1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Phát Triển Bền Vững Nông Nghiệp, Nông Thôn Trên Địa Bàn Tỉnh

131 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nhà khoa học và tổ chức đã quan tâm nghiên cứu về phát triển bền vững, trong đó có phát triển bền vững về nông nghiệp, nông thôn.Nhiều công trình thuộc nhiều l nh vực khác nhau trê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- - - -¤¤- - -

-NGUYỄN KIM ĐỒNG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH

ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tây Ninh – 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-¤¤ -

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH

ĐẾN NĂM 2020

Chuyên ngành: Kinh tế - chính trị

Mã số: 60.31.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáng

Tây Ninh - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là quá trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu chứng minh, minh họa trong luận văn là trung thực từ thực tế Tất cả những luận cứ và kết luận trong luận văn đều do tác giả thực hiện

Tác giả luận văn

Nguyễn Kim Đồng

Trang 4

MỤC LỤC

Mở đầu trang Chương 1: Tổng quan về phát triển bền vững và phát triển bền vững

nông nghiệp, nông thôn 1 1.1 Lý luận về phát triển bền vững và phát triển bền vững nông

nghiệp, nông thôn 1 1.1.1 Quan niệm, nội dung về phát triển bền vững 1 1.1.2 Quan niệm, nội dung về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn 7 1.2 Các tiêu chí và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững nông

nghiệp, nông thôn 19 1.2.2 Một số tiêu chí tổng hợp đánh giá phát triển bền vững nông nghiệp,

nông thôn 19

1.2.2 Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn 22 1.3 Các mô hình phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn và bài

học kinh nghiệm 29 1.3.1 Mô hình một số nước, vùng lãnh thổ và địa phương trong nước 29 1.3.2 Bài học kinh nghiệm phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn 39 Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn

tỉnh Tây Ninh 44 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Tây Ninh tác động đến quá

trình phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn 44 2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 44 2.1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội 45 2.2 Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây

Ninh 47 2.2.1 Sơ lược quá trình phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Tây Ninh qua các

giai đoạn 48

2.2.2 Phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây Ninh thời gian

qua 52

2.2.3 Đánh giá thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh

Tây Ninh trong những năm qua 69

Trang 5

2.3 Vấn đề đặt ra trong phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn

tỉnh Tây Ninh 78

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây Ninh 83

3.1 Những thuận lợi, khó khăn và thách thức đối với phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây Ninh 83

3.1.1 Những thuận lợi 83

3.1.2 Những khó khăn 84

3.1.3 Những thách thức 84

3.2 Quan điểm của Đảng và định hướng về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây Ninh 85

3.2.1 Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn 85

3.2.2 Quan điểm của tỉnh Tây Ninh về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn 87

3.3 Sự cần thiết và định hướng phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 89

3.3.1 Sự cần thiết phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây Ninh 89

3.3.2 Định hướng phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 89

3.3.3 Mục tiêu cơ bản của phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 95

3.4 Những giải pháp chủ yếu phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây Ninh 98

3.4.1 Đa dạng hóa các hình thức sở hữu, tận dụng tiềm năng phát triển các thành phần kinh tế từng bước xây dựng thế mạnh đảm bảo phát triển bền vững ngành nông nghiệp 98

3.4.2 Khai thác nguồn vốn nâng cao hiệu quả đầu tư chiều sâu và bền vững 101

3.4.3 Thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế nông thôn phải đảm bảo tính bền vững giữa kinh tế, môi trường và xã hội 103

3.4.4 Quan tâm việc thực hiện chính sách phát triển về nông nghiệp, nông thôn bền vững 104

Trang 6

3.4.5 Phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong nông

nghiệp, nông thôn và bảo vệ môi trường 106

3.4.6 Phát triển làng nghề truyền thống, xây dựng làng nghề mới, khu

công nghiệp sinh thái theo hướng bền vững 107

3.4.7 Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông thôn theo hướng

hiện đại và bền vững 107

3.4.8 Phát triển cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội nông thôn trong chiến lược

phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn 108

3.4.9 Chiến lược phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm cho

người lao động trong phát triển bền vững 109

3.4.10 Chiến lược bảo vệ và phát triển tài nguyên môi trường trong phát

triển bền vững 110

Kết luận và kiến nghị 112

`

Trang 7

NCI Chỉ thị về vốn thiên nhiên

Natural Capital Indicator

IUCN Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Foreign Direct Investment

GAP Tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp sạch

Gross Domestic Product

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Official Development Assistance

World Bank

World Trade Organization

WCED Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển WEF Diễn đàn kinh tế thế giới

Trang 8

Trang Hình 1 Ba trụ cột tương tác trong phát triển bền vững 02 Hình 2 Biểu trương trực quan trong môi trường kinh tế, môi

trường xã hội và môi trường sinh thái

06

Bảng 2.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn theo cơ cấu các ngành kinh

tế

51

Bảng 2.3 Giá trị nông nghiệp và tốc độ tăng trưởng nông

nghiệp tỉnh Tây Ninh năm 2010 – 2011 – ước 2012

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp từ năm 2009

đến năm 2011

53

Trang 9

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn hiện nay đang là mối quan tâm không chỉ đối với nhà khoa học mà là của

c cộng đồng Ý niệm phát triển bền vững nhấn mạnh đến khả năng phát triển

lên tục, không gây ra những hậu quả khó khôi phục, nhất là l nh vực nông nghiệp – nông thôn Qua đó, phát triển bền vững đã phản ánh sự quan ngại đối với cộng đồng vì muốn tăng trưởng kinh tế vội vã mà không quan tâm đến những nguy hại lâu dài tá động đến môi trường sinh thái và môi trường xã hội

Trên phương diện toàn cầu hiện nay, c c t nh trạng về biến đổi khí hậu,

sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, nghèo đói, công bằng trong phân phối thu nhập có tác động trực t ếp đến cá nguyên lý phát triển nhanh nhưng không bền vững Xu hướng của sự phát triển phải được chuyển sang mô hình kinh tế mới trên toàn cầu với tầm nhìn dài hạn, mà trong đó phải chú ý đến nguyên tắcủa sự công bằng trong xã hội và sự chịu đựng có giới hạn của thiên nhiên Kinh

tế truyền thống với tầm nhìn thiển c n như phát triển với tốc độ cao hoặ chỉ vì mục đích cho mỗi cá nhân hay chỉ cho mỗi quốc gia, do đó c n phải được điều chỉnh bằng mô hình mới - kinh k học bền vững Cho đến nay, mô hình: “kinh tế học bền vững”, “phát triển nền kinh tế xanh” được cá nhà khoa học ví như một ngôi nhà trong trên thế giới Chính nền tảng của nhận thức này sẽ được quy định trên c c nguyên tắ đạo đức cơ bản của “phát triển bền vững” Tuy nhiên, phải làm thế nào để thế giới thực thi tốt c c t êu chuẩn về môi trường sinh thái, về văn hóa – xã hội và về kinh tế ?

Ở nước ta, trong t ến trình hội nhập quốc tế, vấn đề phát triển bền vững là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, giữ vị trí quan trọng trong toàn bộ t ến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để phấn đấu đạt mục t êu đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và có nền nông nghiệp tên tến Nhiệm vụ đặt ra là c n phải phân t ch sâu sắ thực trạng kinh tế nông nghiệp, nông thôn và từ đó đề ra cá giải pháp để đẩy nhanh quá trình này trong giai đoạn tới

Tây Ninh là t nh có truyền thống anh hùng c ch mạng và là vùng Kinh tế

Trang 10

những chủ trương, chính sách và biện pháp phù hợp thúc đầy phát triển nông nghiệp, nông thôn và đã mang lại những thành tựu quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội – văn hóa trong cộng đồng Mặ dù vậy, bước đầu trong quá trình phát triển, đặ biệt là lnh vực nông nghiệp, nông thôn không thể tránh khỏi những hạn chế và bất cập, nhất là những quan điểm chính sá h trong phát triển bền vững và những giải pháp hữu hiệu trong phát triển bền vững.

Từ lý luận và thực t ễn đã nêu trên, đồng thời để góp phần thực hiện tốt chủ trương, chính sách nhằm đề ra định hướng và giải pháp cho quá trình phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn t nh Tây Ninh trong những năm tới, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn t nh Tây Ninh đến năm 2020” để làm Luận văn tốt nghiệp chương trình thạ sĩ tại trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chuyên đề về phát triển bền vững những năm gần đây được xem như t êu chí của sự phát triển Nhiều nhà khoa học và tổ chức đã quan tâm nghiên cứu về phát triển bền vững, trong đó có phát triển bền vững về nông nghiệp, nông thôn.Nhiều công trình thuộc nhiều l nh vực khác nhau trên thế giới củng như trong nước về “Phát triển bền vững” đề xuất phương hướng và đưa ra những giải pháp

tch cực nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển nhanh và bền vững như:

- Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế; Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình môi trường do Liên hiệp quốc đề xuất có tên: “Chiến lược bảo tồn Thế giới”, năm 1980

- Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) trong tá phẩm:

“Hãy cứu lấy trái đất - chiến lược cho một cuộc sống bền vững” năm 1991

- Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) tại Hội nghị thượng đỉnh Thế giới năm 1992, xá định c c hành động cho sự phát triển bền vững của toàn thế giới trong thế kỷ 21

- Các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX,X và XI

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá X về:

“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”

- Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của bộ Chính trị về ‘ Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước”

Trang 11

2001 – 2020”.Nhà xuất bản Nôn nghiệp, Hà Nội năm 2001.

