1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ẢNH HƯỞNG CỦA THỦY TRIỀU ĐẾN CẤU TRÚC QUẦN XÃ THỰC VẬT PHÙ DU TẠI TRẠM QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG BIỂN NHA TRANG

14 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích CCA và SIMPER cho thấy tác động của thủy triều đến quần xã thực vật phù du ở tầng mặt rõ hơn so với tầng đáy... Trong các yếu tố thủy động lực vùng biển ven bờ gần các cửa sông

Trang 1

Tidal effects on phytoplankton community

structure at Nha Trang marine monitoring station.

The; Tran, Thi Le Van; Phan, Tan Luom; Nguyen, Ngoc Lam

Trang 2

Tuyển Tập Nghiên Cứu Biển, 2015, tập 21, số 2: 188-200

ẢNH HƯỞNG CỦA THỦY TRIỀU ĐẾN CẤU TRÚC QUẦN XÃ THỰC VẬT PHÙ

DU TẠI TRẠM QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG BIỂN NHA TRANG

Nguyễn Chí Thời, Đoàn Như Hải, Nguyễn Thị Mai Anh, Hồ Văn Thệ,

Trần Thị Lê Vân, Phan Tấn Lượm, Nguyễn Ngọc Lâm

Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam

trúc quần xã thực vật phù du được phân tích dựa trên số liệu quan trắc trong

20 năm tại trạm quan trắc môi trường biển Nha Trang, Khánh Hòa Phân tích CCA và SIMPER cho thấy tác động của thủy triều đến quần xã thực vật phù

du ở tầng mặt rõ hơn so với tầng đáy Chỉ số giống nhau trung bình về thành phần loài giữa 2 thời điểm triều của quần xã thực vật phù du ở tầng mặt (10,07%) thấp hơn so với chỉ số này ở quần xã tầng đáy (14,17%) (p<0,05, Kruskal-Wallis test) Các loài tảo silic trung tâm kích thước nhỏ như

Chaetoceros spp chiếm ưu thế về mật độ trong thủy vực và có tương quan thuận với biên độ triều trong khi các loài tảo hai roi không xác định có kích

thước nhỏ và loài tảo silic lông chim Thalassionema frauenfeldii thì có xu

hướng ngược lại Số lượng loài, chỉ số đa dạng Shannon ở tầng mặt thấp hơn tầng đáy trong khi mật độ tế bào ở tầng mặt (42.400 tb/L) cao hơn tầng đáy (19.200 tb/L) cho thấy quần xã thực vật phù du ở tầng đáy đa dạng và ổn định hơn so với tầng mặt

TIDAL EFFECTS ON PHYTOPLANKTON COMMUNITY STRUCTURE

AT NHA TRANG MARINE MONITORING STATION

Nguyen Chi Thoi, Doan Nhu Hai, Nguyen Thi Mai Anh, Ho Van The,

Tran Thi Le Van, Phan Tan Luom, Nguyen Ngoc Lam

Institute of Oceanography, Vietnam Academy of Science & Technology

structure of phytoplankton were analyzed using monitoring data during 20 years at Nha Trang marine monitoring station, Khanh Hoa province CCA and SIMPER analysis showed that the impact of tide on phytoplankton community at surface was clearer than that at bottom The average similarity percentage of species composition between high tide and low tide of surface communities (10.07%) was lower than that of bottom ones (14.17%)

(p<0.05, Kruskal-Wallis test) Small cell-size centric diatoms Chaetoceros

spp were dominant in cell density and correlated to tidal range while small

cell-size unidentified dinoflagellates and pennate diatom Thalassionema

frauenfeldii were in the opposite trends Number of species, Shannon biodiversity index at surface layer were lower than those at bottom layer while cell density at surface layer (42.400 cells/L) was higher than that at bottom layer (19.200 cells/L) showing phytoplankton community at bottom layer was more diverse, and more stable than that at the surface one

Trang 3

I MỞ ĐẦU

Sự phân bố sinh vật phù du (SVPD) theo độ

sâu trong cột nước được cho là có liên quan

đến tập tính, sinh sản, tăng trưởng, bắt mồi,

quá trình tái khoáng hóa và thành phần

quần xã SVPD (Cowles và cs., 1998;

