nhận được nhiều ý, giúp cho bài văn
đa dạng, phong phú, hấp dẫn hơn Khi hướng dẫn các em quan sát cần giúp các
em quan sát tỉ mỉ nhiều lượt: Muốn tìm ý cho bài văn học sinh phải quan sát kỹ,quan sát nhiều lần Giáo viên định hướng cho học sinh để các em xác định rõtrình tự quan sát và biết chọn lựa các trình tự quan sát khác nhau:
* Ví dụ:
- Trình tự không gian: Quan sát từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên Từtrái sang phải hay từ ngoài vào trong, từ bao quát đến chi tiết,
- Trình tự thời gian: Quan sát từ sáng đến tối, từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc
- Trình tự tâm lý: Thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân, gây cảm xúc thì quansát trước
Giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm được những nét tiêu biểu của sự vật.Không cần dàn đủ chi tiết về sự vật, chỉ cần ghi chép lại những đặc điểm màmình cảm nhận sâu sắc nhất thu hút mình nhất để từ đó học sinh có cảm xúckhi viết giúp học sinh dễ dàng tìm từ, chọn ý và giúp học sinh miêu tả sinhđộng và hấp dẫn
Quan sát tìm ý có thể được hướng dẫn và trình bày dưới nhiều hình thức khácnhau tùy theo nội dung từng bài Nhưng học sinh phải tự làm việc, tự quan sát,
tự ghi chép là chính Giáo viên có thể gợi ý giúp các em phát hiện ra những nétđặc sắc Đối với đối tượng là học sinh khá giỏi giáo viên để cho các em tự thảoluận suy nghĩ và viết ra các ý mà mình quan sát được
Trang 11- Lá xanh, mép lá có viền răng cưa (2)
- Cánh hoa đỏ thắm, mịn như nhung (2)
- Sương đọng long lanh trên những cánh hoa (2)
- Hương thơm thoang thoảng (2)
- Ong bướm bay rập rờn (2)
- Yêu thích, tưới nước, bắt sâu (3)
- Cái mũ xinh xinh màu hồng (2)
- Đôi mắt trong xanh (2)
- Mỗi lần nó đi lại phát ra những bản nhạc (2)
- Đôi lúc nó xoay tròn, cái đầu lắc lư, đôi mắt chớp chớp (2)
- Nó dễ thương và rất đáng yêu (3)
Từ những điều các em quan sát được giáo viên sẽ giúp các em dựa vào đó đểphát triển thành bài văn có hình ảnh có cảm xúc với những từ ngữ, câu vănmiêu tả sinh động hấp dẫn
Với đối tượng là học sinh kĩ năng làm văn còn hạn chế tôi đã sử dụng hệthống câu hỏi để kích thích và định hướng cho học sinh phát triển ý Ở đây cầnlưu ý câu hỏi phải có tính chất gợi mở, hướng đến việc khơi gợi sự quan tâm vàkinh nghiệm riêng của các em
Ví dụ: Học sinh quan sát “Cây hoa hồng nhung” giáo viên có thể hỏi:
+ Em thấy màu sắc hoa hồng như thế nào?
+ Khi dùng tay sờ vào thân cây em cảm thấy thế nào?
+ Quan sát quanh mép lá em thấy lá hoa hồng có điểm gì đặc biệt?
+ Em có yêu thích công viêc chăm sóc hoa không?
