DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ Danh mục các sơ đồ: Sơ đồ 1.1 : Quy trình thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán trong nước Sơ đồ 2.1 : Quy trình thực hiện bao thanh toán cho Bên bán hàng
Tổng quan về bao thanh toán
Lịch sử hình thành và phát triển nghiệp vụ bao thanh toán
Bao thanh toán ra đời từ thời trung cổ khi người ta bắt đầu giao thương với nhau và phát sinh các khoản nợ thương mại Bao thanh toán xuất phát từ đại lý hưởng hoa hồng khoảng 2000 năm trước dưới thời đế chế La Mã Những đại lý này nắm giữ quyền sở hữu hàng hóa của bên ủy nhiệm (bên cung ứng sản phẩm) rồi giao hàng cho người mua, ghi sổ và thu nợ khi đến hạn, chuyển tiền thu được của người mua cho bên ủy nhiệm sau khi đã trừ phần hoa hồng của mình
Sự phát triển của ngành công nghiệp Anh ở thế kỷ 14 và thế kỷ 15 đã nâng cao tầm quan trọng của các đại lý bao thanh toán Khi các đại lý dần dần tin cậy vào khả năng trả nợ của người mua hàng, họ bắt đầu cấp tín dụng cho bên cung ứng sản phẩm để lấy hoa hồng cao hơn Thực tế là với khoản hoa hồng nhiều hơn, đại lý bao thanh toán bắt đầu bảo đảm khả năng trả nợ của người mua bằng cách hứa trả đúng hạn cho người cung ứng sản phẩm trong tương lai, kể cả trong trường hợp người mua không trả được nợ đúng hạn Các đại lý bao thanh toán có đủ vốn bắt đầu ứng trước một phần tiền bán hàng cho bên cung ứng sản phẩm dựa trên khoản tiền mà bên mua hàng phải thanh toán trong tương lai Do có những khoản ứng trước này mà đại lý hưởng hoa hồng tính thêm phí hoa hồng hay lãi suất Ðể giảm thiểu rủi ro không thanh toán hay hàng hóa bị hư hỏng, bị giao thiếu mà bên mua hàng không thanh toán hoặc thanh toán không hết giá trị khoản phải thu, đại lý bao thanh toán không tạm ứng toàn bộ số tiền bán hàng Phần giữ lại sẽ được thanh toán cho bên bán khi bên mua thanh toán hết cho đại lý bao thanh toán Ðến thế kỷ 16, chế độ thực dân Mỹ ra đời và phát triển mạnh, hoạt động mua bán thông thương phát triển mạnh và cùng với nó là vai trò ngày càng tăng và nhiều cơ hội mới cho hoạt động bao thanh toán phát triển, bao thanh toán đặc biệt hữu ích với những người thiết lập hoạt động kinh doanh ở Mỹ Khoảng cách giữa Châu Âu và Mỹ là rất lớn, nhất là khi Mỹ mở rộng biên giới về phía Tây Khoảng cách địa lý càng xa càng làm vòng quay vốn lưu động của nhà sản xuất chậm lại Bắt đầu từ khâu sản xuất, giao hàng, chờ thanh toán đến khi được thanh toán là một khoảng thời gian dài, các nhà sản xuất bị chôn vốn và có thể gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh tiếp theo Do đó, nhà sản xuất ở Châu Âu thường ủy nhiệm cho đại lý bao thanh toán ở Mỹ các khoản phải thu của mình Với sự thông thạo thị trường và những người mua hàng trong nước, các đại lý bao thanh toán ở Mỹ đã cung cấp cho các nhà sản xuất Châu Âu những dịch vụ marketing và tài chính Ðến cuối thế kỷ 19, Mỹ phát triển thành một quốc gia chủ quyền và ít bị phụ thuộc vào hàng hóa nước ngoài Công nghiệp sản xuất của Mỹ phát triển mạnh kéo theo sự phát triển của hoạt động marketing đã làm cho vai trò marketing của các đại lý bao thanh toán bị giảm đi Tuy nhiên, một lần nữa các đại lý bao thanh toán lại phát triển và điều chỉnh theo nhu cầu kinh tế mới trong nước, tập trung vào tài chính, tín dụng, thu nợ, kế toán Ðầu thế kỷ 20, khi nền công nghiệp Mỹ phát triển các ngành may mặc, phụ kiện, đồ nội thất và thảm thì các đại lý bao thanh toán càng phát triển sang những lĩnh vực này Ðến giữa thế kỷ 20, nghiệp vụ bao thanh toán của Mỹ phát triển sang các ngành như: điện, hóa chất, sợi tổng hợp Hoạt động bao thanh toán phát triển rầm rộ vào năm 1963 khi cơ quan kiểm soát tiền tệ Châu Âu công bố bao thanh toán là một hoạt động ngân hàng hợp pháp thì các ngân hàng mới bắt đầu đi vào lĩnh vực này Từ năm 1974 thì nghiệp vụ bao thanh toán được công nhận bởi hầu hết các quốc gia trên thế giới Bao thanh toán đã được chấp nhận như một tất yếu khách quan để đáp ứng nhu cầu tài chính của các doanh nghiệp, được các chính phủ và ngân hàng trung ương trên khắp thế giới hỗ trợ Bao thanh toán đã phát triển ở Anh, Pháp, Mỹ, Ý, và nhanh chóng lan sang các nước châu Á Thái Bình Dương với nhiều quốc gia tham gia trong đó có Nhật Bản, Trung Quốc là các thị trường có doanh số hoạt động bao thanh toán cao nhất khu vực.
Khái niệm bao thanh toán
- Theo công ước quốc tế UNIDROIT 1988
Bao thanh toán là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng Theo đó, tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo hiểm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng
- Theo tổ chức bao thanh toán quốc tế (FCI)
Bao thanh toán là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ; đây là thỏa thuận giữa đơn vị bao thanh toán với bên bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa, còn được gọi là người cung cấp dịch vụ bao thanh toán và bên bán Theo thỏa thuận, đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại các khoản phải thu của bên bán dựa trên khả năng trả nợ của bên mua; nếu bên mua mất khả năng thanh toán hoặc phá sản thì đơn vị bao thanh toán sẽ thay bên mua trả tiền cho bên bán Khi hai bên ở hai nước khác nhau, dịch vụ này được gọi là bao thanh toán quốc tế.
Trong nghiệp vụ bao thanh toán thông thường có ít nhất ba bên: đơn vị bao thanh toán, khách hàng của đơn vị bao thanh toán (bên bán) và con nợ của đơn vị bao thanh toán (bên mua) Đơn vị bao thanh toán có thể là ngân hàng hoặc công ty tài chính chuyên nghiệp, vừa làm chức năng cấp tín dụng, vừa cung cấp tiện ích và bảo lãnh thanh toán Các khoản phải thu này là các khoản nợ ngắn hạn và chưa tới thời hạn thanh toán xuất phát từ việc bán hàng trả chậm
- Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng
- Theo Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã sửa đổi khái niệm bao thanh toán
Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Phân loại bao thanh toán
- Bao thanh toán trong nước:
Bao thanh toán trong nước là loại hình bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong đó bên bán hàng, cung ứng dịch vụ và bên mua hàng, sử dụng dịch vụ là những đơn vị cư trú trong nước
- Bao thanh toán xuất nhập khẩu:
Bao thanh toán xuất nhập khẩu là loại hình bảo đảm thanh toán dựa trên hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa và cung ứng dịch vụ Trong cơ chế này, bên bán hàng, bên mua và bên cung ứng dịch vụ là các đơn vị cư trú ở hai quốc gia khác nhau.
1.1.3.2 Theo ý nghĩa bảo hiểm rủi ro
- Bao thanh toán có quyền truy đòi:
Là loại hình bao thanh toán mà đơn vị bao thanh toán có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu
- Bao thanh toán không có quyền truy đòi:
Là loại hình bao thanh toán mà đơn vị bao thanh toán chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phải thu do bên bán hàng giao hàng không đúng như thoả thuận tại hợp đồng mua, bán hàng hoặc vì một lý do khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng
1.1.3.3 Theo phương thức bao thanh toán
- Bao thanh toán từng lần: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thỏa thuận và ký hợp đồng bao thanh toán đối với từng khoản phải thu của bên bán hàng Đối với từng khoản phải thu sẽ thực hiện ký kết một hợp đồng bao thanh toán riêng biệt, thời gian hiệu lực của từng hợp đồng sẽ tương ứng với thời gian còn lại của các khoản phải thu được bao thanh toán
- Bao thanh toán theo hạn mức: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thoả thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
Hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực hiện bao thanh toán cho một hợp đồng mua, bán hàng, trong đó một đơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán
- Bao thanh toán ứng trước:
Là loại hình bao thanh toán mà đơn vị bao thanh toán chiết khấu các khoản phải thu được bao thanh toán trước ngày đáo hạn và ứng trước tiền cho bên bán hàng
- Bao thanh toán khi đến hạn:
Là loại hình bao thanh toán mà đơn vị bao thanh toán sẽ trả cho bên bán hàng số tiền bằng giá mua của các khoản phải thu được bao thanh toán khi đáo hạn
1.1.3.5 Theo phạm vi giao dịch với bên mua hàng
Đây là một loại hình bao thanh toán dành cho bên bán, trong đó bên mua không biết rằng bên bán đã chuyển nhượng các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán Theo cơ chế này, bên mua thanh toán tiền hàng cho bên bán như thông lệ và bên bán sẽ chuyển số tiền nhận được cho đơn vị bao thanh toán Cách thức này giúp đảm bảo nguồn tiền và giảm rủi ro thanh toán cho bên bán, đồng thời tăng tính thanh khoản của chuỗi giao dịch, tuy nhiên cần công khai rõ các điều khoản để tránh hiểu nhầm giữa bên mua, bên bán và đơn vị bao thanh toán.