Steinbuck và cs., 2010) Theo đó, có sự

khác biệt rõ ràng giữa các lớp SVPD ở các

khoảng độ sâu khác nhau và cấu trúc này có

thể trải rộng trên hàng kilômét theo mặt

rộng (Dekshenieks và cs., 2001) Kononen

và cs (2003) nhận thấy rằng tập tính di cư

và sự tăng trưởng của thực vật phù du

(TVPD) là yếu tố quan trọng đối với sự tồn

tại lớp mỏng chlorophyll cực đại ở tầng sâu

Sự xáo trộn và phân tầng trong cột nước

ảnh hưởng đến nguồn dinh dưỡng cũng như

tập tính di cư của TVPD theo chiều thẳng

đứng trong cột nước TVPD là những sinh

vật có sự di cư chủ động không đáng kể so

với sự xáo trộn của các lớp nước

(Yamazaki và cs., 2002) nên quần xã chịu

chi phối chính bởi các yếu tố ngoại lực

Trong các yếu tố thủy động lực vùng biển

ven bờ gần các cửa sông, thủy triều đóng

vai trò quan trọng đối với đặc trưng của

quần xã TVPD theo thời gian trong ngày,

mùa (Sharples, 2008; Chen và cs., 2010)

liên quan đến cơ chế hình thành, duy trì và

phá vỡ các lớp TVPD (Steinbuck và cs.,

2010) Sự phân chia tế bào TVPD có thể bị

thủy triều chi phối (Sournia, 1974) và phân

bố thẳng đứng của quần xã TVPD liên quan

đến tính ổn định của cột nước (Ignatiades,

1979) Sự xáo trộn mạnh do thủy triều làm

tái lơ lửng trầm tích, tế bào TVPD và cả

muối dinh dưỡng, thuận lợi cho quang hợp

và tăng trưởng của tảo silic trung tâm,

ngược lại một số loài tảo hai roi, tảo silic

lông chim có thể chiếm ưu thế ở tầng đáy

do có khả năng dị dưỡng trong điều kiện tối

(Hellebust & Lewin, 1977; Wangersky,

1977; Hsiao, 1992; Backhaus và cs., 1999)

Do đó, sự xáo trộn của nước ảnh hưởng đến

sự nở hoa và cấu trúc thành phần loài

(Mcquoid & Godhe, 2004) Hàm lượng

chlorophyll-a dao động theo các chu kỳ thời

gian và liên quan đến các chu kỳ triều, ngày

đêm, triều cường-kém (Blauw và cs., 2012), lắng chìm, xáo trộn đứng của các tế bào TVPD và vật chất dạng hạt lơ lửng (SPM) Giả thiết được đặt ra là trong kỳ triều kém (neap tide), sự xáo trộn trong cột nước

do dòng triều là không đáng kể, đặc biệt là trong thời gian tồn tại sự phân tầng trong cột nước, sự giới hạn về muối dinh dưỡng ở tầng mặt là một trở ngại đối với tăng trưởng của TVPD (thường là nhóm tảo silic trung tâm) Trong kỳ triều cường (spring tide), với vận tốc dòng triều lớn, sự xáo trộn mạnh sẽ phá vỡ sự phân tầng trong cột nước (nếu có) và tái lơ lửng tế bào/bào tử nghỉ của TVPD từ tầng đáy lên tầng mặt dồi dào ánh sáng làm cho quá trình quang hợp của TVPD thuận lợi hơn Ngoài ra, yếu

tố gió mùa và mùa mưa-khô tác động đến dòng chảy tầng mặt, nguồn muối dinh dưỡng từ đất liền, và độ đục của nước Các yếu tố trên sẽ tác động đến cấu trúc quần xã TVPD với cường độ khác nhau tùy thuộc vào vị trí quần xã trong cột nước Để kiểm tra giả thiết trên, nghiên cứu này phân tích biến động về thành phần loài và các đặc trưng quần xã TVPD dưới tác động của thủy triều dựa trên chuỗi số liệu gần 20 năm tại trạm quan trắc môi trường biển Nha Trang