Khi hướng dẫn các em quan sát phải tìm được những nét riêng tiêu biểucủa sự vật Chỉ cần chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhận sâu sắc nhất
Trang 12không thống kê tỉ mỉ mọi chi tiết về sự vật Để làm được bài văn đúng yêu cầu
của đề bài, quá trình quan sát không thể dàn đều mà phải tìm ra trọng tâm đểtìm hiểu kỹ Trọng tâm quan sát thường là nét chính của bài văn nêu bật chủ đềtheo dụng ý của người viết Có như vậy bài viết mới tránh khỏi dàn trải, nhạtnhẽo, lan man xa đề
Khi định hướng quan sát cần giúp học sinh có hứng thú say mê, từ đó bộc
lộ được cảm xúc của bản thân trước đối tượng quan sát Có hứng thú, cảm xúc,học sinh mới dễ dàng tìm từ, chọn ý giúp cho việc diễn tả sinh động và hấpdẫn
4.3 Lập dàn ý chi tiết
Chương trình Tập làm văn lớp 4 không có tiết riêng lập dàn ý chi tiết nên tôihướng dẫn học sinh dựa vào dàn bài chung để đánh số thứ tự cho các ý tìmđược từ đó sẽ diễn đạt thành dàn ý chi tiết Tôi cũng lưu ý cho học sinh về trình
tự chung của thể loại văn đang làm và hướng dẫn có tính chất mở
Đối với loại văn miêu tả thì lưu ý học sinh những chi tiết nào có ý giới thiệuchung thì nói trước, ý nào miêu tả chi tiết cụ thể thì nói sau
Tuy nhiên tôi luôn rèn cho học sinh hiểu trong những ý chung hoặc trongnhững ý cụ thể đó vấn đề nào đưa vào trước cũng được, miễn là phải đảm bảo
đủ các nội dung cần diễn tả, sắp xếp sao cho hợp lí hài hoà Tránh lối áp đặtnhư là cho sẵn một trật tự chi tiết cố định làm cho bài văn khô khan
* Ví dụ1: Từ phần tìm ý vừa ghi được và dàn bài chung của văn miêu tả, học
sinh thảo luận nhóm tự lập dàn ý chi tiết tả cây hoa hồng Những từ ngữ đánhdấu số (1) nằm trong phần mở bài, số (2) nằm trong phần thân bài, số (3) nằmtrong phần kết bài
Trang 13- Thân khẳng khiu bằng chiếc đũa ăn cơm.
* Tả chi tiết:
- Cành đâm tua tủa, có nhiều gai nhọn như những chàng vệ sĩ
- Lá hình bầu dục, lá non màu tim tím, lá già màu xanh đậm, mép có viềnrăng cưa
- Nụ màu xanh ngọc bích, bằng đầu ngón tay út của em
- Hoa mới nở to bằng chén uống trà, như ông mặt trời đỏ thắm
- Cánh hoa đỏ tươi, mỏng mịn như nhung xếp chồng lên nhau
- Hương thơm thoang thoảng quyến rũ ong bướm
c Kết bài: Nêu cảm nghĩ: Yêu thích, tỉa lá, tưới nước để cây luôn xanh tốt
Từ dàn ý chi tiết, học sinh có thể vận dụng thêm một số từ ngữ, hình ảnh gợicảm xúc để viết thành bài văn hoàn chỉnh một cách khá dễ dàng
* Ví dụ2:
a Mở bài: Đồ chơi mà em thích nhất là con búp bê mẹ mới mua cho em
b Thân bài:
* Tả bao quát
- Nó rất dễ thương, nó vừa đi được lại bò được
- Đầu nó quay được sang trái sang phải
- Nó mặc bộ váy trông rất lộng lẫy
* Tả chi tiết
- Mái tóc vàng, đôi má ửng hồng, môi đỏ, hai mắt trong xanh màu ngọcbích
- Cái mũ xinh xinh màu hồng đội trên mái tóc vàng óng
- Mỗi lần em bấm nút cho nó đi, nó đi lại phát ra những bản nhạc
- Đôi lúc nó xoay tròn, cái đầu lắc lư, đôi mắt chớp chớp nhìn em
c Kết bài
- Nó dễ thương và rất đáng yêu Mỗi lần đi ngủ, em lại bế nó vào lòng
Từ việc quan sát, tìm ý và lập được dàn ý chi tiết trên, tôi sử dụng hình thứcthảo luận nhóm, cho học sinh thảo luận nhóm để chốt lại được: Khi quan sát
Trang 14cần chú ý những gì? Dùng những giác quan nào để quan sát? Ghi lại các chi tiết
đó như thế nào? để giúp các em có thói quen trong các tiết học tiếp theo
* Tóm lại: Giáo viên cần giúp học sinh thấy được muốn miêu tả cây cối, đồ
vật, con vật, phải quan sát một cách tỉ mỉ và theo một trình tự hợp lý Khiquan sát cần sử dụng nhiều giác quan Cần tìm ra đặc điểm riêng của đồ vật,cây cối, phân biệt đồ vật, cây cối, với những đồ vật, cây cối, cùng loại Ví
dụ như cùng là quan sát gấu bông nhưng có con bộ lông màu đỏ, có con bộlông màu nâu, có con mũi đỏ, có con mũi đen, Cùng là quan sát con mèo cócon mèo vàng, có con mèo đen, có con mèo tam thể, rồi lập thành dàn ý chitiết để chuẩn bị cho nội dung tiếp theo
Với biện pháp trên, học sinh biết vận dụng lý thuyết văn miêu tả để viết mộtbài văn tả một cây, một đồ vật, có bố cục rõ ràng, các phần đủ ý để bài vănhài hòa, hợp lí