- Bao thanh toán công khai:
Là loại hình bao thanh toán cung cấp cho bên bán, đồng thời bên mua được thông báo về việc bên bán chuyển nhượng các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán Bên mua thanh toán tiền hàng trực tiếp cho đơn vị bao thanh toán
1.1.3.6 Theo phạm vi bao thanh toán đối với số lƣợng hóa đơn của bên bán
Bao thanh toán toàn bộ là dịch vụ mà đơn vị bao thanh toán thực hiện thanh toán cho toàn bộ các hóa đơn phát sinh từ hoạt động bán hàng của bên bán đối với một hoặc nhiều bên mua hàng Dịch vụ này giúp bên bán nhận được thanh toán đầy đủ và kịp thời cho mọi hóa đơn liên quan, giảm thiểu rủi ro thanh toán chậm và tối ưu hóa dòng tiền Đồng thời, bên mua vẫn có thể tiếp tục giao dịch với bên bán bình thường mà không phải thanh toán từng hóa đơn riêng lẻ, vì đơn vị bao thanh toán sẽ xử lý toàn bộ nghĩa vụ thanh toán.
- Bao thanh toán một phần: Đơn vị bao thanh toán thực hiện bao thanh toán cho một số hóa đơn phát sinh của bên bán hàng thực hiện bao thanh toán một hoặc một số bên mua hàng
1.1.3.7 Căn cứ vào các chức năng của bao thanh toán
- Bao thanh toán đầy đủ các chức năng:
Là loại bao thanh toán mà đơn vị bao thanh toán cung cấp đầy đủ bốn chức năng của bao thanh toán cho khách hàng là: cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo hiểm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng
- Bao thanh toán thực hiện một số chức năng:
Là loại bao thanh toán mà đơn vị bao thanh toán chỉ cung cấp 2 hoặc 3 chức năng của bao thanh toán Đơn vị bao thanh toán có thể chỉ cung cấp chức năng ứng trước tiền và thu nợ các khoản phải thu cho bên bán; hoặc cung cấp chức năng quản lí sổ sách, thu hộ nợ và bảo hiểm rủi ro không thanh toán của bên mua hàng.
Những vấn đề cơ bản về bao thanh toán trong nước
Khái niệm bao thanh toán trong nước
Bao thanh toán trong nước là một hình thức bao thanh toán, trong đó bên mua và bên bán ở trong cùng một quốc gia, có hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ diễn ra trong phạm vi biên giới một quốc gia
Theo Quy chế bao thanh toán ban hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 và Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam, bao thanh toán trong nước là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, trong đó bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối
Bên bán hàng và bên mua hàng là người cư trú theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối được hiểu như sau:
+ Bên bán hàng là tổ chức kinh tế bao gồm:
- Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty, Hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác thuộc mọi thành phần kinh tế của Việt Nam được thành lập và hoạt động kinh doanh tại Việt Nam
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Chi nhánh công ty nước ngoài, nhà thầu liên doanh với nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
+ Bên mua hàng là tổ chức bao gồm:
- Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty, Hợp tác xã và các tổ chức kinh tế khác thuộc mọi thành phần kinh tế của Việt Nam được thành lập và hoạt động kinh doanh tại Việt Nam (tổ chức kinh tế Việt Nam)
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên nước ngoài tham gia Hợp đồng hợp tác kinh doanh hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Chi nhánh Công ty nước ngoài, nhà thầu nước ngoài, nhà thầu liên doanh với nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Ở Việt Nam, hệ thống tổ chức tín dụng được phân thành các nhóm chính gồm tổ chức tín dụng Việt Nam (tổ chức tín dụng nội địa), tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam Đây được xem là các loại hình tổ chức tín dụng ở Việt Nam tham gia vào huy động vốn, cho vay và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp, đồng thời chịu sự quản lý và giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Cơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của Việt Nam hoạt động tại Việt Nam
Việt Nam có các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và lực lượng vũ trang, cùng với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội và quỹ từ thiện hoạt động ở nước ngoài Những đơn vị này phối hợp với nhau nhằm bảo vệ quyền lợi của cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài, duy trì và thúc đẩy quan hệ với nước ngoài, và tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện trên trường quốc tế.
- Văn phòng đại diện tổ chức kinh tế Việt Nam, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng ở Việt Nam hoạt động tại nước ngoài.
Quy trình thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán trong nước
Các chủ thể tham gia trong quy trình thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán trong nước bao gồm: Đơn vị bao thanh toán, Bên bán hàng và Bên mua hàng
- Đơn vị bao thanh toán: Gồm các công ty bao thanh toán, các công ty tài chính và các ngân hàng được phép hoạt động bao thanh toán
Bên bán hàng là các tổ chức kinh tế trong nước tham gia cung ứng hàng hóa và dịch vụ và được hưởng các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận tại Hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
- Bên mua hàng: Bao gồm các tổ chức được nhận hàng hóa, dịch vụ từ bên bán hàng và có nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu quy định tại Hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
1.2.2.2 Quy trình thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán trong nước
Sơ đồ 1.1 Quy trình thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán trong nước
(1): Bên bán và bên mua ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa
(2): Bên bán đề nghị đơn vị bao thanh toán thực hiện bao thanh toán các khoản phải thu
Đơn vị bao thanh toán tiến hành thẩm định bên mua hàng về tình hình hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính nhằm đánh giá mức độ tín nhiệm cũng như rủi ro thanh toán Trên cơ sở kết quả thẩm định, đơn vị cấp hạn mức bao thanh toán cho bên mua, tạo nền tảng để thực hiện các giao dịch thanh toán tiếp theo trong phạm vi hạn mức được duyệt.
(4): Đơn vị bao thanh toán tiến hành thẩm định, trả lời tín dụng và cấp hạn mức bao thanh toán cho bên bán
(5): Đơn vị bao thanh toán và bên bán tiến hành ký kết Hợp đồng bao thanh toán
(6): Bên bán ký gửi văn bản thông báo bao thanh toán cho bên mua, trong đó nêu rõ việc bên bán chuyển giao quyền đòi nợ cho đơn vị bao thanh toán, hướng dẫn bên mua thanh toán vào tài khoản của đơn vị bao thanh toán
(7): Bên mua hàng xác nhận về việc đã nhận thông báo và cam kết thanh toán cho đơn vị bao thanh toán
(8): Bên bán giao hàng cho bên mua theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mua
BÊN BÁN HÀNG BÊN MUA HÀNG ĐƠN VỊ BAO THANH TOÁN
(9): Bên bán chuyển giao bản gốc hợp đồng mua bán hàng hóa, chứng từ bán hàng và các chứng từ khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán
(10): Đơn vị bao thanh toán ứng trước một phần tiền cho bên bán hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán
(11): Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng tiến hành thu hồi nợ từ bên mua hàng (12): Bên mua thanh toán tiền hàng cho ngân hàng
(13): Ngân hàng thu phần tiền ứng trước và thanh toán phần còn lại cho bên bán hàng.
So sánh bao thanh toán trong nước với các hình thức tài trợ khác
- Sự giống nhau của bao thanh toán trong nước và hình thức cho vay thế chấp bằng tài sản có:
Cả hai đều tài trợ vốn lưu động cho khách hàng, đều căn cứ vào các khoản phải thu trong tương lai để ra quyết định tài trợ Những khoản phải thu này phải hợp pháp, tức là những khoản mua bán phải minh bạch, có hóa đơn và hợp đồng chứng minh và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật
- Sự khác nhau của bao thanh toán trong nước và hình thức cho vay thế chấp bằng tài sản có:
Bao thanh toán trong nước Cho vay thế chấp bằng tài sản có
- Có hai chủ thể gắn liền với khoản tài trợ là bên mua hàng và bên bán hàng
- Có một chủ thể gắn liền với khoản tài trợ là doanh nghiệp vay vốn
- Việc cấp hạn mức tài trợ dựa trên khả năng cung ứng hàng hoá, dịch vụ của bên bán hàng và năng lực tài chính của bên mua hàng
- Ngân hàng cấp tín dụng dựa trên nhu cầu vốn và năng lực tài chính của doanh nghiệp vay vốn
- Đơn vị bao thanh toán ứng tiền cho bên bán hàng dựa trên hoá đơn bán hàng trả chậm còn hiệu lực thanh toán
Trong nghiệp vụ bao thanh toán nội địa, đơn vị bao thanh toán không nhất thiết phải quan tâm đến toàn bộ hoạt động của bên bán và bên mua mà chỉ tập trung vào tính minh bạch và hợp pháp của giao dịch mua bán được bao thanh toán, cũng như khả năng thanh toán của bên mua trong giao dịch đó.
- Khi cho vay thế chấp bằng tài sản có, ngân hàng phải theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng vay có minh bạch và hợp pháp hay không, phương án kinh doanh có khả thi hay không
- Tài sản đảm bảo trong nghiệp vụ bao thanh toán trong nước là các khoản phải thu còn hiệu lực thanh toán
- Tài sản đảm bảo cho khoản vay là bất động sản, động sản, chứng từ có giá như: Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, hàng hoá, nguyên vật liệu sản xuất, số dư tài khoản, sổ tiết kiệm, thuộc sở hữu của bên vay hoặc bên bảo lãnh Trong trường hợp doanh nghiệp không thể trả nợ, ngân hàng sẽ xử lý tài sản đảm bảo để thu nợ
Khi đơn vị bao thanh toán chấp nhận thanh toán cho doanh nghiệp và doanh nghiệp được xem là bên bán, quyền sở hữu các khoản phải thu được chuyển giao hoàn toàn cho đơn vị bao thanh toán Điều này có nghĩa là bên bán không còn quyền đòi các khoản phải thu từ khách hàng và toàn bộ quyền đòi nợ cùng rủi ro liên quan sẽ thuộc về đơn vị bao thanh toán theo hợp đồng đã ký, giúp doanh nghiệp cải thiện dòng tiền và quản lý nợ hiệu quả hơn.
