Nghiên cứu này được thực hiện để tìm kiếm các nhân tố tác động đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp thuộc danh mục VN30 niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020
Trang 3TÓM TẮT
Chính sách cổ tức là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi trong nền kinh tế học và tài chính hiện đại bởi tính bất đồng giữa các lý thuyết cổ tức và các nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều khu vực khác nhau Nghiên cứu này được thực hiện để tìm kiếm các nhân tố tác động đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp thuộc danh mục VN30 niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh Để thực hiện nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích định lượng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng trong giai đoạn năm 2015 – 2019 và chọn
ra mô hình hiệu quả nhất để phân tích kết quả Kết quả thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chi trả bình quân của doanh nghiệp từ 10%/năm - 20%/năm Bên cạnh đó, kết quả mô hình hồi quy cho thấy tỷ lệ chi trả cổ tức năm trước, lợi nhuận và quy mô là những yếu tố có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng tích cực đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp thuộc nhóm VN30 Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng là nhân tố tác động tiêu cực đến việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp một cách đáng kể Thanh khoản và đòn bẩy không tác động đến quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp Từ kết quả nghiên cứu, tác giả tiến hành đưa ra một số kiến nghị nhằm hỗ trợ nhà quản lý doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư có những quyết định đầu tư đúng đắn
Trang 4ABSTRACT
Dividend policy is one of the most controversial issues in modern economics and finance because of the disagreement between dividend theories and empirical researches in various areas This study was conducted to look for factors affecting the decision to pay dividends of enterprises in the list of VN30 listed on the Ho Chi Minh Stock Exchange In order to carry out the research, I used quantitative analysis of panel data regression models in the period of 2015 - 2019 and selected the most effective model to analyze the results The statistical results describe the research data showing that the average payment rate of enterprises is from 10% - 20% for a year In addition, the regression model results show that the dividend payout ratio of the previous year, profit and scale are statistically significant factors that positively influence the decision to pay dividends of businesses belongs to VN30 group However, the growth rate is a negative factor affecting the dividend payment of businesses significantly Liquidity and leverage do not affect the decision to pay dividends of businesses From the research results, I made a number
of recommendations to support business managers as well as investors to make the right investment decisions
Trang 5SUMMARY
Dividend policy is one of the most significant decisions of the business Therefore, the issues related to dividends always catch the attention of business managers, investors or economic researchers Lintner (1956) was one of the first pioneeers to study dividend policy, then in 1961, Miller and Modiglian argued that dividend policy does not have any effect on firm value under perfect market conditions However, this argument has resulted in plenty of contradictions since the market does not actually exist in a state of amortization Up to now, a number
of articles on dividend policy of companies listed on Vietnam's stock market have been published However, this paper is conducted to study the influences of some factors on dividend policy of enterprises in the VN30 portfolio from 2015 to 2019 because the VN30 group is the top 30 companies accounting for 80% of total market capitalization and 60% of total market trading value To accomplish the set goals, I formulated a set of 3 research questions:
Question 1: What is the average rate of dividend payment of enterprises listed on HOSE of VN30 in the period of 2015 - 2019?
Question 2: Which endogenous factors have influences on the dividend policy of enterprises in VN30 group?
Question 3: How is the impact of these factors on dividend policy of enterprises in VN30 group?
The research is based on 05 related theories and a number of previous studies not only in Vietnam but also in different countries Theory of Miller and Modiglian (1961) reckoned that dividend policy is completely independent of the enterprise value in the perfect market, the prosperity of shareholders depends on investment decisions instead of decisions to pay dividends Based on market inadequacy, many studies have been launched to refute the argument above Gordon (1963) first developed a theoretical model to protect the argument that dividend payout ratios and stock values were correlated with each other, they called this the Bird - in -
Trang 6dividends, capital gains or both In 1972, Fama and Miller conducted a study that suggested management may not be the simultaneous owners The profitable aims between the representative and the owner is different which results in the requirement of shareholders about a higher percentage of devidend payout ratio when the company has excess cash flow but it does not serve the investment plan This topic was further studied by Jensen and Meckling (1976), they named this agency cost theory From the agency cost, Easterbrook (1984) has argued that the action of requesting shareholders' dividends was taken in order to reduce the amount of free cash flow under management, demanding market access‟s project from the company to mobilize capital for profitable investment purposes According
to the signal theory, dividends are considered a signal of the future prospects of the business, a useful means of transmitting internal information to external departments such as shareholders and investors (Al- Malkawi, 2007) Besides, tax is one of the key factors that have influence on the market The tax impact on dividend income is higher than interest income and dividends are taxed as soon as they are settled, while investors only pay tax on capital gains when the stock is actually sold
Research data was collected from a range of 29 companies (except for one securities enterprise) from the VN30 group in the first phase of 2020 I present six research hypotheses corresponding to six independent variables used in the model:
H1: Expected previous year‟s dividend payout ratio positively affects dividend payout ratio
H2: Expected profit positively affects dividend payout ratio
H3: Expected growth rate negatively affects dividend payout ratio
H4: Expected liquidity positively affects dividend payout ratio
H5: Expected financial leverage negatively affects dividend payout ratio H6: Expected business size to positively affect dividend payout ratio
Regression model:
Trang 7
In which:
DPPit: Dividend fluctuation of the business i in year t
PROit: Profit of the business i in year t
GROit: Growth rate of the business i in year t
LIQit: Liquidity of the business i in year t
LEVit: Leverage of the business i in year t
SIZit: Scale of the business i in year t
To find out the effect of variables on dividend payout ratio, the study uses panel data regression models And perform the following steps:
- Descriptive statistics variable
The final regression results show that the dividend payment ratio of the previous year, profit, growth rate and firm size are statistically significant variables for the dependent variable In particular, DPP, PRO and SIZ positively affect DPR, GRO tends to have opposite effects, LIQ and LEV have no statistical significance The dividend payout ratio of the previous year was positively correlated with the company‟s dividend payout ratio at the statistical significance level of 1%, meaning
Trang 8that when the DPP variable increased by 1%, the dependent variable DPR increased
by 0.556% The PRO variable has a positive correlation with the DPP dependent variable with a regression coefficient of 1,298 and 1% significance level, synonymous with the fact that when the enterprise recorded a 1% increase in profit, the dividend payout ratio increased by 1,298% The GRO variable had a negative correlation with the DPR-dependent variable with a regression coefficient of -0,022
at the statistical significance level of 1% This means, when the growth rate of the business increases by 1%, the dividend payment will decrease by 0.022% The independent variable SIZ has a positive correlation with the dependent variable at the significance level of 5%, meaning that the larger the firm, is the higher the payout ratio For this research model, it is obvious that the LIQ and LEV variables are not statistically significant
To draw the conclusion, the dividend payout ratio of the business increases when the dividend payout rate of the previous year, profits and firm size have a tendency of increasing In contrast, the payout ratio decreases as the growth rate of the business increases From this result, I accepts hypotheses H1, H2, H3, H6 and rejects hypotheses H4, H5 because there is no statistical significance
Moreover, chapter 05 presents a number of recommendations to support managers and investors to make the right decisions for investment plans Besides, this study still has many obstacles that need to be improved In order to develop this topic further, I also illustrated variety of research directions for the future in this chapter
Trang 9LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ
Tôi tên: Nguyễn Nhật Băng Tuyền
Mã số sinh viên: 030632163201
Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức
của các công ty niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
thuộc nhóm VN30
Giảng viên hướng dẫn: ThS Hồ Thị Ngọc Tuyền
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em với sự hướng
dẫn của cô Hồ Thị Ngọc Tuyền Mọi số liệu, trích dẫn, bảng – biểu – hình, phân
tích, đánh giá trong nghiên cứu đều có nguồn gốc rõ ràng, không có bất kỳ sự gian
lận, che giấu nào
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan này
, ngày tháng năm
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Nhật Băng Tuyền
Trang 10LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ từ các thầy/cô Trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh Điều này đã giúp em có thể hoàn thiện các kiến thức và kỹ năng để có thể hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn ThS Hồ Thị Ngọc Tuyền, người đã trực tiếp hướng dẫn, hỗ trợ em những khó khăn trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Em xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy Cô Trường Đại học Ngân Hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ và hỗ trợ em trong suốt quá trình học tập tại trường
Mặc dù có sự cố gắng trong học tập và nghiên cứu, tuy nhiên do nhiều hạn chế về kiến thức nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong Quý Thầy
Cô thông cảm và đóng góp ý kiến để bài nghiên cứu của em có thể hoàn thiện hơn Cuối cùng, em xin kính chúc Quý Thầy Cô thật nhiều sức khỏe và thành công trong công việc
Em xin chân thành cảm ơn!