Và c c công trình nghiên cứu về phát triển bển vững nông nghiệp,nông thôn

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều tập trung vào phân t ch các khía cạnh từ những vấn đề về lý luận cơ bản, vai trò, yếu tố tác động, sự cần thiết và nội dung của phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn nói riêng Song có lẽ cho tới nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu, đánh giá về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn ở

t nh Tây Ninh Trong quá trình nghiên cứu và qua thực t ễn công tác của mình, tác giả luận văn mong muốn được góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề

về lý luận, đề xuất cá quan điểm, phương hướng và giải pháp để thúc đẩy nhanh quá trình phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn

t nh Tây Ninh

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận khoa học về “Phát triển bền vững” và phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn Luận văn nêu thực trạng về nông nghiệp, nông thôn và đề ra những định hướng, mục t êu và những giải pháp chủ yếu nhằm tạo

tền đề mới cho sự phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn t nh Tây Ninh.Mục đích thông qua cá nhóm giải pháp nhằm phấn đấu đến năm 2015 đưa Tây Ninh là t nh khá trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam và c nước để cơ bản đến năm 2020 nông nghiệp – nông thôn Tây Ninh phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn theo hướng bền vững

Đề tài về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn có phạm vi rộng,nên quá trình thực hiện luận văn chỉ tập trung vào hai vấn đề chủ yếu là cơ sở lý luận về phát triển bền vững và quá trình thực hiện phát triển bền vững Trong

đó, chủ yếu xây dựng và phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn từ: chuyển dịch cơ c u kinh tế nông nghiệp, nông thôn; về nguồn nhân lực; về xây dựng c c làng nghề truyền thống, c c khu, cụm công nghiệp từ c c làng nghề và xây dựng kết c u hạ tầng, khu đô thị nông thôn trên địa bàn t nh Tây Ninh

Trang 12

sử để phân tch quá trình phát triển bền vững và phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn Đồng thời, luận văn củng áp dụng c c phương pháp: logic học,thống kê, phân tch, tổng hợp để làm sang tỏ nôi dung của đề tài.Cụ thể:

Phương pháp t ếp cận nghiên cứu: là dựa trên định t nh và định lượng thông qua phương pháp duy vật biện chứng và duy vật l ch sử để phân t ch và thông qua nghiên cứu thực địa, phân tch, tổng hợp và so sánh

Phương pháp thu thập số l ệu, nguồn dữ l ệu từ: niên giám thống kê t nh Tây Ninh, Ủy ban nhân dân t nh Tây Ninh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Báo tây Ninh

Phương pháp chuyên gia: được thực hiện dựa trên thông qua trao đổi và nội dung hội thảo khoa học “Phát triển bền vững vùng Đông nam bộ trong bói

c nh hội nhập quốc tế hiện nay” và “Diễn đàn hợp tá kinh tế về phát triển nông nghiệp bền vững đồng bằng sông Cửu Long”

Phương pháp thống k mô tả: nghiên cứu hiện tượng kinh tế - xã hội bằng hình thức mô tả thông qua c c số lệu thu thập nhằm phân tch thực trạng

tnh hình t nh hình phát triển về nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn t nh Tây Ninh

Phương pháp hệ thống và quy nạp: thông qua khảo sát thực trạng của sự phát triển, đề tài tập trung nghiên cứu, phân tch và đề xuất c c nhóm giải pháp trên quan điểm hệ thống và quy nạp trong quá trình phát triển bền vững nông nghiệp,nông thôn trên địa bàn t nh Tây ninh

6 Những đóng góp khoa học của luận văn

Luận văn đã thực hiện hệ thống phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn Trong đó chủ yếu luận văn được thể hiện:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển bền vững và phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn; kinh nghiệm ưu điểm, khuyết điểm phát triển bền vững một số địa phương trong và ngoài nước

- Từ thực trạng phát triển kinh tế - xã hội t nh Tây Ninh từ năm 1995 đến nay nhằm phân t ch, đánh giá việ thực hiện phát triển bền vững nông nghiệp,nông thôn t nh, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tế của địa phương

- Từ những bài học kinh nghiệm từ thực tế t nh Tây ninh, luận văn đã xây dựng được về quan điểm phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, từ đó đưa

Trang 13

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết c u luận văn gồm 3 phần cơ bản:

Chương 1: Tổng quan về phát triển bền vững và phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn

Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn tỉnh Tây Ninh

Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển bền vững nông nghiệp,

nông thôn tỉnh Tây Ninh

Trang 14

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN

1.1 Lý luận về phát triển bền vững và phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn 1.1.1 Quan niệm, nội dung về phát triển bền vững

1.1.1.1 Quan niệm

Tất cả mọi phương thức sản xuất đều có cơ sở vật chất kỹ thuật thích ứng, đó là hệ thống các yếu tố về chất của lực lượng sản xuất để tái tạo ra vật chất đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất về tiến bộ khoa học - kỹ thuật, về nguồn nhân lực và quy

mô tích lũy là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến phát triển vật chất Đồng thời, tính chất và trình độ của các quan hệ sản xuất, có ảnh hưởng không nhỏ trong mối quan hệ hữu cơ đối với quá trình phát triển

Phát triển bền vững được nói đến không phải dựa trên nội dung của phương thức sản xuất mà được nhìn nhận trong quá trình thực hiện phương thức sản xuất Quá trình phát triển lực lượng sản xuất và sự phù hợp của quan

hệ sản xuất tạo nên sự bền vững trong phát triển Hay nói cách khác, mặt trái của quá trình sản xuất vật chất, quá trình phát triển kinh tế xã hội đã gây ra độ chênh giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội dẫn đến mất dần sự bền vững trong môi trường sống

Những thách thức mang tính toàn cầu về sự phát triển đã được nhận định trong những năm cuối thập niên 70 – thế kỷ XX, đó chính là: sự can thiệp quá lớn vào nguồn tài nguyên thiên nhiên; sự ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu trái đất; sự gia tăng dân số, đói nghèo, dịch bệnh, cùng các tệ nạn xã hội Những thách thức nói trên đã gây ảnh hưởng rất lớn cho phát triển Nó không chỉ đe dọa sự phát triển mà đe dọa cho tồn tại không chỉ của mỗi quốc gia, mỗi khu vực mà ảnh hưởng cả toàn cầu

Vào năm 1980, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên - IUCN đã đưa ra chiến lược có tên gọi: “Chiến lược bảo toàn thế giới”, trong đó có mục tiêu tổng thể là đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ tài nguyên sống Từ đó

thuật ngữ “Phát triển bền vững” được nói đến Tuy nhiên trong thời điểm này,

nội hàm của “Phát triển bền vững” chỉ hiểu trong khía cạnh môi trường

Năm 1987, Ủy ban quốc tế về môi trường và phát triển - WCED của Liên

Trang 15

hiệp quốc đã công bố bảng báo cáo nội dung “Tương lai của chúng ta” Trong báo

cáo đã định nghĩa phát triển bền vững như sau: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được các nhu cầu của thế hệ hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”

Đến tháng 6 năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển được tổ chức ở Rio de Janeiro – Braxin, đã đưa ra “Bản tuyên ngôn về môi

trường và phát triển”, trong đó Hội nghị lần nữa khẳng định lại: “Phát triển bền vững là nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của con người, nhưng không gây tổn hại đến sự thoả mãn nhu cầu của thế hệ tương lai”

Năm 2002, tại Johannesburg – Nam Phi, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững đã tổng kết, đánh giá lại 10 năm thực hiện Chương trình nghị

sự phát triển bền vững toàn cầu Trong hội nghị đã bổ sung và hoàn chỉnh định

nghĩa Phát triển bền vững như sau: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có

sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường” Vậy, có thể khái quát phát triển bền vững là tương tác giữa ba trụ cột:

kinh tế; xã hội - con người và môi trường Để có được quá trình phát triển bền vững như vậy, tất cả các nước phải tiến hành xây dựng, gắn kết mọi quan hệ với nhau trên cơ sở phát triển quy mô bền vững Nói cách khác, xây dựng nền tảng của phát triển bền vững là xây dựng phương thức sản xuất hiện đại trong thời đại mới, là quy luật chung, phổ biến đối với toàn cầu mà đặc biệt là các nước trong quá trình phát triển như nước ta Phát triển bền vững chính là con đường và bước

đi tất yếu để cơ bản đưa nước ta trở thành nước công nghiệp tạo ra cơ sở vật chất -

kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại

Ba trụ cột tương tác trong phát triển bền vững bao hàm cả điều kiện tự nhiên, con người và xã hội, bao hàm cả quá khứ, hiện tại và tương lai Vì vậy,

"Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặc chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và môi trường"

1.1.1.2 Nội dung phát triển bền vững

* Phát triển bền vững về kinh tế

Kinh tế

Con người

Trang 16

Khi xét đến phát triển bền vững về kinh tế là nói đến sự tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trên cơ sở không ngừng nâng cao tính hiệu quả, có hàm lượng khoa học và công nghệ, hạn chế đến mức thấp nhất về tài nguyên, từng bước cải thiện

môi trường với khẩu hiệu "phát triển nền kinh tế xanh”

Tăng trưởng kinh tế dựa vào yếu tố nội sinh là chủ yếu và cơ bản nhất Trong đó, chiến lược phát triển con người là then chốt bởi nó quyết định cho mọi nguồn lực phát triển Con người tạo ra chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ sở vật chất cho kỹ thuật, tạo ra năng lực sáng tạo khoa học, tạo ra vốn tích lũy, tạo ra mức độ hiện đại cơ sở hạ tầng, tạo ra các khu đô thị Nếu tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên hoặc chỉ dựa vào vốn vay nước ngoài hoặc chỉ bán sản phẩm thô thì một lúc nào đó tài nguyên sẽ cạn kiệt và phụ thuộc, không thể có nền kinh tế bền vững

Phát triển bền vững về kinh tế chính là việc đảm bảo công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và bảo đảm tính "kế thừa xã hội” Thực hiện cải thiện giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em và cộng đồng, tạo ra sự công bằng về

‘‘quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”, đồng thời xóa dần sự cách biệt chênh lệch về thu nhập mọi thành viên trong cộng đồng Do đó, nếu chỉ quan tâm một cách chủ quan về tăng trưởng trong khi không nhìn một cách tổng thể sẽ dẫn đến tình trạng phân phối xã hội chỉ tập trung bởi các đối tượng sở hữu các nguồn lực và từ đó dẫn đến mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích Mọi thành quả của quá trình phát triển sẽ làm mất động lực phát triển dẫn đến khủng hoảng trong dài hạn

Vì vậy, phát triển bền vững về kinh tế là quá trình phát triển đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu, tránh được sự suy thoái, đình trệ trong tương lai và không để lại nợ nần cho các thế hệ mai sau

* Phát triển bền vững về xã hội

Kết quả quá trình phát triển ngày càng cao trong việc thực hiện công bằng

xã hội là yếu tố quan trọng nhất trong tất cả các mối quan hệ xã hội Tiền đề của công bằng xã hội là bảo đảm cho mọi người có công ăn việc làm, được học hành, từng bước không còn tình trạng đói nghèo, chênh lệch về thu nhập Vì vậy, vấn đề

cơ bản trong phát triển bền vững xã hội là tạo đồng thuận xã hội về ý thức xã hội

và tồn tại xã hội, nâng cao dân trí, từ đó tạo ra công bằng, minh bạch trong cộng