- Ngược lại, khi ngân hàng cho vay thế chấp bằng tài sản có, bên bán không chuyển quyền sở hữu khoản phải thu cho ngân hàng Lúc này, ngân đơn vị bao thanh toán Điều này đồng nghĩa bên bán không còn quyền quyết định đối với khoản phải thu đó nữa Đơn vị bao thanh toán sẽ trực tiếp theo dõi khoản phải thu, đôn đốc thu hồi nợ nhằm thu hồi số tiền đã ứng trước cho bên bán, thu phí dịch vụ và thu lãi ứng trước Trong trường hợp bao thanh toán miễn truy đòi thì khi bên mua bị phá sản, đơn vị bao thanh toán phải chấp nhận rủi ro là không thu được khoản phải thu đó hàng cũng chỉ đóng vai trò là đơn vị cấp tín dụng dựa trên tài sản đảm bảo của doanh nghiệp hoặc bên bảo lãnh chứ không phải là khoản phải thu Bên bán vẫn phải có trách nhiệm theo dõi công nợ, đôn đốc và thu hồi các khoản phải thu khi đến hạn và hoàn trả vốn vay cho ngân hàng Trong trường hợp đến hạn phải thanh toán cho ngân hàng mà bên bán không thu hồi được các khoản phải thu, bên bán bắt buộc phải hoàn trả nợ vay cho ngân hàng hoặc ngân hàng áp dụng các biện pháp xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ
- Về chi phí khi sử dụng bao thanh toán trong nước, ngoài lãi vay phải trả cho khoản ứng trước, doanh nghiệp là bên bán còn phải trả cho đơn vị bao thanh toán khoản phí dịch vụ bao thanh toán, khoản phí đó là do đơn vị bao thanh toán phải quản lý sổ sách, thu hồi khoản phải thu thay cho đơn vị được bao thanh toán và chấp nhận rủi ro cao hơn so với sản phẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có
- Trong khi sản phẩm cho vay thế chấp bằng tài sản có thì doanh nghiệp chỉ trả lãi vay
1.2.3.2 So sánh bao thanh toán trong nước với hình thức chiết khấu thương phiếu
Chiết khấu thương phiếu là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại, thực hiện bằng việc ngân hàng mua lại thương phiếu chưa đáo hạn của khách hàng Đặc điểm của nghiệp vụ tín dụng này là khoản lãi phải trả ngay khi nhận vốn Do đó, khoản lợi tức này sẽ được khấu trừ ngay tại thời điểm chiết khấu
- Sự giống nhau của bao thanh toán trong nước với hình thức chiết khấu thương phiếu:
Bao thanh toán trong nước và chiết khấu thương phiếu là các hình thức tín dụng ngân hàng cấp cho doanh nghiệp nhằm hỗ trợ thanh toán và cấp vốn ngắn hạn Cả hai đều dựa trên nguyên tắc ngân hàng mua lại các khoản nợ chưa đến hạn của doanh nghiệp, từ đó tài trợ dòng tiền và tăng tính thanh khoản cho doanh nghiệp.
- Sự khác nhau của bao thanh toán trong nước với hình thức chiết khấu thương phiếu:
Bao thanh toán trong nước Chiết khấu thương phiếu
- Bao thanh toán trong nước không chỉ tham gia vào công đoạn đầu là cho vay đối với bên bán mà còn đi sâu vào cả quá trình tiếp theo như: kiểm tra, giám sát khả năng thanh toán của bên mua và kiểm tra, giám sát kế hoạch sản xuất và doanh thu của bên bán nhằm mục đích để cho đơn vị bao thanh toán có thể kiểm soát được khả năng tài chính của cả bên mua và bên bán
- Tham gia sau khi bên bán đã thực hiện xong việc sản xuất hàng hóa, giao hàng, ngân hàng không kiểm soát được vốn vay của doanh nghiệp
- Ngân hàng cho vay dựa trên khoản phải thu chưa tới hạn thanh toán của bên bán Sau khi ứng tiền cho bên bán, ngân hàng sẽ theo dõi và thu nợ từ bên mua trong thời hạn có hiệu lực của các
- Ngân hàng chiết khấu thương phiếu dựa trên uy tín của đơn vị ký phát hành thương phiếu hoặc đơn vị ký xác nhận thương phiếu Trong nghiệp vụ này, ngân hàng không cần phải theo khoản phải thu dõi khoản phải thu để thu lại số tiền mình đã chiết khấu mà chờ đến hạn của thương phiếu để đòi tiền người có trách nhiệm chi trả ghi trên thương phiếu, hoặc có thể mang đi tái chiết khấu
- Người trả nợ trong nghiệp vụ bao thanh toán là bên mua trong giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, trong nghiệp vụ bao thanh toán có truy đòi, nếu bên mua hàng không trả tiền cho đơn vị bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán sẽ truy đòi số tiền ứng trước từ bên bán
Trong nghiệp vụ chiết khấu có truy đòi, ngân hàng có quyền truy đòi tất cả các đối tượng ghi trên tờ thương phiếu, kể cả người đã chuyển nhượng thương phiếu, chứ không chỉ người có trách nhiệm thanh toán được ghi trên thương phiếu Nhờ đó, rủi ro tín dụng giảm xuống vì có nhiều người cùng chịu trách nhiệm trả nợ.
- Trong nghiệp vụ bao thanh toán trong nước, sau khi ứng tiền cho bên bán hàng, ngân hàng sẽ chờ thu tiền từ bên mua chứ không thể bán khoản nợ này cho một đơn vị khác
Những lợi ích và rủi ro trong nghiệp vụ bao thanh toán trong nước
Lợi ích đối với bên mua hàng
Bao thanh toán giúp bên mua có nhiều cơ hội được mua hàng trả chậm từ phía các đối tác, bởi vì bên bán hàng lúc đó có thể ứng tiền bao thanh toán tại ngân hàng, họ sẽ chấp nhận bán hàng trả chậm và không phải lo lắng thiếu hụt vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh Về phía bên mua, khoản tín dụng thương mại này bên mua có thể dùng để trang trải các loại chi phí khác
Việc bên mua được tiếp cận tín dụng thương mại giúp tiết kiệm chi phí và rút ngắn thời gian cho quá trình mua hàng hóa, dịch vụ Nếu thiếu khoản tín dụng này, bên mua có thể phải huy động vốn từ các nguồn khác, như vay ngân hàng, để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động Điều này sẽ làm tăng chi phí tài chính do lãi vay, kéo dài thời gian thủ tục vay và có thể đòi hỏi tài sản đảm bảo cho khoản vay.
Việc mua hàng trả chậm giúp bên mua giảm áp lực trả nợ cho nhà cung cấp khi họ có thể kiểm soát thời gian thanh toán và nguồn tiền một cách chủ động Bên mua được chủ động hơn trong quy trình thu mua với các điều khoản trả chậm, tối ưu hóa dòng tiền và nâng cao khả năng lập kế hoạch chi tiêu cho hàng hóa Đồng thời, phương thức thanh toán trở nên thuận tiện hơn vì chỉ cần chuyển tiền vào tài khoản của đơn vị bao thanh toán, thay vì phải thanh toán cho từng nhà cung cấp riêng lẻ, từ đó rút ngắn chu kỳ thanh toán và giảm khối lượng công việc quản lý thanh toán.
Lợi ích đối với bên bán hàng
Việc bên bán hàng sử dụng bao thanh toán trong nước giúp nâng cao năng lực cạnh tranh trong sản xuất và trao đổi hàng hóa, đồng thời tăng khả năng thực hiện hợp đồng và giao hàng đúng hạn cho bên mua, kể cả khi bước vào mùa cao điểm Nhờ được ngân hàng tài trợ vốn lưu động, doanh nghiệp có nguồn vốn linh hoạt để duy trì hoạt động sản xuất, đáp ứng đơn hàng và giảm thiểu rủi ro thanh toán chậm, từ đó tăng trưởng và uy tín trên thị trường.
Bên bán được đơn vị bao thanh toán ứng tiền dựa trên doanh thu bán hàng, nếu doanh thu càng cao thì được ứng tiền càng nhiều, giúp cho vòng quay vốn tăng nhanh, phát triển sản xuất kinh doanh Bên bán cũng chủ động hơn trong việc lập kế hoạch tài chính vì biết chắc được dòng tiền của mình Đơn vị bao thanh toán sẽ theo dõi sổ sách và thu nợ từ phía bên mua hàng, do đó bên bán tiết kiệm được thời gian và chi phí trong việc theo dõi và thu hồi các khoản phải thu phát sinh Đa phần các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích nghiệp vụ bao thanh toán, bởi thông thường những doanh nghiệp này có tổng tài sản không lớn nên rất khó để ngân hàng xem xét cấp tín dụng Ngoài ra khi vay vốn ngân hàng các doanh nghiệp cần phải có tài sản đảm bảo Với bao thanh toán thì doanh nghiệp không cần phải có tài sản đảm bảo và còn được cấp hạn mức ứng tiền có thể lên đến 85% giá trị của các khoản phải thu
Ngân hàng có thể ứng tiền cho bên bán ngay sau khi giao hàng, do đó sẽ tăng lợi thế cạnh tranh khi bán hàng theo phương thức trả chậm mà không ảnh hưởng đến vốn kinh doanh
Đối với các ngân hàng và các Công ty tài chính được phép hoạt động bao thanh toán, hoạt động này góp phần đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh và duy trì, mở rộng thị phần Việc đa dạng hóa sản phẩm bao thanh toán cũng nâng cao năng lực cạnh tranh và uy tín của các đơn vị này trên thị trường, từ đó cải thiện vị thế trước khách hàng và đối tác.
