A. PHẦN MỞ ĐẦU: 1.Hoàn cảnh lịch sử và yêu cầu đối ngoại2 1.1. Tình hình quốc tế2 1.2. Tình hình nước ta4 1.3. Yêu cầu nhiệm vụ cách mạng Việt Nam4B. PHẦN NỘI DUNG: I.PHẦN LÝ LUẬN1.Quá trình bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng giai đoạn 1996 202052.Nội dung đường lối đối ngoại7 3.1. Mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại8 3.2. Quan điểm10 3.3. Một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế trong thời gian tới113.Kết quả thực hiện13 4.1. Thành tựu và ý nghĩa13 4.2. Hạn chế và nguyên nhân18 4.3. Bài học kinh nghiệm19II.PHẦN VẬN DỤNG Sinh viên và nhận thức về tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; nhận thức những cơ hội của bản thân từ quá trình hội nhập quốc tế và hành động. C. PHẦN KẾT LUẬN: D. TÀI LIỆU THAM KHẢO:A. PHẦN MỞ ĐẦU: Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, hoạt động đối ngoại luôn đóng một vai trò quan trọng trong bảo đảm giữ yên bờ cõi, gìn giữ nền độc lập, chủ quyền của đất nước. Nếu như nghệ thuật quân sự giúp ông cha ta đánh đuổi kẻ thù xâm lược, thì hoạt động bang giao với tư tưởng “hòa hiếu” đã tiên phong trong việc ngăn chặn chiến tranh, giữ gìn bình yên cho xã tắc và bảo vệ vững chắc bờ cõi nước nhà. Nhờ vào hoạt động đối ngoại mà nước ta giai đoạn những năm 1975 1986 đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hàng chục nước, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa, tranh thủ được sự giúp đỡ về vật chất của nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh. Bước vào thời kỳ đổi mới (giai đoạn 1986 1996), nhờ vào đối ngoại mà nước ta đã phá được thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những kế quả đạt được từ hoạt động đối ngoại trong những năm cuối thế kỷ XX tuy mới là bước đầu, nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc mở cửa giao lưu hợp tác với bên ngoài, tạo được vị thế mới cho đất nước ta trong quan hệ quốc tế.B. PHẦN NỘI DUNG:I.PHẦN LÝ LUẬN:1.Hoàn cảnh lịch sử và yêu cầu đối ngoại:1.1. Tình hình quốc tế:Từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc. Các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng sâu sắc. Đến đầu những năm 1990, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ, dẫn đến những biến đổi to lớn về quan hệ quốc tế. Trật tự thế giới được hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Hoa Kỳ đứng đầu (trật tự thế giới hai cực) tan rã, mở ra thời kỳ hình thành một trật tự thế giới mới. Xu thế chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển đã đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế; mở rộng và tăng cường liên kết, hợp tác với các nước phát triển để tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh. Các nước đổi mới tư duy về quan niệm sức mạnh, vị thế quốc gia. Thay thế cách đánh giá cũ, chủ yếu dựa vào thế mạnh quân sự bằng các tiêu chí tổng hợp, trong đó sức mạnh kinh tế được đặt ở vị trí quan trọng hàng đầu.