đồng

Xã hội được hiểu theo 2 nghĩa: rộng và hẹp

Trang 17

Theo nghĩa rộng, xã hội là tất cả những gì gắn với con người, với xã hội loài người nhằm phân biệt với cái tự nhiên Nói cách khác, xã hội là tất cả những

gì liên quan đến con người, các nhóm người, các cộng đồng người Là những gì liên quan đến sự tồn tại và phát triển của con người

Theo nghĩa hẹp, xã hội là mối liên hệ nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và tư tưởng của con người Đó chính là tính nhân văn của mỗi con người trong mối quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển về kinh tế, chính trị bảo đảm tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người Do đó, khi xét đến khía cạnh này thì những vấn đề nảy sinh cần phải giải quyết là: sự phân tầng xã hội; sự bất bình đẳng trong giáo dục, trong chăm sóc sức khỏe; về dân số - kế hoạch hóa gia đình; về giải quyết việc làm; về các tệ nạn xã hội; về an toàn giao thông; về ô nhiễm môi trường; về bất bình đẳng dân tộc, tôn giáo Vì vậy, trong phát triển bền vững cần thiết phải chú trọng đến văn hóa xã hội Sự ổn định và phát triển trong văn hóa - xã hội là một trong những mục tiêu phải thực hiện

Thực chất sự hoàn thiện xã hội là văn hóa, là hoàn thiện con người Con người luôn tạo ra tất cả các giá trị trong cuộc sống Con người tạo nên đạo lý làm người, là những chuẩn mực về phương thức sản xuất và phong tục tập quán, nhờ

đó mà con người gắn kết với nhau trong cộng đồng Sức mạnh và giá trị của cộng đồng và của cá nhân được hình thành từ đó Vì con người có thể xây dựng nhiều công trình vĩ đại mà không một sinh vật hay động vật nào có thể làm được

Thước đo cho các giá trị văn hóa - xã hội chính là vốn xã hội Vốn xã hội bao hàm các mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội, nó tùy thuộc vào ý thức và kỳ vọng của người này đối với người khác trong gia đình, bạn bè, hàng xóm, tạo nên các mối liên hệ thông tin hữu ích, tạo nên lề thói, tập quán trong cộng đồng Mỗi người phải tự ý thức trong các mối quan hệ xã hội Các thành viên tin cậy lẫn nhau, kỳ vọng của mỗi người là điều kiện để mối quan hệ trong xã hội phát triển Nói cách khác, qua thông tin, tiếp xúc từ các mối quan hệ, mỗi người có thể thu thập nhiều thông tin hữu ích, từng bước tạo nên vốn văn hóa, tập quán tốt đẹp Vốn xã hội càng lớn thì giá trị xã hội càng lớn

Khác với vốn vật thể, vốn xã hội được ví như là ‘‘tài sản công” không ai có quyền sở hữu Vốn xã hội không giống vốn khác ở chỗ: vốn xã hội là sản phẫm của tập thể, chứ không phải của cá nhân Nó tùy thuộc vào mổi cá nhân trong cộng đồng và tạo ra nhiều lợi ích cho cộng đồng Ngược lại, nếu chỉ có một vài cá nhân cũng có thể làm đổ vở vốn xã hội, như trường hợp lợi dụng tín nhiệm Nên vốn

Trang 18

xã hội được tích tụ, hình thành bởi bản thân, gia đình trong cộng đồng Mỗi cá nhân đều được lĩnh hội từ vốn gia đình và xã hội Vốn gia đình là nguồn lực vật chất để mỗi thành viên trong gia đình có điều kiện học tập, giải trí, ứng phó với nhu cầu thường nhật Vốn con người tăng - trình độ dân trí tăng sẽ làm tăng vốn

xã hội Vốn xã hội trong gia đình tùy thuộc vào sự có mặt và quan tâm của phụ huynh đối với con cái, là mối liên hệ giữa các thành viên lại với nhau Nếu trong một xã hội đoàn kết, ít chia rẽ thì sẽ dễ dàng phục hồi ‘‘sau cú sốc” về kinh tế hay hạn hán lũ lụt

Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực luôn biến động bởi sức hút từ các vùng kinh tế Tính bền vững trong cộng đồng dễ bị lung lay, không được coi trọng, vốn xã hội cần được quan tâm Vốn xã hội có thể xấu đi như hình thành băng đảng tội phạm làm cho vốn con người của cá nhân có thể băng hoại không có lối giải thoát Vốn xã hội không như những vốn khác khi không sử dụng sẽ dần hao mòn hoặc sử dụng lao động không đúng thì không thể một sớm một chiều có thể tái tạo được Nếu không chú trọng, không nuôi dưỡng đến vốn con người và vốn xã hội thì phát triển không bền vững Chính sách phát triển kinh tế nếu chỉ chú trọng đến tốc độ, hô hào làm giàu mà xem nhẹ vốn xã hội sẽ dẫn đến suy thoái đạo đức Nạn bạo hành trong gia đình, nạn mất an ninh trật tự xã hội, nạn tham ô, tham nhũng trong công sở là hệ lụy tất yếu, nó sẽ nhanh chóng hủy hoại cộng đồng, làm mất lòng tin lẫn nhau từ đó làm

xã hội suy tàn

Vì vậy, phát triển bền vững về xã hội là quá trình đạt được kết quả ngày càng cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm cho mọi người đều có cơ hội học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo, nâng cao trình độ dân trí, tạo sự đồng thuận và an sinh xã hội

* Phát triển bền vững về môi trường

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật Nội dung quyết sách hội nghị thượng đỉnh thế giới về Môi

trường - Rio+10 nêu: "Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất”

Trang 19

Thông điệp trên nói lên tình trạng lạm dụng môi trường sinh thái và tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay diễn tiến rất nhanh không thể kiểm soát Do

đó, các vấn đề liên quan đến sức khỏe, lĩnh vực nông nghiệp, nguồn nước, năng lượng đang là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia và của toàn cầu

Trước đây, mọi người cứ lầm tưởng tài nguyên là vô tận, sản xuất và tiêu dùng có thể phát triển tùy theo nhu cầu con người, khoa học và công nghệ có thể giải quyết được tất cả những vấn đề của con người và xã hội Tuy nhiên, trong phát triển bền vững, tài nguyên thì có hạn, sản xuất và tiêu dùng phải được xác định bởi giới hạn của tài nguyên và không phải nơi đâu, bất kỳ lúc nào cũng có thể ngay lập tức giải quyết ngay mọi vấn đề của nhân loại

Việc giải quyết mâu thuẫn căn bản giữa hai khía cạnh: con người và sinh thái chính là tạo dựng mô hình phát triển bền vững Do vậy, việc hoàn thiện quan niệm phát triển bền vững đang trở thành nhiệm vụ của tất cả quốc gia và cộng đồng thế giới Trong đó:

- Về khía cạnh kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững

trong môi trường, đòi hỏi sự phát triển là cơ hội tiếp xúc những nguồn tài nguyên

và được tạo điều kiện thuận lợi để mọi người đều có thể hưởng thụ và sử dụng một cách bình đẳng Đồng thời nó khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của chủ thể tạo tăng trưởng trong xã hội từ sản xuất, kinh doanh Vì vậy, vấn đề cần nêu là phải được tạo ra sự hưởng thụ chung, không chỉ mang lại lợi ích cho một số ít người, trong khi đó đa số người còn lại phải gánh chịu hậu quả

- Về khía cạnh xã hội, trong phát triển bền vững về môi trường cần được

chú trọng vào yếu tố của sự công bằng Xã hội cần tạo điều kiện thuận lợi cho môi

trường phát triển con người, để tất cả mọi người có

cơ hội phát huy tiềm năng bản thân và có môi trường sống tốt đẹp

- Về khía cạnh môi trường sinh thái, đang là

một thách thức lớn nhất cho sự sinh tồn của nhân loại,

nó sẽ trở thành thảm họa nếu như ngay từ bây giờ xã hội không có ý thức và lên kế hoạch hành động cụ thể

để bảo vệ môi trường thật khoa học Chính con người

là nguyên nhân làm môi trường sinh thái bị phá hủy

Do đó, việc phát triển những sản phẩm tái sinh làm thân thiện với môi trường để thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm và bảo vệ các

nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái là cần thiết nhất

Biểu trưng trực quan trong môi trường kinh tế, môi trường xã hội

và môi trường sinh thái

Trang 20

Vì vậy, phát triển bền vững về môi trường là quá trình phát triển đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định gắn với khai thác hợp lý, sự dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, không làm suy thoái, hủy hoại môi trường mà còn nuôi dưỡng, cải thiện chất lượng môi trường

Tóm lại, trong những thập niên gần đây, nhiều quốc gia vì quá coi trọng về

tốc độ tăng trưởng kinh tế mà xem nhẹ sự tồn tại các mối quan hệ xã hội, tuy tăng trưởng nhanh nhưng nghèo đói, bệnh tật, các loại đại dịch thế giới đang là vấn đề nan giải, nhất là khu vực nông thôn Đồng thời, kinh tế tăng nhanh nhưng lại mất cân đối môi trường sinh thái, trong đó có sự hủy hoại tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên không khí, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Vấn đề cần được giải quyết cấp bách hiện nay là phải "Phát triển bền vững” không chỉ của mỗi địa phương, mỗi quốc gia mà của toàn cầu

1.1.2 Quan niệm, nội dung về phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn

1.1.2.1 Quan niệm

Nông nghiệp: là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất để

trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi, là tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản, còn bao gồm lâm nghiệp và thủy sản

Nông nghiệp được phân làm hai loại chính là: nông nghiệp thuần nông và nông nghiệp chuyên sâu

Nông nghiệp thuần nông: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của người nông dân Không có cơ giới hóa trong nông nghiệp thuần nông

Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc

sử dụng hóa chất, phân bón, sinh học, lai tạo giống, sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu và mong muốn có lợi nhuận

Ngày nay, nông nghiệp chuyên sâu vượt qua nông nghiệp truyền thống bởi tính hiện đại Tổ chức trong nông nghiệp mang tính quy mô, đều cơ giới hóa và đều hạch toán kinh doanh Quy mô sản xuất nông nghiệp hiện đại rất đa dạng,

Trang 21

ngoài sản xuất lương thực, nông nghiệp còn có các loại ngành khác như: vật nuôi, cây trồng phục vụ cho công nghiệp, cây cảnh, sinh vật cảnh, sợi dệt, chất đốt phục

vụ cho công nghiệp, chất hóa học

Nông nghiệp có vai trò rất lớn trong cuộc sống củng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn một cách bền vững bởi các nguyên nhân sau:

- Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm và cung cấp nguyên liệu cho các ngành khác của ngành kinh tế

