1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hành vi và đề xuất sử dụng phương tiện cá nhân chạy bằng năng lượng sạch của người dân hà nội

95 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 704,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CẢM ƠN

  • DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC HÌNH

  • DANH MỤC BẢNG

  • PHẦN MỞ ĐẦU

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài

  • 2. Câu hỏi nghiên cứu

  • 3. Mục tiêu nghiên cứu

  • 3.1. Mục tiêu chung:

  • 3.2. Mục tiêu cụ thể:

  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • 5. Phương pháp nghiên cứu

  • 6.1. Đóng góp của đề tài về khoa học

  • 6.2. Đóng góp của đề tài về thực tiễn

  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

  • 1. Tổng quan các tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu

  • 2. Khoảng trống nghiên cứu

  • CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG TIỆN CHẠY BẰNG NĂNG LƯỢNG SẠCH

  • 2.1. Khái niệm năng lượng sạch:

  • 2.2. Phân loại các lọai năng lượng sạch

  • 2.2.1. Năng lượng mặt trời

  • 2.2.2. Năng lượng nước

  • 2.2.3. Năng lượng gió

  • 2.2.4. Năng lượng từ tuyết

  • 2.2.5. Năng lượng địa nhiệt

  • 2.2.6. Pin nhiên liệu

  • 2.2.7. Năng lượng sạch từ sự lên men sinh học

  • 2.2.8. Khí Metal hydrate

  • 2.3. Đặc điểm của năng lượng sạch

  • 2.4. Phương tiện chạy bằng năng lượng sạch gắn liền với phát triển bền vững

  • 2.4.1. Tác động đến môi trường

  • 2.4.2. Tác động đến kinh tế và xã hội

  • Hình 2.1. Xe buýt điện Vinfast

  • CHƯƠNG III: KHUNG PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

  • 3.1. Thực trạng thị trường phương tiện chạy bằng năng lượng sạch tại Việt Nam

  • Hình 3.1. Xe buýt sử dụng nguyên liệu khí nén thiên nhiên

  • 3.1.1.2 Phương tiện cá nhân

  • 3.1.2 Thực trạng thị trường

  • Hình 3.2. Xe đạp điện

  • Hình 3.3. Xe máy điện

  • Bảng 3.1. Thông số kỹ thuật cơ bản của xe điện

  • 3.1.2.3 Số lượng xe điện tiêu thụ

  • 3.1.3. Chính sách quản lý và kiểm soát phương tiện chạy bằng năng lượng sạch:

  • 3.1.4. Nhu cầu di chuyển và phương tiện đi lại của người dân thành phố Hà Nội

  • Bảng 3.2. Tỉ lệ phân chia phương thức vận tải trên địa bàn Hà Nội

  • Bảng 3.3. Dân số và phương tiện xe mô tô, xe gắn máy và ô tô tại Hà Nội giai đoạn 2010 - 2016

  • Bảng 3.4. Dự kiến số lượng phương tiện địa bàn Hà Nội từ 2020 - 2030

  • 3.2 Địa bàn nghiên cứu

  • CHƯƠNG IV: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

  • 4.1. Khung cơ sở lý thuyết:

  • Hình 4.1. Khung cơ sở lý thuyết nghiên cứu các yếu tố tác động tới hành vi người dân đối với việc sử dụng phương tiện chạy bằng năng lượng sạch (Mô hình S-I-R, 2017)

  • Hình 4.2. Mô hình hành vi dự định TPB

  • 4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất:

  • Hình 4.3. Mô hình nghiên cứu hành vi người dân đối với phương tiện chạy bằng năng lượng sạch (Phát tiển dựa trên mô hình TPB, 2017)

  • Bảng 4.1. Khái niệm vận dụng trong mô hình nghiên cứu

  • 4.3 Yếu tố tác động tới mô hình:

  • 4.3.1 Thái độ:

  • 4.3.1.2 Nhận thức về sự thuận tiện

  • 4.3.1.3 Nhận thức về thiết kế kiểu dáng

  • 4.3.1.4 Nhận thức an toàn sử dụng

  • 4.3.1.5 Nhận thức về thân thiện môi trường

  • 4.3.2 Chuẩn chủ quan

  • 4.3.3 Nhận thức kiểm soát hành vi

  • 4.3.4 Các yếu tố về nhân khẩu và xã hội học

  • 4.3.5 Sự thu hút của xe chạy bằng động cơ xăng

  • CHƯƠNG V: PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ KHẢO SÁT

  • 5.1 Đặc điểm về đối tượng khảo sát điều tra

  • Bảng 5.1. Giới tính của đối tượng khảo sát

  • Biểu đồ 5.1. Tỷ lệ giới tính của đối tượng được khảo sát

  • Bảng 5.2. Độ tuổi của đối tượng khảo sát

  • Biểu đồ 5.2. Tỷ lệ độ tuổi khảo sát tham gia sử dụng phương tiện chạy bằng năng lượng sạch

  • Bảng 5.3. Thu nhập của đối tượng khảo sát

  • 5.2 Thái độ của người tiêu dùng đối với việc sử dụng phương tiện dùng năng lượng sạch

  • Bảng 5.4. Đặc điểm về lợi ích kinh tế của phương tiện chạy bằng năng lượng sạch

  • Bảng 5.5. Đặc điểm sự thuận tiện của phương tiện sử dụng năng lượng

  • Bảng 5.6. Đặc điểm thiết kế của phương tiện sử dụng năng lượng sạch

  • Bảng 5.7. Đặc điểm sự an toàn của phương tiện sử dụng năng lượng sạch

  • Bảng 5.8. Đặc điểm môi trường của phương tiện sử dụng năng lượng sạch

  • Bảng 5.9. Đặc điểm sự thu hút của xe chạy xăng dầu

  • Biểu đồ 5.3. Chuẩn chủ quan của đối tượng khảo sát

  • CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP

  • 6.1 Khuyến nghị cho doanh nghiệp và nhà phân phối

  • 6.2. Khuyến nghị cho cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan quản lý

  • Bảng 6.1. Thống kê dân số và số lượng phương tiện trên địa bàn Hà Nội 2010 - 2016

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • A. Tài liệu tham khảo trong nước

  • B. Tài liệu tham khảo nước ngoài

Nội dung

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN Đề tài: PHÂN TÍCH HÀNH VI VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN CHẠY BẰNG NĂNG LƯỢNG SẠCH CỦA NGƯỜI DÂN HÀ NỘI Giảng viên hướng dẫn: Ts. Lê Duy Anh Sinh viên thực hiện nghiên cứu: Khóa: QH2018E 2020 – 2021 LỜI CẢM ƠN Nhóm xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Lê Duy Anh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu. Những gợi mở, định hướng và góp ý của thầy Lê Duy Anh đã nhóm đạt được kết quả nghiên cứu hôm nay. Nhóm nghiên cứu xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến toàn thể các ThầyCô trong hội đồng chuyên môn đã đóng góp nhiều ý kiến thiết thực, hữu ích giúp tôi hoàn thành bài nghiên cứu. Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho nhóm thực hiện công việc nghiên cứu. Nhóm cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các ThầyCô khoa Kinh tế Phát triển đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và hỗ trợ nhóm trong suốt thời gian qua, giúp nhóm có thể tập trung hoàn thành nghiên cứu của mình. Nhóm chúng em xin trân trọng cảm ơn MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5 DANH MỤC HÌNH 6 DANH MỤC BẢNG 7 PHẦN MỞ ĐẦU 8 1. Tính cấp thiết của đề tài 8 2. Câu hỏi nghiên cứu 10 3. Mục tiêu nghiên cứu 10 3.1. Mục tiêu chung 10 3.2. Mục tiêu cụ thể 10 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10 5. Phương pháp nghiên cứu 11 6.1. Đóng góp của đề tài về khoa học 11 6.2. Đóng góp của đề tài về thực tiễn 11 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 12 1. Tổng quan các tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu 12 2. Khoảng trống nghiên cứu 15 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG TIỆN CHẠY BẰNG NĂNG LƯỢNG SẠCH 17 2.1. Khái niệm năng lượng sạch 17 2.2. Phân loại các lọai năng lượng sạch 17 2.2.1. Năng lượng mặt trời 17 2.2.2. Năng lượng nước 19 2.2.3. Năng lượng gió 19 2.2.4. Năng lượng từ tuyết 20 2.2.5. Năng lượng địa nhiệt 20 2.2.6. Pin nhiên liệu 20 2.2.7. Năng lượng sạch từ sự lên men sinh học 21 2.2.8. Khí Metal hydrate 21 2.3. Đặc điểm của năng lượng sạch 21 2.4. Phương tiện chạy bằng năng lượng sạch gắn liền với phát triển bền vững 23 2.4.1. Tác động đến môi trường 23 2.4.2. Tác động đến kinh tế và xã hội 25 CHƯƠNG III: KHUNG PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 29 3.1. Thực trạng thị trường phương tiện chạy bằng năng lượng sạch tại Việt Nam 29 3.1.1. Quá trình phát triển thị trường phương tiện năng lượng sạch tại Việt Nam . 29 3.1.2 Thực trạng thị trường 33 3.1.3. Chính sách quản lý và kiểm soát phương tiện chạy bằng năng lượng sạch 39 3.1.4. Nhu cầu di chuyển và phương tiện đi lại của người dân thành phố Hà Nội 42 3.2 Địa bàn nghiên cứu 46 CHƯƠNG IV: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48 4.1. Khung cơ sở lý thuyết: 48 4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất: 51 4.3 Yếu tố tác động tới mô hình 54 4.3.1 Thái độ 54 4.3.2 Chuẩn chủ quan 59 4.3.4 Các yếu tố về nhân khẩu và xã hội học 60 4.3.5 Sự thu hút của xe chạy bằng động cơ xăng 61 CHƯƠNG V: PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ KHẢO SÁT 63 5.1 Đặc điểm về đối tượng khảo sát điều tra 63 5.2 Thái độ của người tiêu dùng đối với việc sử dụng phương tiện dùng năng lượng sạch 65 CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP 79 6.1 Khuyến nghị cho doanh nghiệp và nhà phân phối 79 6.2. Khuyến nghị cho cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan quản lý 80 KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 A. Tài liệu tham khảo trong nước 87 B. Tài liệu tham khảo nước ngoài 89