Trang 23.3 Một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội
C PHẦN KẾT LUẬN:
D TÀI LIỆU THAM KHẢO:
BÀI LÀM
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU:
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, hoạt động đốingoại luôn đóng một vai trò quan trọng trong bảo đảm giữ yên bờ cõi, gìn giữnền độc lập, chủ quyền của đất nước Nếu như nghệ thuật quân sự giúp ông cha
ta đánh đuổi kẻ thù xâm lược, thì hoạt động bang giao với tư tưởng “hòa hiếu” đãtiên phong trong việc ngăn chặn chiến tranh, giữ gìn bình yên cho xã tắc và bảo
vệ vững chắc bờ cõi nước nhà Nhờ vào hoạt động đối ngoại mà nước ta giaiđoạn những năm 1975 - 1986 đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hàng chụcnước, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa, tranh thủ được sự giúp đỡ về vật chấtcủa nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm khôi phục và phát triển kinh tế sauchiến tranh Bước vào thời kỳ đổi mới (giai đoạn 1986 - 1996), nhờ vào đối ngoại
mà nước ta đã phá được thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, tạo dựngmôi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Những
kế quả đạt được từ hoạt động đối ngoại trong những năm cuối thế kỷ XX tuy mới
là bước đầu, nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc mở cửa giao lưu hợp tác vớibên ngoài, tạo được vị thế mới cho đất nước ta trong quan hệ quốc tế
Thấy được tầm quan trọng của đối ngoại, Đảng ta không ngừng cải thiện,đổi mới đường lối ngày càng hoàn chỉnh, chuyên sâu và mở rộng hơn qua các kỳđại hội Để kế thừa truyền thống lịch sử trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc,thống nhất đất nước trong thế kỷ XX cũng như giai đoạn hội nhập quốc tế sâurộng hiện nay, công tác đối ngoại càng đóng vai trò quan trọng hơn nữa trongthực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc, củng cố môi trường hòa bình chođất nước, tìm kiếm, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để phục vụ cho sự pháttriển và nâng cao vị thế đất nước cũng như phát huy vai trò thành viên có tráchnhiệm của cộng đồng quốc tế của nước ta
Thực tiễn công cuộc đổi mới của đất nước ta qua bao nhiêu năm qua đãchứng minh nhờ có đường lối đối ngoại đúng đắn và sáng suốt của Đảng đã gópphần quan trọng đưa đất nước ta vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát
triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, Do đó, cần phải làm rõ “Nội dung và kết quả thực hiện đường lối đối ngoại hội nhập quốc tế của Đảng (1996 - 2020)” để hiểu hơn về những chủ trương, chính sách mà Đảng ta đã thực
hiện Để từ đó, bản thân là sinh viên cần có nhận thức đúng đắn về tầm quan
Trang 4trọng của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhận thức những cơ hội của bảnthân từ quá trình hội nhập quốc tế để không ngừng phấn đấu hơn nữa trong côngcuộc xây dựng đất nước.
hệ quốc tế; mở rộng và tăng cường liên kết, hợp tác với các nước phát triển đểtranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm tổchức, quản lý sản xuất kinh doanh Các nước đổi mới tư duy về quan niệm sứcmạnh, vị thế quốc gia Thay thế cách đánh giá cũ, chủ yếu dựa vào thế mạnhquân sự bằng các tiêu chí tổng hợp, trong đó sức mạnh kinh tế được đặt ở vị tríquan trọng hàng đầu
Trên phạm vi thế giới, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranhchấp vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới là hoà bình và hợp tác phát triển.Các quốc gia, các tổ chức và lực lượng chính trị quốc tế thực hiện điều chỉnhchiến lược đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với yêu cầunhiệm vụ bên trong và đặc điểm của thế giới
Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
4 mang đến cả cơ hội và thách thức lớn cho quá trình hội nhập và phát triển củaViệt Nam - Đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nhưng nhiều mặtcòn chưa vững chắc Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Trang 5(T1/2016) nội dung Nghị quyết đã nhận định: “ Quá trình toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh Hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh và sự tùythuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là giữa các nước lớn ngày càng tăng” Toàncầu hóa đã mở ra những cơ hội trao đổi hàng hóa nhằm thúc đẩy quá trình pháttriển sản xuất của các nước; nguồn vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lícùng các hình thức đầu tư, hợp tác khác mang lại lợi ích cho các bên tham giahợp tác Mặt khác, xu thế này còn làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau, nâng cao sựhiểu biết giữa các quốc gia, thuận lợi cho việc xây dựng môi trường hòa bình,hữu nghị và hợp tác giữa các nước Tuy nhiên, vấn đề toàn cầu hóa còn đặt ranhững thách thức về sự bất bì Đại hội lần thứ IX của Đảng (4/2001) chỉ rõ:
“Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nướctham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyênquốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặttiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh” Thực tế cho rằng, các nước muốntránh khỏi nguy cơ tụt hậu, kém phát triển thì phải tích cực chủ động tham giavào quá trình toàn cầu hóa, đồng thời cần có bản lĩnh cân nhắc một cách cẩntrọng các yếu tố bất lợi để vượt qua
Cuối thế kỉ XX đầu thế kỷ XXI, tình hình khu vực châu Á - Thái BìnhDương, có nhiều chuyển biến mới Đây là khu vực năng động và phát triển nhấtthế giới, chịu sự chi phối của tam giác quyền lực Mỹ - Trung - Nhật Trước hếttrong khu vực tuy vẫn tồn tại những bất ổn, như vấn đề hạt nhân, vấn đề tranhchấp lãnh hải thuộc vùng biển Đông và việc một số nước trong khu vực tăngcường vũ trang, nhưng châu Á - Thái Bình Dương vẫn được đánh giá là khu vực
ổn định Bởi lẽ, đây là khu vực có tiềm lực lớn và năng động về phát triển kinh
tế, xu thế hoà bình và hợp tác trong khu vực phát triển mạnh
1.2 Tình hình nước ta:
Mười năm trước, Việt Nam ở trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xãhội trầm trọng Sau 5 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, nhândân ta đã giành được những thắng lợi bước đầu rất quan trọng về cả kinh tế, xãhội, chính trị, đối nội, đối ngoại Kiên trì đường lối đổi mới, quyết tâm thực hiệnNghị quyết Đại hội VII và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, toànĐảng, toàn dân đã vượt qua mọi thử thách, tiếp tục vươn lên giành nhiều thắng
Trang 6lợi to lớn trên nhiều mặt Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991-1995 đãhoàn thành về cơ bản Đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân được cải thiện.Dân chủ được phát huy Lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đồ của đấtnước, với Đảng và Nhà nước được khẳng định Ổn định chính trị - xã hội đượcgiữ vững Quốc phòng, an ninh được củng cố Quan hệ đối ngoại phát triển mạnh
mẽ Việt Nam đã xóa bỏ được tình trạng bao vây kinh tế, cấm vận chính trị,chuyển từ đối đầu sang đối thoại và hợp tác Đất nước bước vào hội nhập quốc
tế, trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế
1.3 Yêu cầu nhiệm vụ cách mạng Việt Nam:
Sự bao vây, chống phá của các thế lực thù địch đối với Việt Nam từ nửacuối thập kỷ 1970 của thế kỷ XX tạo nên tình trạng căng thẳng, mất ổn địnhtrong khu vực và gây khó khăn, cản trở cho sự phát triển của cách mạng ViệtNam, là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế – xãhội nghiêm trọng ở nước ta Mặt khác, do hậu quả nặng nề của chiến tranh và cáckhuyết điểm chủ quan, nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng nghiêmtrọng Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trênthế giới là một trong những thách thức lớn đối với cách mạng Việt Nam Vì vậy,nhu cầu chống tụt hậu về kinh tế đặt ra gay gắt Để thu hẹp khoảng cách pháttriển giữa nước ta với các quốc gia khác, ngoài việc phát huy tối đa các nguồnlực trong nước, cần phải tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, trong đó việc mởrộng và tăng cường hợp tác kinh tế với các nước và tham gia vào cơ chế hợp tác
đa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Những đặc điểm, xu thế quốc tế và yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng ViệtNam nêu trên là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm và hoạchđịnh chủ trương, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới
2 Quá trình bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng giai đoạn 1996 - 2020:
Giai đoạn 1996 - 2011: Quá trình bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại
theo phương châm chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) khẳng định tiếp tục mở rộngquan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt với các nước, các trung tâm kinh tế, chính trị
Trang 7khu vực và quốc tế Đồng thời chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở và “đẩynhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” Đại hội VIII xác định rõhơn quan điểm đối ngoại với các nhóm đối tác như: ra sức tăng cường quan hệvới các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN; không ngừng củng
cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống; coi trọng quan hệ với các nướcphát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị thế giới; đoàn kết với các nướcđang phát triển, với phong trào không liên kết; tham gia tích cực và đóng góp chohoạt động của các tổ chức quốc tế, các diễn đàn quốc tế So với Đại hội VII, chủtrương đối ngoại của Đại hội VIII có các điểm mới: một là, chủ trương mở rộngquan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác Hội nghị lần thứ tư Ban Chấphành Trung ương, khoá VIII (T12/1997), chỉ rõ: trên cơ sở phát huy nội lực, thựchiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài Nghị quyết