4.4 Cung cấp các kiến thức văn học.
Từ ngữ là nhân tố cơ bản để xây dựng câu văn, đoạn văn, bài văn Nó có một
vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Hiểu, sử dụng đúng, sử dụng hay mới cóthể diễn đạt và diễn đạt tốt nội dung, ý kiến của mình Vậy mà vốn từ của các
em rất ít Điều này khiến tôi suy nghĩ rất nhiều Những kiến thức lơ mơ, thiếuvốn từ làm thế nào có thể viết văn hay được Bằng mọi cách phải bổ sung vàovốn từ ít ỏi của các em bằng sự phong phú của tiếng Việt Cách làm nhanh nhất
là thông qua môn Tập đọc Tôi cho các em nêu và tập giải nghĩa tất cả những từngữ mà các em chưa hiểu, sau đó tôi chốt lại một từ yêu cầu các em ghi vào “sổtừ”, tập đặt câu để hiểu chắc chắn, biến từ đó thực sự là vốn từ của mình
Ví dụ: Ở bài Đường đi Sa Pa ( Tiếng Việt lớp 4 tập 2 - trang 102), tôi yêu
cầu các em sau giờ học phải bổ sung vào vốn từ của mình các từ ngữ và hìnhảnh
- Trắng xóa tựa mây trời,
- Lướt thướt liễu rủ
- Bồng bềnh huyền ảo
Trang 15Bài Con chuồn chuồn nước ( Tiếng Việt lớp 4 tập 2 trang 127).
- Từ: Long lanh, nhỏ xíu, mênh mông, thung thăng, cao vút
- Đặt câu: + Thân đa cao vút, đỉnh chót vót giữa trời xanh
+ Trời xuân trải sắc xanh trên biển lúa mênh mông
Vậy qua môn Tập đọc học sinh tích lũy được “vốn liếng” từ không hề nhỏ Ngoài ra, cuối mỗi tiết Tập đọc, tôi thường cho học sinh tìm những câu văn haytrong bài, những câu văn mang tính nghệ thuật cao để các em đưa vào văn bảncủa mình
Ví dụ: Cá thu Biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
( Đoàn thuyền đánh cá)
Con đen huyền, con trắng tuyết, con đỏ son, chân dịu dàng chùm đuôi conglướt thướt liễu rủ
( Đường đi Sa Pa)
Ví dụ: Qua bài tập đọc “Sầu riêng” tôi sẽ nhấn mạnh cho học sinh những từ
ngữ miêu tả hình dáng thân cây sầu riêng: “khẳng khiu”, “cao vút”, “thẳngđuột”… Từ đó học sinh có thể vận dụng những từ ngữ này khi miêu tả nhữngloại cây khác
* Ví dụ: Qua bài “Hoa học trò” tôi giúp học sinh ra màu sắc của lá phượng
qua các từ ngữ “xanh um, mát rượi” rồi màu sắc của hoa phượng thay đổi theothời gian “đỏ còn non, tươi dịu, đậm dần, hoà với mặt trời chói lọi”
*Ví dụ: Trong bài tập đọc “Con sẻ” học sinh sẽ nhận ra một số từ ngữ giàu
hình ảnh dùng để miêu tả con vật như “vàng óng”, “nhúm lông tơ”, “lông dựngngược”, “mõm há rộng đầy răng”…
Một hình ảnh sống động sẽ giúp bài viết miêu tả có được sự chú ý, thích thú
từ người đọc Vì thế tôi luôn giúp học sinh có thói quen sử dụng hình ảnh trongthể loại miêu tả, việc dùng hình ảnh này giúp chúng ta nhìn sự vật bằng một cáinhìn mới, tuy nhiên cũng cần tránh lạm dụng việc sử dụng hình ảnh
Cùng với phân môn Tập đọc, phân môn Luyện từ và câu cũng góp phần làmgiàu vốn từ ngữ cho học sinh Việc tổ chức trò chơi cũng là một biện pháp sinh
Trang 16động để học sinh bồi dưỡng vốn từ.