Tính cấp thiết của đề tài

Tại Việt Nam, các đô thị lớn đang đối mặt với ô nhiễm nghiêm trọng và quá tải hạ tầng giao thông, ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, xã hội và chất lượng môi trường sống, đặc biệt là sức khỏe con người Do đó, phát triển giao thông xanh ngày càng được chú trọng, trở thành xu hướng tất yếu toàn cầu Theo bảng xếp hạng chất lượng cuộc sống của Mercer, Hà Nội đứng thứ 152 trong 230 thành phố được khảo sát, một kết quả phản ánh rõ ràng các vấn đề tồn đọng như quá tải hạ tầng, ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường.

Trong những năm qua, mặc dù hạ tầng giao thông đô thị đã được đầu tư, nhưng quy hoạch phát triển giao thông vẫn thiếu đồng bộ, không đáp ứng đủ nhu cầu di chuyển của người dân Tại Việt Nam, mật độ dân số tăng cao kéo theo sự gia tăng đáng kể số lượng phương tiện, đặc biệt là xe cá nhân Từ 2017 đến 2019, Hà Nội ghi nhận sự tăng trưởng liên tục về phương tiện giao thông, với xe máy chiếm 86% tổng số phương tiện Trong khi đó, phương tiện giao thông công cộng như xe buýt chỉ đạt tiêu chuẩn khí thải euro 2 và euro 3, thấp hơn so với tiêu chuẩn euro 4, 6, 7 tại châu Âu Các phương tiện này là nguồn phát thải lớn CO2 và khói bụi, góp phần vào ô nhiễm không khí đô thị, chiếm 70% nguyên nhân ô nhiễm Do đó, cần nâng cao nhận thức về tác động của giao thông cơ giới đến môi trường và sức khỏe Để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí và biến đổi khí hậu, xe điện và xe hybrid trở thành giải pháp tiềm năng, với dự báo số lượng xe điện toàn cầu sẽ tăng mạnh trước năm 2030.

Châu Âu đang tích cực thay thế 140 triệu xe ô tô chạy xăng và dầu diesel bằng các phương tiện thân thiện với môi trường nhằm giảm ô nhiễm không khí Nhận thức rõ về nguy cơ biến đổi khí hậu, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình hành động và ban hành các luật liên quan đến bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính Từ đầu thế kỷ 21, Việt Nam đã thông qua nhiều chính sách bảo vệ môi trường, trong đó cam kết giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030, và có thể lên tới 25% nếu nhận được hỗ trợ tài chính quốc tế, như đã được nêu tại Hội nghị thượng đỉnh khí hậu COP21.

Tại Việt Nam, phương tiện chạy bằng năng lượng sạch như xe ô tô điện vẫn chưa phổ biến, chủ yếu chỉ được sử dụng thử nghiệm tại các địa điểm du lịch, trong khi xe điện hai bánh (xe máy điện và xe đạp điện) đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây, đặc biệt trong giới trẻ Sự gia tăng sử dụng phương tiện cá nhân chạy bằng năng lượng sạch đã thu hút sự chú ý của người tiêu dùng, nhà sản xuất và các nhà quản lý Xe điện hai bánh E2W không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, giúp tiết kiệm nhiên liệu, giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn, mang lại lợi ích môi trường đáng kể cho các thành phố châu Á Nếu được quản lý hiệu quả, E2W có thể trở thành phương tiện thay thế hữu ích cho xe máy động cơ xăng tại Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu về hành vi và đề xuất sử dụng phương tiện cá nhân chạy bằng năng lượng sạch của người dân Hà Nội là rất cần thiết để phân tích thực trạng và khuyến khích tiêu dùng bền vững.

Câu hỏi nghiên cứu

 Lợi ích của việc sử dụng phương tiện dùng năng lượng sạch?

 Rào cản khiến cho việc sử dụng phương tiện chạy bằng năng lượng sạch chưa được phổ biến?

 Giải pháp phát triển phương tiện chạy bằng năng lượng sạch ở Hà Nội?

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Nghiên cứu nhằm thiết lập cơ sở khoa học và thực tiễn để phân tích hành vi sử dụng phương tiện cá nhân chạy bằng năng lượng sạch của người dân Hà Nội, tập trung vào các khu vực như Quận Cầu Giấy, Quận Đống Đa và Quận Hai Bà Trưng.

Mục tiêu cụ thể

Tổng quan lý luận về phương tiện chạy bằng năng lượng sạch là cần thiết để khuyến khích người dân thành phố Hà Nội sử dụng, nhằm giảm ô nhiễm môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống Việc áp dụng các loại phương tiện này không chỉ góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn thúc đẩy phát triển bền vững cho đô thị.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đánh giá và phân tích thực trạng thị trường tại các khu vực nghiên cứu, sử dụng các chỉ số để thể hiện mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến nhu cầu của người dân.

- Ba là, đánh giá hành vi, nhu cầu của người dân sử dụng phương tiện chạy bằng năng lượng sạch.

Để phát triển môi trường bền vững, cần đưa ra kết luận và khuyến nghị về việc sử dụng các phương tiện chạy bằng năng lượng sạch Việc này không chỉ phù hợp với các nghiên cứu hiện tại mà còn góp phần giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của đề tài về khoa học

Nghiên cứu này tổng hợp các khía cạnh về phương tiện sử dụng năng lượng sạch và hành vi của người tiêu dùng đối với loại phương tiện này Bằng cách trình bày các ví dụ thực tiễn và cách mà thế giới sản xuất, triển khai xe chạy bằng năng lượng sạch, bài viết cung cấp định hướng sáng tạo cho các nhà phát triển trong việc cải tiến dòng xe này, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường.

Đóng góp của đề tài về thực tiễn

Nghiên cứu này cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp, giúp họ nắm bắt tình hình hiện tại về phương tiện chạy bằng năng lượng sạch tại Hà Nội và Việt Nam Từ đó, họ có thể đưa ra các quyết định và chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của loại phương tiện này.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tổng quan các tài liệu liên quan tới vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về năng lượng sạch đã được tiến hành rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như nhà máy điện và ngành công nghiệp thực phẩm Tuy nhiên, nghiên cứu về phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch vẫn còn hạn chế, mặc dù đây là một vấn đề cấp bách cần được chú trọng.

Sử dụng năng lượng sạch là mục tiêu toàn cầu nhằm giảm thiểu tác hại từ năng lượng hóa thạch Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về vấn đề này, trong đó có cuốn sách "Clean Energy for Better Environment" của Cumhur Aydinalp, cung cấp cái nhìn tổng quan về các nguồn năng lượng tái tạo chính Tác phẩm này giải thích các nguyên tắc vật lý và công nghệ cơ bản, đồng thời phân tích tác động môi trường và triển vọng tương lai của các nguồn năng lượng tái tạo.

