TÓM TẮT Bài viết nghiên cứu về tác động của hoạt động kinh doanh phi lãi đến hiệu quả họạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2009 -2018.. Kết quả bài nghiên cứu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN NGỌC XUÂN MINH
TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOÀI LÃI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 52340201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
ThS ĐẶNG TRÍ DŨNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 2TÓM TẮT
Bài viết nghiên cứu về tác động của hoạt động kinh doanh phi lãi đến hiệu quả họạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2009 -2018 Bài viết dùng các phương pháp hồi quy như Pooled OLS, FEM, REM và FGLS để phân tích dữ liệu bảng với mãu dữ liệu thu thập từ ba mươi (30) ngân hàng thương mại Việt Nam
Kết quả bài nghiên cứu cho thấy khi NHTM thực hiện việc phát triển hoạt đồng kinh doanh ngoài lãi, cũng đồng nghĩa với việc lợi nhuận của các ngân hàng thương mai sẽ tăng lên, đúng như kì vọng đã đề ra cho nghiên cứu Bên cạnh đó, các biến như: NPL (đo bằng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ), và GDP (tăng trưởng kinh tế) có tác động ngược chiều với lợi nhuận của các ngân hàng thương mại
Dựa vào kết quả nghiên cứu, bài viết có một vài đề xuất như sau: (i) Các ngân hàng nên phát triển song song hai loại hình hoạt động kinh doanh đó là kinh doanh truyền thống và kinh doanh phi truyền thống; (ii) Các ngân hàng nên lành mạnh hóa tài chính và tập trung xử lí nợ xấu; (iii) Các ngân hàng nên có nhiều chính sách nhằm khuyến khích đầu tư để tăng vốn tự có
Từ khóa: Hoạt động kinh doanh phi lãi; Hoạt động kinh doanh phi truyền
thống; lợi nhuận; Ngân hàng thương mại; Việt Nam
Trang 3ABSTRACT
In the context of globalization and economic integration in the world from
1986 to now, Vietnam has participated in the signing of free trade agreements such
as AFTA, CTPP, ACFTA, AKFTA and join in some associations WTO, APEC, Therefore, a lot of significant fluctuations have opened up, they give us as much opportunity as they can to develop economic, social, attract investment of foreign firms to join in our country domestic market, and this creates fierce competition for domestic firms Therefore, the topic is written to make an examination of the development of the non-traditional activities of Vietnamese commercial banks, which makes the bank’s profit get higher or lower, and this research expect this type
of activities will have the positive impact to its profit
Using regression methods such as Pooled OLD, FEM, REM and FGLS, this paper analyses the impact of the non-traditional activities on profit of thirty (30) Vietnamese commercial banks in the period 2009 – 2018 This study will provide some policy recommendations to improve the profit of Vietnamese commercial bank system
There are the reasons for choosing this research topic (chapter 1), chapter 2 will send more information related to the theoretical framework of these objectives mentioned in this research:
Theory Objectives are mentioned Previous studies, law, …
- Study: Getter (2016); Rajan (1998), Li & Zou (2014); Tariq
et al (2014); Tuyishime et al (2015)
Efficiency Definition of the efficiency
Study: Antonio, Ludger & Vito (2006); Farrell (1957); Chang et al
Trang 4(1997); Odesanmi & Wolfe (2007), Chiorazzo et al (2008); Baele et al (2007); Deyoung & Rice (2004)
Measurement
Study: Vincenzo Chiorazzo et al (2008); Elsas et al (2010); Trujillo-Ponce (2013) ; Minh H T
H & Canh N T (2015); Hong T
T T et al (2018); Som Raj Nepali (2018)
Previous
research
- Income diversification and bank performance: Evidence from Italian banks;
- How do banks make money? The facilities of fee income;
- Are there diversification benefits of increasing non-interest income in the Chinese banking industry?
- Diversification in banking: is non-interest income the answer?;
- The dark side of diversification: The case of US financial holding companies
Source: Author’s synthesis
The research model proposed specifically as follows:
Yi,t = β1+ β2NTRi,t + β3SIZEi,t+ β4LOANi,t + β5NPLi,t+β6EQUITYi,t + β7DTLi,t+ β8GDPi,t+ β9INFi,t + εi,tMeaning:
Dependent variable
Average total assets
Independent variable
Non-traditional
Non-performing loan NPL Non − performing loan value
Trang 5Equity ratio EQUITY Owners′equity
Not calculated variable, taken from General Statistics Office
of Vietnam
-
Source: Author’s synthesis
The regression methods, which are used for this study, are Pooled OLS, FEM, REM and FGLS So that, chapter 3 will provide the explanation and hypothesis for each independent variable in the model
Chapter 4 is for running those four-regression and give results, test and choose the suitable model for this study First, the author conducted three models: Pooled OLS, FEM and REM And the REM model is the most appropriate However, after doing some examination to test the defects of this model, it has the heteroscedasticity To surmount the above defect, the FGLS regression is used for resolving and here is the result:
ROA = 0.176 + 0.00026*NTR + 0.00435*SIZE +0.0743*EQUITY
– 0.0842*NPL– 0.0163*GDP + 0.0222*INF The model still has a limitation when it do not have both predictive effect and normal distribution
According to the above results, the author will provide some recommendation with chapter 5, to enhance their business as well as profit and efficiency of Vietnamese commercial banks There are some variables, which have
a difference between the result and the expectation, such as:
Trang 6Variable Symbol Expectation Result
Dependent variable
Independent variable
Source: Author’s synthesis
From the estimated results of the last regression model, non-traditional activities ave a positive impact on the profitability of banks besides other factors related loans, equity scale have a positive impact Through this study, banks may give directions as well as expansion of non-traditional activities in order to increase income, help bank adjust and limit the risks of the bank
Based on study results, the article has some suggestions as follows: (i) Banks should develop along two types of business activities such as traditional business and non-traditional business; (ii) Banks should be healthy financial and concentrate
on handling bad debts; (iii) Banks should have many policies to encourage investments to increase their own capital
Key words: Non-interest activities; Non-traditional activities; Profit;
Commercial bank; Vietnam
Trang 7LỜI CAM ĐOAN / LỜI CẢM ƠN
Khóa luận này là công trình nghiên cứu của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được nguồn đầy đủ trong khóa luận
Tôi xin cảm ơn đến quý thầy cô và các bạn Trường Đại học Ngân hàng và lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi đến Thầy cô ở Khoa Tài chính – Ngân hàng Trường Đại học Ngân hàng TP HCM đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình
đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Và đặc biệt trong chương trình thực tập tốt nghiệp với sự hướng dẫn của Thầy Đặng Trí Dũng đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong công tác chọn đề tài, cách viết
đề tài, cũng như sự hướng dẫn sâu sắc trong cách làm việc, sinh hoạt trong môi trường thực tập
Bên cạnh đó, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã luôn bên cạnh, hỗ trợ, động viên để tôi hoàn thành tốt chương trình thực tập
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song không thể tránh khỏi các thiếu sót mà bản thân chưa thấy được, hạn chế về mặt kiến thức và kinh nghiệm nhất định Tôi rất mong sự góp ý của quý Thầy/Cô giáo để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Xuân Minh
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FEM Fixed Effect Model Mô hình hồi quy tác động cố định
FGLS Feasible Generalised Least
Squares
Phương pháp ước lượng bình phương
bé nhất tổng quát khả thi
NCKH Scientific research Nghiên cứu khoa học