, ngày tháng năm
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Nhật Băng Tuyền
Trang 11MỤC LỤC
TÓM TẮT i
LỜI CAM ĐOAN CỦA TÁC GIẢ vii
LỜI CẢM ƠN viii
MỤC LỤC ix
DANH MỤC VIẾT TẮT xiii
DANH MỤC BẢNG xiv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xiv
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 5
1.7 KẾT CẤU ĐỀ TÀI 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 8
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
2.1.1 Các khái niệm liên quan 8
2.1.2 Một số chính sách chi trả cổ tức 8
2.1.3 Các phương thức chi trả cổ tức 10
Trang 122.1.5 Một số lý thuyết liên quan 12
2.1.6 Một số nhân tố tác động đến chính sách cổ tức 16
2.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THUỘC NHÓM VN30 20
2.2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán 20
2.2.2 Các công ty thuộc nhóm VN30 22
2.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC 22
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 33
3.2 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 33
3.2.1 Tỷ lệ chi trả cổ tức năm trước – DPP 33
3.2.2 Lợi nhuận – PRO 34
3.2.3 Tỷ lệ tăng trưởng – GRO 34
3.2.4 Thanh khoản – LIQ 34
3.2.5 Đòn bẩy tài chính – LEV 35
3.2.6 Quy mô doanh nghiệp – SIZ 35
3.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 35
3.4 MÔ TẢ BIẾN 37
3.5 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 38
3.5.1 Thống kê mô tả các biến 38
3.5.2 Lựa chọn mô hình 38
3.5.3 Kiểm định mô hình 41
Trang 133.5.4 Khắc phục lỗi mô hình 41
3.5.5 Phân tích mô hình 41
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
4.1 THỰC TRẠNG CHI TRẢ CỔ TỨC CỦA CÁC CÔNG TY THUỘC NHÓM VN30 NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2015 – 2019 43
4.1.1 Tỷ lệ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp giai đoạn 2015 – 2019 43
4.1.2 So sánh tỷ lệ chi trả cổ tức qua các nhóm ngành 45
4.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ VÀ MA TRẬN TƯƠNG QUAN 46
4.2.1 Thống kê mô tả 46
4.2.2 Ma trận tương quan 47
4.2.3 Kiểm định đa cộng tuyến 48
4.3 LỰA CHỌN MÔ HÌNH 49
4.4 KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH 50
4.4.1 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 50
4.4.2 Kiểm định tự tương quan bậc nhất 51
4.5 KHẮC PHỤC LỖI MÔ HÌNH 51
4.6 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HỒI QUY 52
4.6.1 Tỷ lệ chi trả cổ tức năm trước (DPP) 52
4.6.2 Lợi nhuận (PRO) 53
4.6.3 Tốc độ tăng trưởng (GRO) 53
4.6.4 Thanh khoản (LIQ) 54
4.6.5 Đòn bẩy tài chính (LEV) 54
Trang 144.6.6 Quy mô doanh nghiệp (SIZ) 55
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 57
5.1 KẾT LUẬN 57
5.2 KHUYẾN NGHỊ 58
5.3 HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 59
5.3.1 Hạn chế 59
5.3.2 Hướng nghiên cứu tương lai 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 15DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giả tiếng anh Diễn giải tiếng Việt
CFO Chief Finance Officer Giám đốc tài chính
DPR Dividend payout ratio Tỷ lệ chi trả cổ tức
EPS Earning per Share Thu nhập trên mỗi cổ phần FEM Fixed Effects Model Mô hình tác động cố định
Exchange
Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh
M&M Miller and Modigliani Miller và Modigliani
NYSE New York Stock Exchange Sở giao dịch Chứng khoán New York Pooled
Trang 16DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 T m tắt kết quả của các nghiên cứu 29
Bảng 3 Mô tả các biến 37
Bảng 4.1 Tỷ lệ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp giai đoạn 2015 - 2019 43
Bảng 4.2 Danh sách các công ty theo ngành 45
Bảng 4.3 Tỷ lệ chi trả cổ tức theo nh m ngành 46
Bảng 4.4 Thống kê mô tả toàn bộ mẫu 47
Bảng 4.5 Ma trận tương quan của toàn bộ mẫu 48
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định VIF 49
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định F 49
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định Hausman 50
Bảng 4.9 Kết quả mô hình FGLS 51
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp 44
Trang 17CHƯƠNG GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thị trường ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế Sự phát triển của nền kinh tế kéo theo sự phát triển nhanh chóng của thị trường về số lượng thành viên tham gia và nhiều loại hình hàng hóa khác nhau Vì vậy, theo quy luật tự nhiên, thị trường tiếp tục phân chia thành nhiều thị trường khác nhau như: thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường bất động sản, thị trường hối đoái, thị trường chứng khoán (TTCK), Mỗi loại thị trường sinh
ra đều mang đặc tính và chức năng riêng biệt giúp các chủ thể tham gia thuận tiện trong các hoạt động giao thương Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới , ngày 28/11/1996 TTCK Việt Nam ra đời TTCK Việt Nam chính thức đi vào hoạt động ngày 28/07/2000, thực hiện phiên giao dịch đầu tiên với 02 công ty niêm yết
là Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (Mã giao dịch: REE) và Công ty cổ phần SAM Holdings (Mã giao dịch: SAM) VN-Index là chỉ số đầu tiên của TTCK Việt Nam nhằm thể hiện xu hướng biến động giá của tất cả các cổ phiếu được niêm yết và giao dịch tại Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
Luật Chứng khoán được Quốc hội thông qua vào năm 2006 và chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2007 Điều này đã góp phần cải thiện nhiều bất cập của thị trường buổi sơ khai, tạo nên một khởi đầu mới và những bước tăng trưởng mạnh mẽ hơn Với sự phát triển vượt trội về số lượng giao dịch cũng như số lượng công ty niêm yết, VN-Index dần bộc lộ nhiều bất cập ảnh hưởng đến độ chính xác của chỉ
số bởi vì công thức tính chỉ gồm 02 biến cơ bản là thị giá và số lượng cổ phiếu lưu hành Năm 2012, chỉ số VN30 ra đời nhằm khắc phục một số nhược điểm của VN-Index và tạo thêm công cụ để nhà đầu tư có thể đánh giá và lựa chọn cổ phiếu Chỉ
số VN30 được tính toán dựa theo giá trị vốn hoá thị trường của 30 cổ phiếu đáp ứng
Trang 18các điều kiện sàng lọc của HOSE Top 30 công ty này chiếm khoảng 80% tổng giá trị vốn hóa và 60% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường.1
Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, TTCK Việt Nam đã trở thành kênh huy động vốn quan trọng không thể thiếu cho sự phát triển nền kinh tế nước nhà Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, tối đa hoá giá trị doanh nghiệp là mục tiêu hàng đầu các nhà quản lý hướng đến Trên thế giới, có nhiều nhà kinh tế đã quan tâm đến mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp Năm 1961, Miller và Modigliani cho rằng, chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp trong điều kiện thị trường hoàn hảo Tuy nhiên, trong thực tế thị trường tài chính thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng không thể thỏa mãn các điều kiện của thị trường hoàn hảo Vì thế, rất nhiều nhà kinh tế đã phản đối kết luận trên và cho ra nhiều bài nghiên cứu khác Chính sách cổ tức là một trong những công cụ thể hiện hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Nghiên cứu của Salehi
và Biglar (2009) cho rằng các cổ đông mong muốn được chia cổ tức bằng tiền và các nhà quản lý nên cân bằng giữa các cơ hội đầu tư sinh lời và chi trả cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông (Salehi và Rostami, 2009) Từ đó, ta nhận thấy rằng quyết định chi trả cổ tức là một vấn đề nhạy cảm và quan trọng đối với doanh nghiệp Cổ tức là một trong những công cụ thu hút sự chú ý của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, để đưa ra chính sách cổ tức, doanh nghiệp luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề như: tính thanh khoản, thuế, pháp lý, lạm phát Do đó, để thực hiện tốt mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thì việc nắm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức là một điều vô cùng quan trọng
Hiện nay, một số bài nghiên cứu về chính sách cổ tức của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam đã được công bố Tuy nhiên, mục tiêu của bài nghiên cứu này là đo lường mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố nội sinh đến quyết định chi trả cổ tức của các công ty thuộc danh mục VN30 tại HOSE nhằm thể hiện rõ xu hướng của thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 191.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài là tìm kiếm mối quan hệ của một số nhân tố nội sinh tác động đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp thuộc danh mục VN30
Từ kết quả thu được, tác giả tiến hành phân tích mức độ ảnh hưởng và đưa ra một
số khuyến nghị nhằm giúp các nhà quản lý đưa ra những quyết định chi trả phù hợp
và nhà đầu tư có những quyết định đầu tư đúng đắn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá tỷ lệ chi trả cổ tức bình quân của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE thuộc nhóm VN30 trong giai đoạn năm 2015 – 2019
Phân tích các tác nhân ảnh hưởng đến chính sách cổ tức và mức độ ảnh hưởng của một số nhân tố đến quyết định chi trả của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE thuộc nhóm VN30 trong giai đoạn năm 2015 – 2019
Từ kết quả phân tích, tác giả đưa ra kết luận tổng quát và triển khai một số khuyến nghị hỗ trợ quyết định chi trả của doanh nghiệp cũng như quyết định đầu tư của nhà đầu tư
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi 1: Tỷ lệ chi trả cổ tức bình quân của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE thuộc nhóm VN30 trong giai đoạn 2015 – 2019 là bao nhiêu?