II PHƯƠNG PHÁP

1 Vùng nghiên cứu

Vịnh Nha Trang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa gió Tây Nam thường từ tháng 5 đến tháng 9, mùa gió Đông Bắc thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, và xen giữa là giai đoạn chuyển tiếp gió mùa Theo số liệu thống kê

từ năm 2006-2011 (Niên giám thống kê Khánh Hòa, 2012), nhiệt độ không khí trung bình tháng thường cao trong giai đoạn

từ tháng 5-9 (27,3-30,0°C) và cao nhất trong khoảng tháng 6 (TB±S.E là 29,1±0,2, n=6), và thấp nhất trong khoảng tháng 1 (TB±S.E là 24,2±0,2, n=6) Số giờ nắng trung bình tháng cao nhất trong khoảng tháng 5-6 và thấp trong các tháng 11-1 Mùa mưa thường ngắn, khoảng từ tháng

Trang 4

9-12 và lượng mưa thường tập trung trong các

tháng 10-11 Lượng mưa ảnh hưởng đến

đặc trưng dòng vận chuyển trầm tích bắt

nguồn từ 2 cửa sông Cái và Cửa Bé trong

vịnh Nha Trang- dưới tác động của thủy

triều Về đặc điểm vận chuyển trầm tích,

khi thủy triều xuống thấp, nước từ ngoài

biển vào vịnh Nha Trang qua cửa đông ở

phía nam vịnh với tốc độ lớn (có khi đạt 70

cm/s), trong khi nước từ trong vịnh chảy ra

biển qua cửa đông phía bắc với tốc độ nhỏ

Ở pha này, vào mùa mưa, tuy dòng chảy từ

cửa phía nam lên khá lớn nhưng trầm tích

từ sông Cái vẫn được vận chuyển về cửa phía nam do dòng chảy ven bờ và gió mùa Đông Bắc Khi thủy triều lên, nước ngoài khơi từ cửa đông phía bắc chảy vào vịnh và dòng chảy ra là từ cửa phía nam (Phạm

Sĩ Hoàn & Nguyễn Thọ Sáo, 2009) Trạm quan trắc (tọa độ 12,2125°N và

109,2200°E) nằm trong vùng chịu tác động mạnh của chế độ thủy động lực với phía Tây là mũi Chụt và phía đông là đảo Hòn Tre, vịnh Nha Trang (Hình 1)

Hình 1 Khu vực nghiên cứu và điểm quan trắc Fig 1 Studied area and monitoring station

2 Tần suất quan trắc

Chương trình bắt đầu từ năm 1996 với tần

suất thu mẫu 4 đợt/năm cho tới năm 2005,

từ năm 2006 đến 2014 là 2 đợt/năm Thời

điểm quan trắc đại diện cho yếu tố mùa

(mưa và khô) và yếu tố gió mùa (đông

bắc-tây nam) Mẫu được thu tại tầng mặt (cách

mặt nước 0,5 m) và tầng đáy (cách đáy 1 m,

dao động xung quanh 18 m) vào lúc chân

triều và đỉnh triều

3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số

liệu

Định loại TVPD bằng phương pháp so sánh

hình thái dựa trên các tài liệu chủ yếu của

Trương Ngọc An (1993), Tomas (1999), Taylor (1976), Larsen & Nguyen-Ngoc (2004) Tên loài được hiệu chỉnh theo danh pháp cập nhật trước khi phân tích thống kê

Các phần mềm Microsoft Office Excel

2007, PAST được sử dụng cho các phân tích thống kê mô tả, CCA (Canonical Correspondence Analysis), và phần mềm PRIMER v.6 cho phân tích thành phần loài, cấu trúc quần xã, SIMPER (Similarity Percentage) (Clarke & Warwick, 2001) Số liệu được kiểm tra phương sai, luật phân phối, và chuẩn hóa trước khi thực hiện các phép thống kê tham số (Fowler & Cohen, 1990) hoặc phi tham số Các thông số được chọn để phân tích ngoài đối tượng TVPD là

Trang 5

nhiệt độ, độ muối, SPM, độ đục, muối dinh

chlorophyll-a Số liệu mực nước vào thời

điểm thu mẫu được phân tích

III KẾT QUẢ

1 Biến động các yếu tố môi trường liên

quan đến thủy triều

Biên độ triều trong các thời điểm thu mẫu

khảo sát biến thiên trong khoảng 50 đến

167 cm, khoảng dao động trong thời gian

triều kém là 50 - 100 cm trong khi trong

thời gian triều cường là 100 - 170 cm Vài

thời điểm thu mẫu trong thời kỳ gió mùa

Tây Nam, biên độ triều >150 cm (tháng 8

các năm 2001, 2002, 2003, và 2009) trong

khi một vài thời điểm gió mùa Đông Bắc,

biên độ triều <60 cm (Hình 2) Ở cả 2 thời

điểm chân triều và đỉnh triều, tốc độ dòng

chảy ở tầng mặt cao hơn đáng kể so với

tầng đáy (các giá trị trung bình lần lượt là

20,89 và 21,19 so với 13,91 và 14,01 cm/s

với giá trị p=0,0003; n=53-54; Kruskal-Wallis test)