Bài viết của Kaushika, N.D., Reddy, K.S., Kaushik và Kshitij giới thiệu một cách tiếp cận độc đáo về tính bền vững và tiết kiệm năng lượng, nhấn mạnh mối liên hệ giữa các nguyên tắc khoa học cơ bản và ứng dụng thực tiễn trong giải pháp kỹ thuật Tác giả bắt đầu bằng một chương giới thiệu về năng lượng bền vững, phân loại tài nguyên năng lượng và phác thảo các khái niệm về tính bền vững Các chương tiếp theo tóm tắt các thành phần của môi trường và sinh quyển, mô hình hóa nhiệt độ hành tinh và hiệu ứng nhà kính Họ cũng trình bày các hệ thống năng lượng thông thường và các suy thoái môi trường liên quan, cùng với các công nghệ sạch như năng lượng mặt trời, sinh khối và gió Cuối cùng, bài viết nghiên cứu sâu hơn về quản lý chất thải và nước.

Trong bài viết "Xây dựng pháp luật về phát triển năng lượng sạch và năng lượng tái tạo ở Việt Nam" của tác giả Đỗ Việt Hải, tác giả phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến việc xây dựng pháp luật cho năng lượng sạch và tái tạo, bao gồm khái niệm, sự cần thiết, và cơ sở lý luận cho các quy định pháp luật Ông cũng đề cập đến nội dung cụ thể của pháp luật hiện hành tại Việt Nam và so sánh với kinh nghiệm của một số quốc gia khác trong lĩnh vực này Từ những phân tích đó, tác giả đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về phát triển năng lượng sạch và tái tạo tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Sự gia tăng sử dụng xe điện tại châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, được giải thích bởi nhiều yếu tố kỹ thuật, kinh tế và chính trị Nghiên cứu "The transition to electric bikes in China" của Jonathan Weinert và cộng sự cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách điều chỉnh chính sách có thể thay đổi lựa chọn mua sắm của hàng triệu người, từ đó tạo ra phương thức vận tải mới Những bài học từ Trung Quốc có giá trị cho các quốc gia khác trong việc tìm kiếm giải pháp giao thông bền vững hơn Nghiên cứu "Usage pattern analysis of Beijing private electric vehicles" của Xudong Zhang và các đồng nghiệp cũng góp phần làm rõ xu hướng sử dụng xe điện tại Bắc Kinh dựa trên dữ liệu thực tế.

Hongwei Guo chỉ ra rằng Trung Quốc đang đẩy mạnh phát triển xe điện thông qua nhiều chính sách hỗ trợ, dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ về doanh số và sản xuất xe điện trong thập kỷ qua Đặc biệt, tại Bắc Kinh, số lượng xe điện thuần túy đã vượt quá 170.000 vào cuối năm 2017, giữ vị trí hàng đầu tại Trung Quốc Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ 41 xe điện tư nhân với 33.041 chuyến đi và 4.738 sự kiện sạc, phân tích mười sáu thông số quan trọng như mức tiêu thụ sạc, trạng thái sạc trước và sau khi sạc, quãng đường mỗi chuyến đi, và mức tiêu thụ năng lượng cụ thể Bài viết của Yi Ruan và Chanh Chieh cũng nhấn mạnh vai trò của chính phủ trong đổi mới sáng tạo và sự xuất hiện của ngành công nghiệp xe điện tại Trung Quốc.

Hang, Yan Min Wang đã trình bày một nghiên cứu điển hình về vai trò của chính phủ trong việc định hình phát triển của đổi mới đột phá (DI) thông qua các chính sách khuyến khích và hạn chế ngành công nghiệp xe đạp điện tại Trung Quốc Tại Việt Nam, nghiên cứu về xe điện vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào xe máy và phương tiện giao thông công cộng Nghiên cứu định tính của Nguyễn Ngọc Quang trong bài viết về hành vi người tiêu dùng đối với xe máy đã phân tích bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này, bao gồm yếu tố kích thích bên ngoài, yếu tố môi trường, đặc điểm người tiêu dùng và các biến liên quan Nghiên cứu áp dụng mô hình ra quyết định "Kích thích – Can thiệp – Phản ứng" kết hợp với phỏng vấn chuyên sâu, quan sát và phỏng vấn nhóm.

Công nghệ thiết kế xe điện đang trải qua những thay đổi đáng kể, yêu cầu cải tiến và nâng cấp nguồn năng lượng sạch Sự phát triển của pin nhiên liệu cho năng lượng mới đang đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu này.

Các phương tiện năng lượng mới (NEVs) tại Trung Quốc, bao gồm xe điện sử dụng pin nhiên liệu hydro (HFCEV), đang được khuyến khích phát triển nhờ vào các chính sách quốc gia và địa phương Nghiên cứu của nhóm tác giả Xinyu Liu và cộng sự chỉ ra rằng HFCEV hiệu quả hơn so với xe chạy bằng động cơ đốt trong (ICEV) và không thải ra khí ô nhiễm Phân tích sử dụng năng lượng từ bánh xe đến bánh xe cho thấy HFCEV tiêu thụ ít hơn 5% – 33% năng lượng hóa thạch và phát thải khí nhà kính thấp hơn 15% – 45% so với ICEV Tại Việt Nam, nghiên cứu về công nghệ xe điện vẫn còn mới mẻ, chủ yếu tập trung vào phương tiện công cộng và ô tô Một nghiên cứu về ô tô Hybrid cho thấy việc tái sinh năng lượng bằng cách tận dụng quán tính có nhược điểm về hiệu suất và dễ gây hư hỏng thiết bị Tuy nhiên, phương án sử dụng quán tính vào bánh đà đã được phân tích và có khả năng khắc phục những hạn chế này, mở ra hướng đi mới cho thiết kế hệ thống tái sinh năng lượng.

Khoảng trống nghiên cứu

Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nóng lên toàn cầu và ô nhiễm không khí, đang được các quốc gia trên thế giới chú trọng giải quyết Việc sử dụng năng lượng sạch cho phương tiện giao thông đã trở thành một giải pháp tối ưu mà nhiều nước đang thực hiện Các quốc gia đang phát triển tích cực tuyên truyền và khuyến khích người dân sử dụng phương tiện chạy bằng năng lượng sạch, với mục tiêu phát triển giao thông an toàn và thân thiện với môi trường Tại Việt Nam, xe điện đang ngày càng trở nên phổ biến trong giao thông đô thị, với nhiều mẫu xe đa dạng phục vụ cho mọi lứa tuổi Tuy nhiên, thị trường xe điện vẫn gặp nhiều thách thức như mẫu mã chưa phong phú, thiếu chính sách hỗ trợ từ chính phủ và phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, dẫn đến chi phí sản xuất cao Do đó, cần có sự đánh giá cụ thể và tiêu chí phát triển phương tiện chạy bằng năng lượng sạch tại Việt Nam Nghiên cứu của nhóm sẽ phân tích hành vi và đề xuất giải pháp sử dụng phương tiện bằng năng lượng sạch của người dân Hà Nội, thông qua khảo sát và hệ thống hóa các khái niệm liên quan.

TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG TIỆN CHẠY BẰNG NĂNG LƯỢNG SẠCH

Khái niệm năng lượng sạch

Năng lượng sạch là nguồn năng lượng được sản xuất từ các nguồn năng lượng sơ cấp như thủy năng, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thuỷ triều, năng lượng địa nhiệt và nhiên liệu sinh học, với ít tác động tiêu cực đến môi trường Ngoài ra, năng lượng sạch còn bao gồm năng lượng từ các nguồn hóa thạch và hạt nhân, nhưng phải được sản xuất bằng công nghệ chuyển hoá năng lượng sạch và thân thiện với môi trường, đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ môi trường.

Trong những năm gần đây, năng lượng sạch đã trở thành một lĩnh vực được đầu tư và khuyến khích trên toàn cầu nhằm giảm thiểu phụ thuộc vào dầu mỏ và ô nhiễm môi trường, đồng thời góp phần hạn chế sự nóng lên toàn cầu Năng lượng sạch đang có mức tăng trưởng mạnh mẽ hàng năm, trong đó điện mặt trời dẫn đầu với tỷ lệ tăng trưởng trung bình 60% từ pin mặt trời và 43% từ các nhà máy điện tập trung nhiệt mặt trời Theo sau là điện gió với mức tăng 25% và nhiên liệu sinh học tăng 17% mỗi năm Các quốc gia châu Âu và Mỹ hiện đang dẫn đầu về tỷ trọng năng lượng sạch.

Phân loại các lọai năng lượng sạch

Năng lượng mặt trời trên trái đất là bức xạ điện từ từ mặt trời, cung cấp nguồn năng lượng liên tục cho con người Nguồn năng lượng này sẽ duy trì cho đến khi phản ứng hạt nhân trên mặt trời cạn kiệt, dự kiến sẽ xảy ra trong khoảng 5 tỷ năm tới.