NHTM Commercial Bank Ngân hàng thương mại
OLS Ordinary Least Square Phương pháp bình phương nhỏ nhất REM Random Effect Model Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 - Tổng kết các nghiên cứu về tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi
đến lợi nhuận của NHTM 19
Bảng 3.1 - Nguồn dữ liệu của biến 23
Bảng 3.2 - Danh sách các NHTM được dùng trong bài nghiên cứu 24
Bảng 3.3 - Tổng hợp các nhóm nợ 26
Bảng 3.4 - Các biến sử dụng 32
Bảng 4.1 - Kết quả mô tả 38
Bảng 4.2 - Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình hồi quy 41
Bảng 4.3 - Kết quả ước lượng theo phương pháp Pooled OLS, FEM và REM 43
Bảng 4.4 - Kết quả kiểm định F-test 44
Bảng 4.5 - Kết quả kiểm định Hausman 44
Bảng 4.6 - Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi 45
Bảng 4.7 - Kết quả kiểm định tự tương quan 45
Bảng 4.8 - Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 45
Bảng 4.9 - Ước lượng mô hình hồi quy theo phương pháp FGLS 46
Bảng 4.10 - Kết quả kiểm tra tiên đoán phần dư 47
Bảng 4.11 - Kết quả kiểm định phần dư có phân phối chuẩn 47
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 3.1 - Quy trình thực hiện nghiên cứu 33
PHỤ LỤC Phụ lục 1 - Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu xix
Phụ lục 2 - Kết quả hồi quy theo Pooled OLS xx
Phụ lục 3 - Phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu xx
Phụ lục 4 - Kết quả hồi quy theo FEM xxi
Phụ lục 5 – Kết quả hồi quy theo REM xxii
Phụ lục 6 - Kết quả kiểm định Hausman xxiii
Phụ lục 7 – Kiểm định phương sai sai số thay đổi xxiii
Phụ lục 8 - Kiểm định tự tương quan chuỗi xxiv
Phụ lục 9 – Kiểm định đa cộng tuyến xxiv
Phụ lục 10 – Khắc phục khuyết tật của mô hình REM bằng FGLS xxv
Phụ lục 11 – Kết quả kiểm tra tiên đoán phần dư xxv
Phụ lục 12 - Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư xxv
Phụ lục 13 – Dữ liệu nghiên cứu của đề tài – Biến vi mô xxvi
Trang 10Phụ lục 14 - Dữ liệu nghiên cứu của đề tài – Biến vĩ mô xxxix
Trang 11MỤC LỤC
TÓM TẮT i
ABSTRACT ii
LỜI CAM ĐOAN / LỜI CẢM ƠN vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
PHỤ LỤC viii
MỤC LỤC x
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.1.1 Đặt vấn đề 1
1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Đóng góp của đề tài 4
1.7 Kết cấu bài nghiên cứu 5
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG NGOÀI LÃI, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG 8
2.1 Cơ sở lý thuyết và các thực nghiệm nghiên cứu 8
2.1.1 Khái niệm 8
Trang 122.1.2 Kinh doanh ngoài lãi và lợi nhuận của NHTM 9
2.1.3 Hiệu quả hoạt động của NHTM 10
2.1.4 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng 12
2.2 Tổng quan nghiên cứu 15
2.2.1 Tỷ lệ kinh doanh phi lãi 15
2.2.2 Hiệu quả hoạt động và lợi nhuận 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 22
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Nguồn dữ liệu 23
3.2 Kỹ thuật chọn mẫu 24
3.3 Phương pháp ước lượng biến 25
3.3.1 Ước lượng biến NTR 25
3.3.2 Ước lượng biến SIZE 26
3.3.3 Ước lượng biến NPL (Non-performing loan ratio – Chất lượng tài sản) 26 3.3.4 Ước lượng biến EQUITY (Độ phù hợp vốn) 27
3.3.5 Ước lượng biên LOAN (Cấu trúc tài sản) 27
3.3.6 Ước lượng biến DTL (Cấu trúc tài trợ) 27
3.3.7 Biến tăng trưởng kinh tế (GDP) 27
3.3.8 Biến tỷ lệ lạm phát (INF) 28
3.4 Mô hình ước lượng sử dụng 28
3.4.1 Mô hình hồi quy gộp (Pooled OLS) 28
3.4.2 Mô hình tác động cố định (FEM) 29
3.4.3 Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) 30
3.4.4 Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS – Feasible Generalized Least Squares) 31
3.5 Phương pháp hồi quy 32
3.5.1 Các biến dùng trong mô hình 32
3.5.2 Phương pháp thực hiện mô hình nghiên cứu 33
3.5.3 Mô hình nghiên cứu 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 37
Trang 13CHƯƠNG 4: THỰC HIỆN VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Kết quả thống kê mô tả dữ liệu 38
4.1.1 Mô tả thống kê các biến 39
4.1.2 Xu hướng thay đổi của ROA và NTR 41
4.2 Phân tích tương quan 41
4.2.1 Mối quan hệ tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 42
4.2.2 Mối quan hệ tương quan giữa các biến độc lập 42
4.3 Ước lượng mô hình hồi quy theo phương pháp Pooled OLS, FEM, REM 42
4.3.1 So sánh giữa mô hình Pooled OLS và FEM 44
4.3.2 So sánh giữa mô hình FEM và REM 44
4.3.3 Kiểm định phương sai của sai số thay đổi 45
4.3.4 Kiểm định tự tương quan 45
4.3.5 Kiểm định đa cộng tuyến 45
4.3.6 Khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi bằng phương pháp FGLS 46
4.3.7 Kiểm tra tiên đoán phần dư 47
4.3.8 Kiểm tra phân phối chuẩn của phần dư 47
4.4 Kết quả nghiên cứu 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 50
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
5.1 Một số khuyến nghị 51
5.2 Hạn chế của đề tài 53
5.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO xiii
PHỤ LỤC xix
Trang 14CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
1.1.1 Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay, Việt Nam dần tham gia vào việc kí kết các hiệp định thương mại tự do như AFTA, CTPP, ACFTA, AKFTA, và gia nhập các tổ chức WTO, APEC, … Từ đó, đã mở
ra nhiều biến động đáng kể, đem đến các cơ hội phát triển kinh tế, xã hôi, thu hút đầu tư nước ngoài cũng như sự gia nhập của các doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường trong nước, đồng thời, điều này gây ra sự cạnh tranh gay gắt cho các doanh nghiệp trong nước Tuy khó khăn, nhưng đây cũng là thách thức mà các doanh nghiệp phải đối mặt để nâng cao sản phẩm cũng như chính sách thu hút khách hàng, đắc biệt là đối với ngân hàng, khi không còn nhận được quá nhiều sự hỗ trợ từ nhà nước như trước Việc mở rộng các chính sách cũng như hình thức sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng, kết hợp với lãi suất hấp dẫn nhằm thu hút khách hàng đang được các ngân hàng sử dụng ngày cành phổ biến, phát triển phong phú và hấp dẫn hơn
Từ đây, các ngân hàng có thế hấp đẫn được lượng lớn khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh đối với các đối thủ trong cùng ngành, và đây cũng là một xu thế tất yếu
để tồn tại và phát triển của các NHTM ở các nước phát triển
Thực tế, có nhiều chứng minh đã cho thấy rằng trên thế giới đã có nhiều ngân hàng vấp phải rủi ro khi chỉ tập trung vào việc phát triển chủ yếu hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng, dẫn đến các khoản nợ khó đòi, nợ xấu vượt ngưỡng cho phép từ 4-5%, có tác động đáng kể đến lợi nhuận cũng như hiệu quả hoạt động của ngân hàng Do đó, xây dựng lại hướng đi mới là điều cấp thiết để phát triển ngân hàng, họ nhận ra rằng đẩy mạnh các hoạt động thu nhập ngoài lãi đã mang đến nhiều lợi ích cũng như tác động tích cực hơn cho hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, làm giảm đi hoặc góp phần phân tán các rủi ro
Từ đây, Câu hỏi được đưa ra là liệu rằng các hoạt động kinh doanh ngoài lãi
có thực sự tác động tốt đến hiệu quả của hoạt động kinh doanh của ngân hàng hay ngược lại là sẽ có tác động làm giảm khả năng sinh lời, đồng thời tăng nguy cơ phá
Trang 15sản theo nghiên cứu của một số tác giả trước đây… Do đó, để giải đáp và góp phần
đáp ứng khả năng thực tiễn đến Việt Nam, tôi đã lựa chọn thực hiện đề tài “Tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi đến hiệu quả hoạt động của NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2009-2018”
1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Song song với thu nhập lãi từ các từ các hoạt động thông thường, thì việc phát triển mạng lưới các sản phẩm dịch vụ ngoài lãi như môi giới, tư vấn tài chính, quản lí danh mục đầu tư, chuyển tiền, … tạo nhiều điều kiện thuận lợi để có thể cạnh tranh trên tị trường, tùy những phân khúc khác nhau và từng đối tượng, như nhu cầu mới Tuy nhiên, trong khi các ngân hàng ở châu Âu, Mỹ, đang có xu hướng đẩy mạnh các hoạt động phi truyền thống thì các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào nguồn thu lãi truyền thống - từ tín dụng Theo báo cáo của các ngân hàng, thu nhập ngoài lãi đóng góp không quá 25% của tổng thu nhập hoạt động và vẫn còn phát triển khá chậm so với các đối thủ cạnh tranh từ nước khác trong cùng ngành
