1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số phương pháp dạy bảng nhân chia môn toán lớp 3

20 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 206,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó thuộc các bảng nhân, chia 6,7, 8, 9 là kĩ năng quan trọng nhất mà tất cả học sinh phải nắm vững thì mới tiếp tục học tốt được các nội dung kiến thức trong Toán 3. Xác định được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của vấn đề, trong năm học 2014 – 2015 tôi đã quyết định đi sâu nghiên cứu “Một số biện pháp dạy bảng nhân, chia lớp 3” nhằm nâng cao chất lượng, giúp học sinh học tốt hơn bảng nhân, chia 6,7, 8, 9 ở lớp 3. Qua quá trình nghiên cứu, thực hiện sáng kiến và vận dụng các biện pháp mới trong việc dạy học môn Toán ở lớp chủ nhiệm và phổ biến tới các đồng nghiệp thực hiện trong toàn khối, chúng tôi nhận được kết quả rất khả quan. Qua các tiết dự giờ của đồng nghiệp trong khối, tôi thấy khả tính toán nhân, chia của các em tiến bộ vượt trội. Nhiều em giơ tay xin được nói trước lớp, kĩ năng diễn đạt cũng tốt hơn, các em cũng rất mạnh dạn khi nhận xét và chỉ ra lỗi của bạn. Qua các đợt kiểm tra bài làm của các em có chất lượng cao hơn. Bản thân giáo viên không thấy mệt, căng thẳng khi dạy học.

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Một số biện pháp dạy bảng nhân, chia lớp 3

TÓM TẮT SÁNG KIẾN Môn Toán là một trong những môn học được tất cả mọi cấp học đều quan

tâm Với học sinh tiểu học, môn toán có vai trò quan trọng trong thực tiễn cuộc sống, giúp học sinh học các môn khác tốt hơn

Căn cứ vào trình độ nhận thức toán học của học sinh tiểu học về đặc điểm phát triển chương trình tiểu học ở Việt Nam đầu thế kỉ XXI Việc dạy học toán

ở bậc tiểu học được phân chia thành hai giai đoạn

- Giai đoạn các lớp 1, 2, 3

- Giai đoạn các lớp 4, 5

Với học sinh lớp 3, nói chung các em có đầy đủ các đặc điểm của học sinh lớp 1 và lớp 2 nên việc cung cấp kiến thức ban đầu cho các em rất quan trọng Mặt khác, toán lớp 3 ở cuối giai đoạn toán 1, 2, 3 nên phải góp phần hoàn thiện,

ôn tập, hệ thống hóa các kiến thức và kĩ năng cơ bản của cả giai đoạn các lớp 1,

2, 3 đồng thời chuẩn bị cho học sinh các năng lực và tâm thế để chuyển sang giai đoạn các lớp 4, 5 Giai đoạn phát triển tiếp theo, đặc biệt là phát triển năng lực tư duy và kĩ năng thực hành của học sinh Vì vậy giúp học sinh học tốt toán lớp 3, chính là nền tảng vững chắc để giúp các em học tốt môn toán của các lớp sau

Nghiên cứu chương trình toán lớp 3 tôi thấy rằng các bảng nhân, chia 6,7, 8,

9 là nội dung chính, là nền tảng giúp các em biết thực hiện nhân, chia số có 2,

3, 4, 5 chữ số với(cho) số có một chữ số; tìm một trong các phần bằng nhau của một số, tìm và giải đúng các phép tính trong các bài toán có lời văn

Trang 2

Trong đó thuộc các bảng nhân, chia 6,7, 8, 9 là kĩ năng quan trọng nhất mà tất cả học sinh phải nắm vững thì mới tiếp tục học tốt được các nội dung kiến thức trong Toán 3

Xác định được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của vấn đề, trong năm học

2014 – 2015 tôi đã quyết định đi sâu nghiên cứu “Một số biện pháp dạy bảng nhân, chia lớp 3” nhằm nâng cao chất lượng, giúp học sinh học tốt hơn bảng nhân, chia 6,7, 8, 9 ở lớp 3

Qua quá trình nghiên cứu, thực hiện sáng kiến và vận dụng các biện pháp mới trong việc dạy học môn Toán ở lớp chủ nhiệm và phổ biến tới các đồng nghiệp thực hiện trong toàn khối, chúng tôi nhận được kết quả rất khả quan Qua các tiết dự giờ của đồng nghiệp trong khối, tôi thấy khả tính toán nhân, chia của các em tiến bộ vượt trội Nhiều em giơ tay xin được nói trước lớp, kĩ năng diễn đạt cũng tốt hơn, các em cũng rất mạnh dạn khi nhận xét và chỉ ra lỗi của bạn Qua các đợt kiểm tra bài làm của các em có chất lượng cao hơn Bản thân giáo viên không thấy mệt, căng thẳng khi dạy học