Năng lượng mặt trời có thể được thu trực tiếp thông qua hiệu ứng quang điện, chuyển đổi năng lượng của các photon thành điện năng giống như trong pin mặt trời Các photon này cũng có thể được hấp thụ để làm nóng vật thể, chuyển hóa thành nhiệt năng, phục vụ cho bình đun nước mặt trời, làm sôi nước trong các máy nhiệt điện của tháp mặt trời, hoặc điều khiển các hệ thống nhiệt như máy điều hòa mặt trời Hơn nữa, năng lượng của các photon còn có thể được chuyển hóa thành năng lượng trong các liên kết hóa học qua các phản ứng quang hóa.

Phản ứng quang hóa tự nhiên, hay quá trình quang hợp, đã từng lưu trữ năng lượng mặt trời vào các nguồn nhiên liệu hóa thạch không tái sinh, phục vụ cho các nền công nghiệp từ thế kỷ XIX đến XXI Quá trình này không chỉ cung cấp năng lượng cho các hoạt động sinh học tự nhiên mà còn có thể tạo ra năng lượng tái tạo từ nhiên liệu sinh học trong tương lai Năng lượng mặt trời được hấp thụ bởi thủy quyển và khí quyển Trái Đất tạo ra các hiện tượng khí tượng học, cho phép khai thác năng lượng từ dòng chảy nước, hơi nước và không khí Các nguồn năng lượng như thủy điện, năng lượng gió và năng lượng sóng biển đều xuất phát từ việc tận dụng năng lượng tự nhiên Sự chênh lệch nhiệt độ giữa đại dương và không khí có thể được khai thác trong các nhà máy điện nhiệt lượng Việt Nam sở hữu tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời, đặc biệt ở miền Trung và miền Nam, với ước tính khoảng 43,9 tỷ TOE, có thể được khai thác để sản xuất điện và cung cấp nhiệt.

Việc khai thác năng lượng từ sông, suối là nguồn năng lượng sạch chủ yếu tại Việt Nam, với thủy điện sử dụng sức nước từ các con sông lớn để tạo ra điện Ngoài ra, năng lượng từ đại dương cũng rất phong phú, bao gồm việc tận dụng sóng và thủy triều để quay các tuabin phát điện Nguồn điện này có thể cung cấp trực tiếp cho các thiết bị hoạt động trên biển như hải đăng, cầu cảng, phao và hệ thống hoa tiêu dẫn đường.

Việt Nam hiện có lợi thế lớn trong phát triển năng lượng thủy điện với hơn 3.450 sông, suối và tổng lượng nước trung bình hàng năm khoảng 830 tỷ m³ Theo các báo cáo gần đây, nước ta đã xác định hơn 1.000 địa điểm tiềm năng cho thủy điện nhỏ, với quy mô từ 100kW đến 30MW và tổng công suất đặt lên tới 7.000MW Bên cạnh đó, Việt Nam còn có khả năng khai thác năng lượng thủy triều nhờ vào nhiều vũng, vịnh, cửa sông và đặc biệt là bờ biển dài hơn 3.200km.

Năng lượng gió, một dạng động năng từ không khí di chuyển trong khí quyển, được khai thác qua các tuốc bin gió và là một hình thức năng lượng mặt trời gián tiếp Trong 20 thị trường lớn nhất thế giới, châu Âu chiếm 13 nước, với Đức dẫn đầu về công suất năng lượng gió Đức, Tây Ban Nha và Đan Mạch đã phát triển ngành công nghiệp năng lượng gió nhờ vào quyết tâm chính trị Năm 2007, toàn cầu đã xây mới khoảng 20.073 MW điện gió, với Mỹ, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Ấn Độ và Đức đóng góp đáng kể Việt Nam, với vị trí địa lý thuận lợi và tiềm năng gió lớn nhất Đông Nam Á, ước tính có tổng tiềm năng điện gió lên tới 513.360 MW, gấp hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020.

Hiệp hội nghiên cứu năng lượng thiên nhiên ở Bihai, Nhật Bản, đã thành công trong việc ứng dụng tuyết để làm lạnh kho hàng, tương tự như hệ thống điều hòa không khí trong các tòa nhà vào mùa hè Dự án này cho phép chứa tuyết trong kho để duy trì nhiệt độ từ 0℃ đến 4℃, mức nhiệt lý tưởng cho việc bảo quản nông sản Nhờ đó, chi phí sản xuất được giảm thiểu, góp phần hạ giá thành sản phẩm.

Năng lượng địa nhiệt là nguồn năng lượng từ nhiệt trong lòng Trái Đất, hình thành từ sự hình thành ban đầu của hành tinh, hoạt động phân hủy phóng xạ và năng lượng mặt trời Từ thời La Mã cổ đại, năng lượng này đã được sử dụng để nung và tắm, nhưng hiện nay chủ yếu được áp dụng trong sản xuất điện Đến năm 2007, thế giới đã lắp đặt khoảng 10 GW công suất điện địa nhiệt, đáp ứng 0,3% nhu cầu điện toàn cầu, cùng với 28 GW công suất nhiệt địa nhiệt phục vụ cho sưởi ấm và các ứng dụng công nghiệp Khai thác năng lượng địa nhiệt không chỉ hiệu quả về kinh tế mà còn thân thiện với môi trường, mặc dù trước đây bị giới hạn về địa lý Tuy nhiên, tiến bộ khoa học kỹ thuật đã mở rộng khả năng khai thác tài nguyên này, đặc biệt trong việc sưởi ấm hộ gia đình Hơn nữa, các giếng địa nhiệt giải phóng khí thải nhà kính ít hơn nhiều so với việc đốt nhiên liệu hóa thạch, góp phần giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu nếu được triển khai rộng rãi.

Pin nhiên liệu là công nghệ cung cấp năng lượng sạch, không phát thải CO2 hay khí độc hại, thông qua phản ứng giữa hydro và oxy hoặc methanol và oxy Hydro được lấy từ khí thiên nhiên, trong khi methanol có nguồn gốc từ chất thải sinh học Nhờ vào việc không đốt cháy, pin nhiên liệu không tạo ra khí thải độc hại Nhật Bản là quốc gia tiên phong trong lĩnh vực này, sản xuất nhiều loại pin nhiên liệu phục vụ cho phương tiện giao thông, ô tô và các thiết bị điện tử như điện thoại di động.

2.2.7 Năng lượng sạch từ sự lên men sinh học

Nguồn năng lượng này được tạo ra từ quá trình lên men sinh học các chất thải sinh hoạt Các chất thải sẽ được phân loại và đưa vào bể chứa để lên men, tạo ra khí metan Khí metan này sẽ cung cấp năng lượng cho động cơ, từ đó sản sinh ra điện năng Sau khi quá trình phân hủy hoàn tất, phần còn lại sẽ được sử dụng làm phân bón.

Khí Mêtan hydrate là nguồn năng lượng tiềm năng nằm sâu dưới lòng đất, có dạng màu trắng giống như nước đá Chất này là một tinh thể bao gồm phân tử nước và metan, ổn định ở nhiệt độ thấp và áp suất cao Chủ yếu, khí Mêtan hydrate được tìm thấy dưới lớp băng vĩnh cửu và các tầng địa chất sâu dưới đáy đại dương, và nó được coi là một nguyên liệu thay thế tuyệt vời cho dầu mỏ và than đá.

Đặc điểm của năng lượng sạch

Năng lượng sạch có trữ lượng lớn và gần như vô tận, bao gồm các nguồn như năng lượng mặt trời, gió, địa nhiệt, sóng biển và mưa, mà không tốn chi phí nhiên liệu Đặc biệt, năng lượng sinh khối cũng có trữ lượng dồi dào và chi phí thấp So với các nguồn năng lượng truyền thống như than đá và khí đốt tự nhiên, đang ngày càng cạn kiệt và chỉ có thể đáp ứng nhu cầu trong khoảng 50-70 năm tới, năng lượng sạch thể hiện rõ ưu điểm vượt trội của mình.

Sử dụng nguồn năng lượng sạch để sản xuất điện mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với năng lượng thông thường Quá trình chuyển hóa năng lượng thông thường thành điện tại nhà máy nhiệt điện phức tạp và không thể đạt 100% hiệu suất, dẫn đến việc lãng phí một lượng lớn nhiệt Cụ thể, ở Anh, sản xuất điện từ khí gas lãng phí 54% nhiệt, từ than đá là 66%, và từ năng lượng hạt nhân là 65% Ngược lại, năng lượng sạch không lãng phí năng lượng trong quá trình sản xuất điện, mặc dù có thể có hiệu suất thấp hơn, nhưng nguồn năng lượng này là vô tận.