đề ra chủ trương tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp địnhThương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO
Đến T4/2001, tại Đại hội lần thứ IX, Đảng đã nhấn mạnh chủ trương chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực.Lần đầu tiên, Đảng nêu rõ quan điểm về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ”
“Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối,chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh Xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng caohiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổnghợp phát triển đất nước” Cảm nhận đầy đủ “lực” và “thế” của đất nước sau 15năm đổi mới, Đại hội IX đã phát triển phương châm của Đại Hội VII là: “ViệtNam muốn làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình,độc lập và phát triển” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của cácnước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” Chủtrương xây dựng quan hệ đối tác được đề ra ở Đại hội IX đánh dấu bước pháttriển về chất tiến trình quan hệ quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới T11/2001,
Bộ Chính trị ra Nghị quyết 07 về hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết đề ra 9nhiệm vụ cụ thể và 6 biện pháp tổ chức thực hiện quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX (ngày 5/1/2004)nhấn mạnh yêu cầu chuẩn bị tốt các điều kiện trong nước để sớm ra nhập Tổ
Trang 8chức Thương mại Thế giới (WTO); kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện củacác lợi ích cục bộ làm kìm hãm tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (T4/2006) nêu quan điểm: thực hiệnnhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và phát triển;chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế.Đồng thời đề ra chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” Chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn chủ động quyết định đường lối, chínhsách hội nhập kinh tế quốc tế, không thể rơi vào thế bị động; phân tích lựa chọnphương thức hội nhập đúng, dự báo được những tình huống thuận lợi và khókhăn khi hội nhập kinh tế quốc tế.Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là khẩntrương chuẩn bị, điều chỉnh, đổi mới bên trong, từ phương thức lãnh đạo, quản lýđến hoạt động thực tiễn; từ Trung ương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩntrương xây dựng lộ trình, kế hoạch, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật; nâng caonăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế; tích cực, nhưng phải thậntrọng, vững chắc.Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế phải là ý chí,quyết tâm của Đảng, Nhà nước, toàn dân, của mọi doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế và toàn xã hội Như vậy, đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng
mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế được xác lập trong mười nămđầu của thời kỳ đổi mới (1986-1996), đến Đại hội X (2006) được bổ sung, pháttriển theo phương châm chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, hình thànhđường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sáchđối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (T1/2011): Chủ trương
triển khai đồng bộ và toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.
Đảng ta đã nhận định tình hình trong nước: "Những thành tựu, kinhnghiệm của 25 năm đổi mới (1986 - 2011) đã tạo ra cho đất nước lực và thế, sứcmạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước Tuy nhiên, nước ta đứng trước nhiềuthách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thểcoi thường thách thức nào Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nướctrong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại" Trên cơ sở nhận định đó, Nghị quyếtĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra chủ trương "triển khai đồng
Trang 9bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhậpquốc tế" So với chủ trương đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ X: "Chủ động vàtích cực hội nhập kinh tế quốc tế", thì Đại hội XI đã thể hiện bước phát triển mới
về tư duy đối ngoại - chuyên từ "hội nhập kinh tế quốc tế" lên "hội nhập quốc tế"
- hội nhập toàn diện, đồng bộ từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, giáo dục, an ninh,quốc phòng… Với phương châm: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thànhviên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016): “Thực hiện có hiệu quả
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”.