Khi thực hiện theo phương pháp này, tôi nhận thấy học sinh lớp tôi rất thích học phân môn Toán Giờ học đã trở nên nhẹ nhàng Những học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng ít nhiều cũng biết làm được một số bài tập trong chương trình Không còn hiện tượng nhầm lẫn khi làm bài Với những kinh nghiệm ở lớp mình, tôi cũng phổ biến rộng rãi tới các đồng nghiệp trong khối

và được mọi người tán thành, cùng áp dụng Với bài kiểm tra các kì sau bài làm của cả khối tiến bộ rõ rệt

Đề nghị Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục trang bị Nhà xuất bản Giáo dục phát hành thêm sách tham khảo cho giáo viên Thường xuyên mở các chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học hướng dẫn giáo viên làm quen và sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại

Trang 3

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:

1.1 Nghiên cứu SGK Toán 3

Cụ thể khi nghiên cứu và tìm hiểu SGK Toán lớp 3, tôi nhận thấy bảng nhân, chia 6, 7, 8, 9 được giới thiệu sau khi đã ôn tập các bảng nhân, chia đã học ở lớp 2 và được giới thiệu từng bảng nhân, chia xen kẽ với những bài toán về nhân, chia số có 2, 3, 4, 5 chữ số với (cho) số có một chữ số (nhân, chia ngoài bảng)

Vì vậy dạy học giúp học sinh nắm vững kiến thức từ các bảng nhân, chia đầu tiên trong chương trình Toán 3 là rất quan trọng, giúp học tốt các bài sau

1.2 Chuẩn bị bài dạy

Nhận thấy được điều đó nên ngay từ bài Bảng nhân, chia 6 tôi đã hướng dẫn tỉ mỉ từng thao tác để các em hiểu và nhớ một cách chắc chắn các phép nhân, chia trong bảng Và cũng để từ đó, các em có cơ sở khoa học để học nhanh và dễ dàng hơn các bảng nhân, chia sau và nhân, chia ngoài bảng

Để làm được điều đó đạt kết quả, tôi đã nghiên cứu kĩ bài trước khi lên lớp, suy nghĩ đặt câu hỏi nâng cao cho học sinh có năng khiếu Trong một tiết học, giáo viên cần tập trung những tình huống, phương tiện dạy học sẵn có, nội dung bài tập được sắp xếp một cách hệ thống từ dễ đến khó để các em tiếp thu bài thuận lợi hơn Và trong mỗi tiết học, giáo viên luôn giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn giúp đỡ học sinh Còn học sinh thực sự làm việc, mỗi học sinh đều có kết quả do chính mình làm ra

Trang 4

2.Thực trạng của vấn đề:

Khi dạy các bảng nhân, chia lớp 3, với cách làm cũ là học sinh chủ yếu dựa vào thao tác đồ dùng để phát hiện kiến thức, như vậy sẽ rất tốn thời gian Mặt khác lại không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong nhận thức, phát hiện kiến thức mới, học sinh được thực hành ít

Ví dụ: Để lập được phép tính 6 × 1 = 6, giáo viên yêu cầu học sinh lấy một

tấm bìa có 6 chấm tròn

- Hỏi: 6 chấm tròn lấy một lần bằng mấy?

- Học sinh: 6 lấy một lần bằng 6, ta được phép tính 6 × 1= 6 Tương tự như vậy với các phép tính 6 × 2 ; 6 × 3;

Do vậy , kết quả kiểm tra cuối học kì I của lớp tôi như sau:

2.1 Hình thành phép tính.

Khi dạy một bảng nhân hay một bảng chia bất kì trong một phạm vi nào, tôi thường dạy thông qua các thao tác sau:

+ Hình thành phép tính

+ Hiểu và thuộc phép tính

+ Luyện tập làm tính và ghi nhớ kiến thức (qua thao tác viết, nghe, nói rồi đến ghi nhớ)

+ Trò chơi

Các thao tác này có thể đan xen vào nhau để học sinh đỡ nhàm chán và làm việc máy móc