- Nông nghiệp là nguồn cung cấp lao động cho khu vực công nghiệp trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế như nước ta hiện nay

- Nông nghiệp là thị trường quan trọng cho các ngành khác cho nền kinh tế như sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông sản

- Nông nghiệp là nguồn thu ngoại tệ quan trọng khi phát huy lợi thế so sánh đối với các nước

- Nông nghiệp tạo ra lượng vốn thặng dư để đầu tư cho phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững

Nông dân: là những người sống ở nông thôn, tham gia sản xuất nông

nghiệp Nông dân chủ yếu sống canh tác trên ruộng vườn nhà mình, kinh doanh hợp tác nông nghiệp hoặc làm mướn Trong quá trình sản xuất, nhà nông sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Người nông dân vất vả một nắng hai sương để làm ra nông sản cung cấp cho nhu cầu hàng ngày trong xã hội

Theo tổ chức hợp tác phát triển kinh tế – OECD định nghĩa: ‘‘Vốn nhân lực

là những gì có liên quan đến tri thức, kỹ năng và những thuộc tính tiêu biểu khác của một cá nhân mà nó có ảnh hưởng đến những hoạt động kinh tế” Từ định

nghĩa trên ta thấy, vốn nhân lực là điều kiện chủ yếu cho tồn tại, là cơ sở để phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội Tri thức và kỹ năng là nhân tố quyết định của bất cứ quá trình sản xuất nào

Trong lĩnh vực sản xuất vật chất cần giảm tỷ trong lao động trong ngành nông nghiệp và tăng tỷ trọng lao động ở các lĩnh vực khác (như các ngành nghiên cứu khoa học, y tế giáo dục, văn hoá, thể thao) Bởi vì tăng năng suất lao động là

cơ sở phát triển trên từng lĩnh vực vì vậy nó có tác động trở lại đối với sự phát triển ngành nông nghiệp

Trang 22

Nước ta hiện nay rất chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực vì “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” và mong muốn có một đội ngũ lao động chất lượng tốt

cả về thể chất lẫn tinh thần Nhân lực được giáo dục tốt và có sức khỏe tốt không chỉ để phục vụ cho bản thân, cho đất nước mà còn ảnh hưởng đến các thế hệ mai sau là những gì mà đất nước ta đang nỗ lực từng ngày

Nông thôn: là để phân biệt với thành thị, là vùng đất mà người dân sống và

canh tác nông nghiệp Trong giai đoạn bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quan niệm nông thôn phải được mở rộng không phải nâng cao tầm phát triển mà chính là do sự phát triển khách quan của nông thôn và do sự tiếp cận mới

về nông thôn Nông thôn Việt Nam nằm trên địa bàn rộng lớn về địa lý, kinh tế, xã hội là nơi cung cấp nguồn nhân lực cho thành thị và các ngành khác, đồng thời là thị trường rộng lớn để tiêu thụ sản phẩm nên phát triển nông thôn sẽ tạo điều kiện phát triển ổn định và bền vững về mặt kinh tế, chính trị, xã hội

Nông thôn không chỉ có nông dân sinh sống mà còn bao gồm nhiều tầng lớp xã hội, thành phần dân cư khác tạo nên một cơ cấu xã hội trong đó có cả cán

bộ hưu trí, bộ đội phục viên, gia đình liệt sĩ

Ở Việt Nam, nông thôn có từ lâu đời, quy mô lớn nên tổ chức nông thôn rất phổ biến và mang tính đặt thù Tổ chức làng xã ở nông thôn Việt Nam có từ ngàn xưa và được kế tục phát triển tử đời này sang đời khác nên cụm từ "làng nước” luôn đi đôi với nhau Nông thôn Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng bởi tính "xã hội gia đình” trong gia tộc, phần lớn các gia đình nông thôn đều chung sống từ tam đến tứ đại đồng đường

Nếu coi “gia tộc” là tổ chức nông thôn theo vế thứ nhất thì vế thứ hai là theo địa bàn “làng-xóm” Ở một số làng, hình thành các nghề đặc trưng cho từng làng như: làng chày, làng nghề gốm, làng nghề rèn, làng nghề thêu… Ngày nay, truyền thống “gia tộc” và “lệ làng” có ảnh hưởng rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và còn ảnh hưởng rất tích cực lẫn tiêu cực trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Các quan niệm về phát triển bền vững nông nghiệp - nông thôn

Có nhiều quan niệm khác nhau về nông nghiệp – nông thôn bền vững như:

- Nizkamp, Bergh và Soetoman cho rằng: sự bền vững được xem như một

sự cân bằng duy trì giữa phát triển kinh tế và bền vững sinh thái

- Pearce và Turner cho rằng: phát triển nông nghiệp bền vững được định nghĩa như là tối đa hóa lợi ích của sự phát triển kinh tế trên cơ sở ràng buộc bởi duy trì chất lượng của nguồn lực tự nhiên theo thời gian và tuân thủ các quy luật

Trang 23

là: (i) đối với tài nguyên có thể tái sinh được (như rừng, lao động) thì việc sử dụng phải bảo đảm ở mức bằng hoặt thấp hơn so với khả năng tái sinh tự nhiên (ii) Đối với tài nguyên không tái sinh được (như đất nông nghiệp) thì phải tối ưu hóa bằng khả năng thay thế (như phân bón, khoa học công nghệ )

- Bill Mollison và Remy Mia Slay thì nông nghiệp bền vững được hiểu: (i) Việc bảo đảm chất lượng con người là tiền đề để tiếp cận phát triển bền vững nông nghiệp Đó là cách tiếp cận về việc sử dụng mối liên kết chặt chẽ giữa con người với môi trường sinh thái như: khí hậu, cây cối, súc vật, đất, nước và những nhu cầu của con người nhằm xây dựng những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả; (ii) Mục đích của nền nông nghiệp - nông thôn bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người mà không làm huỷ diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường; (iii) nông nghiệp - nông thôn bền vững tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp sản suất lương thực thực phẩm cho con người trong hệ thống tự nhiên

- Tiến sĩ Võ Tòng Xuân cho rằng: sản xuất nông nghiệp bền vững là nên cần chọn một biện pháp sản xuất để cây trồng, vật nuôi tiếp tục cho lãi mỗi năm, chất lượng nguồn nước và đất đai hàng năm vẫn được duy trì tốt để thế hệ sau tiếp tục hưởng cái lợi từ đất và môi trường nước, chứ không phải chỉ khai thác trong một khoảng thời gian vài năm rồi đất đai trở nên cằn cỏi và môi trường nước bị huỷ hoại Bên cạnh đó, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm khi sản xuất thì tiền lãi cũng tăng, chứ không phải chỉ thu lợi một thời gian vài năm rồi sau đó lại thua lỗ

Như vậy, các định nghĩa và quan điểm về nông nghiệp - nông thôn bền vững đã đặt ra một nền nông nghiệp với các mục tiêu thật rộng và quy mô Từ

những quan điểm trên có thể nói: “Nông nghiệp – nông thôn bền vững là một hệ thống trong đó, con người sử dụng những nguồn năng lượng tiết kiệm, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của thiên nhiên và phải bảo tồn những nguồn tài nguyên đó Nông nghiệp – nông thôn bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái”

Tuy nhiên, để làm việc đó không phải trong một sớm, một chiều mà cần đề

ra các mục tiêu phấn đấu cho từng khía cạnh, từng giai đoạn cụ thể như không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp mà cả các lĩnh vực phi nông nghiệp, các mục tiêu không chỉ nhắm đến ở từng địa phương mà cho cả cộng đồng Xu hướng phát triển

là phải có bước đi thích hợp để bảo đảm cho cuộc sống hiện tại của mọi cư dân

Trang 24

trên trái đất Không thể vì một mục tiêu cứng nhắc nào mà quên đi các mục tiêu cơ bản nhất là sự thịnh vượng cho cả cộng đồng

Nông thôn là một phần của một xã hội Muốn có sự bền vững trong nông nghiệp và nông thôn thì phải xem như là một tổng thể của một xã hội, quy luật Ý thức xã hội và tồn tại xã hội phải được vận dụng thật hiệu quả

1.1.2.2 Nội dung phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn

* Phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn về kinh tế

- Áp dụng khoa học và công nghệ trong ngành nông nghiệp

Khoa học: là hệ thống tri thức gồm những quy luật về tự nhiên, xã hội và

kinh tế được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm và học thuyết

Khoa học trong nông nghiệp: là hệ thống tri thức về các quy luật tự nhiên,

kinh tế và xã hội trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

Công nghệ trong nông nghiệp: là tập hợp những công cụ và phương pháp

dùng để tác dộng vào nguồn lực nhằm nâng cao năng lực của sản xuất nông nghiệp

Khoa học và công nghệ trong nông nghiệp gắn bó chặt chẽ với nhau Chức năng của khoa học là khám phá các quy luật, trong khi chức năng của công nghệ là

để ứng dụng các quy luật vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp

Nội dung về ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp gồm:

+ Cơ giới hóa nông nghiệp: là thực hiện cuộc cách mạng về công cụ sản

xuất nông nghiệp được chuyển từ lao động thủ công thành lao động cơ giới Việc

cơ giới hóa trong nông nghiệp vừa giảm nhẹ nặng nhọc cho người nông dân, vừa tăng năng suất lao động và hiệu quả cao

Quá trình cơ giới hóa gồm có các bước:

Cơ giới hóa bộ phận: là chỉ một số khâu công việc chỉ sử dụng máy móc như khâu làm đất, gặt

Cơ giới hóa tổng hợp: là tất cả các khâu công việc đều áp dụng máy móc

Ví dụ trang trại bò sữa có tất cả các khâu đều cơ giới hóa như: vệ sinh chuồng trại, quét dọn chuồng trại, cung cấp thức ăn cho bò, vắt sữa cả trang trại không có nhiều lao động

.Tự động hóa nông nghiệp: là sử dụng máy móc gắn với điều khiển tự động

cho tất cả các giai đoạn trong quá trình sản xuất nông nghiệp, là áp dụng nguồn động lực cơ giới lớn hơn so với tổng động lực trong nông nghiệp khác như sức người, sức máy, súc vật Mức độ trang bị máy móc trên đơn vị diện tích đất nông

Trang 25

nghiệp đủ để đảm nhận các chức năng trong quá trình sản xuất như: máy kéo, máy bơm, máy tuốt lúa