Để trả lời cho câu hỏi này, tác giả tiến hành thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu được thu thập, từ đó đưa ra những phân tích tổng quan về tỷ lệ chi trả cổ tức của các doanh nghiệp thuộc nhóm VN30 trong giai đoạn 2015 – 2019 Mức chi trả bình quân cho thấy thực trạng chính sách cổ tức của các công ty trong suốt giai đoạn nghiên cứu
Câu hỏi 2: Các yếu tố nội sinh tác động đến chính sách cổ tức của các doanh thuộc nhóm VN30 là gì?
Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức đồng thời là các biến trong mô hình nghiên cứu được tác giả chọn lọc dựa trên các cơ sở lý thuyết kết hợp các
Trang 20Câu hỏi 3: Mức độ tác động của các nhân tố trên đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp thuộc nhóm VN30 như thế nào?
Dựa trên dữ liệu nghiên cứu thu thập được, tác giả tiến hành phân tích các biến bằng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng Sau đó tiến hành kiểm định để chọn ra
mô hình hiệu quả nhất Từ kết quả mô hình hồi quy, tác giả phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp Từ đó, tác giả đưa ra kết luận chung và một số kiến nghị liên quan đến chính sách cổ tức
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
− Đối tượng nghiên cứu: Chính sách cổ tức tiền mặt và các nhân tố ảnh
hưởng đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE thuộc nhóm VN30
− Phạm vi nghiên cứu: 29 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh thuộc nhóm VN30 (ngoại trừ doanh nghiệp thuộc lĩnh vực chứng khoán) đợt 01 năm 2020
− Phạm vi thời gian: từ năm 2015 đến năm 2019
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với mục tiêu tìm kiếm và phân tích mức độ tác động của các nhân tố tác động đến tỷ lệ chi trả của các doanh nghiệp, bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp
là các báo cáo thường niên, báo cáo tài chính các doanh nghiệp thuộc nhóm VN30 của sàn HOSE đợt 01 năm 2020 với nguồn dữ liệu từ Cafef và Cophieu68, trong giai đoạn 2015 – 2019
Áp dụng phương pháp định lượng để tiếp tục phân tích những nhân tố đã được thống kê bằng mô hình hồi quy tuyến tính thông thường (Pooled Ordinary Least Square – Pooled OLS), mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model – FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model – REM) Sau đó tiếp tục kiểm định F-test và Hausman (Hausman test) để chọn ra mô hình phù hợp nhất Các mô hình có dạng tổng quát như sau:
yit= 1xit1 2xit2 nxitn it uitTrong đó:
Trang 21yit: Tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty i tại năm t (%)
xitn: Các biến độc lập là những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ chi trả cổ
tức của công i tại năm t
it: Thành phần sai số theo không gian
uit: Thành phần sai số theo không gian và chuỗi thời gian kết hợp Sau khi hoàn tất các mô hình tiếp tục thực hiện kiểm định F và kiểm định Hausman chọn ra mô hình phù hợp nhất
Tác giả tiến hành phân tích kết quả mô hình hồi quy hiệu quả nhất và đưa ra kết luận về mức độ tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc
1.6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu đưa ra những bằng chứng khoa học phản ánh về các nhân
tố tác độnh đến quyết định chi trả cổ tức của các công ty niêm yết trên HOSE thuộc nhóm VN30, giúp độc giả có được cái nhìn tổng quan hơn về chính sách cổ tức hiện tại của những công ty được đánh giá dẫn đầu thị trường chứng Từ đó, nghiên cứu
có thể góp phần hỗ trợ quyết định chi trả cổ tức của các nhà quản lý tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh đó, nghiên cứu còn là cơ sở khoa học giúp các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về chính sách cổ tức của doanh nghiệp và đưa ra những quyết định đầu
tư đúng đắn
1.7 KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Kết cấu của đề tài gồm 05 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Ở chương 1, tác giả trình bày tổng quan những vấn đề trong xã hội thực tiễn cũng như lý do đề tài được ra đời Để giúp độc giả có thể hình dung tốt hơn về nội dung nghiên cứu của đề tài, chương này nêu rõ lý do thực hiện, mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề cần nghiên cứu Tại đây, tác giả cũng nêu khái quát về phương pháp nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của đề tài Chương 1 giúp độc giả có cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu và hiểu rõ hơn các vấn đề ở các chương sau
Trang 22Chương 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp
Chương 2 trình bày các cơ sở lý thuyết nổi tiếng của các nhà kinh tế thế giới
về chính sách cổ tức nhằm thể hiện các quan niệm về chính sách cổ tức phổ biến đã được áp dụng đối với nền kinh tế toàn cầu trong từng thời kỳ Bên cạnh đó, để giúp độc giả hiểu rõ hơn về nội dung nghiên cứu của đề tài, ở chương này, tác giả giới thiệu tổng quan về các doanh nghiệp niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) thuộc nhóm VN30 và quy trình, phương thức chi trả cổ tức Cuối cùng, tác giả tổng hợp một số nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu có liên quan về các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức đã được nghiên cứu trên thế giới và cả trong nước
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Đây là chương quan trọng của đề tài khóa luận Ở chương này, tác giả trình bày chi tiết về các phương pháp nghiên cứu được sử dụng, các mẫu cơ sở dữ liệu được chọn để thực hiện cũng như các thức thu thập, sàng lọc và phân chia mẫu dữ liệu Sau đó, tác giả bắt đầu thực hiện bằng cách đưa ra các mô hình nghiên cứu và cách thức xác định các nhân tố trong mô hình, đồng thời nêu cụ thể về kiểm định thống kê sẽ được sử dụng để kiểm tra các tham số trong mô hình nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương này trình bày kết quả của các mô hình nghiên cứu, phân tích sự biến đổi của các tham số, so sánh kết quả của các mô hình khác nhau Từ kết quả nghiên cứu được, tác giả thực hiên so sách với các đề tài nghiên cứu liên qua đã được thực hiện trong quá khứ để đánh giá sự phù hợp Bên cạnh đó, tác giả đồng thời kiểm định các tham số để kiểm tra xem những tham số đó có ý nghĩa hay không, từ đó làm rõ những vấn đề nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Từ kết quả nghiên cứu đã được thực hiện, tác giả đưa ra kết luận về đề tài nghiên cứu, trả lời những câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra Đồng thời, từ kết quả
đó, tác giả có thể trình bày một số khuyến nghị cá nhân có cơ sở khoa học hỗ trợ
Trang 23quyết định chi trả cổ tức của các doanh nghiệp cũng như quyết định đầu tư của các nhà đầu tư
TÓM TẮT CHƯƠNG