Các ngân hàng giám sát mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp trong nghiệp vụ bao thanh toán dễ dàng hơn so với việc cấp hạn mức tín dụng thông thường Vì nếu cấp vốn lưu động cho doanh nghiệp, ngân hàng phải giám sát mục đích sử dụng vốn, tình hình tài chính của khách hàng để đảm bảo trả nợ đủ và đúng hạn Trong khi với bao thanh toán thì các khoản phải thu thể hiện rất rõ là các hóa đơn chưa đến hạn thanh toán, và khả năng trả nợ vay được đánh giá ở tình hình tài chính của bên mua hàng Trong khi đó, bên mua hàng thường là những doanh nghiệp lớn và có uy tín trên thị trường
Các đơn vị bao thanh toán còn thu được phí khi khách hàng sử dụng bao thanh toán, và khi ứng tiền bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán còn thu được lãi vay
Khi thực hiện bao thanh toán cho khách hàng là bên bán, các ngân hàng còn cung cấp thêm được sản phẩm tiển gửi thanh toán, bởi vì khách hàng được bao thanh toán bắt buộc phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, tài khoản này dùng để nhận tiền hàng từ bên mua Và ngân hàng còn thu được các khoản phí liên quan đến dịch vụ tài khoản như phí chuyển tiền, phí quản lý tài khoản
1.2.4.2 Những rủi ro trong nghiệp vụ bao thanh toán trong nước Rủi ro đối với bên mua hàng
Với điều khoản mua hàng trả chậm, thường bên bán sẽ bán giá cao hơn so với trả ngay vì họ tính đến việc chiếm dụng vốn của bên mua và cả rủi ro thanh toán Đó chính là tập quán kinh doanh, do đó mua hàng trả chậm thì bên mua sẽ mua hàng với giá cao hơn là mua hàng trả ngay
Rủi ro thanh toán cho bên mua phát sinh khi họ phải thanh toán cho đơn vị bảo lãnh thanh toán khoản nợ của bên bán dù hai bên chưa có bất kỳ hợp đồng ràng buộc nào Nếu xảy ra chuyển tiền thừa do sơ suất, bên mua sẽ không có căn cứ pháp lý để đòi lại số tiền thừa và việc yêu cầu bên bán hoàn trả có thể kéo dài, làm tăng thời gian xử lý và chi phí liên quan.
Ngoài ra, trường hợp đơn vị bao thanh toán cố tình chiếm dụng số tiền hàng này trong một thời gian thì bên mua hàng cũng không có căn cứ pháp lý nào để buộc đơn vị bao thanh toán trả lại tiền cho mình hoặc trả lại tiền hàng đã thu cho bên bán Điều này cũng có thể làm cho bên bán hiểu nhầm uy tín thanh toán của bên mua, và có thể bên mua hàng sẽ không được mua hàng trả chậm từ bên bán này nữa
Rủi ro đối với bên bán hàng
Bao thanh toán có thể làm cho mối quan hệ giữa bên bán hàng với các bên mua hàng bị ảnh hưởng bởi đơn vị bao thanh toán, bởi các thủ tục của ngân hàng để thực hiện bao thanh toán cho bên bán có thể bên mua hàng không chấp nhận, và như vậy họ sẽ mua hàng của nhà cung cấp khác
Với nghiệp vụ bao thanh toán có truy đòi, nếu bên mua không thanh toán tiền hàng cho đơn vị bao thanh toán, bên bán phải thanh toán lại cho ngân hàng số tiền đã ứng trước và phải trực tiếp đòi tiền bên mua Nếu bên mua cố tình không trả hoặc bị phá sản thì toàn bộ rủi ro sẽ thuộc về bên bán hàng
Rủi ro đối với đơn vị bao thanh toán
Kinh nghiệm phát triển bao thanh toán tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Kinh nghiệm phát triển bao thanh toán tại một số nước trên thế giới
Bao thanh toán đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới nhưng đến nay vẫn chưa được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam Ở mỗi quốc gia hay vùng lãnh thổ trên thế giới đều có những đặc điểm riêng biệt về tập quán kinh doanh, về con người, điều kiện địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội,… do đó hoạt động bao thanh toán ở mỗi nước cũng có những đặc điểm riêng biệt Không phải quốc gia nào cũng áp dụng một cách đầy đủ và chính thống các chức năng của nghiệp vụ bao thanh toán, đồng thời ở mỗi quốc gia đều có những quy định pháp luật riêng Do đó, việc tìm hiểu kinh nghiệm hoạt động bao thanh toán trên thế giới là điều cần thiết để vận dụng trong việc phát triển bao thanh toán trong nước tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Kinh nghiệm của Mỹ: Để tồn tại và phát triển thì bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải đáp ứng được các nhu cầu của thị trường, do đó nhiều công ty bao thanh toán của Mỹ cung cấp tất cả các dịch vụ truyền thống cũng như không truyền thống đối với bao thanh toán trong nước Các dịch vụ truyền thống gồm: cho vay và ứng trước tiền, bảo đảm tín dụng, theo dõi các khoản phải thu, dịch vụ nhờ thu, tài trợ trên cơ sở các khoản phải thu và kho thành phẩm Các dịch vụ không truyền thống bao gồm: bảo đảm tín dụng, quản lý các khoản phải thu, bán buôn các khoản phải thu, tài trợ các đơn mua hàng
Kinh nghiệm của Pháp: Ở pháp, các công ty bao thanh toán là các công ty con của Ngân hàng có lợi thế hơn trên thị trường Các công ty con của các tập đoàn ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài cũng đang dần dần chiếm lĩnh thị phần trong nước Bao thanh toán ở Pháp chủ yếu để đáp ứng nhu cầu của các tập đoàn lớn và các công ty vừa và nhỏ trong kinh doanh với các nước Châu Âu khác Trước đây bao thanh toán chủ yếu tập trung vào các công ty có nhân công từ 50 đến
Ban đầu có khoảng 200 người tham gia, nay đã mở rộng và áp dụng cho tất cả các phân khúc thị trường Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là khách hàng mục tiêu của dịch vụ bao thanh toán nội địa, cho thấy giải pháp này đang được triển khai rộng rãi và đáp ứng nhu cầu thanh toán của thị trường trong nước.
Sự thành công của bao thanh toán trong nước ở Ý là nhờ vào nỗ lực của các công ty bao thanh toán trong việc làm hài lòng khách hàng bằng cách nâng cao chất lượng vụ như: thân thiện hơn với khách hàng, thủ tục đơn giản, thực hiện giao dịch qua mạng, đầu tư vào công nghệ thông tin hiện đại và tốc độ nhanh, … Có ba nhóm các công ty bao thanh toán trên thị trường Ý là: nhóm ngân hàng (banking), nhóm công nghiệp (captive) và nhóm độc lập (independent) Nhóm công nghiệp được hình thành bởi những tập đoàn công nghiệp lớn, hoạt động bao thanh toán với các nhà cung cấp là chính các tập đoàn đã hình thành nên công ty bao thanh toán Luật pháp ủng hộ các công ty bao thanh toán thuộc nhóm này, cho phép khách hàng ngăn cản các nhà cung cấp ký hợp đồng bao thanh toán với các đơn vị bao thanh toán không thuộc tập đoàn của mình Tuy nhiên bao thanh toán của ngành ngân hàng vẫn hiệu quả hơn do nguồn vốn của các ngân hàng dồi dào, mạng lưới phân phối rộng khắp, sản phẩm dịch vụ đa dạng, sử dụng công nghệ cao
Bungari gặp khó khăn trong việc phát triển dịch vụ bao thanh toán cả ở thị trường trong nước và quốc tế do thiếu khuôn khổ pháp lý điều chỉnh việc chuyển nhượng các khoản phải thu Luật pháp nước này cho phép chủ nợ đưa ra điều khoản đặc biệt trong hợp đồng mua hàng cấm chuyển nhượng các khoản phải thu cho bên thứ ba Các đơn vị bao thanh toán tại Bungari cho rằng các quy định hiện hành không có cơ sở pháp lý để họ có thể nhận rủi ro của người bán thông qua thỏa thuận song phương Do đó, yêu cầu về thỏa thuận ba bên được xem là một rào cản đối với sự phát triển của bao thanh toán tại nước này.
Kinh nghiệm của Hồng Kông cho thấy bao thanh toán trong nước từng được xem là nguồn vốn cuối cùng khi các doanh nghiệp không đủ điều kiện vay từ ngân hàng; tuy nhiên, hiện nay dịch vụ này ngày càng được coi là một hoạt động ngân hàng bình thường khi nhiều ngân hàng tham gia cung cấp Khách hàng của bao thanh toán tại Hồng Kông chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc ngành điện tử, đồ chơi, sản phẩm viễn thông liên lạc, máy tính, thực phẩm, in và giấy, điện lực, giao nhận vận tải và tư vấn Các loại bao thanh toán được cung cấp gồm: bao thanh toán trong nước miễn hoặc có truy đòi, chiết khấu hóa đơn, bao thanh toán kín, bao thanh toán xuất nhập khẩu và bao thanh toán giáp lưng.