Để chứng minh điều này, trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu thực nghiệm
về vấn đề này Theo kết quả nghiên cứu của Baele và cộng sự (2007), nhờ vào việc
mở rộng hoạt động phi truyền thống (kinh doanh ngoài lãi) mà các ngân hàng có thể
có thêm cơ hội tiếp cận nhiều nguồn thông tin mới, tạo điều kiện để thuận lợi bán chéo sản phẩm, phát triển các sản phẩm dịch vụ khác tác động tích cực hơn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Trong một vài nghiên cứu khác đã đưa ra kết quả phân tích tích cực từ các thu nhập ngoài lãi, các hoạt động phi truyền thống giúp các ngân hàng giảm được rủi ro như Smith và cộng sự (2003); Saunders, Schmid và Walter (2014); Singh và Upadhyay (2016), … và các nghiên cứu trong nước cũng đưa ra kết luận tương tự như Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016); Trịnh Thị Thuý Hồng và cộng sự (2018) …
Bên cạnh đó, còn có các nghiên cứu đưa ra kết luận trái chiều khi thu nhập ngoài lãi làm tăng rủi ro như nghiên cứu của Lepetit, Nys, Rous, và Tarazi (2008);
Li và Zhang (2013); Williams (2016) Họ cho rằng việc mở rộng các hoạt động kinh
Trang 16doanh phi truyền thống sẽ dẫn đến việc các ngân hàng tiêu tốn lượng lớn chi phí cố định, làm gia tăng đòn bẩy hoạt động và rủi ro cao hơn Chính vì còn có nhiều nghiên cứu đa chiều được đưa ra nên tôi muốn thực hiện đề tài nghiên cứu: “Tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi đến HQHĐ của NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2009-2018” để có thể đưa ra một cách nhìn nhận đầy đủ hơn và hướng đi phù hợp đối với các NHTM Dựa trên nội dung cơ cấu lại hoạt động tài chính các tổ chức tín dụng (TCTD) đưa ra: “Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng thu nhập
từ hoạt động phi tín dụng” Đây cũng chính là xu hướng cho các NHTM thực hiện
và ngày càng nên được chú trọng hơn khi mà mảng dịch dịch vụ phi tài chính còn khá mờ nhạt với qui mô dịch vụ nhỏ và khả năng cạnh tranh yếu trong thời kì hội nhập đầy thách thức khó khăn với thế giới đặc biệt là các ngân hàng lớn nước ngoài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Bài nghiên cứu tìm hiểu về tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi đến đến lợi nhuận của ba mươi (30) NHTM như thế nào Từ đó, đề xuất chính sách và giải pháp cho các NHTM
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định biến đại diện cho hoạt động kinh doanh ngoài lãi của NHTM
- Xác định tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi đến lợi nhuận của NHTM VN
- Đo lường mức độ tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi đến lợi nhuận của NHTM VN
- Đưa ra các khuyến nghị cần thiết trong phạm vi nghiên cứu tác động tới thu nhập của NHTM VN
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Sau khi xác định được mục tiêu nghiên cứu như đã trình bày ở trên, một số câu hỏi nghiên cứu sau đây được đặt ra:
- Mức độ tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi như thế nào?
Trang 17- Các NHTM VN có nên đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ngoài lãi để tăng lợi nhuận hay không?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn từ
2009 đến 2018 dựa trên báo cáo tài chính và báo cáo thường niên
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2009 đến 2018
- Phạm vi không gian: ba mươi (30) NHTM Việt Nam
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp ước lượng là Mô hình tác động cố định (Fixed Effect Model) và Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model) Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp Bình phương tổi thiểu tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares) nhằm khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi của mô hình nghiên cứu
1.6 Đóng góp của đề tài
Về mặt khoa học: Đề tài góp phần xây dựng các cơ sở lý thuyết và mô hình
đề xuất cho nghiên cứu về mối liên hệ giữa hoạt động kinh doanh ngoài lãi và lợi nhuận của NHTM
Về mặt thực tiễn: Đề tài đưa ra các khuyến nghị về việc phát triển hoạt động kinh doanh ngoài lãi cũng như các đề xuất để nâng cao hiệu quả hoạt động, cụ thể là lợi nhuận của NHTM hiện nay
Là một trung gian tài chính, các NHTM đóng một vai trò quan trọng trong hầu hết các nền kinh tế Hiệu quả hoạt động của các NHTM có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng của kinh tế Hoạt động có hiệu quả và có lợi nhuận giúp cho các NHTM
có thể chịu được các cú sốc và góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính Bài viết tập trung vào tìm hiểu tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi đến lợi nhuận của các NHTM tại Việt Nam, từ đó đưa ra các khuyến nghị để cải thiện các biến có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng này Nghiên cứu này sẽ
Trang 18cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách và quản lý ngân hàng bằng chứng thực nghiệm về tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi đến lợi nhuận của các NHTM tại Việt Nam từ năm 2009 đến 2018 Sau đó, nghiên cứu này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng kiểm soát cũng như tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của các NHTM
1.7 Kết cấu bài nghiên cứu
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Giới thiệu tổng quan về đề tài, chương này bao gồm các nội dung chính như
lý do nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như những đóng góp mới của nghiên cứu
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOÀI LÃI, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG
Chương 2 bao gồm các nội dung như các lý thuyết về thu nhập truyền thống
và phi truyền thống của NHTM và các yếu tố ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh ngoài lãi đến HQHĐ của NHTM Chương này giới thiệu sơ lược một số nghiên cứu trước đây trong nước cũng như trên thế giới nói chung, đồng thời đưa ra so sánh các luận điểm khác nhau đối với các đề tài Đồng thời tổng kết lại các mô hình nghiên cứu trước đây về các tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi để làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày cụ thể về phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, mô tả chi tiết các bước thực hiện trong quá trình nghiên cứu, cũng như phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu Phần này sẽ nêu rõ mô hình hồi quy được sử dụng để nghiên cứu, giải thích các biến và cách tính toán cũng như
kỳ vọng dấu của các biến
CHƯƠNG 4: THỰC HIỆN VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nội dung chủ yếu là trình bày kết quả mô mình: thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan mô hình, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, kiểm định
Trang 19hiện tượng phương sai thay đổi, kiểm định hiện tượng tự tương quan Bên cạnh đó, còn sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, xác định kết quả cuối cùng của mô hình
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Dựa vào kết quả ước lượng mô hình hồi quy dữ liệu bảng với các mô hình trên kết quả dự kiến đạt được hoạt động kinh doanh ngoài lãi có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng bên cạnh các yếu tố khác liên quan như dư nợ cho vay, quy mô vốn chủ sở hữu… có tác động tích cực Qua bài nghiên cứu này, các ngân hàng có thể đưa ra hướng đi cũng như mở rộng các hoạt động phi truyền thống để
có thể tăng thu nhập đồng thời giúp điều chỉnh, hạn chế được rủi ro của ngân hàng
Trang 20KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 trình này các nội dung:
- Đặt vấn đề
- Tính cấp thiết của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
- Kết cấu bài nghiên cứu
Trong đó, các chương được sắp xếp theo bố cục nhằm trả lời các câu hỏi sau:
- Tỷ lệ kinh doanh ngoài lãi có ý nghĩa tác động tới lợi nhuận của NHTM VN hay không?
- Các NHTM VN có nên phát triển các loại hình hoạt động kinh doanh ngoài lãi để để gia tăng HQHĐ hay không?
Sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là FEM và REM để có thể đánh giá tác động hoạt động kinh doanh ngoài lãi của ngân hàng cũng như đưa ra những kiến nghị phù hợp dưới góc nhìn của tác giả
Trang 21CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG NGOÀI LÃI, HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG
2.1 Cơ sở lý thuyết và các thực nghiệm nghiên cứu
2.1.1 Khái niệm
2.1.1.1 NHTM và thu nhập của NHTM
NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng, mà nó có thể thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận (theo luật các TCTD 47/2010/QH12, 2010)
Theo Getter (2016), NHTM là một tổ chức tài chính đang hoạt động với hai hinh thức kinh doanh chính đó là một liên bang nhận bảo hiểm cho tiền gửi của KH
và trả lãi cho họ khi đến hạn; đồng thời thực hiện dịch vụ cấp vốn tín dụng, kiểm tra
số dư tiền mặt, thanh toán bù trừ và chứng khoán bảo lãnh Tương tự thế, các khái niệm khác về NHTM cho rằng, NHTM được quy định như các tổ chức được thành lập với hai chức năng là trả lãi tiền gửi và hoạt động cấp vốn tín dụng (Rajan, 1998) NHTM sử dụng tiền gửi của KH để phát hành các khoản vay và phụ vụ cho hoạt động thanh toán (Li & Zou, 2014) Và điều này đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông các nguồn lực tài chính đối với nền kinh tế hiện đại (Tariq et al., 2014) Một định nghĩa khác về NHTM cho rằng, nó là một trung gian tài chính có thể giup cho những người có như cầu về tiền vốn đầu tư sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trường vào các hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụ mục đích cá nhân (Tuyishime et al., 2015)
Nói tóm lại, NHTM trong đề tại được nghiên cứu dưới định nghĩa là một tổ chức tài chính, hoạt động dưới hình thức nhận tiền gửi, trả lãi cho người gửi tiền và cấp vốn tín dụng cho các thành phần kinh tế khác để tạo điều kiện phát triển cho nên kinh tế của một quốc gia
Hoạt động kinh doanh của NHTM là việc kinh doanh và cung ứng một số nghiệp vụ, ví dụ như: nhận tiền gửi, cung cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản Từ hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, có thể chia nguồn thu nhập của NH thành hai phần: thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi thuần
Trang 22Thu nhập từ lãi thuần là khoản thu từ lãi (từ hoạt động cho vay, từ khoản tiền gửi tại các tổ chức tín dụng và thu thu đầu tư chứng khoán nợ) trừ đi chi phí lãi
Thu nhập ngoài lãi thuần bao gồm lãi (lỗ) thuần từ hoạt động dịch vụ, từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, từ mua bán chứng khoán kinh doanh, mua bán chứng khoán đầu tư, từ hoạt động khác và thu nhập từ góp vốn mua cổ phần
2.1.2 Kinh doanh ngoài lãi và lợi nhuận của NHTM
Các hoạt động kinh doanh ngoài lãi hay có thể hiểu là đa dạng hóa thu nhập bao gồm các hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư, góp vốn cổ phần và các hoạt động khác Việc mở rộng các loại hình kinh doanh ngoài lãi của các NH được thể hiện thông qua sự thay đổi của tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trong phần tổng thu nhập của NH Bên cạnh việc tập trung vào hoạt động cấp vốn tín dụng, các NHTM cần mở rộng mạng lưới sản phẩm dịch vụ phi tín dụng Như vậy, việc phát triển hoạt động kinh doanh ngoài lãi có nhiều phương pháp: cung cấp nhiều sản phẩm phi tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính tiền tệ của khách hàng nhằm mang lại lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ, mở rộng hoạt động đầu tư (hoạt động kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư, góp vốn mua cổ phần) (Lý Hải Triều, 2016) Tỷ lệ TNNL càng cao thể hiện mức độ đa dạng dóa thu nhập của NHTM cụ thể đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác phi tín dụng và hiệu quả của các sản phẩm này càng lớn Điều này thể hiện, việc mở rộng kinh doanh ngoài lãi cũng giup cho các NHTM có thể phân tán các rủi ro có thể có trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ của NH (Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền, 2010)
Trong quá trình phát triển các loại hình sản phẩm kinh doanh phi truyền thống, các NHTM có thể sử dụng hiệu quả và triệt để các cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như đội ngũ cán bộ của chính mình Vì thế, các chi phí quản lí, chi phí hoạt động sẽ giảm, tặng lời nhuận cho các NH Đồng thời, khi thực hiện mở rộng hoạt động kinh doanh này, các ngân hàng còn có thể phân tán lời và giảm thiểu các rủi
ro, đặc biệt là rủi ro từ hoạt động tín dụng Từ một quan điểm lý thuyết, việc quyết định thực hiện đa dạng hóa thu nhập hay phát triển các sản phẩm kinh doanh phi lãi
Trang 23là điều cần thiết cho cả hai vấn đề: hiệu quả và quản lí rủi ro Theo Klein và Saidenberg (1997), trên góc nhìn kinh tế, việc phát triển một loạt các dịch vụ tài chính làm tăng hiệu quả của NH Do đó, có thể nói, phát triển các loại hình dịch vụ mới góp phần tăng khả năng sinh lời Khi các nhà nghiên cứu xem xét về rủi ro, họ thấy rằng, đa dạng hóa nguồn thu nhập là sự thay đổi từ lãi đến phi lãi, nên giảm tổng rủi ro Theo Odesanmi và Wolfe (2007), tăng tỷ lệ TNNL giúp cho ngân hàng
có nguồn thu nhập ổn định hơn, từ đây giúp cải thiện hiệu quả kinh doanh và điều chỉnh rủi ro Việc gia tăng TNNL sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động của các NH, đặc biệt là đối với các NH lớn thì sự tác động này càng thể hiện rõ ràng và cụ thể hơn (Chiorazzo và cộng sự, 2008; Baele và cộng sự, 2007) Cũng nghiên cứu về vấn đề này, theo Deyoung và Rice (2004), với nghiên cứu về mối quan hệ giữa TNNL và hiệu quả tài chính của các NHTM tại Mỹ, có sự rút kết rằng, tỷ lệ TNNL có tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Việc phát triển các sản phẩm trong quá trình kinh doanh của NHTM cũng chỉ hướng tới mục đích là tối đa hóa lợi nhuận Để đạt được mức thu lợi nhuận cao nhất thì vấn đề chủ yếu ở đây là quản lý thật tốt các khoản mục tài sản bên Có (Ngọc Anh, 2016) Lợi nhuận của NHTM được tính theo công thức sau:
Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – Thuế thu nhập doanh nghiệp Nhìn chung, khi nguồn thu nhập được mở rộng, NH có thể tối đa hóa lợi nhuận qua việc sử dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán
bộ của mỗi NH; do vậy, giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động
2.1.3 Hiệu quả hoạt động của NHTM
Có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa cũng như cách ước lượng về HQHĐ của NHTM:
- Theo Antonio, Ludger và Vito (2006), hiệu quả hoạt động được xem như phép so sánh giữa đầu vào và đầu ra hay giữa lợi nhuận và chi phí Với cùng một mức đầu vào được nhất định, hoạt động nào có thể tạo ra nhiều đầu ra hơn sẽ là hoạt động có hiệu quả cao hơn” Hoặc là theo Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế
Trang 24lượng Anh – Việt (PGS.TS Nguyễn Khắc Minh, 2004), hiệu quả được xem là mức
độ đạt được mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng hoàn thành việc thực hiện phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu được lập ra