Chương 1 trình bày lý do thực hiện đề tài, đồng thời đưa ra mục tiêu tổng quát và cụ thể cho bài nghiên cứu Để làm rõ đề tài, tác giả đặt ra những câu hỏi nghiên cứu và tóm lược hướng giải quyết vấn đề, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Bên cạnh đó, để tăng tính chất thực tiễn cho đề tài, tác giả đưa ra một số đóng góp hữu ích của bài nghiên cứu đối với các nhà đầu tư và nhà quản lý Cuối cùng, tác giả trình bày tổng quan kết cấu đề tài giúp độc giả dễ dàng nắm bắt nội dung của từng chương
Trang 24CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm liên quan
Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc
cổ phiếu từ lợi nhuận còn lại sau thuế của công ty cổ phần 2 Cổ tức gồm có:
Cổ tức dành cho cổ phần ưu đãi: được chi trả theo một tỷ lệ cố định Mỗi loại cổ phần khác nhau có những điều kiện áp dụng khác nhau
Cổ tức dành cho cổ phần thường: được chi trả phụ thuộc vào lợi nhuận còn lại sau thuế đã trích cho việc tái đầu tư các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chính sách cổ tức là một chính sách quyết định tỷ lệ phân phối lợi nhuận
sau thuế của doanh nghiệp đối với hoạt động tái đầu tư và chi trả cổ tức cho cổ đông Chính sách cổ tức phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, số lượng cổ phiếu ưu đãi, giá trị thị trường hiện tại của
cổ phiếu, Chính sách cổ tức là sự kết hợp giữa quyết định đầu tư và quyết định tài trợ, vì thế, đây được xem là một trong ba chính sách tài chính quan trọng và có sức ảnh hưởng lớn đến lợi ích cổ đông và sự phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, ban lãnh đạo doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức trước khi ban hành quyết định (Trần Thị Mỹ Liên, 2006)
2.1.2 Một số chính sách chi trả cổ tức (Trần Thị Mỹ Liên, 2006)
2.1.2.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động
Theo chính sách này, doanh nghiệp nên giữ lại phần lợi nhuận sau thuế cho các cơ hội đầu tư với tỷ suất sinh lời cao hơn tỷ suất sinh lời mong muốn của các cổ đông nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp và ngụ ý rằng việc chi trả cổ tức có thể thay đổi thời gian phụ thuộc vào cơ hội đầu tư sẵn có
2 Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh 2016, Giáo trình Thị trường tài chính và các định chế tài chính, NXB Kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 25Tuy nhiên, để đảm bảo lợi ích cổ đông, hầu hết doanh nghiệp cố gắng duy trì
tỷ lệ chi trả cổ tức cố định và ít biến động theo thời gian Để thỏa mãn chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động mà vẫn có thể duy trì mức cổ tức ổn định, doanh nghiệp
có thường thực hiện theo hai cách:
Cách 1: Tại những thời điểm doanh nghiệp có cơ hội đầu tư tốt, nhu cầu sử dụng vốn cao thì sẽ giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ cao Trong những năm tiếp theo, nếu doanh nghiệp có mức độ tăng trưởng tốt vẫn
có thể tiếp tục sử dụng chiến lược này mà không phải cắt giảm cổ tức
Cách 2: Sử dụng nợ vay phục vụ nhu cầu đầu tư – đây là phương pháp tạm thời để tránh phải cắt giảm cổ tức của cổ đông Nếu hoạt động đầu tư phát triển tốt và sinh lợi thì đây là một phương án tốt có thể đáp ứng được cả nhu cầu đầu tư và nhu cầu cổ tức của cổ đông Tuy nhiên, doanh nghiệp cần có chính sách cân bằng tỷ lệ nợ trên vốn ở mức hợp lý nhằm giảm thiểu rủi ro về tài chính
2.1.2.2 Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định
Chính sách chi trả cổ tức bằng tiền mặt ổn định hằng năm nhận được nhiều
sự ủng hộ từ phía doanh nghiệp và nhà đầu tư Tính ổn định được thể hiện qua mức
độ dao động tỷ lệ chi trả cổ tức hằng năm của doanh nghiệp thấp, doanh nghiệp hạn chế cắt giảm cổ tức hoặc chỉ tăng mức chi trả khi các khoản lợi nhuận đủ lớn để thoả mãn mức cổ tức mong muốn của cổ đông Điều này cho thấy mức cổ tức có xu hướng tăng theo lợi nhuận và thường được duy trì ở một mức độ nào đó
Chính sách này được ưu ái bởi nhiều lý do khác nhau:
Tỷ lệ chi trả cổ tức biến động thường xuyên là biểu hiện của kết quả kinh doanh không ổn định
Đầu tư sinh lời là mục đích chính của đa số các nhà đầu tư, vì thế, một dòng cổ tức ổn định là luôn thu hút được sự chú ý của nhà đầu tư
Trang 262.1.2.3 Các chính sách chi trả cổ tức khác:
Chính sách cổ tức c tỷ lệ chi trả không đổi: Theo chính sách này, doanh
nghiệp luôn duy trì cố định tỷ lệ chi trả qua nhiều năm Lượng cổ tức được chi trả phụ thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp
Chính sách chi trả một cổ tức nhỏ hàng quý cộng với cổ tức thưởng thêm vào cuối năm: Chính sách này phù hợp với những doanh nghiệp có lợi nhuận
hoặc nhu cầu vốn biến động thường xuyên Với chính sách này, nhà đầu tư vẫn có thể nhận được mức chi trả cổ tức khi doanh nghiệp có mức lợi nhuận thấp; khi doanh nghiệp đạt lợi nhuận vượt trội và không có nhu cầu sử dụng vốn thì nhà đầu
tư có thể nhận cổ tức thưởng thêm vào cuối năm
Chính sách cổ tức là một trong những quyết định quan trọng của doanh nghiệp được cấu thành từ quyết định đầu tư, quyết định tài trợ, phương thức chi trả
và tỷ lệ phân phối hợp lý Như vậy, sau khi quyết định được chính sách thích hợp với dòng tiền của doanh nghiệp, ban điều hành sẽ tiếp tục cân nhắc lựa chọn phương thức chi trả cổ đông phù hợp với tình hình doanh nghiệp
2.1.3 Các phương thức chi trả cổ tức
Doanh nghiệp thường chi trả cổ tức cho nhà đâu tư thông qua 03 hình thức
cơ bản: cổ tức bằng tiền mặt, cổ tức bằng cổ phiếu và cổ tức bằng tài sản khác
2.1.3.1 Chi trả cổ tức bằng tiền mặt
Chi trả cổ tức bằng tiền mặt là hình thức doanh nghiệp chi trả lợi nhuận ròng cho cổ đông bằng tiền mặt theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá, tỷ lệ này được quyết định khi đơn vị công bố chính sách chi trả cổ tức
Những doanh nghiệp có lịch sử chi trả cổ tức bằng tiền mặt đều đặn hằng năm chứng tỏ hoạt động kinh doanh hiệu quả, khả năng thanh toán tốt và thu hút được sự chú ý của nhà đầu tư Cổ tức tiền mặt có tính thanh khoản rất cao, vì thế, phần lớn nhà đầu tư mong muốn nhận được lợi nhuận bằng tiền mặt từ số vốn đã bỏ
ra ban đầu thay vì kỳ vọng một lượng thu nhập không chắc chắn ở tương lai Do đó, phương thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt luôn được doanh nghiệp ưu tiên nhằm xây dựng niềm tin đối với nhà đầu tư Tuy nhiên, phương pháp này vẫn còn một số hạn
Trang 27chế Doanh nghiệp chi trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm phần lợi nhuận giữ lại cho hoạt động kinh doanh và quỹ dự phòng, tăng khả năng nợ
2.1.3.2 Chi trả cổ tức bằng cổ phiếu
Khi doanh nghiệp cần giữ lại lợi nhuận phục vụ cho hoạt động đầu tư, kinh doanh nhưng không muốn cắt giảm cổ tức thì đây được xem là một phương án thay thế Doanh nghiệp sẽ phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông, hành động này không làm thay đổi vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nắm giữ của cổ đông
Ví dụ: CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HOSE: HPG) công bố quyết định chi trả
cổ tức năm 2018 bằng cổ phiếu với tỷ lệ thực hiện là 30% Nghĩa là, cổ đông sở hữu
10 cổ phiếu được nhận thêm 3 cổ phiếu mới