Kinh nghiệm của Ấn Độ: Đạo luật về bao thanh toán các khoản nợ theo hóa đơn thương mại và công nghiệp của Ấn Độ được ban hành, trong đó quy định quyền của đơn vị bao thanh toán trong việc nhận chuyển nhượng khoản nợ từ bên bán hàng và được pháp luật bảo vệ Các công ty thuộc ngành phụ tùng ô tô, hóa chất, giấy và bao bì, dệt may, thương mại, phần cứng máy tính, điện, điện tử…là khách hàng sử dụng bao thanh toán trong nước Tuy nhiên, bao thanh toán ở Ấn Độ vẫn chưa phát triển mạnh bởi vì đơn vị bao thanh toán chưa tiếp cận được với bảo hiểm tín dụng để dựa vào đó cung cấp bao thanh toán miễn truy đòi cho khách hàng Và trong khuôn khổ luật Ấn Độ cũng chưa buộc được bên mua phải thanh toán tiền hàng cho công ty bao thanh toán Bên cạnh đó, các ngân hàng có thái độ coi các đơn vị bao thanh toán là đối thủ cạnh tranh của họ nên không có sự hợp tác tốt Đồng thời các đơn vị bao thanh toán phải vay vốn của ngân hàng để tài trợ cho bên bán hàng nên chi phí bao thanh toán khá cao
Kinh nghiệm của Thái Lan:
Bao thanh toán nội địa ở Thái Lan được hỗ trợ và điều chỉnh bởi Đạo luật bao thanh toán, quy định bên bán được thông báo về việc chuyển nhượng khoản phải thu dưới bất kỳ hình thức nào và không bắt buộc phải bằng văn bản Các đơn vị bao thanh toán cũng được tính phí tương tự như các tổ chức tài chính khác Quá trình phát triển của bao thanh toán tại Thái Lan phần nào được thúc đẩy nhờ thái độ thận trọng của các ngân hàng trong nghiệp vụ cho vay Doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ đã xem bao thanh toán nội địa là một nguồn tài trợ linh hoạt cho hoạt động kinh doanh của mình.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
Thực trạng hoạt động bao thanh toán trên thế giới
Theo số liệu thống kê của FCI, doanh số bao thanh toán trên thế giới gia tăng đáng kể qua các năm Tính trên toàn thế giới, doanh số bao thanh toán năm 2004 đạt 860.215 triệu Euro; nhưng năm 2005 đã tăng đến 18%, đạt 1.016.547 triệu Euro; năm 2006, 2007 và 2008 thì không tăng nhiều, trung bình khoảng 10%/năm; năm 2009 thì giảm nhẹ 3,1% so với năm 2008; nhưng đến năm 2010 doanh số bao thanh toán thế giới có một bước đột phá lớn, tăng 28,41% so với năm 2009, đạt 1.648.229 triệu Euro Sự sụt giảm doanh số của năm 2009 so với hai năm trước đó là do doanh số của một số thị trường lớn giảm mạnh như: Đài Loan, Nhật, Mỹ, và một số thị trường nhỏ khác đã giảm doanh số hơn một nửa như: Mexico, Ấn Độ, Russia, Năm 2010, đóng góp vào sự tăng trưởng mạnh về doanh số bao thanh toán thế giới gồm một số nước có thị trường bao thanh toán lớn như: Pháp tăng 19,5%, Đức tăng 34,6%, Trung Quốc tăng 129,6% và Đài Loan tăng 98,2%
Doanh số bao thanh toán nêu trên bao gồm cả doanh số bao thanh toán trong nước và quốc tế Trong đó, bao thanh toán trong nước đóng góp đáng kể trong tổng doanh số bao thanh toán trên toàn thế giới Bởi vì đối với bao thanh toán trong nước, các đơn vị bao thanh toán dễ dàng hơn trong việc thẩm định khách hàng, đồng thời chi phí để thẩm định khách hàng cũng ít hơn chi phí thẩm định trong nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế Về rủi ro, bao thanh toán trong nước ít rủi ro hơn bao thanh toán quốc tế, vì các bên liên quan ở trong cùng một quốc gia, các giao dịch mua bán, cung ứng dịch vụ và hoạt động kinh doanh cùng chịu sự chi phối của khung pháp lý trong nước chứ không bị chi phối bởi luật pháp quốc tế hay các thông lệ, tập quán kinh doanh quốc tế Các bên tham gia trong nghiệp vụ bao thanh toán trong nước đều có thể hiểu biết được các quy định pháp luật và tập quán kinh doanh trong quốc gia, điều đó sẽ hạn chế được rủi ro cho mỗi bên tham gia Và khi các bên tham gia trong nghiệp vụ bao thanh toán đều ở trong cùng một quốc gia thì cũng thuận tiện hơn cho đơn vị bao thanh toán trong việc đôn đốc thu hồi nợ
Đến cuối năm 2010, toàn cầu có 2.437 đơn vị cung cấp dịch vụ bao thanh toán đang hoạt động trên thị trường Trong số đó, 250 tổ chức từ 67 quốc gia đã là thành viên của FCI (Factors Chain International).
Bảng 2.1: Doanh số bao thanh toán thế giới Đơn vị: Triệu Euro
Doanh số bao thanh toán trong nước
Doanh số bao thanh toán quốc tế 68,265 86,486 103,690 145,996 176,168 165,459 245,898
Tổng doanh số bao thanh toán thế giới
Tỷ trọng doanh số bao thanh toán trong nước
Tỷ trọng doanh số bao thanh toán quốc tế
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Doanh số bao thanh toán quốc tế chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng doanh số bao thanh toán trên thế giới Cụ thể là tỷ trọng doanh số bao thanh toán trong nước trong tổng doanh số bao thanh toán năm 2004 chiếm 92,06%, năm 2005 chiếm 91,49%, năm 2006 chiếm 90,85%, năm 2007 chiếm 88,76%, năm 2008 chiếm 86,70%, năm 2009 chiếm 87,10% và năm 2010 chiếm 85,08%; trong khi đó tỷ trọng doanh số bao thanh toán quốc tế tương ứng từ năm 2004 đến năm 2010 là 7,94%, 8,51%, 9,15%, 11,24%, 13,30%, 12,90% và 14,92% Tuy tỷ trọng này cũng tăng qua các năm nhưng tăng không nhiều Điều này chứng tỏ rằng các nước trên thế giới cũng tập trung phát triển bao thanh toán trong nước, còn bao thanh toán quốc tế thì chưa được đẩy mạnh phát triển
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán thế giới Đơn vị: Triệu Euro
Thế giới Trong nước Quốc tế
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Nghiệp vụ bao thanh toán rất được ưa chuộng ở những nước phát triển như Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Mỹ, Nhật Bản,… các thị trường bao thanh toán lớn nhất thế giới thường tập trung ở đây Theo khu vực địa lý, số liệu thống kê doanh số bao thanh toán tại các châu lục trên thế giới như sau:
Trong tổng doanh số bao thanh toán thế giới qua các năm từ 2004 đến năm 2010, đứng đầu là Châu Âu với doanh số cao nhất so với các châu lục
Bảng 2.2: Doanh số bao thanh toán khu vực Châu Âu Đơn vị: Triệu Euro
Cộng hoà Séc 2,620 2,885 4,025 4,780 5,000 3,760 4,410 Đan mạch 6,780 7,775 7,685 8,474 5,500 7,100 8,000 Estonia 3,920 2,400 2,900 1,300 1,427 1,000 1,227 Phần Lan 9,167 10,470 11,100 12,650 12,650 10,752 12,400 Pháp 81,600 89,020 100,009 121,660 135,000 128,182 153,252 Đức 45,000 55,110 72,000 89,000 106,000 96,200 129,536 Greece 4,430 4,510 5,230 7,420 10,200 12,300 14,715 Hungary 1,375 1,820 2,880 3,100 3,200 2,520 3,339 Ireland 13,150 23,180 29,693 22,919 24,000 19,364 20,197 Ý 121,000 111,175 120,435 122,800 128,200 124,250 143,745
Tây Ban Nha 45,376 55,515 66,772 83,699 100,000 104,222 112,909 Thuỵ Điển 14,500 19,800 21,700 21,700 16,000 18,760 18,760 Thuỵ Sĩ 1,400 1,900 2,000 2,513 2,590 5,000 4,000 Thổ Nhĩ Kỳ 7,950 11,830 14,925 19,625 18,050 20,280 38,988
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Năm 2010, doanh số bao thanh toán khu vực Châu Âu là 1.045.069 triệu Euro, trong khi đó doanh số năm 2010 của khu vực Châu Á đạt 355.602 triệu
Euro, khu vực Châu Mỹ đạt 185.357 triệu Euro, khu vực Châu Úc đạt 45.515 triệu Euro và khu vực Châu Phi đạt 16.686 triệu Euro Doanh số bao thanh toán khu vực Châu Âu năm 2010 cao hơn khu vực Châu Á là 2,93 lần và cao hơn khu vực Châu Phi đến 62,63 lần
Dẫn đầu về doanh số bao thanh toán khu vực Châu Âu là Vương quốc Anh, tiếp theo là các nước Ý, Pháp, Đức và Tây Ban Nha Tốc độ tăng trưởng doanh số trung bình hàng năm tại khu vực Châu Âu từ năm 2004 đến 2007 khoảng 15%/năm, doanh số năm 2008 và 2009 giảm nhẹ, so với năm 2009, doanh số bao thanh toán khu vực Châu Âu năm 2010 tăng 19,21%
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán khu vực Châu Âu Đơn vị: Triệu Euro
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Từ năm 2004 về trước, doanh số bao thanh toán khu vực này chỉ đứng thứ 3, xếp sau Châu Âu và Châu Mỹ Nhưng với nhu cầu phát triển mạnh mẽ cộng với những tiềm lực có sẵn đã làm cho châu lục này phát triển khá mạnh về dịch vụ này và doanh số đã tăng cao, vươn lên đứng hàng thứ 2, chỉ sau châu Âu Châu Á được các chuyên gia đánh giá cao vì đây là một thị trường nhiều tiềm năng và hấp dẫn nhiều nhà đầu tư
Dẫn đầu doanh thu bao thanh toán trong khu vực là Nhật Bản với doanh số từ năm 2004 đến 2010 là 72.535, 77.220, 74.530, 77.721, 106.500, 83.700 và 98.500 (triệu Euro), chiếm gần 50% doanh số trong cả khu vực qua các năm, tiếp theo sau là Trung Quốc và Đài Loan
Bảng 2.3: Doanh số bao thanh toán khu vực Châu Á Đơn vị: Triệu Euro
Trung Quốc 4,315 5,830 14,300 32,976 55,000 67,300 154,550 Hồng Kông 4,800 7,700 9,710 7,700 8,500 8,079 14,400 Ấn Độ 1,625 1,990 3,560 5,055 5,200 2,650 2,750
Singapore 2,600 2,880 2,955 3,270 4,000 4,700 5,800 Đài Loan 23,000 36,000 40,000 42,500 48,750 33,800 67,000 Thái Lan 1,500 1,640 1,925 2,240 2,367 2,107 2,095 Ả Rập 145 440 810 340 1,860 1,910 2,000
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Trong các châu lục, doanh số bao thanh toán tại khu vực Châu Á năm 2010 tăng 69,34% so với năm 2009, dẫn đầu bảng về tốc độ tăng trưởng Đứng thứ hai là Châu Mỹ với mức tăng 30,52% Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán toàn cầu năm 2010 đạt 28,41% so với năm 2009, là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2004–2010, cho thấy hoạt động bao thanh toán trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ vào năm 2010.
Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán khu vực Châu Á Đơn vị: Triệu Euro
(Nguồn: www.factors-chain.com)
- Khu vực châu Mỹ Ở Châu Mỹ, Mỹ là nước dẫn đầu khu vực với doanh số bao thanh toán cao nhất, đạt trung bình trên 95.000 triệu Euro/năm, nhưng doanh số năm 2004 và năm 2009 thì thấp hơn với doanh số lần lượt là 81.860 triệu Euro và 88.500 triệu Euro, đặc biệt năm 2008 doanh số bao thanh toán của Mỹ đạt 100.000 triệu Euro Đứng thứ hai là Braxin với doanh số các năm từ 2005 đến 2008 trung bình đạt 20.000 triệu Euro, năm 2009 đạt được 29.640 triệu Euro và năm
2010 tăng 65,4% so với năm 2009, đạt 49.050 triệu Euro
Bảng 2.4: Doanh số bao thanh toán khu vực Châu Mỹ Đơn vị: Triệu Euro
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Biểu đồ 2.4: Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán khu vực Châu Mỹ Đơn vị: Triệu Euro
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Thị trường bao thanh toán ở Châu Úc đang trên đà phát triển, với mức tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 22% Châu lục này gồm hai quốc gia là Úc và New Zealand Phân bổ doanh số cho thị trường bao thanh toán ở Châu Úc cho thấy phần lớn đóng góp từ Úc, trong khi doanh số của New Zealand chỉ khoảng 250 triệu euro trong giai đoạn từ 2003 đến 2006 và không đáng kể so với tổng thị trường.
700 triệu Euro trong các năm từ 2007 đến 2009, năm 2010, doanh số tại New Zealand giảm, chỉ đạt 600 triệu Euro
Bảng 2.5: Doanh số bao thanh toán khu vực Châu Úc Đơn vị: Triệu Euro
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Biểu đồ 2.5: Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán khu vực Châu Úc Đơn vị: Triệu Euro
Mặc dù doanh số bao thanh toán tại New Zealand giảm vào năm 2010, nhưng doanh số bao thanh toán tại Úc không ngừng tăng lên, với doanh số năm
2009 là 39.410 triệu Euro và năm 2010 là 44.915 triệu Euro Do đó, doanh số bao thanh toán khu vực Châu Úc đều tăng trưởng qua các năm từ 2004 đến
Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán ở Châu lục này cũng khá cao, trung bình khoảng 20%/năm qua các năm từ 2004 đến 2010, trong đó tốc độ tăng trưởng năm 2007 so với năm 2006 đột phá hơn với mức 25,88%/năm Hiện nay, châu Phi chỉ có 4 quốc gia thực hiện bao thanh toán và quốc gia có doanh thu bao thanh toán cao nhất, chiếm tỉ trọng nhiều nhất là Nam Phi, đạt trung bình 9.000 triệu Euro/năm Năm 2007, Ai Cập đã tạo được bước đột phá khi có tỉ lệ tăng năm 2007 so với năm 2006 là 566,67% với doanh thu tăng từ
3 triệu Euro lên 20 triệu Euro
Bảng 2.6: Doanh số bao thanh toán khu vực Châu Phi Đơn vị: Triệu Euro
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Trong các châu lục trên thế giới, Châu Phi có doanh số bao thanh toán nhỏ nhất, chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng doanh số bao thanh toán thế giới Chỉ có doanh số năm 2009 chiếm 1,2% doanh số bao thanh toán thế giới, năm 2008 và năm 2010 chiếm 1%, các năm từ 2004 đến 2007 chỉ chiếm trung bình khoảng 0,8% So với năm 2009, doanh số bao thanh toán năm 2010 tại châu lục này tăng 12,8%, đạt 16.686 triệu Euro, đây cũng là doanh số đạt được cao nhất trong suốt giai đoạn 2004 – 2009, đánh dấu một bước tiến mới trong việc phát triển nghiệp vụ bao thanh toán tại châu lục này
Biểu đồ 2.6: Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán khu vực Châu Phi Đơn vị: Triệu Euro
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Quy định pháp luật về hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam
Hiện nay, hoạt động bao thanh toán trong nước tại Việt Nam được điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý sau:
- Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010
Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, đặt nền tảng cho quản lý và giám sát hoạt động cho vay Quyết định này được bổ sung, sửa đổi bởi Quyết định 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 và Quyết định 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/05/2005, nhằm cập nhật các chuẩn mực cho vay, điều kiện cho vay và các biện pháp kiểm soát tín dụng Các văn bản này cùng nhau hình thành khung pháp lý cho hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, góp phần tăng cường an toàn, minh bạch và hiệu quả quản trị rủi ro ngân hàng Việc điều chỉnh quy chế cho vay cho thấy nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc thích ứng với diễn biến thị trường và yêu cầu quản trị rủi ro ngân hàng.
- Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 của Ngân hàng nhà nước ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng và Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN ngày 16/10/2008 (sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế hoạt động bao thanh toán theo Quyết định số 1096/2004/QĐ- NHNN)
Thông tư 13/2010/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 20/05/2010 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn của tổ chức tín dụng và có hiệu lực từ ngày 01/10/2010.
- Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng; và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Công văn số 676/NHNN-CSTT ngày 28/06/2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chuyển nợ quá hạn đối với hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng Văn bản hướng dẫn cách điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và xử lý nợ quá hạn liên quan đến hoạt động bao thanh toán, nhằm duy trì tính ổn định của hệ thống ngân hàng và bảo vệ quyền lợi của khách hàng và người gửi tiền Đây là cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng triển khai các biện pháp cơ cấu nợ một cách có trật tự và hiệu quả trong hoạt động bao thanh toán.
2.2.2 Đối tƣợng áp dụng và điều kiện đƣợc hoạt động bao thanh toán trong nước
Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng Tại Điều 1 Khoản 2 quy định: Tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán là các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng, bao gồm:
- Ngân hàng thương mại nhà nước;
- Ngân hàng thương mại cổ phần;
- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài;
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
Tại Điều 2 Khoản 2 quy định như sau: Khách hàng được tổ chức tín dụng bao thanh toán là các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài cung ứng hàng hoá và được thụ hưởng các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá theo thoả thuận giữa bên bán hàng và bên mua hàng tại hợp đồng mua, bán hàng
2.2.2.2 Điều kiện để đƣợc hoạt động bao thanh toán
Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện hoạt động bao thanh toán trong nước khi tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện sau:
- Có nhu cầu hoạt động bao thanh toán;
- Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay tại thời điểm cuối tháng của 3 tháng gần nhất dưới 5%; không vi phạm các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng;
Đối tượng không thuộc diện đang bị xem xét xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng hoặc đã bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nhưng đã khắc phục được hành vi vi phạm.
Thực trạng hoạt động bao thanh toán trong nước tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
2.3.1 Số lượng ngân hàng thương mại được cấp phép hoạt động bao thanh toán trong nước
Tuy nghiệp vụ bao thanh toán đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu, nhưng ở Việt Nam chỉ mới xuất hiện vào cuối năm 2004 Ngày 06/09/2004, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký ban hành quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN về Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng Quyết định này chính là cơ sở pháp lý để các tổ chức tín dụng triển khai và phát triển nghiệp vụ mang lại nhiều tiện ích này Hiện nay Việt Nam được đánh giá là thị trường tiềm năng để phát triển bao thanh toán, bởi vì đó là nhu cầu cấp thiết từ phía khách hàng là đại đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoạt động Chính vì thế mà ở thời điểm cuối năm 2004, đầu năm 2005 diễn ra rất nhiều các cuộc hội thảo, báo cáo và quảng bá về nghiệp vụ này, như hội thảo về Bao thanh toán do ngân hàng FENB của Mỹ tổ chức vào tháng 9 năm 2004 nhằm giới thiệu và vận động sự tham gia cung cấp dịch vụ của một số ngân hàng thương mại cổ phần như OCB, ACB, Techcombank … Hội thảo bao thanh toán tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 07/03/2005 với sự tham dự của đại diện các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam và đại diện của Hiệp hội bao thanh toán thế giới Đến cuối năm 2010, sau năm năm tiến hành hoạt động bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại, bao thanh toán đã đóng góp đáng kể vào thu nhập của các ngân hàng cũng như mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng Do đó nghiệp vụ này ngày càng được sử dụng rộng rãi trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam
Đến cuối năm 2010, 19 ngân hàng thương mại Việt Nam được cấp phép hoạt động bao thanh toán, trong đó Vietcombank, Techcombank và ACB từng là thành viên của FCI; đầu năm 2011 chỉ còn Vietcombank duy trì tư cách thành viên FCI, còn Techcombank và ACB không còn là thành viên do chưa đạt được doanh số bao thanh toán quốc tế và một số tiêu chí của FCI đề ra; do còn dè dặt trong bước đầu triển khai, hiện nay các ngân hàng chủ yếu thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán trong nước có truy đòi.