Cơ giới hóa, tự động hóa nông nghiệp góp phần nâng cao năng suất lao động, quy mô diện tích trên lao động được nâng cao thúc đẩy chuyển dịch lao động nhưng bảo đảm chất lượng sản phẩm trong nông nghiệp Trong điều kiện hiện tại, một mặt do đầu tư máy móc thiết bị chưa đủ, đồng thời do trình độ cơ giới hóa nông nghiệp còn thấp Cần tiến hành quy hoạch cơ giới nhằm xác định địa bàn trọng điểm cơ giới hóa như: vùng sản xuất hàng hóa, vùng dịch chuyển lao động, đồng thời trang bị loại cơ khí thích hợp tương ứng phù hợp theo địa hình

+ Thủy lợi hóa nông nghiệp: là việc chinh phục và sử dụng nguồn nước vào

phục vụ và sản xuất nông nghiệp Trong quá trình sản xuất, thủy lợi như một biện pháp hàng đầu về xử lý kỹ thuật trong nông nghiệp Bởi đặc thù sản xuất nông nghiệp trong tình trạng tự nhiên là tình trạng hạn hán, ngập úng, ngập mặn, đồng thời về kỹ thuật cây trồng, vật nuôi khác nhau thì áp dụng thủy lợi cũng khác nhau Quá trình thủy lợi hóa các công trình thủy nông lớn như đập, hồ sẽ làm thay đổi môi trường tự nhiên xung quanh như: làm giảm nhiệt độ, hạn chế nguồn nước ngầm, trên cơ sở thực hiện điện khí hóa nông thôn, giao thông nông thôn và mở rộng hệ thống du lịch nông thôn Qua đó, hiệu quả từ thủy lợi hóa sẽ phát huy tích cực và sẽ là nhân tố làm thay đổi bộ mặt môi trường nông thôn

+ Hóa học hóa: là sử dụng vào sản xuất nông nghiệp các vật liệu hóa học

như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, dịch bệnh, các chất kích thích tăng trưởng, thức ăn gia súc, thức ăn cho thủy sản do ngành công nghiệp hóa chất sản xuất ra Hóa học hóa góp phần quyết định trực tiếp đến năng suất cây trồng trên cơ sở làm tăng độ phì đất tăng trưởng cây trồng và nâng cao chất lượng thức ăn gia súc, qua

đó giúp năng suất tăng nhanh đem lại hiệu quả kinh tế cao

Hóa học hóa được xem như con dao 2 lưỡi trong sản xuất nông nghiệp bởi mức độ lạm dụng hóa học trong sản xuất sẽ thoái hóa tài nguyên đất, đất sẽ chết và đất mất tác dụng Trình độ hóa học hóa nước ta còn thấp, công tác khuyến nông của các tổ chức hội – đoàn sẽ hỗ trợ tích cực trong quá trình sản xuất, chuyển đổi

cơ cấu cây trồng cho phù hợp từng thời điểm từng địa phương Nhu cầu sử dụng phân bón rất lớn nhưng phần lớn đều nhập khẩu sẽ dẫn đến quá trình sản xuất và thu nhập đều phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà đầu tư Mâu thuẫn từ quy luật "cánh kéo” (đầu vào tăng, đầu ra thấp) bắt đầu từ đây Quy luật này sẽ tác động rất lớn đến yếu tố đầu vào về giá cả, đến biến động giá đầu ra và lệ thuộc vào nguồn cung

từ nước ngoài

Trang 26

+ Sinh học hóa nông nghiệp: là quá trình nghiên cứu và áp dụng những

thành tựu về khoa học sinh vật và khoa học sinh thái vào nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất sản xuất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái Lĩnh vực khoa học và công nghệ gồm nhiều ngành như: vi sinh vật, di truyền học, hóa sinh, sinh học biến đổi gen tạo ra những giống cây trồng chất lượng có khả năng kháng bệnh cao Sinh học hóa nông nghiệp không chỉ bao hàm nội dung liên quan đến giống cây trồng, vật nuôi mà bao gồm cả việc khai thác, bảo vệ giống cây trồng và bảo đảm lai tạo giống mới động, thực vật Sinh học hóa tạo điều kiện đưa nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp Các loại giống mới sẽ đáp ứng các trường hợp đất xấu hoặc những vùng thiếu nước nhưng vẫn đem lại năng suất cao Do đó, việc áp dụng sinh học hóa trong nông nghiệp sẽ hỗ trợ tích cực trong cải tạo đất, nâng cao chất lượng cây trồng, tạo ra năng suất cao đáp ứng yêu cầu của quy trình công nghệ sinh học, thỏa mãn sự đòi hỏi ngày càng cao của thị trường, nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm nông nghiệp

Tuy vậy, chất lượng và số lượng cung cấp nguồn sinh học hóa trong nông nghiệp hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu cho nhà nông Nguồn cung cấp giống

và mô hình sản xuất mới từ các viện, trung tâm nghiên cứu, công ty giống còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, các điểm trình diễn giống cây trồng chưa thu hút, chưa thuyết phục người nông dân Trong khi phần lớn nông dân phải tự nhập từ nước ngoài hoặc hợp tác từ các cơ sở giống khác theo cách tự phát nên rủi ro rất cao

+ Điện khí hóa, tin học hóa trong nông nghiệp: là phát minh vĩ đại của

nhân loại Điện khí hóa vừa nâng cao chất lượng sống, vừa là điều kiện phát triển tất cả các nguồn lực trong sản xuất, tạo cơ hội cho nhà sản xuất, tăng sức sản xuất của công cụ lao động Do đó, điện khí hóa, tin học hóa không thể thiếu trong quá trình sản xuất nông nghiệp Thông qua điện khí hóa, tin học hóa tạo điều kiện cho nhà nông dễ dàng tiếp cận với văn minh nhân loại, phát triển văn hóa – xã hội thông qua vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, internet, Trước mắt cần đẩy mạnh xây dựng các trạm điện từ huyện đến từng xã, ấp bảo đảm chất lượng về công suất và độ an toàn trong sử dụng Xây dựng và phát triển tin học trong các trung tâm văn hóa tại cơ sở sẽ tạo nên đột phá để phát triển nông thôn mới

- Phát triển các làng nghề truyền thống và làng nghề mới

Phát triển làng nghề truyền thống dựa trên sản phẩm được người dân tại địa phương sản xuất ra và được nhiều người ưa chuộng Việc phát triển làng nghề truyền thống là biểu hiện truyền thống văn hóa dân tộc, tạo nên tính đặc thù văn hóa riêng từng địa phương Sản phẩm truyền thống xuất phát từ tự cung, tự cấp

Trang 27

nên phát triển làng nghề này phải được đầu tư đúng mức mới có thể tồn tại và phát huy trong kinh tế thị trường

Làng nghề các nước phát triển từ nông nghiệp đều có chung đặc tình như: làng nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nông thôn gồm: nghề chế biến từ cây lương thực (lúa, gạo, mía đường, hoa màu…), chế biến lâm sản (gỗ, động thực vật quý…), chế biến thủy hải sản (tôm, cua, cá, ), nghề may mặc, nghề dệt, nghề thêu, nghề thủ công mỹ nghệ (chạm khắc, sơn mài, gốm sứ, đan lát, tre, mây…)

Riêng người Việt Nam với tâm tính cần cù, sáng tạo, chân chất đã tạo cho người nông dân Việt có đôi bàn tay khéo léo, đồng thời với văn hóa phong phú từng địa phương đã tạo nên đặc sản xuất sắc riêng cho từng sản phẩm Những món

ăn đặc sản Việt Nam đặc trưng như: phở Hà Nội, bún bò Huế, nem Thủ Đức HCM)… Những năm gần đây, với quá trình chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn dần được phục hồi, tạo tiền đề cho các hoạt động dịch vụ kinh tế kỹ thuật nông thôn phát triển Một số làng nghề chủ động tổ chức quy mô lớn tạo điều kiện huy động từ các nguồn lực nhằm quảng bá thương hiệu nâng cao hiệu suất trong cạnh tranh, như: tranh Đông

(TP-Hồ, gốm Bát Tràng…

- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn

Cơ cấu kinh tế gồm tổng thể các bộ phận hợp thành, có mối quan hệ tương tác trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội Cơ cấu kinh tế ảnh hưởng mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế, sẽ tạo sự cân đối trong quá trình phát triển Nền kinh tế hoạt động hài hòa bởi sử dụng phù hợp tài nguyên, lao động và các nguồn lực khác Khi xem xét quá trình sản xuất xã hội bao gồm toàn bộ quan hệ sản xuất

có phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất thì cơ cấu kinh tế của một xã hội chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các bộ phận kinh tế tạo thành Các mối quan hệ tạo thể thống nhất giữa các ngành nghề kinh tế như: quan hệ giữa các ngành (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ), giữa các thành phần kinh tế và giữa các vùng - khu vực kinh tế và từng địa phương Các mối quan hệ trong hệ thống cơ cấu kinh

tế không hoàn toàn đồng nhất mà tùy thuộc vào từng môi trường địa lý, từng lĩnh vực, sự vận động khách quan lẫn chủ quan bởi có những thay đổi những chuyển dịch cần thiết khách quan trong những thời điểm nhất định Sự duy trì quá lâu hay thay đổi cơ cấu kinh tế quá nhanh sẽ ảnh hưởng lớn đến hệ thống, hệ quả là quan

hệ sản xuất sẽ không theo kịp lực lượng sản xuất hoặc ngược lại lực lượng sản xuất sẽ không phát huy nếu cơ cấu kinh tế không vận động một cách đồng bộ

Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, cơ cấu kinh tế là bộ phận quan trọng của

Trang 28

cơ cấu kinh tế quốc dân, được cấu thành bởi các ngành sản xuất, các khu vực sản xuất và các thành phần kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp biểu hiện bởi 2 lĩnh vực: trồng trọt và chăn nuôi

Sự tác động của các thành phần kinh tế trong nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế bởi mô hình hoạt động phong phú về quản lý

và tổ chức Đồng thời, sự thay đổi trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ từng bước thống nhất, hoàn thiện toàn bộ hệ thống các thành phần kinh tế, giữa kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân, tạo đà cho phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung

Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có tác động rất lớn với sự phát triển chung của toàn xã hội Các yếu tố trong chuyển dịch có hiệu ứng qua lại, thường xuyên vận động và thay đổi Trong đó, yếu tố con người là rất quan trọng Nếu không nhận thức đúng đắn các mối quan hệ xã hội trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ dẫn đến sự kiềm hãm sự phát triển bộ mặt xã hội nông thôn mới Đồng thời, nếu vận dụng phù hợp trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

sẽ tạo ra một nền sản xuất chuyên môn hóa cao các ngành nghề, ngành sản xuất thâm canh tiên tiến bởi từng vùng sản xuất ra những nông sản có lợi thế so sánh cao và liên kết nhau chặt chẽ hơn

- Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là nội dung rất quan trọng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở phát triển hạ tầng nông thôn từng bước

đô thị hóa nông thôn Đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn là điều kiện tất yếu, là cơ

sở thước đo để hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển, nâng cao vật chất, tinh thần của người dân nông thôn Các lĩnh vực cần quan tâm đầu tư phát triển trọng yếu như: đầu tư vật chất kỹ thuật thủy lợi cho nông nghiệp; xây dựng mạng lưới giao thông trong nông thôn, xây dựng mạng lưới điện khí hóa nông thôn; phát triển mạng lưới bưu chính – viễn thông nông thôn; phát triển mạng lưới giáo dục,

y tế nông thôn; cải thiện điều kiện sống – an sinh xã hội nông thôn Quá trình phát triển nhanh hay chậm để từng bước đến đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn cốt lõi xuất phát từng thể chế chính sách thông thoáng mà nhà nước là người điều hành

Đó chính là thước đo, là bước cuối cùng của giai đoạn hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

* Nội dung phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn về xã hội

Xã hội nông thôn được hình thành bởi cơ cấu kinh tế xã hội từ sự tác động,

Trang 29

điều chỉnh các mối quan hệ gồm có cơ cấu xã hội về: giai cấp, lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo Sự ổn định, thống nhất hài hòa và năng động xã hội góp phần tạo ra tính tích cực xã hội và những yếu tố cần thiết công bằng xã hội, tránh những xung đột

và sai lệch xảy ra

Quan hệ xã hội nông thôn được hệ thống hóa từ truyền thống và các chính sách Áp dụng chính sách xã hội tốt sẽ tác động tích cực và hiệu quả về giai cấp, tôn giáo, dân tộc, gia đình góp phần tích cực phát huy nhân tố con người Đó cũng

là một trong những mục tiêu chủ yếu về chính sách phát triển nông thôn mới nước

ta hiện nay Nhóm chính sách xã hội tạo hệ thống phân phối xã hội một cách hiệu quả được thể hiện qua tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội Hệ thống chính sách xã hội khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho những người có tài năng, các nhà khoa học, các nhà quản lý, nhà kinh doanh giỏi nhằm phát huy tối đa năng lực sáng tạo và khả năng cống hiến của mình cho đất nước

Người nông dân đã có truyền thống lâu đời về sản xuất nông nghiệp, nên kiến thức về cây trồng của họ thành những tập tục riêng, cố định và không dễ thay đổi Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh của khoa học và công nghệ đã tạo nên chuyển biến mạnh mẽ tập quán cũ, gây không ít khó khăn trong sự thay đổi Đồng thời, hội nhập kinh tế quốc tế, với sự phân công lao động trong thể thống nhất thì người nông dân phải đối mặt với cuộc chiến đấu với tư duy cũ kỹ, lạc hậu Đây chính là cơ sở để người nông dân tự tin, chủ động đề ra những phương án tốt trong sản xuất, kinh doanh

Khi người nông dân đã có đủ kiến thức cơ bản thì công tác khuyến nông trong quá trình sản xuất, canh tác sẽ không khó Chính công tác khuyến nông sẽ tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận thường xuyên với những thông tin mới nhất trong quá trình sản xuất mà không sợ phải gặp rủi ro cao Đặc biệt trong quá trình phát triển, sự cần thiết phải có sự kết hợp chặc chẽ giữa ‘‘bốn nhà” (nhà nước, nhà nông, nhà đầu tư và nhà khoa học)

Thông qua hệ thống quản lý nhà nước, các chủ trương, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước sẽ đến được với nông dân, phục vụ lợi ích cộng đồng nông thôn Sự tác động của cơ chế thị trường, sự sống còn và phát triển của các ngành, nghề truyền thống, của từng giống cây trồng, của từng vật nuôi sẽ là điều kiện phát triển cho sự sáng tạo, điều hành và năng động của các cấp quản lý chính quyền địa phương, trong đó lực lượng khuyến nông là hạt nhân Trong đội ngũ quản lý cần chú trọng đến công tác chuẩn hóa cán bộ, bởi đội ngũ này sẽ quyết định về công tác quy hoạch tại địa phương

Trang 30

Trong những năm qua, các tổ chức tập thể, tư nhân đầu tư rất lớn kinh tế trang trại, kinh tế du lịch nông nghiệp và có chiều hướng phát triển mạnh Nếu hạn chế đến tiến trình phát triển là sẽ đánh mất cơ hội kinh doanh của nhà đầu tư và đánh mất cơ hội phát triển

- Về nguồn lao động nông nghiệp: bao gồm những người tham gia sản xuất trong nông nghiệp được thể hiện cả về mặt số lượng lẫn chất lượng Xu hướng chuyển dịch ra khỏi ngành nông nghiệp rất chậm trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn Nông nghiệp có thể nâng cao tỷ suất sử dụng lao động đều tùy thuộc vào việc mở rộng các ngành thu hút nhiều lao động Nếu nhanh chóng giảm áp lực này cho nông nghiệp thì cần có chuyển dịch hệ thống công nghiệp sử dụng công nghệ thâm dụng nhiều lao động như: ngành may mặc, ngành giày da, ngành chế biến nông – lâm – thủy sản tại các vùng nông thôn

Tuy nhiên, năng xuất lao động mới chính là vấn đề cốt lõi Năng suất lao động phụ thuộc vào 2 yếu tố: năng suất đất và năng suất lao động

Năng suất đất, là yếu tố chủ yếu để tăng năng suất lao động Vì vậy cần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quy hoạch tổng thể từng loại đất theo hướng đa dạng hóa các mô hình kinh tế trên đơn vị diện tích đất nhằm tối đa hóa đơn vị tổng sản phẩm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp

Năng suất lao động, chưa phát huy hết tiềm năng do nền kinh tế nông nghiệp chỉ dựa vào nền tảng quy mô sản xuất nhỏ Nông hộ đa số có diện tích đất nông nghiệp ít, nên không thể sản xuất quy mô lớn hơn Lao động chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính, chưa phát huy trình độ cơ giới hóa trong nông nghiệp

Phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn là mục tiêu mà Đảng ta đặt ra trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Để thực hiện được mục tiêu đó, vấn đề đào tạo nghề, nâng cao dân trí cho lao động nông thôn là yêu cầu bức thiết và là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và là cơ sở để đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp hiện đại Tình trạng thất nghiệp lao động nông thôn còn nhiều, nghèo đói

có thể xảy ra Cần chú trọng chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo công ăn việc làm, xây dựng môi trường văn hóa vui chơi, giải trí, bảo vệ sức khỏe khu vực nông thôn là vấn đền then chốt để phát triển bền vững

* Nội dung phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn về môi trường

Phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn không chỉ đi đôi với sự ổn định xã hội mà còn định hướng cho mai sau, do đó bảo vệ môi trường là tiêu điểm,

là nguyên tắc và cũng là mục tiêu trong quá trình phát triển Bảo vệ môi trường

Trang 31

nhằm chống tình trạng thoái hóa tài nguyên đất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, giảm ô nhiễm không khí, quản lý chất thải rắn, bảo tồn đa dạng sinh học, thực hiện các biện pháp làm giảm nhẹ biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai… Nguy cơ phá hủy sự sống hiện nay chính là ô nhiễm môi trường như môi trường nước, môi trường không khí Nông nghiệp nước ta cần hướng tới nền “nông nghiệp xanh” nhằm đảm bảo nông sản, thực phẩm an toàn, bảo vệ sinh thái, tài nguyên, nâng cao lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, từng bước xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa phát triển bền vững

Nông thôn, xóm làng, hộ gia đình hiện nay vừa là nơi sinh sống và cũng là nơi sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt Chính vì vậy, trong phòng ngừa ô nhiễm môi trường và an toàn vệ sinh lao động thì gia đình chính là mục tiêu để đạt được Tiêu chí để xây dựng làng nghề "sạch đẹp, an toàn, khỏe mạnh”, "môi trường xanh” đang được hướng tới Cần có biện pháp thiết thực để nâng cao nhận thức về công tác an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường

Về “tài nguyên lao động” nước ta mặc dù rất dồi dào nhưng chưa được khai thác triệt để, còn lãng phí nhất là lao động nông thôn, tỷ lệ đói nghèo và thất nghiệp vẫn chưa được quan tâm đúng mức Tuy nhiên, kỹ năng lao động, ý thức

sử dụng an toàn đối với các trang thiết bị, máy móc, vật tư, sử dụng hóa chất chưa được quan tâm Có điều nghịch lý là hiện nay làng nghề, ngành nghề nông thôn đang góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn, nhưng cũng là nguyên nhân làm

ô nhiễm môi trường, phá vỡ môi trường tự nhiên và tai nạn lao động ngày càng gia tăng Người lao động tại các ngành nghề chưa đến 50% được trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân khi làm việc, nhưng đó chỉ là các phương tiện thô sơ như khẩu trang, găng tay, kính, ủng… Chưa có phương tiện chống tiếng ồn trong lao động, chưa có khẩu trang chống nguồn ô nhiễm trong không khí, chưa có bảo hiểm rủi

ro cho người lao động

Trong những năm qua, phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường có nhiều cố gắng từ các ngành, các cấp Tuy nhiên hiệu quả chưa cao, những tồn tại chủ yếu do thực thi chính sách còn thiếu đồng bộ từ các khâu tổ chức và còn thiếu chế tài xử lý hoặc xử lý chưa nghiêm đối với những hành vi vi phạm Nạn phá rừng từ năm 1995 đến nay trung bình mỗi năm nước ta có 45.000 ha rừng bị tàn phá Đồng thời, việc phát triển ồ ạt các công trình thủy điện và khai thác tài nguyên thiên nhiên gây nên sự xáo trộn nghiêm trọng đối với hệ sinh thái Trong trồng trọt do bón quá nhiều phân hóa học, cây trồng không hấp thu hết phần còn

Trang 32

lại hóa chất ngấm vào đất gây nên ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm Trong nuôi trồng thủy sản, diện tích tăng nhanh, không tuân theo quy trình kỹ thuật, sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hóa chất nên các thức ăn dư lắng xuống đáy ao

hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, từ đó làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh, môi trường càng khó quản lý Có thể nói đây là khâu yếu nhất của nông nghiệp và nông thôn trong mục tiêu hướng tới phát triển bền vững