Năng lượng sạch không chỉ là nguồn năng lượng thân thiện với môi trường mà còn giúp giảm thiểu phát thải carbon trong quá trình sản xuất và chuyển đổi, từ đó góp phần chống lại biến đổi khí hậu Với ưu điểm không gây ô nhiễm không khí và không làm gia tăng hiệu ứng nhà kính, năng lượng sạch đang trở thành giải pháp cần thiết cho cuộc sống hiện đại Hơn nữa, năng lượng sạch có thể được khai thác rộng rãi ở nhiều khu vực trên trái đất; ví dụ, năng lượng mặt trời có thể được sử dụng ở bất kỳ nơi nào có ánh sáng mặt trời, trong khi năng lượng gió đã được ứng dụng từ lâu để sản xuất điện và phục vụ các nhu cầu khác Mỗi loại năng lượng sạch còn có những ưu điểm riêng, như năng lượng gió chiếm ít không gian và năng lượng sinh khối giúp giảm lượng rác thải và tăng cường ôxy cho môi trường.

Tuy có nhiều ưu điểm lớn nhưng năng lượng sạch cũng tồn tại một số nhược điểm, chẳng hạn như:

Năng lượng sạch, mặc dù thân thiện với môi trường, nhưng có tính ổn định thấp hơn so với năng lượng truyền thống do bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên Năng lượng mặt trời chỉ có thể được khai thác vào ban ngày và trong những ngày có ánh nắng, trong khi vào ban đêm hoặc những ngày mưa, hệ thống sẽ không hoạt động Tương tự, năng lượng gió cũng phụ thuộc vào tốc độ gió; các tua-bin gió chỉ phát điện khi gió đạt tốc độ từ 4 đến 25 m/s, với mức tối thiểu 4 m/s để bắt đầu hoạt động hiệu quả.

Khi tốc độ gió đạt 25 m/s, các tua-bin gió sẽ ngừng hoạt động để tránh hư hỏng Một nhược điểm của năng lượng sạch là yêu cầu công nghệ tiên tiến và chi phí đầu tư cao Hiện tại, chi phí sản xuất điện từ năng lượng sạch vẫn cao hơn so với năng lượng hóa thạch Tuy nhiên, sự phát triển của năng lượng sạch trên toàn cầu đang dẫn đến việc giảm chi phí và tăng hiệu suất, giúp cải thiện dần nhược điểm này.

Phương tiện chạy bằng năng lượng sạch gắn liền với phát triển bền vững

Ô nhiễm không khí được coi là "kẻ giết người thầm lặng" bởi các chuyên gia môi trường Khí thải từ động cơ diesel của xe tải, thiết bị nông nghiệp và tàu thuyền có tác động nghiêm trọng đến sức khỏe con người, theo Hiệp hội Phổi.

Mỗi năm, ô nhiễm không khí từ động cơ diesel ở Mỹ khiến khoảng 15.000 trẻ em tử vong trước tuổi trưởng thành Để đối phó với tình trạng ô nhiễm và biến đổi khí hậu, xe chạy bằng năng lượng sạch, như ô tô điện, đang trở thành giải pháp khả thi, thay thế cho xe chạy bằng xăng truyền thống Dự báo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế cho thấy số lượng ô tô điện toàn cầu sẽ tăng từ 2 triệu xe vào năm 2016 lên 140 triệu xe trước năm 2030 Tại châu Âu, các chiến dịch thay thế xe ô tô gây ô nhiễm đang được thúc đẩy, với Chính phủ Anh khuyến khích sử dụng xe đạp và ô tô điện qua chương trình trợ cấp lên đến 4.500 Bảng Anh Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ cho xe đạp điện vẫn chưa được ban hành, mặc dù nhu cầu đang gia tăng Anh dự kiến sẽ cấm bán xe chạy bằng xăng và diesel từ năm 2040, trong khi Pháp là một trong những quốc gia tiên phong trong việc áp dụng các giải pháp bảo vệ môi trường hiệu quả.

Từ năm 2000, các thành phố lớn của Pháp như Lyon, Paris và Strasbourg đã khuyến khích người dân sử dụng xe điện với nhiều trạm cho thuê tự động được lắp đặt trên đường phố Những trạm này thu hút sự ủng hộ của người dân nhờ mức phí rẻ và cách sử dụng đơn giản, thậm chí miễn phí trong một số khoảng thời gian Chính phủ Pháp cũng đã cam kết cấm bán xe chạy bằng xăng, dầu trước năm 2040 Tương tự, Đức cũng thúc đẩy việc sử dụng phương tiện công cộng và xe điện để giảm ô nhiễm không khí, với cam kết hỗ trợ 100 triệu Euro mỗi năm cho hệ thống xe buýt điện và khí đốt tự nhiên, cũng như hỗ trợ tài chính cho các đô thị và hãng taxi chuyển sang xe điện.

Tại Việt Nam, các chuyên gia và nhà quản lý đều nhận định rằng xu hướng chuyển sang xe chạy bằng năng lượng sạch, đặc biệt là xe điện, là điều tất yếu để bảo vệ môi trường Sử dụng xe điện không chỉ thể hiện sự văn minh mà còn là nhu cầu cấp thiết cho cộng đồng Theo PGS TS Tạ Cao Minh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và sáng tạo công nghệ (ĐH Bách khoa Hà Nội), xe điện sẽ trở thành xu hướng chủ đạo trong tương lai, mặc dù việc từ bỏ xe máy truyền thống gặp khó khăn do thói quen và tính tiện lợi của chúng Thay vào đó, có thể sẽ chỉ thay thế xe máy chạy xăng bằng xe máy điện.

Vì thế, thị trường xe máy điện tại Việt Nam rất tiềm năng và khổng lồ”.

Tại hội thảo về xu hướng phát triển công nghệ giao thông, chuyên gia ô tô Nguyễn Minh Đồng khẳng định rằng xe máy vẫn sẽ tồn tại ở Việt Nam trong 30-40 năm tới nhờ vào tính tiện dụng của nó, đồng thời nhấn mạnh rằng tư duy cấm xe máy ở các thành phố như Hà Nội có thể không khả thi.

Việc thực hiện các giải pháp giao thông bền vững tại TP Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn, do đó, khuyến khích sử dụng xe máy điện là hướng đi hợp lý Cần có các chính sách ưu đãi để thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất xe điện, từ đó cải thiện chất lượng môi trường không khí tại Việt Nam Ngoài ra, việc xây dựng tiêu chuẩn và hành lang pháp lý sẽ giúp người dân dễ dàng và an toàn hơn trong việc sử dụng phương tiện này Khuyến khích sử dụng xe chạy bằng nhiên liệu sạch, đặc biệt là xe điện, là rất cần thiết.

Xe điện không thải ra các khí độc hại như CO, HC, và NOX, giúp bảo vệ sức khỏe con người, khác với xe sử dụng động cơ đốt trong và nhiên liệu hóa thạch.

Xe chạy bằng năng lượng sạch sẽ là giải pháp giao thông đô thị tương lai, đang trở thành xu hướng toàn cầu Tại Việt Nam, thị trường xe điện còn nhiều tiềm năng, đặc biệt khi ô nhiễm không khí ngày càng được chú trọng Để nâng cao chất lượng cuộc sống, cả chính quyền và người dân cần xem xe điện như một lựa chọn thiết yếu, đồng thời cải thiện hệ sinh thái và chất lượng sản phẩm từ các nhà sản xuất.

2.4.2 Tác động đến kinh tế và xã hội

Phương tiện sử dụng năng lượng sạch, đặc biệt là năng lượng điện, không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn tác động mạnh mẽ đến kinh tế - xã hội toàn cầu, thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia.

Thị trường ô tô lớn nhất thế giới, Trung Quốc, đã lên kế hoạch giảm quy mô và sản lượng xe chạy bằng nhiên liệu hóa thạch Ấn Độ cũng đang thúc đẩy sản xuất xe điện trước năm 2030 Tại Anh và Pháp, các quốc gia này dự kiến cắt giảm xe chạy bằng xăng và diesel trong 20 năm tới Ngành công nghiệp ô tô, xăng dầu và các Chính phủ đã nhận thức rõ về những thay đổi mà xe điện mang lại, và ngay cả các nhà sản xuất ô tô lớn cũng đã nhìn nhận vấn đề này.

Không thể bỏ qua tiềm năng lợi nhuận từ thị trường xe điện đang bùng nổ, với các thương hiệu lớn như Volvo, Jaguar, Land Rover, Volkswagen, Mercedes, Audi và BMW cam kết ra mắt nhiều mẫu xe điện trong thập kỷ tới Sự chuyển dịch sang phương tiện di chuyển điện không chỉ quen thuộc mà còn tác động sâu sắc đến việc làm, ngành công nghiệp xăng dầu và hệ thống thuế quốc gia Cụ thể, việc sản xuất xe điện, bao gồm cả pin, yêu cầu ít nhân công hơn so với xe sử dụng xăng, dẫn đến biến động trong thị trường lao động Một báo cáo của Viện Kinh tế Ifo (Đức) dự đoán rằng việc loại bỏ động cơ đốt trong trước năm 2030 sẽ có ảnh hưởng lớn đến ngành công nghiệp này.