Ở cả hai thời điểm chân triều và đỉnh triều, nhiệt độ nước tầng mặt trung bình cao hơn so với tầng đáy (lần lượt 27,49 và 27,53 so với 26,31 và 26,36°C) và độ muối thì có xu thế ngược lại (lần lượt 31,05 và 33,68 so với 31,87 và 33,74‰) Nhiệt độ và

độ muối ở chân triều thấp hơn so với ở đỉnh triều ở cả tầng mặt và tầng đáy (Bảng 1)

Hàm lượng SPM ở tầng mặt hầu như luôn thấp hơn so với tầng đáy ở cả thời điểm chân triều (3,11 so với 5,48 mg/L) và đỉnh triều (2,73 so với 4,38 mg/L) và ở chân triều thì hàm lượng SPM cao hơn so với đỉnh triều Độ đục cũng có đặc điểm biến động tương tự như hàm lượng SPM Hàm lượng muối dinh dưỡng nitrate và phosphate ở chân triều thấp hơn không đáng kể so với đỉnh triều (giá trị p>0,05, n=54, Kruskal-Wallis test)

Hình 2 Biến động các thông số mực nước, biên độ triều, và tốc độ dòng chảy ở tầng mặt

và tầng đáy trong thời điểm đỉnh triều và chân triều

Fig 2 Variation in water level, tidal range, and current speed at surface and bottom layers

at high tide and low tide

0 30 60 90 120 150 180

0

40

80

120

160

200

240

Mực nước (cm) Chân triều Đỉnh triều Biên độ triều Biên độ triều (cm)

0

10

20

30

40

50

60

Tốc độ dòng chảy (cm/s)

CT-Mặt CT-Đáy ĐT-Mặt ĐT-Đáy

Trang 6

Bảng 1 Thống kê mô tả các khoảng biến thiên (nhỏ nhất-lớn nhất), trung bình (± độ lệch chuẩn)

của các biến môi trường sử dụng ANOVA đơn biến

Table 1 Descriptive statistics of range (min-max), and mean (± standard deviation)