- NHTM là một trung gian tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh
tế thị trường, luôn có hoạt động điều chuyển nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu (Peter S Rose, 2014), và trong việc kinh doanh, hoạt động của NH phải luôn có sự kết hợp giữa hai yếu tố là tối đa hoá lợi nhuận nhưng trong mức rủi ro cho phép – mức rủi ro NHTM có thể chấp nhận được
- Hiệu quả thể hiện sự tương quan giữa các biến đầu ra thu được so với các biến đầu vào, biến đã được sử dụng để tạo ra những đầu ra đó: trong đó, hiệu quả chi phí hay hiệu quả kinh tế bao gồm hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Hiệu quả kỹ thuật là chỉ số thể hiện khả năng sản xuất tối đa của đơn vị với đầu vào được cho trước, còn hiệu quả phân bổ được dùng để phản ánh khả năng tối ưu hoá các yếu tố đầu vào khi đã biết giá cả của chúng Do vậy, hiệu quả còn có thể nói cách khác là những lợi ích mang lại từ các hoạt động cụ thể dưới hình thức tối ưu hoá đầu vào và tối đa hoá đầu ra (Farrell, 1957)
- Có thể hiểu, HQHĐ của một NHTM như là khả năng tạo ra lợi nhuận của NHTM đó trong điều kiện hạn chế rủi ro và các hoạt động của NH vẫn đúng theo mục tiêu đã định Theo Chang & cộng sự (2010) cũng nêu rằng hiệu quả cũng phản ánh năng lực quản lí, sử dụng nguồn lực và kiểm soát chi phí để tạo đầu ra
- NHTM vận dụng các nguồn lực (lao động, cơ sở vật chất, nguồn vốn) để thực hiện các hoạt động kinh doanh chính: cấp tín dụng, nhận tiền gửi, đầu tư… để tạo lợi nhuận cho chính NHTM Đây cũng được xem là một cơ sở để xác định sự hiệu quả và các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM
- Theo quan điểm được nêu trong các bài nghiên cứu của Elyasiani và Mehdian (1990a, 1990b) và Mester (1987), tác giả đã xác định đầu ra trong hoạt động của NHTM dưới vai trò trung gian tài chính là tài sản của các ngân hàng, trong khi các khoản tiền gửi, lao động và vốn là yếu tố đầu vào Điều quan trọng
Trang 25nhất trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng là thu nhập lãi, và phụ thuộc vào nghiệp
vụ cấp tín dụng (cụ thể là cho vay) Do đó, phát triển tín dụng là rất quan trọng đối với các ngân hàng Trong đó, vốn cho vay được xem như một sản phẩm và lãi xuất cho vay được xem như giá của khoản tín dụng đó
Như vậy, thông qua các quan điểm trên, có thể hiểu HQHĐ của NHTM là khả năng tối ưu hóa các yếu tố đầu vào như nguồn lực tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất, và các yếu tố khác trong quá trình hoạt động, vận hành của chính NHTM như huy động vốn, cấp tín dụng, đầu tư và phát triển các sản phẩm dịch vụ khác nhằm đạt được kết quả đầu ra tối đa Hay có thể hiểu HQHĐ của NHTM theo ba hướng: (1) Tối thiểu hóa chi phí - sử dụng ít các yếu tố đầu vào để tạo ra thu nhập (2) Đầu vào cố định nhưng tối đa hoá đầu ra
(3) Sử dụng nhiều yếu tố đầu vào nhưng lượng đầu ra cũng phải tăng – tỷ lệ thuận với tốc độ đầu vào sử dụng, và tăng nhiều hơn so với lượng đầu vào được dùng
Hệ thống NHTM là một thành phần đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong nền kinh tế nên HQHĐ ngân hàng là một trong những vấn đề luôn được quan tâm Và ngày nay, khi xã hội phát triển, có sự hội nhập quốc tế, việc nâng cao HQHĐ là điều cấp thiết và tất yếu của mỗi ngân hàng nhằm củng cố tiềm lực của bản thân, và an toàn hoạt động trong nền kinh tế mở đầy tính cạnh tranh như hiện nay
Với mục đích nghiên cứu của đề tài này, hiệu quả kinh doanh của các NHTM
sẽ được xem xét dưới khía cạnh là khả năng sinh lời hay kết quả lợi nhuận của các
NH
2.1.4 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Để đo lường HQHĐ của một NHTM, ROA, ROE và NIM thường được lựa chọn bởi các nghiên cứu:
- Theo Tariq et al (2014), bài viết đề xuất hai chỉ số để đo lường khả năng sinh lời của NH, cụ thể là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động (NIM) ROE phản ánh
Trang 26năng lực quản trị vốn của các NH trong việc sử dụng vốn đầu tư của các bên liên quan (Molyneux & Thornton, 1992), được đo lường bằng lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (Ichsani & Suhardi, 2015)
- NIM được đo lường dựa trên thu nhập ròng trên tổng giá trị tài sản (Memmel
& Schertler, 2011)
- ROA được sử dụng để đo lường hiệu quả sử dụng tài sản (Pastory & Marobhe, 2015), đo lường bằng tỷ lệ thu nhập ròng trên tổng giá trị tài sản của các NH (Saragih, 2018) Theo Khrawish (2011), ROA cho chúng ta thấy cách một công ty quản lý và sử dụng tài sản của nó để tạo ra dòng tiền
- Để đo lường hiệu quả của các NHTM có một số chỉ số thường được sử dụng như ROA, ROE (Fredrick, 2014; Rose, 2002)
- Fredrick Mwaura Mwangi (2014): đã sử dụng ROA, ROE và NIM để đo lường chỉ tiều về HQHĐ
Thông qua các nghiên cứu trên, hầu hết các tác giả đều dùng hai chỉ số ROA
và ROE để đo lường khả năng sinh lợi hay tỷ số lợi nhuận được dùng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM (Nguyễn Minh Kiều, 2009)
2.1.4.1 Tỷ suất simh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE):
Nguồn: Phân tích tài chính doanh nghiệp, Ngô Kim Phương (2018)
- ROE chính là chỉ số phản ánh hiệu quả của vốn chủ sở hữu Nói cách khác,
tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là chỉ số đo lường hiệu quả đầu tư của vốn chủ sở hữu- phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào ngân hàng đem lại cho chủ sở hữu bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, cho nên luôn nhận được sự quan tâm rất lớn từ các nhà đầu tư
Trang 27- Nếu tỷ số này mang giá trị dương, ngân hàng kinh doanh hoạt động có lãi Nếu mang giá trị âm là ngân hàng kinh doanh thua lỗ Và đồng thời, khi chỉ
số ROE càng cao chứng tỏ ngân hàng có sự cân đối trong việc sử dụng vốn
cổ đông so với đồng vốn đi vay của mình một cách hiệu quả để tạo ra lợi nhuận trong quá trình hoạt động
- Tổ chức Moody’s cho rằng nếu ROE của ngân hàng lớn hơn 15% thì ngân hàng đó đã hoạt động tạo ra lợi nhuận còn thấp hơn quá nhiều hoặc vượt mức quá nhiều nên xem xét lại quá trình hoạt động
2.1.4.2 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on Assets – ROA)
- Công thức tính:
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân (Y)
(Y) = Tổng tài sản đầu kỳ + Tổng tài sản cuối kỳ
2
Nguồn: Phân tích tài chính doanh nghiệp, Ngô Kim Phương (2018)
- ROA là chỉ số đo lường khả năng các NHTM kiểm soát, quản lí và sử dụng các nguồn lực tài chính để tạo ra lợi nhuận và cho biết lợi nhuận ròng mà ngân hàng đạt được từ một đồng đầu tư và tổng tài sản, được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng trong kỳ chia cho bình quân tổng tài sản trong kỳ với lợi nhuận ròng là thu nhập ròng - thu nhập sau thuế của ngân hàng, còn tài sản được hình thành từ vốn chủ sở hữu và các khoản vay, do vậy ROA bị ảnh hưởng bởi chính sách thuế và chi phí lãi vay dẫn đến sự khác biệt của ROA Ngoài việc chịu tác động của chính sách thuế và chi phí lãi vay như đã nêu,