3 Nội dung đường lối đối ngoại:
Trong các văn kiện liên quan đến lĩnh vực đối ngoại, Đảng ta đều chỉ rõ
cơ hội và thách thức của việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Về cơ hội: Xu thếhoà bình, hợp tác phát triển và xu thế toàn cầu hoá kinh tế tạo thuận lợi cho nước
ta mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác phát triển kinh tế Mặt khác, thắng lợi của
sự nghiệp đổi mới đã nâng cao thể lực của nước ta trên trường quốc tế, tạo tiền
đề mới cho quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế Về thách thức: Nhữngvấn đề toàn cầu như phân hoá giàu nghèo, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốcgia gây tác động bất lợi đối với nước ta Nền kinh tế Việt Nam phải chịu sức épcạnh tranh gay gắt trên cả ba cấp độ: Sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia;những biến động trên thị trường quốc tế sẽ tác động nhanh và mạnh hơn đến thịtrường trong nước, tiềm ẩn nguy cơ gây rối loạn, thậm chí khủng hoảng kinh tế –tài chính Ngoài ra, lợi dụng toàn cầu hoá, các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài
“dân chủ”, “nhân quyền” chống phá chế độ chính trị và sự ổn định, phát triển củanước ta.Những cơ hội và thách thức nêu trên có mối quan hệ, tác động qua lại, cóthể chuyển hoá lẫn nhau Cơ hội không tự phát huy tác dụng mà tuỳ thuộc vàokhả năng tận dụng cơ hội Tận dụng tốt cơ hội sẽ tạo thế và lực mới để vượt quathách thức, tạo ra cơ hội lớn hơn Ngược lại nếu không nắm bắt, tận dụng thì cơhội có thể bị bỏ lỡ, thách thức sẽ tăng lên, lấn át cơ hội, cản trở sự phát triển.Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động đến đâu còn phụ thuộc vào khảnăng và nỗ lực của chúng ta Nếu tích cực chuẩn bị, có biện pháp đối phó hiệu
Trang 10quả, vươn lên nhanh trước sức ép của các thách thức thì không những sẽ vượtqua được thách thức, mà còn có thể biến thách thức thành động lực phát triển.Dựa trên cơ sở đó Đảng xác định mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo và côngtác đối ngoại phù hợp với tình hình của đất nước
3.1 Mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại:
Trong thời kỳ đất nước đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã xácđịnh mục tiêu và nhiệm vụ đối ngoại: Lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổnđịnh, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, để phát triểnkinh tế – xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc Mở rộng đối ngoại và hội nhậpkinh tế quốc tế là để tạo thêm nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước,kết hợp nội lực với các nguồn lực từ bên ngoài tạo thành nguồn lực tổng hợp đểđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh, phát huy vai trò và nâng cao vị thế của Việt Namtrong quan hệ quốc tế Việt Nam là bạn là đối tác tin cậy và thành viên có tráchnhiệm của cộng đồng quốc tế nhằm “phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòabình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước,nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phầnvào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”
Đảng ta nhận thức và xác định ngày càng cụ thể những nội dung củanhiệm vụ đối ngoại, văn kiện Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Nhiệm vụ của côngtác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất vàtoàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấutranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới” Văn kiện Đạihội XII của Đảng xác định: “Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt độngđối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranhthủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sốngnhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân
và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào
sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” Đạihội XII của Đảng tiếp tục khẳng định phương châm và định hướng lớn của hoạt
Trang 11động đối ngoại là “Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có tráchnhiệm của cộng đồng quốc tế” Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đốitác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối vớiphát triển và an sinh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thựcchất Chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt làASEAN và Liên hợp quốc Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương vềquốc phòng, an ninh Triển khai đồng bộ hoạt động đối ngoại, cả về chính trị,
an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội Nâng cao chất lượng công tác thammưu về đối ngoại và hội nhập quốc tế Tăng cường công tác thông tin đối ngoại,hội nhập quốc tế, tạo đồng thuận trong nước và tranh thủ sự ủng hộ của bạn bèquốc tế đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước
Lần đầu tiên, nhiệm vụ đối ngoại nằm trong các thành tố của chủ đề Đạihội So với Đại hội XI, Đại hội XII đã bổ sung vào chủ đề nội dung “bảo vệ vữngchắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định” để nhấn mạnh tầm quantrọng của công tác đối ngoại trong tổng thể đường lối phát triển đất nước và đồngthời nêu rõ hai nhiệm vụ quan trọng nhất của đối ngoại là bảo vệ Tổ quốc và giữvững môi trường hòa bình, ổn định để triển khai các nhiệm vụ xây dựng đất nướctrong 5 năm tới và các năm tiếp theo Qua đó cho thấy rằng, văn kiện Đại hội XII
đã đề cập rõ hơn và ở mức cao nhất mục tiêu đối ngoại
3.2 Quan điểm:
Trong quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế phải quán triệt đầy đủ,sâu sắc các quan điểm Một là, bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựngthành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời thực hiệnnghĩa vụ quốc tế theo khả năng của Việt Nam Hai là, giữ vững độc lập tự chủ, tựcường đi đôi với đẩy mạnh đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại Ba là,nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; cố gắng thúc đẩymặt hợp tác, nhưng vẫn phải đấu tranh dưới hình thức và mức độ thích hợp vớitừng đối tác; đấu tranh để hợp tác; tránh trực diện đối đầu, tránh để bị đẩy vào thế
cô lập Bốn là, mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới,không phân biệt chế độ chính trị xã hội Coi trọng quan hệ hoà bình, hợp tác vớikhu vực; chủ động tham gia các tổ chức đa phương, khu vực toàn cầu Năm là,
Trang 12kết hợp đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân Xácđịnh hội nhập kinh tế quốc tế là công việc của toàn dân Sáu là, giữ vững ổn địnhchính trị, kinh tế – xã hội, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; bảo vệ môi trườngsinh thái trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Bảy là, phát huy tối đa nội lực
đi đôi với thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài; xây dựng nềnkinh tế độc lập tự chủ; tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh của đấtnước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Cuối cùng là bảo đảm sự lãnh đạocủa Đảng và quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại, phối hợpchặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhândân, giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữađối ngoại với quốc phòng, an ninh
Bên cạnh đó, quan điểm chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốcđược nêu cụ thể hơn ở Đại hội lần thứ XII của Đảng Hai nhiệm vụ đối ngoại
“giữ vững môi trường hòa bình” và “bảo vệ vững chắc Tổ quốc” có mối liên hệchặt chẽ với nhau Nếu giữ vững được môi trường hòa bình, các hoạt động đốingoại sẽ thực hiện được phương châm thêm bạn bớt thù, tức là đã đóng góp trựctiếp vào việc bảo vệ Tổ quốc từ xa và giữ nước từ khi nước chưa nguy Điều nàygiúp khẳng định vị thế và vai trò chủ công, là tuyến đầu của công tác đối ngoạitrong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
3.3 Một số chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế trong thời gian tới:
Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập vàgiữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài đểphát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước Vai trò tiên phong củađối ngoại không chỉ có ngoại giao mà cả quốc phòng, an ninh và các binh chủngkhác, trong sự phối hợp liên ngành dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất củaĐảng và Nhà nước
Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơbản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác,cùng có lợi Lợi ích quốc gia - dân tộc đã, đang và sẽ tiếp tục là kim chỉ nam, tiêuchí cao nhất trong triển khai hoạt động đối ngoại
Trang 13Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữađộc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâurộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ,chủ quyền quốc gia” Độc lập, tự chủ là cơ sở, tạo ra sức mạnh nội sinh để nângcao hiệu quả hợp tác quốc tế và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế “Hội nhậpquốc tế toàn diện, sâu rộng” nghĩa là hội nhập đầy đủ trên các lĩnh vực, các tầngnấc khác nhau với mức độ tham gia, đóng góp thực chất hơn, cam kết và đan xenlợi ích cao hơn Hội nhập quốc tế cũng phải bám sát, gắn chặt và phục vụ trựctiếp nhiệm vụ phục vụ phát triển với việc “Tích cực triển khai các cam kết khuvực và quốc tế, lồng ghép với các chiến lược, chính sách, kế hoạch và chươngtrình phát triển kinh tế - xã hội”.