of environmental variables using ANOVA one-way

Nhiệt độ (°C) 23,40 - 30,90

27,49 ± 1,78

23,00 - 29,50 26,31 ± 1,62

24,30 - 30,40 27,53 ± 1,64

23,40 - 29,30 26,36 ± 1,48

<0,0001

Độ muối (‰) 15,50 - 34,90

31,05 ± 4,75

30,00 - 35,10 33,68 ± 0,97

14,80 - 35,10 31,87 ± 4,29

31,00 - 35,20 33,74 ± 0,87

<0,0001

SPM (mg/L) 0,40 - 16,50

3,11 ± 3,19

0,60 - 35,90 5,48 ± 6,23

0,40 - 36,80 2,73 ± 4,98

0,33 - 19,20 4,38 ± 3,95

0,0003

Độ đục (NTU) 0,0 - 14,0

3,4 ± 3,1

0,0 - 48,9 5,3 ± 7,4

0,0 - 9,70 3,0 ± 2,7

0,0 - 12,0 3,7 ± 2,9

NS

NO3 (µg/L) 27 - 280

76,3 ± 59,5

26 - 295 72,2 ± 52,5

27 - 520 79,1 ± 79,4

27 - 730 82,7 ± 104,1

NS

PO4 (µg/L) 0,5 - 25,6

8,3 ± 6,1

0,2 - 24,5 8,0 ± 5,3

0,5 - 24,5 8,4 ± 5,9

0,0 - 26,8 8,0 ± 5,5

NS

2 Biến động thành phần loài, sinh vật

lượng và cấu trúc quần xã theo chu kỳ

triều

Số lượng loài TVPD biến động rõ rệt theo

thời gian, ở một vài thời điểm trong thời kỳ

gió mùa Đông Bắc (tháng 3/1997, 2/2001,

2/2002) số lượng loài khá cao với trên dưới

40 loài ở mỗi tầng trong cả 2 thời điểm

triều Trong khi đó ở thời kỳ gió mùa Tây

Nam, số lượng loài thường thấp, nhất là

trong đợt khảo sát vào tháng 8/2013 với chỉ

từ 2-3 loài ở tầng mặt (Gymnodinium sp.,

Protoperidinium sp., Nitzschia sp.) và 6-8

loài ở tầng đáy Nhìn chung, số lượng loài

trung bình trong mùa gió đông bắc cao hơn

không nhiều so với mùa gió tây nam

(23±10 so với 20±8 loài), ở đỉnh triều cao

hơn ở chân triều và tầng đáy cao hơn tầng

mặt (Bảng 2) Mật độ tế bào TVPD và hàm

lượng sắc tố chlorophyll-a trung bình ở tầng

mặt cao hơn so với tầng đáy trong cả 2 thời

điểm triều Nhìn chung đa số thời điểm mật

độ tế bào TVPD cao trùng với hàm lượng

sắc tố chlorophyll-a cao Chỉ số đa dạng

Shannon ở tầng đáy cao hơn đáng kể so với

tầng mặt và ở thời điểm đỉnh triều cao hơn

chân triều (Bảng 2)

Đối với 2 nhóm tảo chủ yếu được khảo

sát, ở hầu hết các thời điểm, nhóm tảo silic

luôn chiếm ưu thế về mật độ tế bào so với

nhóm tảo hai roi Tuy nhiên, có thể thấy ở một số thời điểm có biên độ triều nhỏ, trong thời kỳ gió mùa Tây Nam, nhóm tảo hai roi

ưu thế vượt trội, đặc biệt là trong tháng 9/2013 (Hình 3)

3 Tác động của thủy triều và yếu tố mùa (mưa-khô), gió mùa (đông bắc-tây nam) lên thành phần loài ưu thế

Kết quả phân tích ưu thế tích lũy mật độ tế bào của một số loài ưu thế qua phép tính SIMPER (tới 90% tổng mật độ) cho thấy ở tất cả các thời điểm triều, nhóm tảo silic

trung tâm tạo chuỗi Chaetoceros spp

thường xuyên chiếm ưu thế rõ rệt trong khu vực nghiên cứu, đặc biệt là ở tầng mặt

Trong khi đó, ở tầng đáy các loài tảo silic

lông chim Thalassionema frauenfeldii,

Pleurosigma spp có tỷ lệ mật độ so với các loài khác tăng lên cao đáng kể so với tầng mặt (Bảng 3) Xu hướng có thể nhận thấy, các loài tảo hai roi và tảo silic lông chim vào mùa khô phong phú hơn mùa mưa Có thể thấy sự cân bằng giữa các loài ưu thế thứ cấp trong mùa mưa (đầu thời kỳ gió mùa Đông Bắc) thấp hơn so với mùa khô (thời kỳ gió mùa Tây Nam) Để có đóng góp cộng dồn tới 90% thì ở tầng đáy cần nhiều loài hơn tầng mặt Chỉ số giống nhau

về thành phần loài ở 2 thời điểm chân triều

Trang 7

và đỉnh triều không khác nhau đáng kể

(trung bình lần lượt là 11,92% và 12,32%,

p>0,05, Kruskal-Wallis test) Tuy nhiên, chỉ

số này của quần xã TVPD giữa 2 thời điểm

triều ở tầng đáy (14,17%) cao hơn so với

tầng mặt (10,07%) (p<0,05, Kruskal-Wallis test) chứng tỏ thành phần loài ở tầng đáy ít biến động hơn ở tầng mặt giữa 2 thời điểm triều (Bảng 3)

Bảng 2 Thống kê mô tả các khoảng biến thiên (nhỏ nhất-lớn nhất), trung bình (± độ lệch chuẩn)

của các thông số quần xã sử dụng ANOVA đơn biến

Table 2 Descriptive statistics of range (min-max), and mean (± standard deviation)

of community characteristics using ANOVA one-way

Thông số Chân triều-

tầng mặt Chân triều- tầng đáy Đỉnh triều -tầng mặt Đỉnh triều -tầng đáy value/triều p

(n=54)

Chl-a (µg/L) 0,10 - 5,65

0,84 ± 0,99

0,07 - 2,70 0,71 ± 0,59

0,05 - 3,34 0,64 ± 0,56

0,07 - 24,0 0,62 ± 0,43

NS

Mật độ tế bào

(tb/L)