Dự báo đến năm 2030, nước này có thể mất 600.000 việc làm, nhưng bức tranh việc làm không hoàn toàn u ám Liên đoàn các nhà sản xuất phụ tùng ô tô Australia (FAPM) cho rằng sự hạn chế này có thể mang lại cơ hội cho các nhà cung ứng vào thị trường Trung Quốc Mặc dù Toyota và các nhà sản xuất ô tô địa phương đã đóng cửa tại Úc do sự chuyển đổi sang sản xuất xe điện dễ dàng hơn nhờ quy trình đơn giản và sự tham gia của robot, điều này lại mở ra cơ hội cho các nhà đầu tư thích hợp.

Việc sử dụng xe điện ngày càng phổ biến sẽ tạo ra áp lực lớn lên các quốc gia phụ thuộc vào sản xuất dầu mỏ và thay đổi bản đồ địa chính trị toàn cầu Nhà kinh tế học Tony Seba tại Stanford cùng các cộng sự dự đoán rằng cuộc cách mạng xe điện sẽ diễn ra nhanh chóng, với lượng cầu về xăng dầu giảm từ 100 triệu thùng/ngày trước năm 2020 xuống còn khoảng 70 triệu thùng/ngày trong thời gian tới.

Vào năm 2030, các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ như Venezuela, Nigeria, Ả Rập và Nga sẽ chịu ảnh hưởng lớn do sự chuyển dịch sang xe điện, trong khi Liti và các nguyên tố như Niken, Coban hay Cadmium, mặc dù quan trọng cho pin xe điện, nhưng không có vai trò thiết yếu như xăng dầu trong việc vận hành động cơ đốt trong Sự khan hiếm Liti chỉ ảnh hưởng đến sản xuất sản phẩm mới, trong khi xăng dầu vẫn là nhiên liệu chính cho các phương tiện hiện tại Trước năm 2030, thu nhập từ thuế xăng dầu có thể giảm mạnh khi người dân chuyển sang xe điện, với ước tính khoảng 50 tỷ USD thu từ thuế xăng dầu có thể biến mất khỏi nền kinh tế Hoa Kỳ Tại Australia, thuế xăng dầu đã giảm đáng kể trong những năm gần đây và sẽ tiếp tục bị đe dọa bởi sự phát triển của thị trường xe điện, dẫn đến việc Chính phủ thu được ít tiền hơn từ các khoản phí liên quan như phí đăng ký, thuế bán hàng và bảo hiểm.

Dự thảo của Trung Quốc và Ấn Độ, dù còn sơ sài, phản ánh sự thay đổi chính sách nhằm phổ biến xe điện trong đời sống Trong khi đó, các tập đoàn xăng dầu lớn như BP và Shell vẫn kiên quyết phủ nhận sự suy giảm của thị trường xăng dầu, cho rằng nhu cầu sẽ tiếp tục tăng trong một thế giới phát triển Họ tin rằng việc cải thiện hiệu suất xăng dầu sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn so với xe điện Đồng thời, công nghệ xe năng lượng mặt trời cũng đang được phát triển, như xe điện chạy bằng năng lượng mặt trời "không cần sạc pin" vừa được Công ty Aptera ở California ra mắt.

KHUNG PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Thực trạng thị trường phương tiện chạy bằng năng lượng sạch tại Việt Nam

3.1.1 Quá trình phát triển thị trường phương tiện năng lượng sạch tại Việt Nam

Tại Thành phố Hồ Chí Minh: xe buýt CNG đã được chuẩn bị triển khai từ năm

Năm 2008, Sở GTVT TP.HCM và Công ty Khí hóa lỏng miền Nam đã ký kết kế hoạch triển khai dự án nghiên cứu sử dụng khí nén thiên nhiên CNG cho hoạt động xe buýt Đến tháng 5 năm 2010, Công ty TNHH một thành viên Xe khách Sài Gòn cùng Liên hiệp hợp tác xã vận tải TP.HCM đã đưa vào hoạt động 2 xe buýt chạy bằng nhiên liệu sạch đầu tiên trên tuyến số 53 (Lê Hồng Phong – ĐH Quốc gia TP.HCM) và tuyến số 10 (Bến xe miền Tây - Ký túc xá ĐH Quốc gia TP.HCM) Trong các năm 2010 và 2011, Công ty Khí hóa lỏng miền Nam đã hoàn thành việc đầu tư 2 trạm cung cấp khí CNG.

Hình 3.1 Xe buýt sử dụng nguyên liệu khí nén thiên nhiên

Vào cuối tháng 8 năm 2011, tuyến xe buýt xanh đầu tiên của TP.HCM chính thức hoạt động Sở GTVT TP.HCM đã hợp tác với Công ty TNHH một thành viên Xe khách Sài Gòn để đưa vào khai thác 21 xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch CNG cho tuyến xe buýt 01, nối liền Chợ Bến Thành và Chợ Bình Tây.

Vào đầu năm 2012, Liên hiệp hợp tác xã vận tải TP.HCM đã nhập khẩu và đưa vào hoạt động 5 xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch nhờ nguồn vốn vay từ xã viên, hoạt động trên tuyến buýt số 104 (Bến xe An Sương - ĐH Nông Lâm TP.HCM) Sau 3 năm triển khai thí điểm dự án xe buýt sử dụng khí nén thiên nhiên, hiện tại toàn thành phố chỉ có 28 xe buýt CNG hoạt động trên 4 tuyến.

Từ tháng 8-2018, Hà Nội đã đưa vào vận hành 3 tuyến xe buýt CNG theo quyết định của Sở GT-VT, nhằm ưu tiên các tuyến có cự ly dài Tuyến CNG 01 kết nối bến xe Mỹ Đình và bến xe Sơn Tây với cự ly 42,3 km, hoạt động 17/19 xe, tần suất 15-20 phút/lượt và giá vé 9.000 đồng Tuyến CNG 02 từ bến xe Yên Nghĩa đến khu đô thị Đặng Xá dài 35,65 km, hoạt động 14/16 xe với tần suất tương tự và giá vé 9.000 đồng Tuyến CNG 03 nối Bệnh viện Nhiệt đới T.Ư cơ sở 2 và khu đô thị Times City dài 29,55 km, hoạt động 13/15 xe, tần suất 15-20 phút/lượt và giá vé 8.000 đồng.

01 và CNG 03 sẽ vận hành từ ngày 1-8; tuyến CNG 02 vận hành từ ngày 9-8.

Có thể chia quá trình phát triển của xe điện tại Việt Nam thành các giai đoạn:

Giai đoạn 2000 - 2006: Giai đoạn mở đầu

Xe điện bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam từ những năm 2000, khi xe máy trở thành phương tiện di chuyển chủ yếu của người dân đô thị Xe đạp điện đầu tiên được nhập khẩu từ Nhật Bản vào năm 2001, thời điểm người tiêu dùng ưa chuộng các thương hiệu Nhật Bản và xe đạp cũ với giá cả hợp lý Tuy nhiên, từ năm 2002 đến 2004, xe đạp điện Trung Quốc đã tràn vào thị trường, dẫn đến sự cạnh tranh về giá cả mà không chú trọng đến chất lượng và dịch vụ sau bán hàng, khiến xe đạp điện không thu hút được người tiêu dùng trong giai đoạn này.

Khí hậu Việt Nam với gió mùa và độ ẩm cao, cùng với công nghệ pin hạn chế và chất lượng xe điện chưa được kiểm chứng, đã khiến người tiêu dùng trở nên thờ ơ với xe điện Tại Hà Nội, người dân chưa quen với hình ảnh xe điện trong giai đoạn này, trong khi xe máy vẫn là phương tiện phổ biến nhất Đến năm 2006, xe điện hai bánh gần như biến mất khỏi thị trường Việt Nam.

Sự xuất hiện của xe điện tại thị trường trong nước chỉ trong một thời gian ngắn là do một số yếu tố sau:

Công nghệ xe điện hiện nay vẫn chưa đủ phát triển để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, dẫn đến độ bền và chất lượng xe không cao bằng xe máy Pin của xe điện có chất lượng thấp, không đạt yêu cầu về tuổi thọ, thời gian sạc và chi phí.

 Giá xe điện vẫn tương đối cao do chi phí pin cao;

Xe điện hai bánh không thể phát triển do thiếu phụ tùng thay thế và dịch vụ sửa chữa, đặc biệt là các mẫu xe nhập khẩu từ Trung Quốc Hơn nữa, sự cạnh tranh từ xe máy động cơ xăng với giá cả hợp lý đã khiến thị trường xe điện gặp khó khăn trong giai đoạn này.