Bảng 2.9: Số lượng Ngân hàng thương mại Việt Nam được cấp phép hoạt động bao thanh toán
STT TÊN NGÂN HÀNG TÊN VIẾT TẮT
1 Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Techcombank
2 Ngân hàng TMCP Á Châu ACB
3 Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Vietcombank
4 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Sacombank
5 Ngân hàng TMCP Phương Đông OCB
6 Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Eximbank
7 Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam VIB
8 Ngân hàng TMCP Đông Nam Á SeaBank
9 Ngân hàng TMCP Việt Á VietABank
10 Ngân hàng TMCP Nam Á Nam A Bank
11 Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam MSB
12 Ngân hàng Phát triển nhà Thành phố Hồ Chí Minh HDBank
13 Ngân hàng Phát triển nhà Hà Nội HBB
14 Ngân hàng TMCP Sài Gòn SCB
15 Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam VietinBank
16 Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
17 Ngân hàng TMCP Quân Đội MB
18 Ngân hàng TMCP Liên Việt LienVietBank
19 Ngân hàng TMCP Đại Á Dai A Bank
(Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam)
2.3.2 Doanh số bao thanh toán trong nước tại Việt Nam
Mặc dù Quy chế về hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam được ban hành vào tháng 09 năm 2004, và trong năm này cũng có một số ngân hàng được cấp phép hoạt động, nhưng năm 2004 vẫn chưa có doanh số Cho đến năm 2005, các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã bắt đầu triển khai hoạt động, và doanh số bao thanh toán tại Việt Nam năm 2005 chỉ có doanh số bao thanh toán trong nước, chưa có doanh số bao thanh toán quốc tế
Bảng 2.10: Doanh số bao thanh toán của Việt Nam Đơn vị: Triệu Euro
Doanh số bao thanh toán trong nước 2 16 41 80 90 40
Doanh số bao thanh toán quốc tế 0 0 2 5 5 25
(Nguồn: www.factors-chain.com)
Theo số liệu thống kê của FCI, doanh số bao thanh toán của Việt Nam năm 2005 chỉ có 2 triệu Euro, và đây chính là năm đầu tiên Việt Nam tiến hành hoạt động bao thanh toán Con số 2 triệu Euro trong một năm hoạt động quả thật là một con số rất nhỏ, chứng tỏ tại Việt Nam số lượng khách hàng biết đến và sử dụng bao thanh toán là rất ít Tuy nhiên, năm 2006 doanh số này là 16 triệu Euro, doanh số năm 2005 và 2006 đều là doanh số của bao thanh toán trong nước vì thời gian này các Ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn chưa thực hiện bao thanh toán xuất nhập khẩu Đến năm 2007 thì đã có một bước tiến vượt trội với doanh số đạt 43 triệu Euro và năm 2008 tăng gấp đôi năm
2007 với doanh số 85 triệu Euro Trong đó, doanh số bao thanh toán trong nước năm 2007 là 41 triệu Euro và của năm 2008 là 80 triệu Euro So sánh doanh số bao thanh toán trong nước năm 2008 với năm 2007, thì doanh số này đã tăng đến 95%, và so với năm 2006 thì doanh số năm 2008 tăng đến 400%, một mức tăng rất ấn tượng Đến năm 2009 thì chỉ tăng hơn năm 2008 một chút và đạt 95 triệu Euro, trong đó doanh số bao thanh toán trong nước là 90 triệu Euro và bao thanh toán quốc tế là 5 triệu Euro Năm 2010, doanh số bao thanh toán trong nước sụt giảm mạnh, chỉ đạt được 40 triệu Euro
Biểu đồ 2.8: Tốc độ tăng trưởng doanh số bao thanh toán của Việt Nam Đơn vị: Triệu Euro
(Nguồn: www.factors-chain.com)
2.3.3 Thực trạng hoạt động bao thanh toán trong nước tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
2.3.3.1 Tổng quan về hoạt động bao thanh toán trong nước tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Dù có đến 19 ngân hàng thương mại Việt Nam được cấp phép hoạt động bao thanh toán, thực tế khảo sát cho thấy chỉ có hai ngân hàng nắm giữ phần lớn doanh số là ACB và Vietcombank; một nhóm ngân hàng có doanh số tương đối khá gồm Techcombank, Sacombank, Eximbank và VIB, trong khi các ngân hàng còn lại có hiệu quả rất thấp hoặc không đáng kể Trong số các ngân hàng Techcombank, Sacombank, Eximbank và VIB, dù doanh số của VIB còn ở mức thấp nhưng VIB đang đẩy mạnh công tác quảng bá sản phẩm bao thanh toán và có kế hoạch triển khai tại tất cả các chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn hệ thống, đồng thời tỷ lệ ứng trước tại VIB lên tới 85% giá trị khoản phải thu Vì vậy, tôi quyết định chọn ba ngân hàng ACB, Vietcombank và VIB làm nghiên cứu điển hình về thực trạng bao thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
ACB được Ngân hàng nhà nước Việt Nam cấp phép hoạt động bao thanh toán ngày 18/11/2004 Ðến ngày 10/05/2005, ACB đã chính thức cung cấp sản phẩm này cho khách hàng, đồng thời trong năm 2005, ACB gia nhập vào FCI Hiện nay, đối với bao thanh toán trong nước, ACB chỉ cung cấp sản phẩm “bao thanh toán trong nước có truy đòi” Theo Quy chế bao thanh toán tại ACB, bao thanh toán trong nước có truy đòi được định nghĩa như sau: “Bao thanh toán trong nước có truy đòi là hình thức cấp tín dụng của ACB cho bên bán hàng thông qua việc mua lại khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đã được thỏa thuận giữa bên bán hàng và bên mua hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và ACB có quyền đòi lại số tiền ứng trước cho bên bán hàng trong trường hợp bên mua hàng không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán”
ACB chấp nhận bao thanh toán cho các mặt hàng tiêu dùng, các mặt hàng có chất lượng ổn định và ít xảy ra hư hỏng, thiếu hụt về chất lượng và số lượng trong quá trình vận chuyển Bên cạnh đó, các mặt hàng cung cấp cho công trình có thể được thanh toán theo tiến độ và kèm theo ràng buộc trách nhiệm bảo hành của bên bán hàng; hàng hóa yêu cầu biên bản nghiệm thu theo các thông số kỹ thuật phức tạp cũng có thể được chấp nhận bao thanh toán, nhưng rất hạn chế.
Tại Vietcombank, từ giữa năm 2001, Vietcombank đã cử cán bộ sang học tập, nghiên cứu sản phẩm bao thanh toán tại trụ sở của FCI Năm 2004, khi Ngân hàng nhà nước ban hành quy chế 1096/2004/QÐ-NHNN ngày 06/09/2004 về hoạt động bao thanh toán thì Vietcombank tiến hành xây dựng quy trình nghiệp vụ bao thanh toán Tháng 10 năm 2005, Vietcombank gia nhập FCI và đã tham gia ba kỳ hội nghị thường niên cũng như tham gia nhiều chương trình đào tạo của FCI
Vietcombank đã ký thoả thuận đại lý với 20 thành viên của FCI và có thể cung cấp dịch vụ bao thanh toán với khách hàng tại 63 quốc gia, vùng lãnh thổ và có thể lựa chọn các đại lý tốt nhất trong số 254 thành viên của FCI vào thời gian này
Trong năm 2005, Ban triển khai bao thanh toán của Vietcombank đã soạn thảo xong quy trình nghiệp vụ bao thanh toán, tổ chức các buổi tập huấn bao thanh toán tại những chi nhánh thí điểm đồng thời tổ chức các cuộc hội thảo bao thanh toán nhằm giới thiệu sản phẩm với khách hàng
Vietcombank chính thức triển khai sản phẩm bao thanh toán vào năm 2006, một sản phẩm còn rất mới trên thị trường tài chính Việt Nam nói chung và tại Vietcombank nói riêng, nên ngân hàng thận trọng trong khâu lựa chọn khách hàng thí điểm; các khách hàng được cung ứng dịch vụ bao thanh toán trong giai đoạn này là những khách hàng đang có quan hệ tín dụng với Vietcombank, có tình hình tài chính, kinh doanh tốt và uy tín trong quan hệ với ngân hàng Khác với ACB, bao thanh toán nội địa của ACB được thực hiện tại Hội sở và hầu hết các Chi nhánh, Phòng giao dịch trong hệ thống; tại Vietcombank, bao thanh toán nội địa chỉ được thực hiện tại Hội sở và một vài Chi nhánh quy mô lớn Tuy nhiên, năm 2006 Vietcombank vẫn chưa có doanh số bao thanh toán nội địa mà chỉ có doanh số bao thanh toán quốc tế là 0,3 tỷ euro Đến năm 2007, Vietcombank chỉ thực hiện bao thanh toán nội địa cho duy nhất một khách hàng và đạt doanh số 11.550 tỷ đồng.
Hiện tại, Vietcombank triển khai một hệ sản phẩm bao thanh toán trong nước gồm 2 sản phẩm:
- Sản phẩm Standard domestic: cung cấp dịch vụ Theo dõi khoản phải thu + Thu nợ + Cho vay ứng trước + Ðảm bảo rủi ro tín dụng
- Sản phẩm Premium domestic: cung cấp dịch vụ Theo dõi khoản phải thu + Thu nợ + Cho vay ứng trước
Ngoài các sản phẩm chính kể trên, Vietcombank còn cung cấp các gói sản phẩm đặc thù phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng doanh nghiệp
Vietcombank triển khai hệ thống cơ sở dữ liệu khách hàng bao thanh toán do phòng nghiệp vụ bao thanh toán phối hợp với hội sở và các chi nhánh thiết lập, nhằm tạo nền tảng để nhanh chóng xác định khách hàng đủ điều kiện sử dụng dịch vụ bao thanh toán Các chi nhánh được cấp quyền truy cập hệ thống để tra cứu và cập nhật thông tin, hỗ trợ quyết định sử dụng dịch vụ một cách nhanh chóng và chính xác Hệ thống này đặc biệt hữu ích cho hoạt động bao thanh toán nội địa, khi người bán có thể là khách hàng của chi nhánh A, người mua đầu tiên là khách hàng của chi nhánh B, người mua thứ hai là khách hàng của chi nhánh C, và khách hàng của chi nhánh A cũng có thể là người mua trong giao dịch bao thanh toán với chi nhánh D Trong quá trình triển khai, các khách hàng tiềm năng mới sẽ được bổ sung dần vào danh sách khách hàng kể trên để mở rộng phạm vi kết nối thanh toán.