Chi trả cổ tức bằng cổ phiếu hạn chế được dòng tiền mặt ra khỏi doanh nghiệp, đẩy mạnh hoạt động tái đầu tư, đầu tư mới, tăng trưởng lợi nhuận Tuy nhiên, phương pháp này vẫn còn nhiều hạn chế Số lượng cổ phiếu đang lưu hành tăng lên làm giảm giá trị thị trường của cổ phiếu Doanh nghiệp không nên sử dụng phương pháp chi trả cổ tức này liên tục vì sẽ làm tăng lượng cổ phiếu lưu hành, giảm giá trị doanh nghiệp và tạo áp lực cho việc chi trả cổ tức trong tương lai
2.1.3.3 Chi trả cổ tức bằng tài sản khác
Ngoài 02 phương thức chi trả cổ tức phổ biến trên, doanh nghiệp có thể chi trả cổ tức bằng nhiều loại tài sản khác như: cổ phiếu của công ty khác do thuộc quyền sở hữu của công ty, hàng hóa, bất động sản Đây là phương thức chi trả hiếm gặp trong thực tiễn vì doanh nghiệp chỉ áp dụng phương thức này khi thật sự lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính Phương pháp này làm giảm tài sản dẫn đến giảm giá trị sổ sách của doanh nghiệp
2.1.4 Một số chỉ số liên quan đến cổ tức
2.1.4.1 Tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend Payout Ratio – DPR)
Tỷ lệ chi trả cổ tức thể hiện mức lợi nhuận sau thuế trong kỳ của doanh nghiệp được dùng để chi trả cổ tức cho cổ đông
Công thứ tính tỷ lệ chi trả cổ tức:
Trang 28Tỷ lệ chi trả cổ tức (DPR) (%) = Cổ tức bằng tiền
Lợi nhuận sau thuế=
Cổ tức mỗi cổ phầnThu nhập mỗi cổ phần
2.1.4.2 Tỷ suất cổ tức (Dividend Yield – DY)
Tỷ suất cổ tức là suất sinh lợi mà cổ đông nhận được từ cổ tức so với giá trị
cổ phiếu tại thời điểm đó
Công thức tính tỷ suất cổ tức:
Tỷ suất cổ tức (DY) (%)= Cổ tức mỗi cổ phiếu
Giá thị trường mỗi cổ phiếu
2.1.5 Một số lý thuyết liên quan
Cổ tức là một trong những đề tài gây tranh cãi trong nền kinh tế thế giới vì
nó liên quan mật thiết đến lợi ích cổ đông Đã có rất nhiều lý thuyết liên quan đến chính sách cổ tức được nghiên cứu và phát triển bởi những nhà kinh tế nổi tiếng thế giới như: lý thuyết M&M, Bird – in – hand, chi phí đại diện và dòng tiền tự do, lý thuyết ảnh hưởng của thuế,
2.1.5.1 Lý thuyết của Miller và Modigliani (M&M)
Năm 1961, hai nhà kinh tế học thế giới là Merton Miller và Franco
Modigliani đã xây dựng lý thuyết cho rằng chính sách cổ tức hoàn toàn độc lập với
giá trị doanh nghiệp trong điều kiện thị trường hoàn hảo Lý thuyết M&M gắn liền với các giả định chặt chẽ của một thị trường vốn hoàn hảo:
Không thuế, chi phí giao dịch, chi phí phát hành và chi phí đại diện
Giá trị của doanh nghiệp được định giá theo phương pháp chiết khấu dòng tiền và không bị ảnh hưởng bởi quyết định chi trả cổ tức
Nhà đầu tư bàng quan giữa cổ tức và lãi vốn
Giá thị trường không bị thao túng bởi bất kỳ một nhà đầu tư cá nhân nào
Từ đó, M&M đã chứng minh rằng giá trị doanh nghiệp và sự thịnh vượng của cổ đông bị ảnh hưởng bởi quyết định đầu tư thay vì quyết định chi trả cổ tức
Tuy nhiên, lý thuyết M&M lại gây nên một làn sóng tranh cãi vì thực tế thị trường vốn hoàn hảo chưa bao giờ tồn tại Giá trị thị trường của doanh nghiệp luôn
Trang 29chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau như thuế, lạm phát, cơ hội đầu tư, … Nhiều nghiên cứu đã ra đời nhắm vào các vấn đề bất hảo của thị trường để bác bỏ kết luận của M&M Điển hình là nghiên cứu của Baker, Farrelly và cộng sự (1985)
đã khảo sát 603 CFO của hơn 560 công ty niêm yết trên NYSE và họ đều cho rằng giá trị cổ phiếu bị chi phối bởi chính sách chi trả cổ tức
2.1.5.2 Lý thuyết Bird – in – hand
Trước khi lý thuyết M&M ra đời, đã có nhiều ý kiến cho rằng tỷ lệ chi trả cổ tức và giá trị cổ phiếu có mối tương quan với nhau Nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận một mức giá cao hơn cho cổ phiếu có tỷ lệ chi trả cổ tức ổn định vì họ tin rằng cổ tức tiền mặt ít rủi ro hơn so với lãi vốn tương lai Mức cổ tức cao ở hiện tại cho thấy tiềm năng phát triển của doanh nghiệp từ đó sẽ làm tăng sự chắc chắn cho nguồn thu nhập trong tương lai Những lập luận này nhanh chóng thu hút được sự chú ý của các nhà nghiên cứu kinh tế, họ gọi đây là lý thuyết Bird – in – hand, M J Gordon (1963) là một trong những người đầu tiên xây dựng mô hình lý thuyết để bảo vệ lập luận này Ông cho rằng có ba lý do để nhà đầu tư quyết định mua một cổ phiếu bất kỳ chính là:
(1) Cổ tức
(2) Thu nhập từ việc bán cổ phiếu (lãi vốn)
(3) Cả hai
Để kiểm tra mức độ chính xác cho các giả thuyết này, ông đã thực nghiệm
mô hình hồi quy với dữ liệu gồm 164 công ty trong bốn ngành: thực phẩm, thép, máy công cụ và hóa chất trong giai đoạn 1951 – 1954 Kết quả của mô hình đã chứng minh rằng cổ tức có mức độ ảnh hưởng lớn đến giá cổ phiếu Một số nghiên cứu khác như Fisher (1961) tại Anh, Graham và Dodd (1967) tại Mỹ cũng đều cho kết quả tương tự Vì thế, kết quả này cho thấy rằng các công ty sẽ có xu hướng thay đổi tỷ lệ chi trả cổ tức khi muốn thay đổi giá cổ phiếu
Không lâu sau đó, lý thuyết Bird – in – hand đã vấp phải một làn sóng dư luận mới bởi vì mức thuế tác động lên thu nhập từ cổ tức cao hơn so với thuế từ lãi
Trang 30một bộ phận nhà đầu tư chọn lãi vốn để giảm thiểu chi phí thuế Hay nói cách khác, chính sách cổ tức có thể bị chi phối bởi thuế
Baker, Powell và Veit (2001) đã thực hiện khảo sát các nhà quản lý công ty NASDAQ để đánh giá quan điểm của họ về chính sách cổ tức Câu hỏi đặt ra có hàm ý liên quan đến lý thuyết Bird – in – hand rằng: “Các nhà đầu tư thích cổ tức tiền mặt ngày hôm nay hơn là sự tăng giá không chắc chắn trong tương lai” Dựa trên 186 câu trả lời, nhóm nghiên cứu chỉ nhận được 17% đồng ý, hơn 54% không đồng ý và 28% không ý kiến Từ đó, Baker đã đưa ra kết luận không đồng tình với việc sử dụng lý thuyết Bird – in – hand để giải thích cho quyết định chi rả cổ tức của công ty
2.1.5.3 Lý thuyết chi phí đại diện và dòng tiền tự do của chính sách cổ tức
Theo giả định của M&M thì ban lãnh đạo công ty đóng vai trò là người đại diện hoàn hảo cho các cổ đông và không có mâu thuẫn lợi ích giữa các bên Tuy nhiên, trong môi trường bất cân xứng thông tin, ban lãnh đạo có thể không đồng thời là chủ sở hữu, mục đích lợi ích giữa người đại diện và chủ sở hữu (cổ đồng, nhà đầu tư) là khác nhau Ban lãnh đạo công ty có thể đưa ra những quyết định mang lại lợi ích cho bản thân và gây thiệt hại đến lợi ích cổ đông Trong tình huống này, cổ đông phải gánh chịu một chi phí tiềm ẩn là chi phí đại diện Do đó, họ sẽ yêu cầu một tỷ lệ chi trả cổ tức cao hơn khi công ty có dòng tiền dư thừa nhưng không phục vụ cho kế hoạch đầu tư sinh lời Việc thanh toán cổ tức có thể tổ chức lại lợi ích các bên và giảm thiểu chi phí đại diện giữa hai bên Các lập luận này được đề cập lần đầu tiên trong nghiên cứu của Fama và Miller (1972) và phát triển sâu hơn trong nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976)
Một số cuộc nghiên cứu thực nghiệm đã diễn ra nhằm xác định mối tương quan giữa chi phí đại diện và chính sách cổ tức Holder và các cộng sự (1998) đã thực hiện cuộc khảo sát ở Mỹ với dữ liệu gồm 477 công ty trong năm 1980 – 1990