sự khác biệt của ROA còn được gây ra bởi chính sách pháp luật, các loại lãi suất cũng như sự cạnh tranh và thậm chí là lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh Theo đánh giá của tổ chức Moody’s, đối với ngành ngân hàng, chỉ số ROA ổn định rơi vào khoảng trên 1% ROA là chỉ số đại biểu cho hiệu quả của việc sử dụng vốn cho nên khi ROA càng cao thì cũng có thể xem như ngân hàng đó đã sử dụng tốt nguồn vốn của mình tạo ra lợi nhuận trên nguồn đầu tư, và phải luôn kiểm soát ROA dao động
Trang 28trong ngưỡng ổn định (cần xem xét lại các hoạt động của ngân hàng nếu ROA vượt khỏi ngưỡng ổn định)
2.2 Tổng quan nghiên cứu
2.2.1 Tỷ lệ kinh doanh phi lãi
Trong bài viết này, việc tính thu nhập từ hoạt động kinh doanh phi lãi (hay còn được gọi là đa dạng hóa thu nhập) của các NHTM dựa vào cấu trúc thu nhập bao gồm thu nhập từ lãi và ngoài lãi Chỉ số NTR là chỉ số dùng để đo lường mức
độ đóng góp của hoạt động kinh doanh ngoài lãi vào thu nhập của ngân hàng (Vincenzo Chiorazzo và các tác giả 2008; Elsas và cộng sự, 2010; Trujillo-Ponce 2013; Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành, 2015; Trịnh Thị Thuý Hồng và cộng sự, 2018; Som Raj Nepali 2018) Chỉ số NTR được đo lường như sau:
NTR = 1 − [( NON
NETOP)
2
+ ( NETNETOP)
2
] Với:
𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑟ò𝑛𝑔 𝑡ừ 𝑙ã𝑖 + 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑟ò𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖
𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑟ò𝑛𝑔 𝑡ừ 𝑙ã𝑖 + 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑟ò𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 𝑁ETOP = NON + NET
[( NON
NETOP)2+ ( NET
NETOP)2]: Chỉ số Herfindahl - Hirschman Index, dùng để
đo lường về sự chuyên môn hóa đa nhập
Như vậy, NTR chịu tác động của 2 biến là thu nhập ròng từ lãi (NET) và thu nhập ròng ngoài lãi (NON) Chỉ số NTR nhận giá trị [0 ; 0.5] Nếu NTR = 0 nghĩa
là cơ cấu thu nhập của ngân hàng hoàn toàn tập trung và một nguồn thu nhập duy nhất hay nói cách khác, khi hoạt động kinh doanh ngoài lãi của ngân hàng rất ít, hoạt chỉ đóng góp rất ít, thậm chí là không có sự đóng góp của thu nhập từ các hoạt động này vào thu nhập của NHTM, tức là, khi thu nhập thuần từ hoạt động xuất phát hoàn toàn hoặc là từ thu nhập lãi ròng Nếu NTR = 0.5 tức là ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh phi truyền thống ở mức tối đa (Trịnh Thị Thuý Hồng
Trang 29& cộng sự, 2018), sự đa dạng hóa hoàn toàn Đặc điểm của các NHTM của Việt Nam đang tập trung chủ yếu là cho vay nên NTR chịu tác động mạnh mẽ của phần
tỷ lệ NET
NETOP, do vậy nếu NTR = 0 nghĩa là ngân hàng chỉ đang tập trung vào duy nhất nguồn tiền lãi từ các hoạt động cấp vốn tín dụng (chủ yếu là hoạt động cho vay) Ngược lại nếu NTR = 0.5 nghĩa là NON
NETOP, thu nhập từ lãi và thu nhập
từ các hoạt động phi truyền thống là ngang nhau, mức độ đóng góp của hoạt động kinh doanh ngoài lãi là tối đa Trên thực tế, không có ngân hàng nào đặt mức NTR
= 0 (chỉ tập trung vào hoạt động cấp vốn tín dụng) và cũng không có ngân hàng nào vượt ngưỡng NTR = 0.5 (tập trung các hoạt động kinh doanh ngoài lãi nhiều hơn) Kết luận: sự đa dạng hoá tính theo chỉ số Herfindahl – Hirschman chịu tác động trực tiếp của hai biến là thu nhập ròng từ lãi và thu nhập ròng ngoài lãi
2.2.2 Hiệu quả hoạt động và lợi nhuận
Vennet, V (2002) phân tích mối quan hệ giữa chi phí và hiệu quả lợi nhuận của các tập đoàn tài chính và các ngân hàng châu Âu từ 1995 đến 1996 Sử dụng phương pháp SFA để ước lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy các tập đoàn có nhiều nguồn doanh thu thì hoạt động hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành, và các mô hình ngân hàng đa năng có mức độ của cả chi phí và hiệu quả lợi nhuận cao hơn Những kết quả này chỉ ra rằng xu hướng hiện tại hướng tới chuyên môn hóa hơn nữa có thể dẫn đến một hệ thống ngân hàng hiệu quả hơn
Stiroh (2004) cho rằng các ngân hàng ở Mỹ đang nhận được nhiều lợi ích từ việc phát triển hoạt động đa dạng hóa (thông qua việc chuyển các hoạt động tạo thu nhập từ thu nhập từ lãi thuần sáng thu nhập ngoài lãi) theo hình thức thu nhập ổn định và giảm rủi ro Theo tác giả, thu nhập ngoài lãi dễ biến động hơn thu nhập từ lãi và cả hai đều có mối tương quan cao; trong khi đó, rủi ro và lợi nhuận thì có tương quan nghịch với việc tăng thu nhập ngoài lãi Stiroh và Rumble (2006) đã nhận ra rằng cách hoạt động của các công ty tài chính của Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng của sự thay đổi trong các hoạt động tạo thu nhập của họ (thu nhập lãi truyền thống) đối với giao dịch, thu phí và thu nhập ngoài lãi Họ chỉ ra rằng thu nhập ngoài lãi có nhiều biến động hơn thu nhập từ lãi nhưng không nhất thiết sẽ sinh lời nhiều hơn
Trang 30Deyoung & Rice (2004) chỉ ra được rằng thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoài lãi hiện đang chiếm hơn 40% thu nhập hoạt động đối với các NHTM ở Hoa
Kỳ Nghiên cứu này còn trình bày một số liên kết thực nghiệm giữa thu nhập ngoài lãi của ngân hàng, chiến lược kinh doanh, điều kiện thị trường, thay đổi công nghệ
và hiệu quả tài chính từ năm 1989 đến năm 2001 Kết quả cho thấy đa dạng hóa giúp cho các ngân hàng giảm rủi ro trong hoạt động kinh doanh Nghiên cứu cho rằng thu nhập ngoài lãi nên tồn tại song song với thu nhập lãi từ các hoạt động trung gian (thay vì thay thế hoặc thay thế hoàn toàn), vì các hoạt động này vẫn là chức năng dịch vụ tài chính cốt lõi của ngân hàng
Acharya, Hasan & Saunders (2006) đã nghiên cứu về tác động của các mức
độ đa dạng hóa khác nhau đối với rủi ro và lợi nhuận của các ngân hàng tại Ý từ năm 1993 đến 1999 Họ cho rằng sự đa dạng hóa vốn vay công nghiệp và tổng thể
có tác động tiêu cực đối với HQHĐ của các ngân hàng Hơn nữa, các ngân hàng hoạt động trong môi trường ít cạnh tranh được chỉ ra rằng việc mở rộng các sản phẩm dịch vụ phi lãi là không mang lãi hiệu quả cũng như những lợi ích tích cực
Huang & Chen (2006) dựa trên các số liệu lấy từ các NHTM đã niêm yết trên sàn chúng khoáng và số liệu về thu nhập, chi phí có được từ Taiwan Economic Journal Corporation để phân tích thu nhập ngoài lãi ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả của các NHTM Đài Loan từ 1992 đến 2004 Bài nghiên cứu sử dụng mô hình DEA để phân tích và đưa ra kết luận là các ngân hàng có tỷ lệ thu nhập ngoài lãi rất cao hoặc rất thấp thì sẽ có chi phí hiệu quả hơn so với các ngân hàng có tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trung bình Nói cách khác, các ngân hàng có mức độ đa dạng hóa cao hoặc thấp sẽ có mức hiệu quả chi phí cao hơn các ngân hàng có mức độ đa dạng hóa trung bình
Chang-Sheng Liao (2009) dừng phương pháp DEA để thực hiện ước lượng
sự hiệu quả và thay đổi hiệu quả của các ngân hàng Đài Loan giai đoạn 2002 -
2004 Tác giả sử dụng các biến đầu vào bao gồm chi phí hoạt động, chi phí trả lãi và các biến đầu ra bao gồm dư nợ, thu nhập lãi và đầu tư Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu suất thay đổi theo quy mô của các ngân hàng trong nước có xu hướng giảm Vì
