MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn đề tài 2 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 4. Tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH TIẾNG VIỆT 4 1. Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ tài chính 4 1.1. Lịch sử hình thành của thuật ngữ ngành tài chính 4 1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 6 2. Cơ sở lý luận 7 2.1. Khái niệm thuật ngữ và các khái niệm liên quan 7 2.2. Một số vấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính 10 Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH TRONG TIẾNG VIỆT 11 1. Sơ lược về cấu tạo thuật ngữ tài chính trong tiếng Việt. 11 2. Đơn vị nhỏ nhất cấu tạo thuật ngữ tài chính trong tiếng Việt 12 3. Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ Tài chính tiếng Việt ở cấp độ từ vựng 12 1.1. Thuật ngữ là từ đơn tiếng Việt 12 1.2. Thuật ngữ là từ ghép tiếng Việt 13 2. Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ tài chính là đoản ngữ 14 2.1. Thuật ngữ tài chính là danh ngữ trong tiếng Việt 15 4.2. Thuật ngữ tài chính là động ngữ trong tiếng Việt 17 Chương 3: KHẢO SÁT THUẬT NGỮ TRONG BÁO ĐIỆN TỬ TAPCHITAICHINH.VN, NHẬN XÉT MỘT SỐ LỖI SAI CƠ BẢN TRONG VIỆC SỬ DỤNG THUẬT NGỮ 18 1. Tổng quan về trang báo điện tử tapchitaichinh.vn 18 1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Tạp chí Tài chính: 18 1.2. Qúa trình hình thành và phát triển 20 1.1. Các hoạt động chính 20 2. Một số lỗi sai thường gặp trong việc sử dụng thuật ngữ tài chính 22 Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP CHUẨN HÓA THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH TIẾNG VIỆT 23 1. Cơ sở lý thuyết 23 1.1. Khái niệm chuẩn hóa 23 1.2. Các nội dung, yêu cầu của chuẩn hóa 24 1.3. Vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ 24 1.4. Lý thuyết điển mẫu với việc chuẩn hóa thuật ngữ 25 2. Đặc điểm các thuật ngữ báo chí tiếng Việt chưa đạt chuẩn 26 3. Một số đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ tài chính trong báo chí tiếng Việt 27 3.1. Cơ sở khoa học 27 3.2. Một số đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ báo chí tiếng Việt cụ thể 28 KẾT LUẬN 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 Tài liệu khảo sát: 31 Tài liệu tham khảo 32 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày một phát triển. Sự phát triển của các ngành nghề nhất là ngành tài chính đang là động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta. Trong một ngành có nhiều sự thay đổi tính đến từ giây như tài chính, việc nắm bắt thông tin là vô cùng quan trọng không chỉ với những công ty hay ngân hàng lớn mà những cá nhân quan tâm đến ngành này cần được cung cấp rất nhiều thông tin để nắm bắt được sự biến động của thị trường, nắm bắt được tâm lý đó báo điện tử riêng dành cho ngành tài chính ra đời như tapchitaichinh.vn, cafeF.vn, vietstock.vn, … ra đời nhằm đưa thông tin nhanh nhất đến người đọc. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành khoa học tài chính là những nghiên cứu về lý luận và ứng dụng thực tiễn ngày càng sâu sắc và rộng rãi với các khái niệm và phạm trù mà chính thuật ngữ tài chính là những từ và ngữ biểu thị những khái niệm và phạm trù khoa học. Vấn đề đặt ra đó là chưa hẳn những người viết báo hoặc biên tập nội dung đã nắm rõ và logic hệ thống thuật ngữ, điều này rất dễ dẫn đến sự nhầm lẫn cơ bản cho người đọc. Đồng thời, hệ thống thuật ngữ tài chính cũng tồn tại một số thuật ngữ được sử dụng trong văn bản thiếu tính thống nhất về cách viết thuật ngữ cũng như cách hiểu nội dung các thuật ngữ, dẫn đến tình trạng khiếu nại, tranh chấp, bất đồng xảy ra trong thực tiễn. Do vậy, vấn đề thống nhất và chuẩn hóa hóa thuật ngữ về cách viết và cách hiểu thuật ngữ là rất cần thiết và cấp bách. Với vấn đề như vậy, việc chuẩn hóa một số thuật ngữ tài chính nói chung và nghiên cứu đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ tài chính trong báo chí nói riêng đang rất cấp thiết cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn. Đưa ra đề tài nghiên cứu này, tôi mong có thể góp phần nào sức lực để giải quyết vấn đề đó. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Thông qua việc khảo sát hệ thống thuật ngữ tài chính trong báo điện tử cụ thể là tapchitaichinh.vn mục đích của bài luận là thống kê các thuật ngữ tài chính hay được sử dụng trên báo điện tử từ đó nhận xét và đưa ra những đề xuất về chuẩn hóa hệ thuật ngữ tài chính tiếng Việt và hướng đến xây dựng một hệ thống thuật ngữ chuẩn. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của bài luận là các thuật ngữ tài chính tiếng Việt hiện đang được sử dụng trong báo chí, đó là các từ ngữ biểu thị các khái niệm và các đối tượng chuyên môn đang được sử dụng ở báo điện tử, tạp chí hoặc rộng hơn là các văn bản của cơ quan nhà nước. Phạm vi nghiên cứu của bài chỉ giới hạn ở mặt đồng đại, nghĩa là chỉ khảo sát các thuật ngữ tài chính hiện đang được sử dụng trong lĩnh vực báo chí. Do vậy, các vấn đề về lịch sử phát triển, quá trình vận động và biến đổi của thuật ngữ tài chính tiếng Việt qua các giai đoạn lịch sử không nằm trong phạm vi nghiên cứu của bài luận. Đồng thời, bài chỉ giới hạn nghiên cứu thuật ngữ của ngành tài chính, cho nên các thuật ngữ của các ngành khác được đề cập đến trong nội dung của các bài báo cũng không nằm trong đối tượng của nghiên cứu này. 4. Tài liệu và phương pháp nghiên cứu Các phương pháp được sử dụng trong tiểu luận: Phương pháp thống kê để thu thập tư liệu từ các trang báo điện tử. Cùng với đó là đưa ra các bảng biểu đồ để phân loại và đưa ra những số liệu chính xác làm cơ sở cho những miêu tả, phân tích, kiến giải và kết luận của bài luận. Phương pháp miêu tả để miêu tả các đặc điểm về cấu trúc hình thức, con đường hình thành, đặc điểm ngữ nghĩa của hệ thống thuật ngữ tài chính tiếng Việt. Phương pháp so sánh đối chiếu Ngoài ra, bài còn sử dụng thủ pháp so sánh để so sánh cũng như tham chiếu chuẩn mực với các tiêu chuẩn của thuật ngữ nhằm giúp cho việc đặt và chuẩn hóa thuật ngữ tài chính tiếng Việt, đồng thời cũng là thủ pháp để so sánh với một số hệ thống thuật ngữ khác trong tiếng Việt và một số thuật ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài. Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH TIẾNG VIỆT Chương 1 tóm lược, phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước về thuật ngữ nói chung và thuật ngữ tài chính nói riêng, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề mà bài luận cần tập trung nghiên cứu và giải quyết. Đồng thời đưa ra lý thuyết làm cơ sở cho bài nghiên cứu. 1. Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ tài chính 1.1. Lịch sử hình thành của thuật ngữ ngành tài chính Lịch sử nghiên cứu của ngành thuật ngữ tài chính ra đời cho thấy sự phát triển của hệ thống thuật ngữ trong lĩnh vực này là hoàn toàn tự nhiên, song hành cùng sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Ngành khoa học nghiên cứu về vấn đề kế toán (accounting) hình thành. Mục đích của khoa học này nhằm đưa những khái niệm, nhận thức thông thường thành quy luật, thành tư duy logic khiến cho nó có khả năng phản ánh hiện thực một cách sâu sắc và chính xác. Khoa học nghiên cứu về “kế toán” ra đời, kéo theo nó là “phân tích tài chính”. Lĩnh vực Tài chínhNgân hàng tồn tại song hành, hỗ trợ nhau. Nói đến Tài chính là nói đến hoạt động giao lưu giữa các loại vốn như ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Kinh tế càng cao thì đầu tư càng nhiều. Đầu tư cần vốn phải thông qua những giao dịch thị trường, trong đó phải nói tới giao dịch ngân hàng. Vì vậy, khi nói đến hoạt động trong lĩnh