và cho ra kết quả tỷ lệ chi trả cổ tức có được ảnh hưởng tích cực bởi số lượng cổ đông và ảnh hưởng tiêu cực bởi quyền sở hữu nội bộ Kết quả trên cho thấy sự tồn tại của chi phí đại diện và nó ảnh hưởng đến tỷ lệ chi trả cổ tức của doanh nghiệp
Trang 31Từ vấn đề chi phí đại diện, Easterbrook (1984) đã đưa ra lập luận rằng hành động yêu cầu cổ tức của cổ đông được thực hiện với mục đích giảm lượng tiền tự do thuộc quyền quản lý của ban lãnh đạo, đòi hỏi công ty tiếp cận thị trường để huy động vốn phục vụ cho các mục đích đầu tư sinh lời Theo đó, các hoạt động của công ty sẽ gián tiếp được giám sát bởi nhiều cá thể bên ngoài như ngân hàng, nhà phân tích tài chính, nhà đầu tư Điều này thúc đẩy hiệu quả đầu tư và giảm thiểu chi phí đại diện Tuy nhiên, đây là một hành động mang tính hai mặt, quyết định này có thể làm tăng tỷ lệ nợ vay và rủi ro cho doanh nghiệp
2.1.5.4 Lý thuyết tín hiệu
Trong giả định thị trường hoàn hảo của M&M thì ban lãnh đạo (nội bộ) và nhà đầu tư (bên ngoài) đều có khả năng tiếp cận thông tin như nhau Tuy nhiên trong điều kiện thị trường thông tin bất cân xứng thì nội bộ công ty có thể tiếp cận thông tin nhanh và chính xác hơn so với bộ phận bên ngoài Ross (1977) và Kalay (1982) là những người đầu tiên nghiên cứu về mâu thuẫn này, họ gọi đây là lý thuyết tín hiệu Theo lý thuyết này thì cổ tức được xem là tín hiệu về triển vọng tương lai của doanh nghiệp, là phương tiện hữu ích truyền dẫn thông tin nội bộ tới các bộ phận bên ngoài như cổ đông và nhà đầu tư (Al-Malkawi, 2007)
Căn cứ vào lý thuyết tín hiệu và một số giả định sau:
(1) Ban lãnh đạo nắm bắt được nhóm nhà đầu tư tiềm năng và nổ lực truyền tải thông tin đến nhóm khách hàng này
(2) Tín hiệu thật – vì một số doanh nghiệp lợi dụng quan điểm này tạo hiệu
ảo thu hút sự chú ý của thị trường nhưng không thật sự có triển vọng Do
đó, để tăng mức độ chính xác cho thuyết này thì tín hiệu phải là thật (3) Thị trường có khả năng dựa vào tín hiệu cổ tức để phân biệt doanh nghiệp
Nếu những điều kiện đó được đáp ứng, thị trường sẽ trở nên nhạy bén với những thay đổi chính sách cổ tức của các công ty Một doanh nghiệp có cơ hội đầu
tư tốt sẽ cố gắng phát ra tín hiệu bằng cách tăng tỷ lệ chi trả cổ tức, theo đó, giá cổ
Trang 322.1.5.5 Lý thuyết ảnh hưởng của thuế
Theo các giả định hoàn hảo của M&M thì thị trường sẽ không bị tác động bởi chính sách thuế Tuy nhiên, trong thực tế thuế là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến thị trường Mức thuế tác động đến thu nhập từ cổ tức cao hơn so với thu nhập từ lãi vốn và cổ tức bị đánh thuế ngay khi được tất toán trong khi nhà đầu tư chỉ thanh toán thuế từ lãi vốn khi cổ phiếu thật sự bán ra Tác động này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận sau thuế của cổ đông, vì thế, một số nhà đầu tư thích doanh nghiệp tăng thu nhập giữ lại và tỷ lệ chi trả cổ tức thấp Lợi thế về thuế của nguồn thu nhập từ lãi vốn có thể khiến nhà đầu tư ủng hộ công ty chi trả cổ tức thấp thay vì chi trả cao như các lý thuyết khác Mức chi trả cổ tức thấp làm giảm chi phí vốn và đẩy giá cổ phiếu tăng, tuy nhiên ban lãnh đạo luôn cố gắng duy trì chi trả cổ tức ở một tỷ lệ thích hợp, điều này có thể được giải thích từ thuyết tín hiệu và Bird –
in – hand
Nghiên cứu của Litzenberger và Ramaswamy (1979), và Barclay (1987) có kết quả ủng hộ mối quan hệ giữa thu nhập trước thuế và chính sách cổ tức, làm nền tảng cho những lập luận của lý thuyết ảnh hưởng của thuế Theo đó, tại những quốc gia, khu vực nhà đầu tư phải gánh chịu mức thuế cao sẽ yêu cầu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp Nói cách khác, thuế là được xem là một trong những yếu tố tác động đến chính sách chi trả cổ tức của doanh nghiệp
2.1.6 Một số nhân tố tác động đến chính sách cổ tức
Chính sách cổ tức là một trong những quyết định quan trọng của doanh nghiệp Vì thế, để có thể đưa ra một chính sách chi trả hợp lý, ban lãnh đạo phải cân nhắc rất nhiều yếu tố liên quan Trong đó có một số yếu tố tác động mạnh đến quyết định như:
2.1.6.1 Các hạn chế pháp lý
Trước những yếu tố mang tính nội tại, chính sách cổ tức của các công ty chấp hành quy định pháp lý tại quốc gia đăng ký hoạt động kinh doanh Khi ban hành quyết định chi trả cổ tức, doanh nghiệp phải lưu ý một số hạn chế về mặt pháp lý:
Trang 33(1) Hạn chết suy yếu vốn: Doanh nghiệp không thể dùng vốn để phục vụ mục đích chi trả cổ tức, bao gồm mệnh giá cổ phần thường và thặng dư vốn
(2) Hạn chế lợi nhuận ròng: Để đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ, cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng
(3) Hạn chế mất khả năng thanh toán: Doanh nghiệp không thể chi trả cổ tức khi tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao hay mất khả năng thanh toán nhằm đảm bảo quyền lợi của chủ nợ
Những doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp quy mô nhỏ hay lợi nhuận giữ lại thấp thường chịu ảnh hưởng từ các hạn chế này
2.1.6.2 Các ảnh hưởng của thuế
Theo lý thuyết ảnh hưởng của thuế, chính sách cổ tức của doanh nghiệp bị chi phối bởi thuế Trước khi quyết định chi trả cổ tức, ban lãnh đạo luôn phải cân nhắc về sự chênh lệch giữa thuế suất đánh trên cổ tức và thu nhập lãi vốn nhằm đưa
ra chính sách hợp lý làm tăng tỷ suất sinh lợi sau thuế của cổ đông
2.1.6.3 Chính sách chi trả năm trước
Theo lý thuyết tín hiệu, cổ tức chính là phương tiện truyền dẫn thông tin nội
bộ và triển vọng tương lai đến nhà đầu tư Các doanh nghiệp luôn cố gắng duy trì tỷ
lệ chi trả cố định, ít thay đổi Ban lãnh đạo chỉ tăng cổ tức khi họ thật sự tự tin vào
đà tăng trưởng của công ty và có thể duy trì mức độ chi trả ấy trong nhiều năm tiếp theo Ngược lại, khi doanh nghiệp cắt giảm cổ tức sẽ được xem là một tín hiệu xấu, báo động sự suy thoái trong hiệu quả kinh doanh Lintner (1956) đã khẳng định rằng tỷ lệ chi trả cổ tức của năm trước có ảnh hưởng đến tỷ lệ chi trả năm hiện tại
2.1.6.4 Lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận là một yếu tố quan trọng quyết định chính sách chi trả cổ tức của công ty Công ty chỉ có thể chi trả cổ tức khi họ thật sự tạo ra lợi nhuận, nói cách khác Pruitt và Gitman (1991) đã khảo sát các nhà quản lý tài chính của 1.000 công
ty lớn tại Mỹ về sự tương tác giữa quyết định đầu tư, tài chính và cổ tức Kết quả
Trang 34khứ đến hiện tại, sự thay đổi thu nhập doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng của thu nhập Bên cạnh đó, Ahmed và Javid (2009) phát hiện rằng các công ty có lợi nhuận cao, thu nhập ổn định có khả năng chi trả mạnh cho dòng tiền tự do thì mức chi trả
cổ tức cũng lớn hơn và họ kết luận rằng lợi nhuận ròng có ảnh hưởng tích cực đến
tỷ suất cổ tức
2.1.6.5 Khả năng thanh khoản