Với đối tượng là học sinh lớp 3, các em còn nhỏ, có trực quan bằng đồ dùng thì các em mới dễ hiểu và nhớ lâu được Do đó khi dạy học sinh hình thành bảng nhân hay chia, tôi đều sử dụng đồ dùng trực quan giúp các em hình thành

và tìm ra kết quả phép tính Tuy nhiên, với học sinh lớp 3, các em đã có kinh nghiệm sử dụng đồ dùng để tự lập bảng nhân hay bảng chia khi học ở lớp 2 Vì

Trang 5

vậy, khi hướng dẫn học sinh tự lập bảng nhân hay bảng chia giáo viên vẫn nên yêu cầu học sinh sử dụng đồ dùng học tập ở mức độ nhất định

Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh tự lập bảng nhân 6, tôi yêu cầu học sinh dùng các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn để tự lập được các phép nhân:

6 × 1 = 6 ; 6 × 2 = 12 ; 6 × 3 = 18

Sau đó học sinh nêu nhận xét để từ 6 × 2 = 12 suy ra được 6 × 3 = 18.

Chẳng hạn:

- Học sinh lấy 3 tấm bìa có 6 chấm tròn, nêu 6 lấy 3 lần, ta có 6 × 3

Cũng từ 3 tấm bìa này, học sinh nhận thấy 6 × 3 chính là 6 × 2 + 6

Vậy 6 × 3 = 6 × 2 + 6 = 12 + 6 = 18

Bằng cách này, học sinh có thể không cần sử dụng đồ dùng mà vẫn lập tiếp được các phép tính thuộc bảng nhân 6

Ví dụ: 6 × 4 = 6 × 3 + 6 = 18 + 6 = 24,

Khi có học sinh chưa tự lập được phép nhân mới, tôi vẫn cho học sinh sử dụng đồ dùng để lập phép nhân mới và đó cũng là để giải thích mối quan hệ giữa phép nhân liền trước với phép nhân tiếp sau

(6 × 5 = 6 × 4 + 6 = 24 + 6 = 30)

Hay khi tự lập bảng chia, tôi hướng dẫn học sinh dựa vào bảng nhân tương ứng với phép chia theo nhóm để lập:

Ví dụ: Khi học sinh lập bảng chia 6, tôi hướng dẫn học sinh nhận biết phép chia đầu tiên của bảng là 6 : 6 = 1, đến phép chia thứ hai, học sinh có thể

tự lập theo cách làm như sau:

Cho học sinh lấy 2 tấm bìa (mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn) để từ đó có 6 × 2

=12 (đây là phép nhân tương ứng với phép chia cần lập)

Yêu cầu học sinh lấy 12 chấm tròn chia thành các nhóm, mỗi nhóm có 6 chấm tròn thì được 2 nhóm để có 12 : 6 = 2

Làm tương tự để có 18 : 6 = 3 ; 24 : 6 = 4

Cũng có thể yêu cầu học sinh chỉ sử dụng các phép nhân tương ứng (trong bảng nhân đã học) và từ nhận xét rút ra từ các phép tính đầu bảng: “ Khi số bị

Trang 6

chia tăng lên 6 đơn vị thì thương số tăng thêm 1 đơn vị để lập tiếp các phép tính còn lại trong bảng chia”

Đến phép nhân và phép chia trong phạm vi 7, 8, 9 Các em đã hiểu bản chất phép nhân và nắm được mối quan hệ giữa phép nhân và phép chia

Chính vì vậy tôi hướng dẫn các em hình thành bảng chia từ bảng nhân

Ví dụ: Khi dạy bài Bảng chia 7

7 × 1 = 7 vậy 7 : 7 = ?

7× 2 = 14 vậy 14 : 7 = ?

7× 3 = 21 vậy 21 : 7 = ?

2.2 Hiểu và thuộc phép tính.

Khi dạy một bài bảng nhân hay bảng chia tôi thường dành một số phút để học sinh ghi nhớ bằng cách:

Học sinh đọc bảng nhân, chia nhiều lần (được xóa - che một số phép tính)

Ví dụ: Bảng nhân 6

.× 1 = 6 6 × = 12

6 × 3 = 18 × = 24

6 × 5 = 6 × = 42

Yêu cầu học sinh quan sát và nhận xét đặc điểm của các phép tính trong bảng

Ví dụ: Bảng nhân 6

- Em hãy nhận xét cho cô thừa số thứ nhất?(đều là 6)

- Em hãy nhận xét cho cô thừa số thứ hai ?(dãy số thứ tự từ 1 đến 10)