* Ví dụ: Tìm các từ tả màu của lá cây,
Với yêu cầu này, học sinh được thả sức suy nghĩ và tìm kiếm huy động óc tưduy và vốn thực tế của mình để đưa ra các từ sao cho đúng với yêu cầu, qua đó
bổ sung vào vốn từ của các em khi làm văn để chọn lọc được từ ngữ phù hợpvới cây mình miêu tả Chẳng hạn: cây rau thì xanh mơn mởn; cây hoa hồng thìxanh đậm; lá bàng mới nảy thì xanh non,
4.5 Cách sử dụng biện pháp nghệ thuật khi viết văn.
Muốn bài văn hay thì trong bài văn không thể thiếu tính nghệ thuật Học sinhlớp 4 kiến thức về lĩnh vực này còn hiểu lơ mơ, hời hợt Nếu giáo viên khôngdạy, học sinh khó mà nắm bắt được Để đưa nghệ thuật vào trong văn có rấtnhiều biện pháp Nhưng theo tôi, đối với học sinh ở lứa tuổi này, hai biện phápnghệ thuật phù hợp nhất là so sánh và nhân hóa
- Hoa cẩm chướng như ngôi sao trên vòm trời xanh lục
- Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ Hàng ngànbông hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng tươi Hàng ngàn búp nõn là hàng ngànngọn nến trong xanh
- Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn
- Cánh hoa nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con
- Những tán hoa lớn xòe ra như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau
- Với những cánh tay quều quào xoè rộng, nó như con quái vật già nua cau có
và khinh khỉnh giữa đám bạch dương tươi cười
Trang 17- Dáng mọc của lộc rất lạ, thẳng đứng trên cành, như thể đêm qua có ai đó thảhàng vạn búp lá nhỏ xíu từ trên trời xanh biếc chi chít cành và xoay thànhnhững tán tròn quanh thân cây
Với những câu văn này tôi sẽ giới thiệu để các em nắm chắc được biện pháp
so sánh bằng cách sau:
Ví dụ: Câu “Bông hướng dương như vầng mặt trời vãi tung toé những tia
nắng vàng rực rỡ” Tôi phân tích cách sử dụng biện pháp so sánh, tác giả lấyhình ảnh mặt trời để tả bông hướng dương
Để thấy được tính ưu việt của biện pháp nghệ thuật này tôi lấy một câu khác
để mô tả bông hướng dương
“Bông hướng dương rất to, màu vàng, có rất nhiều cánh nhỏ” Và yêu cầuhọc sinh nhận xét xem câu nào hay hơn Dĩ nhiên là câu thứ nhất, 100% họcsinh được hỏi đều trả lời như vậy “Hay hơn vì sao?” Các em trả lời: “Vì sửdụng biện pháp nghệ thuật so sánh” Muốn các em vững vàng hơn về cách sosánh tôi lại đưa ra một câu văn nữa “Bông hướng dương như chiếc đĩa màuvàng.”
Yêu cầu học sinh nhận xét, so sánh với câu thứ nhất Khi các em khẳng địnhcâu thứ ba không hay bằng câu đầu, tôi đặt câu hỏi:
“Tại sao cả hai câu đều sử dụng biện pháp so sánh mà câu đầu lại hay hơn?”
và giải thích “ở câu thứ nhất, tác giả dùng hình ảnh mặt trời đang toả nắng” mộthình ảnh đẹp, sinh động và rất độc đáo để so sánh, vì vậy đã làm cho bônghướng dương tươi đẹp hẳn lên Còn câu thứ ba so sánh với cái đĩa có đặc điểmgiống bông hướng dương song đơn điệu và giảm đi giá trị vẻ đẹp của bông hoa
Từ đó giúp học sinh hình thành sự hiểu biết Khi so sánh muốn làm cho một sựvật đẹp hơn phải so sánh với sự vật khác giống nhưng đẹp hơn, có những nétđộc đáo, nổi bật hơn và ngược lại
Việc này học sinh phải được luyện tập thường xuyên, vì nếu không luyện tậpthì các kiến thức đó cũng mai một dần Sau đây là một vài dạng bài tập mà tôi
đã xây dựng trong tiết “Luyện tập xây dựng đoạn văn”:
Dạng 1: Nhận xét những hình ảnh so sánh trong đoạn văn, câu văn.