Quan điểm chung của nhà kinh tế cũng như nhà đầu tư cho rằng khả năng thanh khoản tác động tích cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty Jensen (1986) đã giải thích mối quan hệ này bằng mâu thuẫn giữa nhà quản lý và các cổ đông Xung đột này góp phần vào việc các cổ đông thích cổ tức hơn so với thu nhập giữ lại nếu công ty có dòng tiền dư thừa Khả năng thanh khoản của công ty là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc chi trả cổ tức bằng tiền mặt Tính thanh khoản đo lường mức độ thanh toán cho các nghĩa vụ của một công ty Amidu và Abor (2006) cho rằng chi trả cổ tức bằng tiền mặt không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty mà còn phụ thuộc vào dòng tiền tự do là lượng tiền hoạt động còn lại của công ty sau khi thanh toán các loại chi phí vốn Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ tích cực giữa dòng tiền và tỷ lệ chi trả cổ tức Do đó, thanh khoản được xem là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tỷ lệ chi trả cổ tức
2.1.6.6 Tốc độ tăng trưởng
Tác động của tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp (tốc độ tăng trưởng doanh thu) đến chính sách cổ tức là một yếu tố gây nhiều tranh cãi khi các nhà kinh tế có những quan điểm trái chiều nhau
Một số nghiên cứu cho rằng tốc độ tăng trưởng doanh thu có tác động tích cực đến chính sách cổ tức Theo lý thuyết tín hiệu, các công ty có tốc độ tăng trưởng cao tức là hiệu quả kinh doanh tốt vì thế họ sẽ cố gắng truyền thông tin đến nhà đầu tư bằng cách tăng mức chi trả cổ tức Tại Ghana, Adu-Boanyah và ctg (2013) đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp sản xuất và kết luận rằng tốc độ tăng trưởng của doanh thu có tác động cùng chiều với quyết định chi trả của doanh nghiệp
Trang 35Tuy nhiên, có rất nhiều nghiên cứu đã không ủng hộ lập luận trên, kết quả từ các nghiên cứu ấy đều cho rằng công ty có tốc độ tăng trưởng cao sẽ có nhu cầu vốn cao, cần vốn để tài trợ cho việc mở rộng hoạt động đầu tư, kinh doanh và khả năng công ty giữ lại thu nhập cao hơn chi trả cổ tức cho cổ đông Kết quả nghiên cứu của Amidu và Abor (2006) tuyên bố rằng tăng trưởng doanh thu có mối quan hệ tiêu cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức Theo họ, các công ty đang trên đà tăng trưởng cần nhiều tiền hơn để tài trợ cho khả năng tăng trưởng của họ, do đó, ban quản lý công ty thường sẽ giữa lại thu nhập ở mức tỷ lệ cao hơn so với tỷ lệ chi trả cổ tức
2.1.6.7 Quy mô
Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì khả năng tiếp cận với thị trường vốn càng cao, họ có lợi thế trong việc vay nợ vì thông tin doanh nghiệp có tính minh bạch cao, tạo lòng tin cho chủ nợ Một loạt các nghiên cứu của Eddy và Seifert (1988), Jensen và các công sự (1992), Redding (1997) được trích trong Theodros (2011), Fama và Frech (2001) đều cho rằng các doanh nghiệp lớn sẽ chi một lượng lợi nhuận ròng cao hơn cho cổ tức bằng tiền mặt so với các doanh nghiệp nhỏ Các doanh nghiệp với quy mô lớn chi trả cổ tức cao hơn và các doanh nghiệp quy mô nhỏ chi trả cổ tức thấp hơn vì họ gặp khó khăn trong việc huy động vốn hơn so với các doanh nghiệp lớn dễ dàng tiếp cận thị trường vốn và ít phụ thuộc vào các quỹ nội bộ dẫn đến khả năng chi trả cổ tức cao
2.1.6.8 Tỷ lệ đòn bẩy
Tỷ lệ đòn bẩy là tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu thể hiện cấu trúc vốn của công
ty Đòn bẩy càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay và khả năng tỷ lệ lợi nhuận được giữ lại cao hơn so với tỷ lệ chi trả cổ tức vì doanh nghiệp phải tài trợ cho các hoạt động kinh doanh, thanh toán lãi và gốc cho chủ nợ từ đó làm giảm tỷ lệ đòn bẩy nợ Theo Rozeff (1982), các công ty có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao thường
có tỷ lệ chi trả thấp nhằm giảm các chi, tăng thu nhập giữ lại cân bằng đòn bẩy tài chính Al-Malkawi (2007) cũng đã xác nhận rằng đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định cổ tức
Trang 36Ở một khía cạnh khác, Kania và Bacon (2005) và một số nghiên cứu khác đã tìm ra mối quan hệ tích cực và kết luận rằng các công ty có tỷ lệ nợ vay cao sẽ trả
cổ tức nhiều hơn Lý thuyết tín hiệu chính là cơ sở lập luận của quan điểm này Doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao thường chi trả cổ tức ở mức cao hơn nhằm củng cố niềm tin nhà đầu tư và báo hiệu rằng công ty vẫn đang hoạt động tốt
2.1.6.9 Lạm phát
Khi thị trường xảy ra lạm phát ở mức độ cao, doanh nghiệp cần tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại nhằm duy trì hoạt động kinh doanh, luân chuyển vốn và chi trả các khoản giao dịch phát sinh
2.1.6.10 Bảo vệ chống loãng giá
Khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu mới, rủi ro loãng giá có thể xảy ra vì
có thể cổ đông không mua hoặc không thể mua theo tỷ lệ tương ứng Vì vậy, để bảo
vệ giá trị doanh nghiệp, quyền lợi sở hữu, một số nhà quản lý sẽ chi trả cổ tức thấp nhằm tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại, tránh phát hành cổ phần khi cần huy động vốn
2.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THUỘC NHÓM VN30
2.2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra hoạt động giao dịch các sản phẩm chứng khoán như: cổ phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá Một thị trường chứng khoán hiệu quả có vai trò ý nghĩa rất quan trọng đối với một nền kinh tế
(1) Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư có một khoản tiền nhàn rỗi, họ sẽ có xu hướng đầu tư sinh lời bằng cách mua cổ phần của các công ty được niêm yết, TTCK là nơi thu gom những nguồn vốn đó và cung cấp vốn cho các doanh nghiệp phát hành cổ phần Qua đó, các khoản tiền nhàn rỗi được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh và góp phần mở rộng nền kinh tế xã hội Bên cạnh các doanh nghiệp, chính phủ và chính quyền địa phương cũng có thể huy động vốn bằng cách bán trái phiếu
Trang 37và sử dụng nguồn vốn đó để đầu tư cho các dự án cần thiết Vì thế, TTCK có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
(2) Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp môi trường đầu tư phong phú với đa dạng các ngành nghề giúp nhà đầu tư có nhiều sự lựa chọn, đa dạng hoá danh mục đầu tư và giảm thiểu rủi ro Thị trường có nhiều loại sản phẩm khác nhau: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng khoán phái sinh, chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán Các loại chứng khoán khác nhau có tính chất, thời hạn và độ rủi ro khác nhau Bên cạnh đó, TTCK góp phần to lớn vào việc tăng tỷ lệ tiết kiệm quốc gia
(3) Tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
TTCK là một thị trường có tính thanh khoản cao giúp nhà đầu tư dễ dàng chuyển đổi chứng khoán họ đang sở hữu thành tiền mặt hoặc dễ dàng trao đổi, mua bán các loại chứng khoán khi có nhu cầu với mức chi phí và thời gian giao dịch thấp Điều đó tạo cho nhà đầu tư cảm giác an toàn và linh hoạt đối với khoản đầu tư của mình