Trang 31thế, nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản lý ngân hàng là điều chỉnh quy mô hoạt động sao cho đạt được hiệu quả tốt Các ngân hàng nước ngoài, tuy không hiệu quả hơn các ngân hàng nội địa nhưng sự tăng trưởng hiệu quả của họ tốt hơn các ngân hàng trong nước Bài nghiên cứu cũng hàm ý rằng, các ngân hàng kém hiệu quả có thể sử dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
Chiorazzo & cộng sự (2008) sử dụng dữ liệu hàng năm từ các ngân hàng Ý
để nghiên cứu mối liên hệ giữa thu nhập ngoài lãi và khả năng sinh lời Kết quả cho thấy rằng việc đa dạng hoá thu nhập, mở rộng các loại hình kinh doanh phi lãi sẽ làm tăng lợi nhuận của các ngân hàng Các ngân hàng nhỏ có thể kiếm lợi từ việc tăng thu nhập ngoài lãi, nhưng chỉ khi họ có rất ít thu nhập ngoài lãi để bắt đầu Nghiên cứu của Baele và cộng sự (2007) cũng đồng tình với kết quả trên; theo đó, Baele & cộng sự (2007) chỉ ra rằng đa dạng hóa thu nhập giúp các ngân hàng có được thông tin của khách hàng dễ dàng hơn, góp phần thúc đẩy bán chéo sản phẩm
và tăng cường các dịch vụ khác
Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) đã tập trung xem xét về mối quan hệ giữa việc đa dạng hóa nguồn thu nhập của ngân hàng và các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các NHTM VN Bài nghiên cứu này sử dụng số liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của 22 NHTM VN trong giai đoạn 2007-2013, được xử lý thông qua phương pháp dữ SGMM Thông qua bài nghiên cứu, kết quả cho thấy các chỉ số như chi số đa dạng hóa nguồn thu nhập (tỷ lệ đóng góp của thu nhập phi lãi), tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập tương quan nghịch với khả năng sinh lời; trong đó, việc mở rộng các oạt động kinh doanh phi lãi giúp các NHTM VN tăng khả năng sinh lời và phát triển hoạt động dịch vụ song song với hoạt động tín dụng là xu thế phát triển tất yếu của NHTM VN trong bối cảnh kinh tế ngày càng khó khăn và cạnh tranh gay gắt
Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016) chỉ ra rằng, việc thực hiện đa dạng hóa nguồn thu nhập bằng cách mở rộng các sản phẩm dịch vụ sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng; đồng thời, cũng cho thấy rằng các nguồn thu nhập thuần ngoài lãi, dư nợ cho vay, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô
Trang 32ngân hàng, tốc độ tăng trưởng kinh tế, và lạm phát có tác động tích cực, trong khi, chi phí hoạt động và tiền của của khách hàng có tác động tiêu cực đối với hiệu quả kinh doanh của các NHTM Bài viết thông qua việc xử lí số liệu thu thập từ báo cáo tài chính và báo cáo thương niên của 26 NHTM VN trong giai đoạn 2006-2014 bằng mô hình FEM và REM cũng cho thấy được rằng việc tăng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi là có lợi cho các NHTM VN bên cạnh việc chạy đua với tăng trưởng tín dụng (hoạt động có rủi ro và khả năng xuất hiện nợ xấu cao) Do vậy trong thời kỳ hội nhập – cạnh tranh ngày càng quyết liệt như hiện nay của ngành ngân hàng, thì việc
mở rộng các hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi, đặc biệt là hoạt động dịch vụ, là cần thiết để tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các NHTM
Nguyễn Minh Sáng (2017), thông qua số liệu được lấy từ Data bank scope của Bureau van Dijk (2016), báo cáo thường niên của 34 NHTM và só liệu từ NHNN VN trong giai đoạn 2007-2015, tác giả cho thấy rằng việc ĐDHTN cũng có tác động tích cực đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM trong khoảng thời gian nghiên cứu; đặc biệt thể hiện rằng các NHTM VN vẫn có thể tiếp tự nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc: đa dạng hoá các hoạt động và phát triển sản phẩm dịch vụ
Trịnh Thị Thúy Hồng, Nguyễn Hoàng Phong, Lê Tiến Thành (2018) đã cho thấy mở rộng hoạt động kinh doanh ngoài lãi có tác động tích cực đối với hoạt động kinh doanh của các NHTM nhà nước hay nói cách khác, việc đa dạng hóa nguồn thu nhập có tác động mạnh mẽ đối với các NHTM sở hữu nhà nước thông dữ liệu bảng thường niên thu thập từ nhóm 29 NHTM VN được cung cấp bởi Bankscope trong khoảng thời gian từ 2006-2016 với khoảng 287 quan sát thông qua mô hình FEM và FGLS
Bảng 2.1 - Tổng kết các nghiên cứu về tác động của hoạt động kinh doanh
ngoài lãi đến lợi nhuận của NHTM
Tác giả Dữ liệu Biến phụ
- Cấu trúc tài sản (TL/TA)
- Chất lượng tài sản (NPL/TL)
HHIRD = 1 − [(INT
TOR )2+
Trang 33(2015) 2007 đến
2013
- Tỷ lệ vốn CSH (TE/TA)
- Cấu trúc tài trợ (DEP/TLI)
- Hiệu quả hoạt động (CIR)
- Quy mô (LogTA)
COM: thu nhập từ hoạt động dịch
vụ TRAD: thu từ hoạt động kinh doanh và đầu tư
OTH: thu nhập hoạt động khác TOR: tổng thu nhập hoạt động
- ĐDHTN (HHIA i,t )
- Quy mô (TA)
- Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản (LOAN)
- Tỷ lệ vốn CSH trên tổng tài sản (EQUITY)
- Tỷ lệ chi phí hoạt động (COST)
- Tỷ lệ tiền gửi khách hàng trên tổng nợ phải trả (DTL)
- Tăng trưởng kinh tế (GDP)
- Tỷ lệ lạm phát (INF)
HHIA = 1 − (ICONET2 + ICONON2 ) 𝐼𝐶𝑂 𝑁𝐸𝑇 = 𝑁𝐸𝑇
𝑁𝐸𝑇+𝑁𝑂𝑁 : tỷ lệ thu nhập thuần từ lãi
𝐼𝐶𝑂𝑁𝑂𝑁= 𝑁𝑂𝑁
𝑁𝐸𝑇+𝑁𝑂𝑁 : tỷ lệ thu nhập thuần ngoài lãi
- Tỷ lệ dự phòng nợ xấu
- ROA
HHI = 1 − [( NON
NETOP )2+ ( NET
NETOP )2] NET: thu nhập ròng từ lãi NON: thu nhập ròng ngoài lãi NETOP: tổng thu nhập của NHTM
(NETOP = NON + NET)
A RAROA
- Tăng trưởng kinh tế
- Lạm phát
HHI = [( NON
NETOP )2+ ( NET
NETOP )2] DINC = 1 − HHI
NET: thu nhập ròng từ lãi NON: thu nhập ròng ngoài lãi NETOP: tổng thu nhập của NHTM
(NETOP = NON + NET)
- Dư nợ cho vay/Tổng tài sản
- Tỷ lệ nợ xấu
- Tỷ lệ tiền gửi khách hàng/Tổng nợ phải
HHI = 1 − [( NON
NETOP )2+ ( NET
NETOP )2] NET: thu nhập ròng từ lãi
Trang 34Tây Ban Nha
(NETOP = NON + NET)
- Logarit tổng tài sản
- Tốc độ tăng tài sản trung bình
NETOP )2] NET: thu nhập ròng từ lãi NON: thu nhập ròng ngoài lãi NETOP: tổng thu nhập của NHTM
(NETOP = NON + NET)
- Tốc độ tăng trưởng GDP
𝑁𝐸𝑇+𝑁𝐼𝐼 𝐷𝐼𝑉 = 1 − (𝑁𝐸𝑇𝑆 + 𝑁𝐼𝐼𝑆) NET: thu nhập ròng từ lãi NII: thu nhập ròng ngoài lãi
- Tỷ lệ dư nợ cho vay
- Tỷ lệ vốn chủ sở hữu
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả từ các bài nghiên cứu trước đây
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương 2, tác giả đã giới thiệu về khái niệm, nền tảng lý thuyết và cách thức đo lường tỷ lệ kinh doanh phi lãi (NTR) cũng như HQHĐ cụ thể là lợi nhuận của NH (ROA, ROE) Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi đến lợi nhuận của NH cũng đã được tác giả trình bày cụ thể, dùng để làm cơ sở nền tảng cho việc nghiên cứu ở các chương sau Tác giả nhận thấy các nghiên cứu cho kết quả không thống nhất nhau về mức
độ và chiều hướng tác động Bài viết kế thừa các nghiên cứu trước để xây dựng mô hình nghiên cứu về tác động của hoạt động kinh doanh ngoài lãi đến lợi nhuận của các NHTM, sau đó đưa ra nhận định và hàm ý chính sách từ kết quả đạt được
Nội dung chương 3 sẽ trình bày cụ thể hơn phương pháp nghiên cứu của đề tài nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra trong chương 1