- Nhận xét tích? (Dãy số cách đều 6, bắt đầu từ 6, kết thúc là 60)

- Từ các nhận xét đó, em rút ra kết luận gì?(Khi thừa số thứ hai tăng 1 đơn vị thì tích của phép nhân tăng lên 6 đơn vị)

Tôi đã cho học sinh học thuộc phép tính thông qua nghe, nhìn, viết, đọc để thuộc từng kết quả phép tính

- Thuộc thông qua nghe: Nghe cô, bạn đọc

- Thuộc thông qua nhìn: Nhìn cô viết

- Thuộc bằng cách đọc

- Thuộc bằng cách viết

Trang 7

Sau đó, tôi cũng che một số kết quả cho học sinh đọc rồi đi đến xóa toàn bộ kết quả, yêu cầu học sinh đọc đến thuộc

2.3 Luyện tập làm tính để ghi nhớ kiến thức.

Tôi đã nghiên cứu kĩ nội dung từ các bài tập để sắp xếp thứ tự từ dễ đến khó, trên cơ sở SGK- Có sự sắp xếp phù hợp (nếu cần thiết)

Cuối mỗi bài tập, tôi đều chốt lại những kiến thức cơ bản cho các em và có câu hỏi nâng cao ở phần củng cố kiến thức

Khi chữa bài, tôi thường cho các em chữa bằng cách viết hoặc đọc, học sinh dưới lớp soát bằng cách nghe, nhìn

Ngoài ra, tôi thường xây dựng cho các em dạng bài tập có phép tính trong phạm vi vừa học và đã học

Ví dụ: Bài tập điền vào chỗ chấm

6 × 2 = … 6 × 0 = …

Hỏi: Trong các phép tính các em vừa học, những phép tính nào thuộc bảng nhân 6?

Vậy từ bài tập đó, các em một lần nữa lại nêu riêng các phép tính trong bảng nhân 6

- Hỏi: Qua biểu thức 2 × 3 × 4 = 24 Các em đã sử dụng bảng nhân nào để tìm

ra kết quả?

Vậy các em đã áp dụng cả kiến thức cũ và mới trong tiết học

2.4 Trò chơi.

Tôi nhận thấy trong bảng nhân, chia các phép tính được liệt kê theo một trật

tự lôgic Song để học sinh nói ngay được kết quả của một phép tính bất kì là quá trình đòi hỏi cao hơn nên cần thay đổi nhiều hình thức Vì thế để giúp học sinh nói ngay được kết quả bất kì, tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi

Cho tìm nhanh kết quả phép tính bằng cách: Giáo viên nêu phép tính, học sinh nói ngay kết quả hoặc học sinh này nêu phép tính học sinh khác nêu ngay kết quả

Ví dụ: 6 nhân 3 bằng bao nhiêu?

6 lấy 5 lần bằng bao nhiêu?

Trang 8

Học sinh thi nối số với các phép tính có sẵn trong ô vuông với kết quả trong vòng tròn

- Trò chơi tiếp sức (cá nhân, nhóm) thi tìm nhanh kết quả phép tính, thi viết được nhiều phép tính trong bảng

- Vận dụng các cách làm trên, tôi đã giúp các em nắm được tương đối các bảng nhân, bảng chia

Như đã đề cập ở trên, trong quá trình dạy học các bảng nhân, chia 6, 7, 8, 9 SGK, tôi đã thực hiện dạy xen kẽ nhân và chia ngoài bảng (nhân số có hai hoặc

ba chữ số với số có một chữ số có nhớ) không quá một lần Chia số có hai hoặc

ba chữ số cho số có một chữ số (chia hết và chia có dư) nhằm mục đích

- Tăng cường thực hành, ứng dụng kiến thức mới được học (các bảng nhân, bảng chia) ở phạm vi rộng hơn (ở ngoài bảng tính đã học) thực hiện không chỉ

học để biết mà còn “ học để làm”- “ học gắn với hành”.