Giai đoạn 2008 – 2015: thời kỳ bùng nổ của xe điện

Xe đạp điện đã trở lại thị trường vào năm 2008, cùng với sự xuất hiện của xe máy điện, dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của thị trường xe điện từ 2008 đến 2012 Các doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp, cũng như công ty thương mại trong ngành xe máy và xe đạp, là những đơn vị cung cấp chính cho thị trường Thiết kế và linh kiện chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc và Đài Loan, chiếm tới 92% - 95% tổng lượng xe điện tiêu thụ trong nước Đối với xe điện nhập khẩu, xe từ Trung Quốc và Đài Loan chiếm 80% tổng lượng, trong khi xe từ Nhật Bản và châu Âu chỉ chiếm 12%.

Xe sản xuất trong nước hiện chiếm từ 5% đến 8% tổng lượng tiêu thụ, với các thương hiệu nổi bật như Thống Nhất, Delta, Hitasa, Detech và Sunfat Những doanh nghiệp này, bao gồm Công ty Thống Nhất, Công ty Cơ điện Delta, Công ty Sản xuất Thương mại Dịch vụ Hiệp Tân, Công ty cổ phần hỗ trợ phát triển công nghệ Detech tại Hưng Yên, và Công ty TNHH SUFAT Việt Nam, đóng góp quan trọng vào thị trường xe nội địa.

Thị trường xe điện tại Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự hiện diện của các xe điện nhập khẩu lậu không được kiểm soát, dẫn đến chất lượng và độ an toàn không đảm bảo Hầu hết các doanh nghiệp trong ngành đều nhập khẩu linh kiện từ Trung Quốc để lắp ráp, tập trung vào số lượng và mẫu mã hơn là chất lượng sản phẩm Các công ty lớn sản xuất xe điện ở miền Bắc như Detech, Việt Thái, Sufat và HTC chủ yếu là các doanh nghiệp sản xuất xe máy trong nước, trong khi miền Nam có Hitasa và Asama chuyên sản xuất xe đạp Ngoài ra, một số doanh nghiệp nước ngoài như Jili và Zhongshen Motor hoạt động ở miền Bắc, còn Asama hoạt động tại miền Nam.

Theo Cục Đăng kiểm và Ủy ban ATGTQG, đến năm 2015, Việt Nam có khoảng hai triệu xe máy điện và xe đạp điện, trong đó xe máy điện chiếm 70% và xe đạp điện chiếm 30% Sự gia tăng nhu cầu sử dụng xe điện đã dẫn đến sự phát triển của nhiều nhà sản xuất, lắp ráp và kinh doanh xe máy điện và xe đạp điện nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.

Sự bùng nổ của thị trường xe điện trong giai đoạn này có thể kể đến các yếu tố:

 Công nghệ xe điện tương đối phát triển, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Chất lượng pin ổn định, kích thước nhỏ gọn hơn;

 Giá và chi phí sử dụng xe điện cạnh tranh hơn so với xe máy;

 Dịch vụ sửa chữa và phụ tùng thay thế được chú trọng và quan tâm nhiều hơn;

 Xe điện không phải đăng ký, không cần biển số và không cần có bằng lái xe khi sử dụng;

Giai đoạn 2015 – nay: thời kỳ ổn định của thị trường

Sau năm 2014, thị trường xe điện đã có dấu hiệu chững lại với lượng tiêu thụ và đối tượng sử dụng ổn định hơn Các doanh nghiệp lớn sản xuất và lắp ráp trung bình hơn 30.000 xe mỗi năm, trong khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt sản lượng từ 10.000 đến 20.000 xe mỗi năm.

Từ ngày 1/7/2016, chính phủ đã ban hành quy định về Quy chuẩn kỹ thuật và kiểm định xe điện, đặc biệt là xe máy điện, nhằm ổn định thị trường và ngăn chặn hàng nhập lậu kém chất lượng, đồng thời đảm bảo an toàn giao thông Nhiều doanh nghiệp sản xuất nhỏ không đủ điều kiện đã phải ngừng hoạt động, trong khi các doanh nghiệp sản xuất xe điện lớn đã tập trung nâng cao chất lượng và tuân thủ các quy định này.

Các quy định và thủ tục hành chính trong việc cấp đăng ký kiểm định xe đã dẫn đến sự giảm sút đáng kể về mẫu mã xe so với những năm trước, làm hạn chế sự sáng tạo và đổi mới trong thiết kế xe, từ đó giảm sức hấp dẫn của thị trường đối với giới trẻ Hơn nữa, quy định về việc xe máy điện phải được đăng ký và có biển kiểm soát khi sử dụng đã được thực thi chặt chẽ hơn so với giai đoạn trước.

Có thể thấy, các yếu tố chính tác động tới thị trường xe điện trong thời gian này là:

 Giá cả và chi phí sử dụng xe;

 Chính sách dịch vụ và bảo hành sau bán;

 Quy định của chính phủ.

3.1.2.1 Kiểu dáng thiết kế và một số thông số kỹ thuật

Tại thị trường Việt Nam, có 3 loại xe chạy điện phổ biến: xe đạp điện, xe máy điện và xe động cơ điện.

Công suất: Công suất động cơ trung bình khoảng 250W, vận tốc trung bình khoảng 25-30km/h

Địa bàn nghiên cứu

Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế có phần chậm lại so với các năm trước, Việt Nam vẫn đạt được mức tăng trưởng GDP ước tính khoảng 7% trong năm 2019, tương đương với tỷ lệ tăng trưởng năm 2018, khẳng định vị thế là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực.

Do ảnh hưởng của hội nhập kinh tế sâu rộng và đại dịch COVID-19, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sức chống chịu đáng kể, với mức tăng trưởng GDP ước đạt 1,8% trong nửa đầu năm 2020 và dự kiến đạt 2,8% trong cả năm Mặc dù tác động y tế ban đầu không nghiêm trọng như nhiều quốc gia khác nhờ các biện pháp ứng phó chủ động, nhưng tốc độ tăng trưởng dự kiến năm nay vẫn thấp hơn nhiều so với mức 6-7% trước khủng hoảng Việt Nam là một trong số ít quốc gia không dự báo suy thoái kinh tế.

Hà Nội, thủ đô và trung tâm kinh tế - xã hội của Việt Nam, đã có sự tăng trưởng nhanh chóng trong những thập kỷ qua Với diện tích chỉ chiếm 1% cả nước và dân số khoảng 8%, Hà Nội đóng góp hơn 12% GDP quốc gia và có tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt trội hơn 50% so với trung bình cả nước Năm 2019, Hà Nội xếp thứ 2 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và thứ 8 về GRDP bình quân đầu người, với GRDP đạt 971.700 tỉ đồng (41,85 tỉ USD) và tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,62% Dự báo năm 2020, GRDP ước đạt 1.016 nghìn tỷ đồng, đứng thứ hai cả nước, trong khi GRDP bình quân đầu người đạt 122,7 triệu đồng (5.285 USD), xếp thứ 7 Tăng trưởng GRDP theo giá so sánh năm 2010 ước đạt 3,94%, gấp khoảng 1,5 lần mức tăng của cả nước Thu nhập bình quân đầu người sơ bộ năm 2019 đạt 6,403 triệu đồng/tháng, đứng thứ 3 trong 63 tỉnh thành.

Cùng với việc tăng trưởng kinh tế cao, diện tích Hà Nội đã tăng gấp 3,6 lần (từ 985

Hà Nội, sau khi mở rộng phạm vi hành chính vào ngày 1 tháng 8 năm 2008, đã trở thành thành phố lớn nhất Việt Nam với diện tích 3.324 km² Dân số của thành phố đã tăng gấp đôi, từ 3,2 triệu lên 7,327 triệu người, hiện đứng thứ hai cả nước và có mật độ dân số cao nhất Hiện nay, Hà Nội tiếp tục mở rộng thành khu vực Vùng Thủ đô, bao gồm cả các tỉnh lân cận như Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Hà Nam và Hải Dương.

Tính đến 0 giờ ngày 01/4/2019, tổng dân số Hà Nội đạt 8.053.663 người, với mật độ dân số khu vực đô thị lên tới 9.343 người/km², cao gấp 6,7 lần khu vực nông thôn Trong 20 năm qua, các quận Đống Đa, Thanh Xuân, Hai Bà Trưng và Cầu Giấy vẫn giữ vị trí có mật độ dân số cao nhất, lần lượt là 37.347 người/km², 32.291 người/km², 29.589 người/km² và 23.745 người/km² Bên cạnh đó, các quận mới như Hoàng Mai, Nam Từ Liêm, Bắc Từ Liêm và Hà Đông cũng ghi nhận sự gia tăng dân số nhanh chóng, trở thành những khu vực đông đúc không kém các quận trung tâm.