Ý thức về môi trường, có sự quyết tâm cao nhưng việc thực hiện còn nhiều hạn chế, rõ ràng tính xác thực trong thực tiễn phải được nhìn nhận một cách khách quan hơn Khía cạnh môi trường xã hội trong phát triển bền vững không chỉ đơn thuần là sự chấp thuận bởi tính không đồng thuận lợi ích công – tư mà gây tác động lớn đến môi trường Công bằng là thước đo trong các quan hệ xã hội và môi trường sạch cũng là chuẩn mực để các thành viên trong xã hội có trách nhiệm giữ gìn

1.2 Các tiêu chí và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn

1.2.1 Một số tiêu chí tổng hợp đánh giá phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn

Các chỉ số cơ bản như: chỉ số kinh tế có hiệu chỉnh về ô nhiễm – PAEI; chỉ

số bình đẳng thu nhập – GINI, chỉ số về vốn thiên nhiên - NCI và các tiêu chí về giáo dục đào tạo; về dịch vụ y tế, xã hội; về hoạt động văn hóa; về tính đàn hồi môi trường – EE Các tiêu chí được thực hiện từ khi đề ra kế hoạch đến khi đánh giá kết quả là quá trình đặc ra các chỉ tiêu cơ bản được xác định khi xây dựng quy trình hoạt động và dựa vào đó để đánh giá quy trình thực hiện kế hoạch

Có 3 nhóm chỉ tiêu chính để phản ánh khía cạnh phát triển trong phát triển bền vững, đó là: nhóm chỉ tiêu kinh tế, nhóm chỉ tiêu xã hội và nhóm chỉ tiêu môi trường

1.2.1.1 Chỉ tiêu về kinh tế nông nghiệp và nông thôn

Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có các chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp như: chỉ tiêu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; chỉ tiêu về đánh giá tăng trưởng các ngành kinh tế nông nghiệp; chỉ tiêu về lao động nông thôn, chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, kinh tế – xã hội nông thôn; chỉ tiêu ứng dụng khoa học và công nghệ trong nông nghiệp; chỉ tiêu đánh giá mức độ cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa; chỉ tiêu về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông nghiệp, nông thôn Đặc biệt, cần chú trọng

Trang 33

các hệ thống chỉ tiêu đánh giá sản xuất nông sản hàng hóa được coi là một trong những chỉ tiêu đánh giá chủ yếu Gồm: chỉ tiêu về diện tích đất nông nghiệp, diện tích canh tác, diện tích gieo trồng, chỉ tiêu về khối lượng nông sản hàng hóa và khối lượng sản phẩm được tiêu thụ

Nhóm chỉ tiêu về sự tăng trưởng kinh tế – GDP được đánh giá bằng nhiều phương pháp, trong đó chủ yếu là phương pháp giá trị gia tăng, công thức tính:

GDP = AVA + IVA + SVA

Trong đó:

- AVA: giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp

- IVA: Giá trị gia tăng của ngành công nghiệp

- SVA: Giá trị gia tăng của ngành dịch vụ

Các tiêu chí đánh giá mức độ ảnh hưởng của năng suất, diện tích và giá

thành đến kết quả sản xuất một số cây trồng như sau:

Chỉ tiêu đánh giá giá trị sản xuất, là tổng giá trị sản phẩm sản xuất ra

trong một giai đoạn nhất định, được áp dụng công thức sau:

1

Trong đó:

GO: Giá trị sản xuất Qi: Khối lượng sản phẩm thứ i Pi: Đơn giá sản phẩm thứ i Chỉ tiêu đánh giá sản phẩm hàng hóa, là tổng giá trị hàng hóa, nông sản

đen bán hoặc trao đổi trên thị trường Áp dụng công thức sau:

sản xuất bao gồm cả phần công lao động và phần lợi nhuận

MI = VA – (A + T) – Giá trị lao động thuê ngoài (nếu có)

Trong đó:

Trang 34

MI: thu nhập thuần túy VA: tổng thu nhập A: Khấu hao tài sản cố định T: Thuế các loại

Chỉ tiêu đánh giá giá trị gia tăng, là giá trị sản phẩm và dịch vụ được tạo

ra trong năm sau khi trừ chi phí trung gian

VA = GO - IC

Trong đó:

VA: giá trị gia tăng GO: giá trị sản phẩm IC: giá trị dịch vụ Chỉ tiêu đánh giá tỷ suất nông sản hàng hoá (TSNSHH), là tỷ trọng giữa

nông sản hàng hoá so với giá trị sản phẩm nông nghiệp được sản xuất ra trong kỳ

Tổng giá trị NSHH TSNSHH (%) = x 100 Tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp

Tỷ suất lợi nhuận, là lợi nhuận thu được trên một đồng chi phí

Tổng lợi nhuận

T LN = x 100 Tổng chi phí

1.2.1.2 Chỉ tiêu về xã hội và chất lượng cuộc sống nông nghiệp, nông thôn

Được biểu hiện thông qua tỷ lệ các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học và công nghệ tại địa phương; chỉ tiêu về giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nông thôn; các chỉ tiêu về tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội; chỉ tiêu về tỷ lệ lao động đã qua đào tạo; chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất nông nghiệp, nông thôn Chỉ tiêu về đời sống kinh tế, văn hoá - xã hội nông thôn như: thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ hộ giàu nghèo Chỉ tiêu về đô thị hoá nông thôn Các nhóm chỉ tiêu xã hội chủ yếu gồm có:

- Chỉ tiêu đánh giá phát triển con người – HDI bao gồm: chỉ số về tuổi thọ, tri thức và thu nhập

- Chỉ tiêu đo lường lao động và việc làm, gồm có: tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động

hon

Trang 35

Số người thất nghiệp .Tỷ lệ thất nghiệp = - x 100 Lực lượng lao động

Lực lượng lao động .Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động = - x 100

Dân số ở tuổi lao động

1.2.1.3 Chỉ tiêu về môi trường nông nghiệp, nông thôn

Bao gồm các chỉ tiêu về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, chỉ tiêu

về bảo đảm vệ sinh môi trường nông thôn theo quy chuẩn của môi trường nước, môi trường không khí như:

Chỉ số đo lường tỷ lệ diện tích đất có rừng che phủ

Chỉ số đo lường tỷ lệ diện tích bảo tồn đa dạng sinh học

Tỷ lệ dân số được tiếp cận một cách bền vững với nguồn nước sạch

Tỷ lệ dân số tiếp cận một cách bền vững với điều kiện vệ sinh môi trường Tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận với nhà ở an toàn…

Tỷ lệ dân cư sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh

Lượng khí thải bình quân đầu người và lượng tiêu thụ hợp chất làm suy giảm tầng ozon như: CO2 (Carbon dioxide), CH4 (Methane), HFCs (Hydrofluorocarbons), N2O (Nitrous oxide), PFCs (Perfluorocarbons), SF6 (Sulphur hexafluoride)…

Hệ thống các chỉ tiêu này được lựa chọn trên cơ sở khoa học và thực tiễn Nếu xét ở tầm vĩ mô và xét trên các tiêu chuẩn của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ các chỉ tiêu trên cho phép chúng ta có thể xác định mình đang ở vị trí nào, còn cách xa đích bao nhiêu để đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, là nước đứng vào hàng ngũ những nước công nghiệp theo hướng phát triển bền vững

1.2.2 Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn

Thực tế, quá trình phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn có nhiều tác động từ khách quan đến chủ quan Dựa vào quá trình phân tích trên, các nhóm nhân tố tác động đến phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn gồm có:

- Nhóm các nhân tố liên quan đến thể chế và chính sách hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Nhóm các nhân tố liên quan đến nguồn lực

Trang 36

- Nhóm các nhân tố liên quan đến khoa học, công nghệ và vốn

- Nhóm các nhân tố về công nghiệp và dịch vụ

1.2.2.1 Những nhân tố liên quan đến thể chế, chính sách hoàn thiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Thể chế: là các quy tắc và tổ chức, gồm cả các chuẩn mực trong hệ thống,

phối hợp hành vi con người Các quy tắc, tổ chức trong thể chế rất quan trọng trong sự công bằng và bền vững Khi thể chế hoạt động tốt, cho phép con người lập kế hoạch và làm việc với nhau có trách nhiệm trong cộng đồng Nhưng khi thể chế hoạt động yếu kém hoặc không công bằng, thì mang lại hậu quả là sự mất mất lòng tin và tình trạng bất định Điều này làm cho mọi người có xu thế muốn ‘‘lấy” hơn là muốn ‘‘xây”, do đó làm xói mòn tiềm năng trong xã hội

- Thể chế về kinh tế: là những mối quan hệ nảy sinh và tồn tại trong quá

trình phát triển kinh tế đã được điều chỉnh và pháp chế hóa Thể chế bao gồm phần mềm và phần cứng

Phần mềm: là nói các chính sách, luật, các quan hệ điều chỉnh

Phần cứng: là các cơ quan quản lý, tổ chức dân sự, tổ chức kinh tế, hợp tác xã

Ở nông thôn Việt Nam từ sau đổi mới (1986) đã có những thay đổi ở một

số nhân tố trong thể chế, tạo đà cho sự phát triển kinh tế Trong đó phải kể đến như quyền sở hữu, chính sách đất đai, chính sách tự chủ trong sản xuất, quan hệ giữa các thành phần kinh tế, xã hội dân sự và các quan hệ tổ chức dân sự

Cơ chế thị trường với những quy luật vốn có của nó có vai trò khá lớn nhằm khuyến khích cạnh tranh và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Mức độ hoàn chỉnh của cơ chế thị trường có tác động rất lớn đến quá trình vận hành, đặc biệt là đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta Thực hiện cơ chế tốt thì phải cần có chính sách và quản lý chính sách tốt Hệ thống quản lý Nhà nước thống nhất từ Trung ương đến địa phương sẽ đảm nhiệm vai trò trong thực hiện thể chế và cơ chế chính sách đề ra

- Chính sách kinh tế - xã hội: là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, giải pháp

và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hội, nhằm đạt được mục tiêu đã định

Theo nghĩa rộng, chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, mục tiêu tổng quát và phương thức cơ bản để phát triển kinh tế

Theo nghĩa hẹp, chính sách kinh tế - xã hội là hành động can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế nhằm đạt những mục tiêu kinh tế đã định

Trang 37

Vì vậy, chính sách kinh tế - xã hội nhằm tạo lập các mối quan hệ trong xã hội để dịnh hướng, điều tiết, tạo tiền đề và khuyến khích cho sự phát triển kinh tế -

xã hội

Quy trình thực thi chính sách gồm: hoạch định chính sách, thể chế hóa chính sách, tổ chức thực thi chính sách và kiểm tra điều chỉnh chính sách