(4) Thị trường chứng khoán đánh giá hoạt động của một doanh nghiệp
Giá thị trường của cổ phiếu tại một thời điểm phản ánh tổng hợp và chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp tại thời điểm đó Thông qua thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể dễ dàng đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp, từ đó, kích thích tính cạnh tranh lành mạnh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy sự phát triển thị trường chung
(5) Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ số từ thị trường chứng khoán là một trong những công cụ hiệu quả thể hiện trạng thái của thị trường tại một thời điểm nhất định Khi các chỉ số có xu hướng tăng chứng tỏ thị trường đang có biểu hiện tích cực và ngược lại Do đó, tùy vào tình hình nền kinh tế, Chính phủ có thể áp dụng các chính sách, biện pháp tác động đến TTCK nhằm đảm bảo cho sự phát triển cân đối cả nền kinh tế quốc dân
Trang 382.2.2 Các công ty thuộc nh m VN30
Để được chọn lựa vào rổ VN30, các công ty phải đáp ứng các điều kiện tiêu chuẩn tham gia tính toán chỉ số và trải qua 3 bước sàng lọc (Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM, 2013):
Bước 1: Sàng lọc giá trị vốn hóa
Nhóm các cổ phiếu thỏa mãn điều kiện tham gia tính chỉ số VN30 được sắp xếp theo thứ tự giảm dần theo giá trị vốn hóa hàng ngày bình quân trong 06 tháng chưa được điều chính free – float 50 cổ phiếu có giá trị vốn hóa cao nhất sẽ được chọn từ trên xuống sẽ được chọn vào nhóm 30 cổ phiếu tốt nhất
Bước 2: Sàng lọc về free – float
Tỷ lệ free – float là tỷ lệ khối lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng so với khối lựogn cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường
Cổ phiếu có tỷ lệ free – float 5% sẽ bị loại Tức là các cổ phiếu chuyển nhượng tự do thỏa thuận phải đạt ngưỡng 5% so với tổng khối lượng cổ phiếu đang được phát hành của mã cổ phiếu đó Theo quy tắc chỉ số VN30, tỷ lệ free – float chỉ được cập nhật 06 tháng một lần tại mỗi lần xem xét định kỳ rổ chỉ số nhằm hạn chế những thay đổi nhỏ không cần thiết ảnh hưởng đến tính ổn định của chỉ số và tính hiệu quả khi vận hành chỉ số Do vậy, tỷ lệ free – float được làm tròn theo bội số 5% để dự phòng cho những biến động trong kỳ cổ phiếu
Bước 3: Sàng lọc về thanh khoản
Tập hợp các cổ phiếu còn lại đủ yêu cầu sẽ được sắp xếp theo thứ tự giảm dần về giá trị giao dịch hàng ngày bình quân trong 06 tháng
Top 30 cổ phiếu đáp ứng các tiêu chí sàng lọc sẽ được chọn vào rổ Danh mục cổ phiếu VN30 đợt 01 năm 2020 (Phụ lục 1)
2.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức được công bố, tuy nhiên, đề tài này vẫn luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo cũng như các nhà kinh tế nhằm tìm ra các
Trang 39yếu tố xây dựng nên chính sách cổ tức cho doanh nghiệp và mối quan hệ giữa các yếu tố trên
Nghiên cứu của Ricardo N Bebczuk (2004) được thực hiện nhằm tìm ra các yếu tố quyết định chính sách cổ tức của các công ty được niêm yết tại Argentina trong giai đoạn năm 1996 - 2002 Bài nghiên cứu đã đưa ra một số phát hiện liên quan đến chính sách cổ tức:
(a) Các công ty có quy mô lớn hơn và lợi nhuận cao hơn nhưng không có cơ hội đầu tư tốt sẽ trả cổ tức nhiều hơn
(b) Các công ty có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tốt hơn sẽ trả nhiều cổ tức hơn
(c) Các công ty có tỷ lệ cao rủi ro cao, mắc nhiều nợ hoặc những công ty thuộc sở hữu nước ngoài thường trả cổ tức thấp hơn
(d) Các công ty phát hành Chứng chỉ tiền gửi Mỹ (ADR) có tỷ lệ xuất chi cao hơn các công ty khác
(e) Các công ty không quan tâm đến việc duy trì tỷ lệ cổ tức ổn định theo thời gian
Nghiên cứu của Duha Al-Kuwari (2009) được thực hiện tại Hồi đồng hợp tác Vùng Vịnh (GCC) vì ông cho rằng chính sách cổ tức là chủ đề tài chính hấp dẫn tuy nhiên các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các thị trường phát triển, vì thế, để
có cái nhìn sâu sắc hơn, ông quyết định thực hiện tại thị trường đang phát triển Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu của 191 công ty phi tài chính được niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán các quốc gia GCC từ năm 1999 đến năm 2003 để kiểm tra bảy giả thuyết:
H1: Quyền sở hữu nhà nước ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức H2: Dòng tiền tự do ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức
H3: Quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức
H4: Tỷ lệ chi trả cổ tức tích cực/tiêu cực liên quan đến cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp
Trang 40H6: Rủi ro hệ thống ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức
H7: Lợi nhuận của doanh nghiệp ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ chi trả cổ tức
Kết quả nghiên cứu của Al-Kuwari cho ra 04 biến có ý nghĩa thống kê bao gồm sở hữu nhà nước, quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ đòn bẩy và lợi nhuận Trong đó,
sở hữu nhà nước, quy mô doanh nghiệp và lợi nhuận có ảnh hưởng tích cực đến tỷ
lệ xuất chi Ngược lại, doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao sẽ chi trả cổ tức thấp hơn
Theo Mehdi Moradi và các cộng sự (2010) thì chính sách cổ tức liên quan đến nhiều quyết định tài chính quan trọng Bên cạnh đó, nó được hình thành từ nhiều cơ sở lý thuyết khác nhau, nhiều trường phái khác nhau tạo nên những bất cập nan giải trong chu kỳ tài chính của doanh nghiệp Từ đó, bài nghiên cứu ra đời nhằm mục đích xây dựng mô hình kiểm tra tác động của một số nhân tố khác nhau đến chính sách cổ tức tại Iran: lợi nhuận, quy mô, tỷ số beta, tỷ lệ thu nhập giữ lại, P/E và tỷ lệ nợ Nhóm nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu của 73 công ty thuộc các nhóm ngành khác nhau niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tehran từ năm
2000 đến năm 2008 Nhóm sử dụng phương pháp hồi quy để kiểm tra sự tương quan giữa các biến và kiểm định các giả thuyết Sau quá trình nghiên cứu, nhóm đã rút ra kết luận rằng chính sách cổ tức của các công ty niêm yết tại TSE bị ảnh hưởng trực tiếp bởi lợi nhuận sau thuế Tuy nhiên, chỉ số beta, P/E, tỷ lệ nợ có tác động trái chiều và quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ thu nhập giữ lại không ảnh hưởng đến chính sách cổ tức
Nghiên cứu của Belisti Jemberie Emiru (2015) thực hiện tại các ngân hàng thương mại Ethiopia sử dụng dữ liệu từ 06 ngân hàng thương mại có thời gian hoạt động trên 10 năm và liên tục chi trả cổ tức từ năm 2005 đến năm 2014, bao gồm: Awash International, Wogagen, Dashen, Abyssinia, United và Nib International Để kiểm định các giả thuyết liên quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ chi trả, tác giả sử dụng Mô hình FEM, Mô hình REM cùng một số mô hình hồi quy khác sau đó chọn ra mô hình phù hợp nhất bằng kiểm định Hausman Kết quả kiểm định Hausman cho thấy Mô hình tác động cố định (FEM) là kỹ thuật hồi quy phù hợp