150 - 406.509 42.329 ± 85.351

103 - 209.500 19.744 ± 37.866

140 - 510.750 42.496 ± 94.238

90 - 234.600 18.734 ± 35.835

NS

20 ± 9

6 - 47

21 ± 10

2 - 42

21 ± 8

6 - 45

23 ± 9

NS

Chỉ số

Shannon

0 - 4,60 2,42 ± 1,03

0,68 - 4,66 3,06 ± 0,82

0,10 - 4,63 2,68 ± 1,06

0,27 - 4,70 3,26 ± 0,95

<0,0001

Bảng 3 Ưu thế tích lũy mật độ tế bào của một số loài thường xuyên ưu thế được chọn theo yếu tố

mùa ở tầng mặt và tầng đáy ở đỉnh triều (ĐT) và chân triều (CT)

Table 3 Cumulative dominance in cell density of selected frequently dominant species

according to seasonal factor at surface and bottom at high tide and low tide

Loài/Triều, tầng, mùa CT -Mặt

Mùa khô Mùa khô CT -Đáy Mùa mưa CT -Mặt Mùa mưa CT -Đáy ĐT -Mặt Mùa khô Mùa khô ĐT -Đáy Mùa mưa ĐT -Mặt Mùa mưa ĐT -Đáy

Thalassionema

nitzschioides

0,95 2,96 10,33 1,74 0,93 3,13 12,57

Tảo HRKXĐ 3,43 2,21 2,81 4,36 1,67

Các loài khác 0,92 8,93 4,58 6,41 5,70 12,71 9,28 9,55

Số lượng loài đóng góp

cộng gộp tới 90%

Chỉ số giống nhau

trung bình trong nhóm (%)

12,69 17,56 7,86 9,56 12,07 19,23 7,64 10,32

Trang 8

Hình 3 Biến động tỉ lệ mật độ tế bào giữa nhóm tảo silic và tảo hai roi ở tầng mặt-chân triều (a),

tầng đáy-chân triều (b), tầng mặt-đỉnh triều (c), và tầng đáy-đỉnh triều (d)

Fig 3 Variations in cell density ratio of diatoms to dinoflagellates at surface-low tide (a),

bottom-low tide (b), surface-high tide (c), bottom-high tide (d)

4 Tương quan giữa các thông số theo

yếu tố thủy triều

Ma trận kết quả phân tích tương quan phi

tham số (theo Spearman) của từng cặp giữa

các thông số cho mối tương quan không rõ

rệt giữa các cặp biến số môi trường và sinh

học Tương quan thuận lớn nhất là giữa độ

đục và SPM nhưng không cao (r=0,33)

trong khi tương quan nghịch lớn nhất là

giữa cặp nhiệt độ và SPM (r = -0,32) Mật

độ tế bào với số lượng loài và hàm lượng

chlorophyll-a cũng có tương quan nhất định

(r = 0,26-0,27) Tuy nhiên, kết quả phân

tích CCA giữa thành phần nhóm hoặc loài

với các yếu tố môi trường ở tầng mặt và

tầng đáy cho thấy một số xu hướng nhất

định Mật độ tế bào của các nhóm TVPD đều có mối tương quan nghịch với biên độ triều ở cả tầng mặt và tầng đáy (Hình 4a,b) Đối với các loài thường xuyên chiếm ưu thế, ở tầng mặt, các loài tảo silic trung tâm

như Chaetoceros spp và Bacteriastrum

spp tương quan thuận mật thiết với biên độ triều trong khi các loài tảo hai roi không xác định và tảo silic lông chim

Thalassionema frauenfeldii lại có xu hướng tương quan nghịch với biên độ triều (Hình 5a) Ở tầng đáy, ngoài xu hướng tương

quan nghịch của các loài Chaetoceros spp

thì các nhóm tảo còn lại đều có tương quan thuận với biên độ triều, nhất là loài tảo silic

trung tâm Skeletonema costatum (Hình 5b)

0 30 60 90 120 150 180

0%

20%

40%

60%

80%

100%

6 12 3 6 9 12 3 5 8 11 2 5 8 11 2 7 8 11 2 5 8 11 2 5 8 11 2 5 8 11 3 5 8 11 3 8 2 8 2 8 2 9 3 8 3 8 3 8 3 8 4 9 4 9