Chính sách kinh tế - xã hội gồm các nội dung chủ yếu:

- Chính sách tăng trưởng kinh tế: là một trong những chính sách lớn của

Nhà nước, gồm tổng thể các quan điểm, tư tưởng, giải pháp, công cụ mà Nhà nước

sử dụng nhằm làm tăng quy mô và tốc độ của nền kinh tế

Có nhiều nhân tố làm tác động đến tăng trưởng kinh tế như: về lĩnh vực kinh tế gồm: tiền vốn, lao động, tài nguyên, tiến bộ về khoa học, công nghệ hoặc

về lĩnh vực phi kinh tế gồm: thể chế, văn hóa – xã hội, dân tộc, tôn giáo, công đồng…

Mục tiêu chính sách kinh tế ở Việt Nam đến năm 2020 là: “Đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, đồng thuận, dân chủ, kỷ cương; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt”

- Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế: luôn là vấn đề trọng tâm trong

việc hoạch định phát triển đất nước, gồm tổng thể các quan điểm, nguyên tắc, hình thức, giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng nhằm thực hiện chiến lược về phát triển cơ cấu kinh tế đất nước

Các chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm có: chính sách cơ cấu ngành kinh tế; chính sách cơ cấu các thành phần kinh tế; chính sách phát triển kết cấu hạ tầng (cơ cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ cấu hạ tầng xã hội); chính sách phát triển vùng kinh tế

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta hiện nay cần thực hiện đúng quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc

tế

- Chính sách khoa học và công nghệ: là động lực cho tăng trưởng kinh tế,

làm giảm đi sự phụ thuộc và yếu tố tài nguyên nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất và trong cuộc sống nhằm thay đổi phương thức trong sản xuất, trong tổ chức hoạt động và trong tư tưởng lối sống

Trang 38

Trong quá trình xây dựng đất nước ta hiện nay, khoa học và công nghệ càng đóng vai trò quan trọng hơn cả góp phần rút ngằn khoảng cách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Chính sách quản lý nguồn nhân lực và việc làm: là tổng thể các quan

điểm, tư tưởng, mục tiêu và giải pháp nhằm đào tạo, phát triển và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực của đất nước

Chính sách quản lý nguồn nhân lực và việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của một quốc gia, có mối quan hệ biện chứng với các chính sách kinh tế - xã hội khác vì nó vừa tác động trực tiếp đến kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường… Mục tiêu chính sách nguồn nhân lực của nước ta hiện nay là phải xây dựng đội ngũ lao động có chất lượng cao, nắm vững khoa học, công nghệ hiện đại đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trên cơ sở toàn dụng lao động

- Chính sách an sinh xã hội: Theo tổ chức lao động quốc tế - ILO: An sinh

xã hội là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của Nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn hoặc suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp Định nghĩa này nhấn mạnh sự bảo vệ của xã hội cho các thành viên của mình thông qua các chính sách và các biện pháp thích hợp để chống lại mặt trái của kinh tế thị trường nhằm phân phối lại thu nhập, dịch vụ xã hội Các bộ phận cấu thành của an sinh xã hội bao gồm 9 tiêu chí: chăm sóc về y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao động; trợ cấp gia đình; trợ cấp thai sản; trợ cấp người tàn tật và trợ cấp tiền tuất

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cần phải có định hướng theo từng giai đoạn thời gian từ ngắn hạn đến dài hạn Việc quy hoạch và lựa chọn chiến lược phát triển thì hệ thống quản lý chính sách vĩ mô của Nhà nước là hết sức cấp thiết, tạo ra động lực để huy động có hiệu quả các nguồn lực vào quá trình phát triển bền vững Gắn liền với hoàn thiện các chính sách thì công tác cải cách hành chính nhà nước là việc cần làm ngay Hiện nay hệ thống quản lý cán bộ công chức nhà nước rất phức tạp, chính vì bởi hệ thống chuẩn mực bằng pháp lý chưa

có chuẩn mực nhất định Trước thực tế đáng báo động là thị trường của nền kinh

tế chưa vận hành đồng bộ, dẫn đến lạm phát tăng cao, như thị trường xăng dầu, thị trường tài chính diễn ra rất phức tạp, nhưng thị trường lao động, thị trường khoa học và công nghệ thì phát triển chậm

Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các chính sách phát triển các ngành nghề

và dịch vụ ở nông thôn nhằm hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, phát triển khoa

Trang 39

học, công nghệ, kỹ thuật, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ở nông thôn, đồng thời để tạo điều kiện cho việc chuyên môn hóa về thâm canh trong sản xuất nông nghiệp Nhà nước cũng đã có chính sách ruộng đất để đảm bảo quyền sở hữu, chính sách vốn đầu tư hỗ trợ phát triển, chính sách hỗ trợ đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao nhận thức, tay nghề cho người lao động để nông dân có nhiều điều kiện đầu tư sản xuất

1.2.2.2 Những nhân tố liên quan đến nguồn lực

- Về nguồn lực khoa học và công nghệ: sự tiến bộ khoa học và công nghệ

có vai trò đặc biệt trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Vị trí của nguồn lực này càng lớn khi được áp dụng đồng thời với phát triển nguồn tri thức Nếu khai thác, vận dụng sáng tạo nguồn lực khoa học và công nghệ thì quá trình phát triển càng bền vững Nguồn lực khoa học và công nghệ biểu hiện trên nhiều mặt như: tiềm năng của các nhà nghiên cứu khoa học; cơ sở vật chất kỹ thuật phục

vụ cho quá trình nghiên cứu và khả năng tiếp thu những thành tựu tiến bộ khoa

học và công nghệ Mục đích là: ‘‘Thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ: nâng cao năng lực, đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, tăng cường hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ”

- Về nguồn nhân lực: là yếu tố quan trọng đóng vai trò quyết định đối với

tiến trình phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn Nguồn nhân lực được phản ánh qua số lượng và chất lượng lao động Yếu tố về số lượng lao động có tính đặc thù cho từng vùng, từng ngành nên thu hút nguồn lao động nhiều hoặc ít Điều đó phản ánh về vấn đề tăng dân số và quá trình phát triển bền vững Nếu dân số ít sẽ không đáp ứng yêu cầu nhân lực lao động, nhưng nếu lao động quá lớn và đằng sau nó là quy mô dân số quá đông và tốc độ tăng dân số nhanh thì đây chính là thách thức rất lớn để đảm bảo chất lượng sống về giáo dục, đào tạo và tạo công ăn việc làm Biểu hiện rất rõ nét nhất là về nhận thức trong tổ chức sản xuất của nông dân còn quá thiển cận, sản xuất nhỏ, rất manh mún, mục đích sản xuất tức thời, chạy theo giá cả thị trường làm phá vỡ nhiều vùng quy hoạch do hình thành những phong trào tự phát như hết trồng rồi chặt

Lượng lao động to lớn từ nông thôn đang chuyển ra đô thị nếu không được khai thác như nguồn tài nguyên vô giá thì ngược lại sẽ thành yếu tố bất lợi trong

xã hội và môi trường sống Do đó, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là tiêu chí hàng đầu, là đột phá chiến lược đảm bảo phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững

- Về nguồn tài nguyên – môi trường – địa lý: sự phát triển kinh tế của

Trang 40

quốc gia hoặc từng vùng miền đều ảnh hưởng đến số lượng và trữ lượng nguồn tài nguyên nơi đó Với tốc độ phát triển như hiện nay, tài nguyên thiên nhiên nếu không được quản lý tốt sẽ nhanh chóng cạn kiệt, khi đó lợi thế so sánh sẽ mất đi Thực tế cho thấy nơi nào có nguồn tài nguyên dồi dào, điều kiện tự nhiên thuận lợi thì quá trình phát triển nơi đó diễn ra thuận lợi

Nước ta tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, nếu được tận dụng tối đa sẽ trở thành “Cường quốc nông nghiệp” Với khoảng 10 triệu ha đất nông nghiệp, 16 triệu ha rừng là tài nguyên sinh học vô giá, hơn 300 nghìn ha nước ngọt để phát triển ngành thủy sản hàng hóa lớn Ngoài ra tài nguyên về khí hậu đa dạng của các vùng miền tạo nên bản sắc độc đáo và phát triển nông sản đa dạng Một loại tài nguyên nổi bật là vị trí địa lý, vì nước ta là một quốc gia nằm ở tâm điểm đường giao thương của vùng Đông Á với nền kinh tế năng động nhất thế giới

- Về nguồn vốn: quy luật phát triển kinh tế chứng minh bất luận sự đầu tư

nào cũng có nhu cầu về vốn Vốn càng lớn thì khả năng quy mô càng lớn Vốn được xem là tiền đề cho mọi kế hoạch hoạt động Vốn bao gồm cả vốn bằng tiền, vốn bằng tài sản, vốn là cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật – kinh tế – xã hội Nhu cầu vốn càng lớn khi tốc độ phát triển càng nhanh Nguồn vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn được xây dựng từ các nguồn: vốn ngân sách nhà nước, vốn các nhà đầu tư (FDI, FII), vốn nhàn rỗi trong dân và vốn vay nước ngoài (ODA) Để thực hiện tốt kế hoạch trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà nước đã có chính sách "mở cửa” khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn Mặc dù vậy, phải cần có sự hỗ trợ từ vai trò của kinh tế chủ đạo của nhà nước, không chỉ bằng cơ chế mà cả bằng việc đầu tư, nhất là đầu tư công như: đầu tư vào những hạn mục nhất định như giao thông, thủy lợi, điện, đào tạo Thực tế quá trình phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn đang gặp phải những thách thức rất lớn về sự thiếu hụt và hiệu quả về quản lý, sử dụng vốn

1.2.2.3 Những nhân tố liên quan đến sự phát triển kết cầu hạ tầng cơ sở, văn hóa, tập quán và lối sống

Ở bất kỳ nước nào, phát triển nhanh hay chậm, bền vững hay không bền vững đều phụ thuộc vào những điều kiện chủ quan của nước đó Những điều kiện này bị chi phối bởi những yếu tố khác nhau, nhưng nhìn chung chủ yếu vào khía cạnh của sự phát triển kết cầu hạ tầng, tập quán và lối sống khu dân cư

Trước hết, sự phát triển của kết cấu hạ tầng và phát triển bền vững có mối quan hệ rõ rệt Ở những vùng có kết cấu hạ tầng càng cao thì nơi đó môi trường

Ngày đăng: 17/08/2021, 16:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w