Tư duy về đối ngoại song phương và đa phương có những bước phát triểnmới Về song phương, nước ta cần tiếp tục đưa các mối quan hệ đối ngoại songphương đi vào chiều sâu, đồng thời cần “tạo thế đan xen lợi ích” và “tăng độ tincậy” Đối ngoại đa phương cần “Chủ động tham gia, tích cực đóng góp, nâng caovai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tựchính trị - kinh tế quốc tế” và “trong những vấn đề, các cơ chế quan trọng, có tầmchiến lược đối với lợi ích Việt Nam, phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể”.Đây là bước phát triển quan trọng về lý luận và thực tiễn từ Đại hội XII và Chỉthị 25 của Ban Bí thư (8/8/2018) Điều này phù hợp thế và lực mới của đất nướccũng như những đòi hỏi thực tiễn mới đối với công tác đối ngoại Tư duy vềkhông gian và các trọng điểm chiến lược của đất nước cũng được thể hiện rất rõ,
đó là các nước láng giềng, khu vực tiểu vùng Mê Công, ASEAN, châu Á - TháiBình Dương, các nước lớn và các đối tác quan trọng…
Đối ngoại được giao trọng trách tham gia cùng quốc phòng, an ninh và cả
hệ thống chính trị vào việc bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định của đất nước,giữ nước từ sớm, từ xa Về an ninh quốc gia, văn kiện nêu rõ “Kiên quyết, kiêntrì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thùđịch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước” Về bảo vệ chủ quyền,biển đảo: “Tiếp tục thúc đẩy giải quyết các vấn đề trên biển, an ninh, an toànhàng hải, hàng không trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên
Trang 14hợp quốc về Luật Biển năm 1982 Củng cố đường biên giới hòa bình, an ninh,hợp tác và phát triển; giải quyết các vấn đề còn tồn tại liên quan đến đường biêngiới trên bộ với các nước láng giềng” Đối ngoại cũng phải “Tăng cường công tácnghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại, không để bị động, bấtngờ”.
Nâng cao hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các camkết quốc tế Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu vềđối ngoại; đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao hiệu quả của công táctuyên truyền đối ngoại Nâng cao bản lĩnh, phẩm chất, năng lực, phong cáchchuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại bằngcách chăm lo đào tạo, rèn luyện, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ làmcông tác đối ngoại; chủ động thích ứng trước chuyển biến của tình hình Qua đónhấn mạnh phẩm chất, năng lực của cán bộ đối ngoại là yếu tố quyết định, mangtính đột phá nhằm bảo đảm đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ ngày một caohơn trong tình hình mới
Để thực hiện được những chủ trương, chính sách trên thì cần bảo đảm sựlãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước, sựphối hợp chặt chẽ, đồng lòng nhất trí của toàn hệ thống chính trị và toàn dân Đâycũng chính là điều kiện cơ bản để đạt được thắng lợi đường lối đối ngoại và hộinhập quốc tế
4 Kết quả thực hiện:
4.1 Thành tựu và ý nghĩa:
Trên tinh thần chủ động, tích cực nắm bắt và tạo dựng được thời cơ, kiêntrì và linh hoạt vượt qua những thách thức cả bên trong lẫn bên ngoài, tình hìnhđối ngoại của nước ta trong giai đoạn này đã đạt được những thành tựu nổi bật,góp phần tích cực vào củng cố môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ, thu hút các nguồn lực phát triển, nâng cao vị thế và uy tíncủa đất nước
Hội nhập quốc tế trở thành một động lực quan trọng góp phần thúc đẩy đổi mới toàn diện trong nước, phát triển kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nước ta trong thời gian qua.