1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005200620072008200920102011201220132014

0 30 60 90 120 150 180

0%

20%

40%

60%

80%

100%

6 12 3 6 9 12 3 5 8 11 2 5 8 11 2 7 8 11 2 5 8 11 2 5 8 11 2 5 8 11 3 5 8 11 3 8 2 8 2 8 2 9 3 8 3 8 3 8 3 8 4 9 4 9

1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005200620072008200920102011201220132014

Biên độ triều (cm)

Tỉ lệ mật độ tế bào Tảo hai roi Tảo silic Biên độ triều

0 30 60 90 120 150 180

0%

20%

40%

60%

80%

100%

6 12 3 6 9 12 3 5 8 11 2 5 8 11 2 7 8 11 2 5 8 11 2 5 8 11 2 5 8 11 3 5 8 11 3 8 2 8 2 8 2 9 3 8 3 8 3 8 3 8 4 9 4 9

1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005200620072008200920102011201220132014

Biên độ triều (cm)

Tỉ lệ mật độ tế bào Tảo hai roi Tảo silic Biên độ triều

0 30 60 90 120 150 180

0%

20%

40%

60%

80%

100%

6 12 3 6 9 12 3 5 8 11 2 5 8 11 2 7 8 11 2 5 8 11 2 5 8 11 2 5 8 11 3 5 8 11 3 8 2 8 2 8 2 9 3 8 3 8 3 8 3 8 4 9 4 9

1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005200620072008200920102011201220132014

Biên độ triều (cm)

Tỉ lệ mật độ tế bào Tảo hai roi Tảo silic Biên độ triều

Trang 9

Hình 4 Phân tích CCA giữa nhóm TVPD và các thông số môi trường ở tầng mặt (a)

và tầng đáy (b)

Fig 4 CCA of phytoplankton group and environmental parameters at surface layer (a)

and bottom layer (b)

a

b

EigenValue / %/Permutation p Axis 1 0,016681/ 76,03/ 0,035 Axis 2 0,004548/ 20,07/ 0,008

EigenValue / %/Permutation p Axis 1 0,008136/ 89,32/ 0,041 Axis 2 0,000566/ 06,22/ 0,606

Trang 10

Hình 5 Phân tích CCA giữa thành phần loài ưu thế và các thông số môi trường

ở tầng mặt (a) và tầng đáy (b)

Fig 5 CCA of dominant species composition and environmental parameters

at surface layer (a) and bottom layer (b)

IV THẢO LUẬN

Trạm quan trắc trong nghiên cứu này nằm

trong vùng chịu tác động mạnh của chế độ

thủy văn, phía tây là mũi Chụt và phía đông

là đảo Hòn Tre nên dòng chảy, sự xáo trộn

trong cột nước, hàm lượng vật chất lơ lửng

có sự biến động mạnh theo thời điểm triều

và theo chu kỳ gió mùa, mùa mưa-khô

(Nguyễn Kim Vinh và cs., 1999; Phạm Sĩ

Hoàn & Nguyễn Thọ Sáo, 2009; Bùi Hồng

Long & Phạm Xuân Dương, 2010) Giá trị

hàm lượng chlorophyll-a thường thể hiện

tốt mối tương quan với sinh khối của TVPD

kích thước nanomet trở lên Tuy nhiên, bên cạnh nhóm TVPD kích thước nanomet đến micromet của nghiên cứu này thì nhóm TVPD kích thước picomet đôi khi chiếm tỉ

lệ quan trọng trong giá trị hàm lượng chl-a thì giá trị này còn tùy loài theo sinh khối (nhóm và kích thước tế bào) và trạng thái tăng trưởng (Wood & Corcoran, 1966) Vì

lý do đó nên một vài thời điểm, mật độ tế bào tương quan thuận với hàm lượng chl-a nhưng cũng có thời điểm 2 thông số này gần như ngược nhau (như ở tầng mặt trong thời điểm chân triều tháng 7/2000 và 8/2011) Trong nghiên cứu này ở vài thời

b

a

EigenValue / %/Permutation p Axis 1 0,156760/ 61,71/ 0,568 Axis 2 0,067878/ 26,72/ 0,603

EigenValue / %/Permutation p Axis 1 0,148430/ 81,07/ 0,021 Axis 2 0,017476/ 09,55/ 0,603

Ngày đăng: 18/08/2021, 00:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w