Trang 36CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nguồn dữ liệu
Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu số có được từ các nguồn khác nhau Nguồn dữ liệu thứ nhất lấy từ các báo cáo kiểm toán tài chính và báo cáo thường niên của ba mươi (30) NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn phân tích 2009-2018 từ trang web của các NHTM Nguồn dữ liệu thứ hai được lấy từ trang web của các tổ chức quốc tế, bao gồm dữ liệu mở của Ngân hàng Thế giới, Investing.com và Tổng cục Thống kê Việt Nam để đảm bảo độ tin cậy của nghiên cứu Bên cạnh trang chủ của các NHTM là một số trang web tin cậy như cafef.vn, vietstock.cn Ngoài ra, tác giả còn thu thập các số liệu vĩ mô theo số liệu được cung cấp từ Tổng Cục Thống Kê Việt Nam dữ liệu về GDP, tỷ lệ lạm phát
Bảng 3.1 - Nguồn dữ liệu của biến
ROA Báo cáo tài chính, báo cáo thưởng niên
EATTổng tài sản bình quân
ROE Báo cáo tài chính, báo cáo thưởng niên
EATVốn chủ sở hữu bình quânSIZE Báo cáo tài chính, báo cáo thưởng niên Log (tổng tài sản)
LOAN
Báo cáo tài chính, báo cáo thưởng niên
Dư nợ cho vayTổng tài sản
NPL
Báo cáo tài chính, báo cáo thưởng niên
Nợ xấuTổng dư nợ
EQUITY
Báo cáo tài chính, báo cáo thưởng niên
Vốn chủ sở hữuTổng tài sản
DTL
Báo cáo tài chính, báo cáo thưởng niên
Tiền gửi khách hàngTổng nợ phải trảGDP Tổng Cục Thống Kê
INF Tổng Cục Thống Kê
Nguồn: Tổng hợp
Trang 373.2 Kỹ thuật chọn mẫu
Nghiên cứu được thu thập từ dữ liệu thứ cấp được công bố trong các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và báo cáo thường niên của ba mươi (30) NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2018 Bên cạnh đó tác giả lấy số liệu trên website của các NHTM, Ngân hàng nhà nước và các chỉ số kinh tế vĩ mô từ World Bank, IMF và Tổng cụ thống kê Việt Nam để đảm bảo độ tin cậy
Bảng 3.2 - Danh sách các NHTM được dùng trong bài nghiên cứu
5 BID NH TMCP Đầu tư và Phát triển VN
6 Baovietbank NH TMCP Bảo Việt
17 PGBANK NH TMCP Xăng Dầu Petrolimex
18 PVcomBank NH TMCP Đại chúng VN
Trang 3821 SGB NH TMCP Sài Gòn Công Thương
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.3 Phương pháp ước lượng biến
3.3.1 Ước lượng biến NTR
NTR – Tỷ lệ kinh doanh ngoài lãi: Theo Chronopoulos & cộng sự (2011), Elyasiani & Wang (2012), Abdul (2015), Chiorazzo & cộng sự (2008), Stiroh & Rumble (2006) thì biến NTR của các NHTM được ước lượng theo công thức:
NTR = 1 − [( NON
NETOP)
2
+ ( NETNETOP)
2
] (1) Với NTR là tỷ lệ kinh doanh ngoài lãi thể hiện sự đóng góp của thu nhập ngoài lãi vào thu nhập từ hoạt động của các NHTM; NET, NON và NETOP lần lượt
là thu nhập ròng từ lãi, thu nhập ròng ngoài lãi và tổng thu nhập của NHTM (NETOP = NON + NET) Chỉ số NTR nhận giá trị [0 ; 0.5] Nếu NTR = 0 nghĩa là
cơ cấu thu nhập của ngân hàng hoàn toàn tập trung và một nguồn thu nhập duy nhất Nếu NTR = 0.5 tức là ngân hàng đang thực hiện đa dạng hóa thu nhập ở mức tối đa (Trịnh Thị Thuý Hồng & cộng sự, 2018) Qua đó, chỉ số NTR càng cao thì mức độ đa dạng hoá các sản phẩm phi truyền thống của các ngân hàng càng cao Nghiên cứu kỳ vọng ngân hàng đa dạng hoá thu nhập càng cao (nghĩa là NTR càng cao) thì hiệu quả kinh doanh của các NHTM càng cao) Giả thuyết 1: Tồn tại tương quan thuận giữa tỷ lệ kinh doanh ngoài lãi và khả năng sinh lời (H1)
Trang 393.3.2 Ước lượng biến SIZE
SIZE – Quy mô ngân hàng: quy mô ngân hàng được đo lường bằng cách lấy logarithm tổng tài sản của ngân hàng đó (Nguyễn Minh Kiều, 2009) Dữ liệu được nằm dưới dạng logarithm vì đây là đặc điểm có xu hướng mạnh và nó lấn át các thành phần còn lại (Phạm Thị Tuyết Trinh, 2016) Theo Ally (2014), kích thước ngân hàng được đo bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản bị ảnh hưởng khả năng sinh lời của ngân hàng đo bằng ROA theo hướng tích cực Tương tự như vậy, Hussain & Sajjad (2017) thu được bằng chứng thực nghiệm trong đó kích thước ngân hàng có tác động tích cực trên ROA của các ngân hàng Terraza (2015) đã xác định rằng kích thước ngân hàng bị ảnh hưởng một cách tích cực và đáng kể ROA của các ngân hàng nhỏ nhưng yếu tố này không có tác động đáng kể trên ROA của các ngân hàng vừa và lớn Việc quy mô ngân hàng lớn sẽ tạo ra các khoản thu về từ các dịch vụ liên quan (Elsas & cộng sự, 2010; Chiorazzo & cộng sự, 2008):
Size = Log (Tổng tài sản)
3.3.3 Ước lượng biến NPL (Non-performing loan ratio – Chất lượng tài sản)
Biến NPL được tính bằng cách lấy giá trị các khoản nợ xấu chia cho tổng dư
nợ, trong đó nợ xấu là các khoản vay được phân loại từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NguyễnThanh Phong, 2015) Theo Ozgur & Gorus (2016), tỷ lệ nợ xấu ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến ROA của các ngân hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ Tương tự như vậy, Ozurumba (2016) khẳng định rằng tỷ
lệ nợ xấu đã ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể đến ROA của NHTM tại Nigeria
Trang 403.3.4 Ước lượng biến EQUITY (Độ phù hợp vốn)
Biến EQUITY là một tỷ lệ tài chính được đo bằng cách lấy vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản (Chan & Karim, 2010) Bằng chứng thực nghiệm khẳng định tác động của tỷ lệ vốn chủ sở hữu đến ROA của các NHTM Wang & Wang (2015)
đã kiểm tra các NHTM tại Mỹ và khẳng định rằng độ phù hợp vốn có ảnh hưởng quan trọng và tích cực lên ROA Meero (2015) đã xác định rằng ROA cũng chịu tác động đáng kể bởi độ phù hợp vốn của các ngân hàng ở các nước Gulf Nguyễn Khánh Ngọc (2019) cũng cho thấy ảnh hưởng của tỷ lệ EQUITY lên ROA của các NHTM của Việt Nam, trong đó tỷ lệ này có ảnh hưởng quan trọng và tích cực đối với ROA trong mô hình Pooled OLS và mô hình tác động cố định (FEM)
3.3.5 Ước lượng biên LOAN (Cấu trúc tài sản)
Biến LOAN được đo bằng cách lấy tổng dư nợ cho vay chia cho tổng tài sản của các ngân hàng Bài nghiên cứu của tác giả Hakimi et al (2015) đã chỉ ra tác động tiêu cực của LOAN đến ROA của các ngân hàng Tương tự như vậy, Kohler (2013) cũng thu được kết quả tương tự đối với các ngân hàng có các chiến lược bán
lẻ theo định hướng
3.3.6 Ước lượng biến DTL (Cấu trúc tài trợ)
Được đo lường bằng tỷ lệ tiền gửi khách hàng và tổng nợ phải trả của các ngân hàng (Saeed, 2014) Cấu trúc tài trợ quá cao có thể đẩy ngân hàng vào tình hình thanh khoản không đủ để trang trải nhu cầu vốn đột xuất (Islam & Rana, 2017) Theo Hapsari (2018), cấu trúc tài trợ được coi là một trong hai yếu tố tạo nên
sự thành công và thất bại cho các ngân hàng và tác giả đã chỉ ra rằng, biến này có tác động tích cực đến ROA của các ngân hàng ở Indonesia Tác động tích cực và đáng kể của cấu trúc tài trợ lên ROA cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Okun (2012), được tác giả áp dụng cho các NHTM ở Kenya
3.3.7 Biến tăng trưởng kinh tế (GDP)
Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm được lấy dữ liệu từ Ngân hàng thế giới hàng năm Mặc dù Sawamy (2013) không tìm thấy được sự ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đến ROA của các ngân hàng, nhưng các nhà nghiên cứu