- Trang bị cho học sinh (từ đầu lớp 3) kĩ thuật nhân, chia để sớm hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành tính (nhân và chia) góp phần thực hiện một số mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy học môn Toán 3 nói riêng và môn toán Tiểu học nói chung

Có thể nói, cùng với việc dạy học kĩ năng cộng, trừ ở lớp 2, thì đây là sự triển khai tiếp tục trang bị sớm kĩ năng tính để tăng cường rèn luyện kĩ năng thực hành ứng dụng toán học trong giải quyết những vấn đề cuộc sống gần gũi với học sinh Tiểu học, giúp học sinh sớm nhận ra ích lợi của việc học tính gây được hứng thú học tập cho học sinh

7 2

1 8

5

4

6

42 3

0

4 8

6 8

6 9

6 3

6 7

6 0

6 5

Trang 9

3 Các giải pháp, biện pháp thực hiện:

Ví dụ: Dạy bài - Bảng chia 8

3.1 Kiểm tra bài cũ: Luyện tập bảng nhân 8

Giáo viên treo hai bảng phụ ghi nội dung bài 1 và bài 2

* Bài 1: Điền số

8 × = 32 8 × 0 =

.× 6 = 48 8 × = 80

8 × 9 = × 10 = 80

* Bài 2: Điền dấu > , < , =

8 × 3 8 × 4 8 × 5 8 × 1

6 × 8 8 × 6 8 × 0 8

- Hai học sinh lên bảng làm bài tập

- Kiểm tra miệng học sinh dưới lớp với “ bảng nhân 8”

Chữa bài 1:

- Nhận xét bài làm của bạn

- Hỏi: Tại sao em điền số 0 ở trường hợp 8 × 0 = và 0 × 8 (vì 0 nhân với

bất kì số nào kết quả cũng bằng 0)

Chữa bài 2:

- Một học sinh nhận xét bài làm của bạn

- Hỏi: Tại sao em điền dấu < , =, > , < ?

- Học sinh giải thích: Vì 8 × 3 = 24, 8 × 4 = 32.

Mà 24 < 32 nên 8 × 3 < 8 × 4

6 × 8 = 48

8 × 6 = 48 nên ta suy ra 6 × 8 = 8 × 6

Hỏi: Bạn nào có cách làm khác không?

- Học sinh giải thích:

8 lấy 3 lần nhỏ hơn 8 lấy 4 lần nên 8 × 3 < 8 × 4.

Nếu thừa số thứ nhất cùng là 8 thì phép tính nào có thừa số thứ hai lớn hơn thì lớn hơn

- Dựa vào tính chất giao hoán trong phép nhân ta có 6 × 8 = 8 × 6

Trang 10

3.2 Dạy bài mới.

Lập bảng chia 8

- Yêu cầu: Học sinh lấy đồ dùng học tập môn Toán (những tấm bìa có 8 chấm tròn để lên bàn)

- Học sinh lấy một tấm bìa có 8 chấm tròn - đồng thời giáo viên cũng đính một tấm bìa tương tự lên bảng

- Hỏi: 8 chấm tròn lấy 1 lần bằng mấy?(bằng 8)

- Giáo viên: 8 lấy một lần có nghĩa là 8 × 1 = 8 (gắn đồ dùng trực quan lên bảng)

- Giáo viên chỉ vào tấm bìa có 8 chấm tròn và hỏi:

Lấy 8 chấm tròn chia thành các nhóm, mỗi nhóm có 8 chấm tròn thì được mấy nhóm?

Cần giải thích rằng : “Nếu lấy 8 chấm tròn chia thành nhóm, mỗi nhóm có 8 chấm tròn thì ta được 1 nhóm, suy ra 8 chia 8 được 1”

- Giáo viên viết lên bảng phép tính 8 : 8 = 1 rồi chỉ vào phép nhân và phép chia trên bảng Giáo viên gọi học sinh đọc: tám nhân một bằng tám ; tám chia tám bằng một

- Giáo viên: Đã có 1 tấm bìa có 8 chấm tròn - Lấy thêm một tấm bìa nữa và hỏi tám lấy hai lần bằng mấy?

- Học sinh trả lời: Tám lấy hai lần bằng 16

- Giáo viên viết lên bảng 8 × 2 = 16

- Giáo viên chỉ vào hai tấm bìa, mỗi tấm bìa có 8 chấm tròn và hỏi:

- Lấy 16 chấm tròn chia thành các nhóm, mỗi nhóm có 8 chấm tròn thì được mấy nhóm? (giải thích kết quả trực quan 16 chấm tròn chia thành nhóm mỗi nhóm có 8 chấm tròn thì được 2 nhóm )

- Học sinh nêu phép chia 16 : 8 = 2

- Giáo viên ghi lên bảng 16 : 8 = 2

- Giáo viên chỉ vào phép nhân (8 × 2 = 16) và phép chia (16 : 2 = 8) và gọi học

sinh đọc hai phép tính 8 × 2 = 16; 16 : 2 = 8.

Ngày đăng: 18/08/2021, 07:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w