Nghiệp vụ bao thanh toán trong nước tại VIB được chính thức thực hiện vào tháng 04/2006 VIB được Ngân hàng nhà nước cấp phép hoạt động bao thanh toán vào ngày 06/12/2005 Hiện tại, VIB cung cấp hai hình thức bao thanh toán sau:
- Bao thanh toán có quyền truy đòi: đơn vị bao thanh toán có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho Bên bán hàng khi Bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản phải thu
Đánh giá tình hình hoạt động bao thanh toán trong nước tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
2.4.1 Những thành tựu đạt đƣợc
Kể từ khi quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 có hiệu lực từ ngày 01/10/2004 Và đến năm 2005 đã có 6 ngân hàng được cấp phép hoạt động bao thanh toán là ACB, Vietcombank, Techcombank, Sacombank, Agribank và OCB Tuy nhiên, trong năm 2005 chỉ có 3 ngân hàng triển khai hoạt động bao thanh toán trong nước là ACB, Techcombank, Sacombank, và từ năm 2006 trở đi, là các ngân hàng như Vietcombank, VIB, Eximbank, Agribank Tính đến cuối năm 2010, hoạt động bao thanh toán tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã thu được một số thành quả, đối với ba ngân hàng ACB, Vietcombank và VIB dù chưa thật sự đem lại một kết quả lớn nhưng cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng, đa dạng hóa sản phẩm, mang lại thu nhập từ lãi và phí bao thanh toán trong nước
Dựa trên thống kê số liệu doanh số của ngành bao thanh toán ở các nước trên thế giới, Việt Nam vẫn có doanh số rất nhỏ so với nhiều nước trong khu vực và trên toàn cầu, nhưng điều này cho thấy thị trường bao thanh toán tại Việt Nam đã có bước chuyển biến tích cực trong giai đoạn 2005–2009.
Sự hưởng ứng tích cực của các ngân hàng và sự ra đời sản phẩm bao thanh toán trong nước trên thực tế đã khẳng định xu thế đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ nhằm phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn là nhiệm vụ hàng đầu của các ngân hàng Ngân hàng sẽ luôn theo sát sự biến động, phát triển kinh tế xã hội nhằm xây dựng, phát triển sản phẩm dịch vụ phù hợp với thực tế, có tính cạnh tranh cao, đảm bảo nguồn tài trợ vốn kịp thời cho hoạt động của doanh nghiệp
Bao thanh toán nội địa bước đầu đã thu hút sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp và đơn vị kinh tế tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu vốn nhưng hạn chế về tài sản đảm bảo và thúc đẩy cơ hội kinh doanh mua bán Trong nghiên cứu, ACB, Vietcombank và VIB là ba ngân hàng điển hình có bước tiến đáng kể từ khi bắt đầu hoạt động đến cuối năm 2009 ACB với vai trò tiên phong, nhờ sự chuẩn bị kỹ lưỡng và chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp, đã giới thiệu hiệu quả bao thanh toán và đồng thời nâng cao vị thế cạnh tranh cũng như đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ phục vụ khách hàng Vietcombank dù triển khai sau ACB một năm nhưng kết quả từ năm 2008 trở đi không thua kém, phần lớn nhờ lượng doanh nghiệp lớn và quy mô ứng trước lớn đã sử dụng dịch vụ VIB với cơ cấu phê duyệt tập trung tại hội sở chính và tổ chức cho vay bài bản ngay từ năm đầu đã đạt được những kết quả khả quan.
Tuy bước đầu ghi nhận một số thành quả nhất định về hoạt động bao thanh toán trong nước tại ACB, Vietcombank và VIB nhưng cũng nhận ra một số hạn chế của mô hình hoạt động tại 3 ngân hàng này là mức độ phổ biến ra các chi nhánh toàn hệ thống chưa cao, các hoạt động bao thanh toán đều tập trung về hội sở chính và một vài chi nhánh lớn, quy mô bao thanh toán còn rất nhỏ so với tổng tín dụng cho vay Tại ACB mặc dù đã triển khai bao thanh toán trong nước trong toàn hệ thống, nhưng các Chi nhánh nhỏ và Phòng giao dịch thì không tích cực trong việc phát triển nghiệp vụ này
Các khách hàng là bên mua được chấp nhận bao thanh toán tại ACB, Vietcombank và VIB hiện đều tập trung vào các doanh nghiệp lớn như các tổng công ty 90, 91, các tập đoàn siêu thị như Big C, Coop Mart, Công ty TNHH Metro Cash & Carry Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam,… là những khách hàng có năng lực tài chính tốt, từng được các ngân hàng cho vay tín chấp nên trên thực tế mức độ thiết thực của bao thanh toán đối với doanh nghiệp không lớn vì các doanh nghiệp này không nhất thiết sử dụng bao thanh toán vẫn có thể mua hàng trả chậm của nhiều nhà cung cấp, vì vậy có hiện tượng các doanh nghiệp thuộc đối tượng này được cấp hạn mức bao thanh toán bên mua nhưng doanh nghiệp không muốn sử dụng Thời gian tới, cần khai thác đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, là đối tượng chiếm 98% số lượng doanh nghiệp tại Việt Nam thì mới có khả năng phát triển mạnh sản phẩm bao thanh toán, chính những đối tượng này mới là những doanh nghiệp rất cần dịch vụ bao thanh toán, mang lại thu nhập cho ngân hàng Đang trên đà phát triển rực rỡ về doanh số bao thanh toán trong nước vào năm 2008, các Ngân hàng thương mại Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, vì vậy doanh số năm 2009 chỉ tăng 12,5% so với năm 2008 Đến năm 2010, doanh số bao thanh toán trong nước tại Việt Nam chỉ đạt
40 triệu Euro, giảm 55,5% so với doanh số đạt được năm 2009 Nguyên nhân sụt giảm doanh số bao thanh toán trong nước tại Việt Nam năm 2010 một phần do tình hình kinh tế trong nước phục hồi chậm, lãi suất cho vay duy trì ở mức cao gây trở ngại cho hoạt động của doanh nghiệp, lạm phát cao vượt dự kiến, chính sách tiền tệ thắt chặt, đầu tư khu vực nhà nước tăng mạnh và sức ép từ các quy định, đặc biệt là Thông tư 13/2010/TT/NHNN ngày 20/05/2010 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2010 Đồng thời, sự ra đời của Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/04/2010 về việc Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đã đưa lãi suất cho vay trong nền kinh tế tăng cao Từ 15/04/2010, lãi suất cho vay khoảng 14
- 17%/năm, lãi suất huy động khoảng 12%/năm Cuối năm 2010, cuộc đua lãi suất lại bùng phát trở lại trước áp lực lạm phát và các quy định của Thông tư 13/2010/TT/NHNN Lãi suất huy động đã lên tới 14 - 16%/năm, thậm chí có ngân hàng đã huy động với lãi suất lên đến 17 - 18%/năm Lãi suất cho vay khoảng 19 – 20%/năm Ngoài ra, quy định tại Thông tư 13/2010/TT/NHNN còn nâng hệ số rủi ro đối với các khoản cho vay đầu tư bất động sản và chứng khoán từ 100% lên 250% Do vậy, các ngân hàng đã phải hạn chế cho vay và tăng cường huy động vốn để đáp ứng được quy định trên Đây là một nguyên nhân khá quan trọng đẩy nhu cầu huy động vốn lên cao và buộc các ngân hàng phải hạn chế cho vay Và doanh số bao thanh toán trong nước đã sụt giảm mạnh trong năm 2010 do tình hình chung này
Doanh số bao thanh toán tại Việt Nam sụt giảm mạnh vào năm 2010 đã gợi lên lo ngại về sự bỏ quên sản phẩm này của cả ngân hàng và doanh nghiệp; đồng thời Ngân hàng Nhà nước dường như không còn quan tâm đến quy chế bao thanh toán đã ban hành, cho thấy còn nhiều bất cập cần được sửa đổi nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng để hoạt động bao thanh toán phát triển.
Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, nhiều ngân hàng thận trọng khi cấp bao thanh toán vì lo ngại khách hàng không có khả năng thanh toán và rủi ro mất vốn Khi tình hình kinh tế xấu đi, nguy cơ gian lận thương mại cũng tăng lên, đặc biệt là các trường hợp khách mua và bên bán thông đồng để chiếm đoạt khoản tiền ngân hàng ứng trước Vì vậy, ngân hàng cần thẩm định kỹ lưỡng khả năng trả nợ, yêu cầu điều kiện bảo đảm và thiết lập cơ chế kiểm soát rủi ro nhằm ngăn ngừa gian lận và tổn thất tài chính.
2.5 Những thuận lợi và khó khăn khi triển khai bao thanh toán trong nước tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Hiện nay kinh tế Việt Nam đang phát triển và hội nhập quốc tế, do đó các công ty muốn mở rộng sản xuất kinh doanh đều phải có được nguồn vốn dồi dào và ngân hàng chính là nơi cung cấp nguồn vốn này Ngoài các sản phẩm vay truyền thống, bao thanh toán trong nước là một nghiệp vụ mang đến nhiều tiện ích cho cả bên mua và bên bán hàng Do đó triển khai sản phẩm bao thanh toán trong nước tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam có những thuận lợi sau:
- Các doanh nghiệp Việt Nam đa phần là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn dùng để sản xuất kinh doanh còn hạn chế, nếu vay thông thường thì không có tài sản đảm bảo hoặc không đủ tài sản để đảm bảo cho khoản vay đáp ứng nhu cầu Trong khi đó với sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường, bán hàng trả chậm là một phương thức mà bên mua hàng ưa chuộng vì đó là một khoản tín dụng thương mại Để có thể bán hàng trả chậm thì bên bán phải có vốn đủ lớn để việc sản xuất được liên tục, và bao thanh toán trong nước đáp ứng được nhu cầu này
- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngày càng có nhiều doanh nghiệp ra đời, đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đó là một thị trường rất rộng để các ngân hàng triển khai sản phẩm này
Việt Nam hiện có trên 500.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp và có vốn đăng ký gần 2.313.857 tỉ đồng Sự phát triển nhanh của nhóm doanh nghiệp này trong thời gian qua đóng vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và đóng góp cho ngân sách nhà nước.
Theo báo cáo thống kê về hoạt động tín dụng của các Tổ chức tín dụng, tỷ trọng cho vay đối với loại hình doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm dần và khu vực dân doanh có chiều hướng tăng lên Nếu dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước tại thời điểm 31/12/2009 là 372.711 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 21,25% thì đến ngày 30/6/2010, dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước đạt 390.719 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 19,98% Trong tổng dư nợ cho vay đối với khu vực dân doanh thì dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ đến 30/6/2010 ước đạt khoảng 527.844 tỷ đồng, chiếm 33,4% và chiếm 27% tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế Tăng trưởng tín dụng bình quân trong 3 năm liên tiếp, 2008-2010 đạt khoảng 28%