Nhóm thực hiện khảo sát tại 3 quận tại Hà Nội là quận Cầu Giấy, quận Đống Đa, quậnHai Bà Trưng.

Thuộc tính của xe điện

Giá xăng Giá điện Chi phí bảo hành, sửa chữa,…

Chính sách của nhà nước về xe điện

Xã hội: Gia đình, bạn bè, doanh nghiệp,…

Tiến bộ công nghệ Động cơ

Tăng thu nhập Đô thị hóa

Nhận thức kiểm soát hành vi Chuẩn chủ quan

Sở thích Lựa chọn Ý định mua Ý định sử dụng Hành vi mua Mua

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ KHẢO SÁT

Ngày đăng: 17/08/2021, 11:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2017). “Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2016: Môi trường Đô thị”, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2016: Môi trường Đô thị
Tác giả: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Năm: 2017
2. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2017). “Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia và vai trò của khối tư nhân”, Hội thảo tham vấn và đối thoại về đánh giá công nghệ các bon thấp của Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia và vai trò của khối tư nhân
Tác giả: Bộ Tài Nguyên và Môi trường
Năm: 2017
3. Đỗ Thị Hân, Chen Yanyan (2017). “Hệ thống xe đạp chia sẻ thông minh: những vấn đề tồn tại và giải pháp khắc phục”, Kỷ yếu hội nghị Khoa học Công nghệ Giao thông vận tải, tháng 5, 2018. ISBN: 978-604-76-1578-0 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống xe đạp chia sẻ thông minh: những vấnđề tồn tại và giải pháp khắc phục
Tác giả: Đỗ Thị Hân, Chen Yanyan
Năm: 2017
4. Jica (2015). “Khảo sát thu thập số liệu về đường sắt ở các Đô thị chính của Việt Nam”, Báo cáo cuối kỳ,Phần 2, Khu vực thành phố Hà Nội, tháng 11 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thu thập số liệu về đường sắt ở các Đô thị chính của ViệtNam
Tác giả: Jica
Năm: 2015
6. Sở Giao thông Vận tải Hà Nội (2017). Báo cáo tổng hợp: “Đề án Tăng cường quản lý phương tiện giao thông đường bộ nhằm giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội, giai đoạn 2017-2020 tầm nhìn 2030”, Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội, Sở Giao thông vận tải, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Tăng cường quản lý phương tiện giao thông đường bộ nhằm giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội, giai đoạn 2017-2020 tầm nhìn 2030
Tác giả: Sở Giao thông Vận tải Hà Nội
Năm: 2017
7. Vũ Anh Tuấn (2015). “Mô hình hoá nhu cầu giao thông Hà Nội”, Trung tâm nghiên cứu Giao thông vận tải Việt Đức, trường Đại học Việt Đức, thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hoá nhu cầu giao thông Hà Nội
Tác giả: Vũ Anh Tuấn
Năm: 2015
8. Sở Giao thông Vận tải Hồ Chí Minh (2017). Dự thảo Báo cáo tổng hợp: “Đề án Tăng cường quản lý phương tiện giao thông đường bộ nhằm giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2017-2020 tầm nhìn 2030”, Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Giao thông vận tải, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Tăng cường quản lý phương tiện giao thông đường bộ nhằm giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2017-2020 tầmnhìn 2030
Tác giả: Sở Giao thông Vận tải Hồ Chí Minh
Năm: 2017
9. Nguyễn Thị Hồng Mai (2012), “Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống vận tải hành khách công cộng trong các đô thị”, Luận án tiến sĩ, ĐHGTVT Hà Nội 10. Anh Thư (2016). “Hà Nội xem xét cấm xe máy từ năm 2025”, tải từ trang thông tin http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/an-toan-giao-thong/ha-noi-xem-xet-cam-xe-may-tu- nam-2025-312457.html ngày 20 tháng 2 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống vận tải hành khách công cộng trong các đô thị”, Luận án tiến sĩ, ĐHGTVT Hà Nội10. Anh Thư (2016). “Hà Nội xem xét cấm xe máy từ năm 2025
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Mai (2012), “Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống vận tải hành khách công cộng trong các đô thị”, Luận án tiến sĩ, ĐHGTVT Hà Nội 10. Anh Thư
Năm: 2016
13. Đoàn Loan (2015). “Bộ Giao thông kiến nghị lùi thời điểm phát xe máy điện không biển số”, tải từ trang thông tin http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/giao- thong/bo-giao-thong-kien-nghi-lui-thoi-diem-phat-xemay-dien-khong-bien-so- 3240911.html, ngày 20 tháng 12 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giao thông kiến nghị lùi thời điểm phát xe máy điện không biển số
Tác giả: Đoàn Loan
Năm: 2015
14. Hồng Quý (2015). “Chi phí đi lại tại Việt Nam cao nhất khu vực”, tải từ trang thông tin https://tuoitre.vn/chi-phi-di-lai-tai-viet-nam-cao-nhat-khu-vuc- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi phí đi lại tại Việt Nam cao nhất khu vực
Tác giả: Hồng Quý
Năm: 2015
15. Hữu Tiến và cộng sự (2018). “40 triệu mô tô, xe gắn máy sẽ phải dán nhãn năng lượng?”, tải từ trang thông tin http://www.baogiaothong.vn/40-trieu-mo-to-xe-gan-may-se-phai-dan-nhan-nang-luong-d253442.html, vào ngày 30 tháng 4 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 40 triệu mô tô, xe gắn máy sẽ phải dán nhãn nănglượng
Tác giả: Hữu Tiến và cộng sự
Năm: 2018
16. Nguyễn Cường (2017). “Cho thuê xe máy điện tại thành phố Hồ Chí Minh: Dự kiến tăng tới 50.000 xe sau 3 năm”, tải từ trang thông tin http://infonet.vn/cho-thue- xe- may-dien-tai-tphcm-du-kien-tang-toi-50000-xe-sau-3-nam-post248402.info, ngày 28 tháng 2 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cho thuê xe máy điện tại thành phố Hồ Chí Minh: Dự kiến tăng tới 50.000 xe sau 3 năm
Tác giả: Nguyễn Cường
Năm: 2017
17. Thu Ngân (2015). “Kinh doanh xe điện nhiều tiềm năng tại Việt Nam”, tải từ trang thông tin http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/kinh-doanh-xe-dien-nhieu-tiem-nang-tai-viet-nam332 0013.html, ngày 12 tháng 12 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh xe điện nhiều tiềm năng tại Việt Nam
Tác giả: Thu Ngân
Năm: 2015
19. Trần Thuỷ (2017). “Khai tử 2,5 triệu xe máy: Dân nghèo nghe thấy đã lo”, tải từ trang thông tin http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/khai-tu-2-5-trieu-xe-may- cu-cuu-moi-truong-ha-noi-357663. Html, ngày 26 tháng 2 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai tử 2,5 triệu xe máy: Dân nghèo nghe thấy đã lo
Tác giả: Trần Thuỷ
Năm: 2017
20.Viết Quân (2018), “Các phương tiện công cộng chạy bằng năng lượng sạch trên thế giới”, tải từ trang thông tin https://vtv.vn/doi-song/cac-phuong-tien-cong-cong-chay-bang-nang-luong-sach-tren-the-gioi-20180801161612091.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương tiện công cộng chạy bằng năng lượng sạch trên thếgiới
Tác giả: Viết Quân
Năm: 2018
21. Phạm Trung (2020) “Vinfast hoàn thành chạy thử xe buýt điện”, tải từ trang thông tin https://vnexpress.net/vinfast-hoan-thanh-chay-thu-xe-buyt-dien-4179380.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vinfast hoàn thành chạy thử xe buýt điện
22. D. Ngân (2021) “Hà Nội sẽ sử dụng xe buýt điện từ 2021”, tải từ trang thông tin https://soha.vn/ha-noi-se-su-dung-xe-buyt-dien-tu-2021-20191004092127566rf20191004092127566.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội sẽ sử dụng xe buýt điện từ 2021
11. Chính phủ (2018). Hệ thống văn bản, tải từ trang thông tin văn bản chính phủ http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/ chinhphu/hethongvanban, ngày 20 tháng 2 năm 2018 Link
12. Cục Thống kê thành phố Hà Nội (2018), tải từ trang thông tin của Cục thống kê Thành phố Hà Nội, http://thongkehanoi.gov.vn/, ngày 20 tháng 2 năm 2018 Link
18. Tổng cục Thống kê (2018), tải từ trang thông tin của Tổng Cục Thống kê, https://www.gso.gov.vn/ Default.aspx?tabid=217, ngày 20 tháng 2 năm 2018 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w