vực Tài chínhKế toánNgân hàng, chủ yếu là ta đề cập đến các vấn đề về kinh tế. Thuật ngữ Tài chínhKế toánNgân hàng do đó còn có tên gọi chung là “thuật ngữ Kinh tế “. Kế toán được hiểu là “một hệ thống đo lường, xử lý và truyền đạt thông tin tài chính về một đơn vị hạch toán độc lập”. Thông tin được lưu giữ lại là những giao dịch hàng ngày liên quan về giá trị, chẳng hạn như mua bán, chi trả, thu nợ, vay mượn, hay nói các khác đó là những sự kiện kinh tế ảnh hưởng đến nội bộ một doanh nghiệp và được gọi là “nghiệp vụ kinh tế phát sinh” (business transaction). Khi đã có một khối lượng lớn về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì doanh nghiệp cần phải có phương pháp lưu giữ và phân loại nó. Khi đó khái niệm “tài khoản” ra đời (account). “Tài khoản” là tên gọi hay nói rõ hơn đó chính là cái “mác”, cái “nhãn” (labels) mà các nhân viên kế toán dùng để tập hợp, phân biệt các khoản tiền của các nghiệp vụ kế toán tương tự. Hàng loạt các thuật ngữ ra đời như hệ thống tài khoản (accounting system), vốn chủ sở hữu (owners equity), nợ phải trả (liability), tài sản (asset), doanh thu (revenues), chi phí (expenses), thương phiếu phải trả (notes payable), vay có thế chấp ( mortgage payable)....... Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ghi chép trong sổ sách phải sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tiền, được đo lường bằng tiền (money measure). Các thông tin kế toán dưới dạng thuật ngữ tài chính được trình bày trong bốn bản báo cáo kế toán, đó là “bảng kê lãi lỗ” (the income statement), “bảng kê vốn chủ sở hữu” (the statement of owners equity), “bảng chu chuyển tiền mặt” (the statement of cash flows) và “bảng cân đối tài sản” (the balance sheet). Hàng loạt các thuật ngữ kế toán được đặt ra để gắn vào những “nghiệp vụ kinh tế phát sinh” được trình bày trong các bảng báo cáo tài chính. Ví dụ như “bảng cân đối tài sản” là bảng dùng để trình bày tình trạng tài chính vào ngày tháng nhất định nào đó. Ta sẽ thấy hàng loạt các thuật ngữ được tạo ra để gắn với các “nghiệp vụ kinh tế phát sinh” như: “tài sản cố định (fixed assets), “tài sản lưu động” (current assets), “tài sản vô hình” (intangible assets), “cổ phiếu ở công ty con” (shares in subsidiary), “ký quỹ ngắn hạn” (short term deposits), “dự phòng nợ và chi phí” (provisions for liabilities and charges), “tiền bù cổ phiếu (share premium), “vốn cổ phần huy động” (called up share capital)... Xã hội phát triển, giao dịch trong làm ăn buôn bán càng mở rộng và trở nên phức tạp, nhất là hiện nay trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cả thế giới hướng tới một cơ chế kinh tế duy nhất, thuật ngữ càng cần phải được cập nhật thường xuyên. Do vậy, thuật ngữ kế toán là một hệ thống mở để đón nhận các thuật ngữ mới ra đời. Thuật ngữ “nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung(generally accepted accounting principles (GAAP) được dùng làm thước đo chung tình hình kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới hay từng doanh nghiệp trong các quốc gia đó. Kế toán được coi là một lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong thế giới kinh doanh hiện đại (Accounting is one of the fastest growing fields in the modern business world). Nó được coi là “ngôn ngữ kinh doanh” (the language of business). Trước kia việc xuất hiện của công việc kế toán hoàn toàn là nhu cầu rất tự nhiên. Các bộ tộc thời trung cổ hay một nhóm thương gia cần đến kế toán chỉ đơn giản là để quản lý của cải, tài sản mà họ kiếm được. Nhận thức của họ về việc quản lý của cải của mình cũng rất đơn giản. Doanh nghiệp được tưởng tượng như một cái hộp đựng tiền hay một cái hồ chứa nước. Do vậy tiền đầu tư vào doanh nghiệp, tiền vay mượn hay tiền rút ra cũng được miêu tả như dòng nước chảy. Tiền bỏ vào doanh nghiệp có thuật ngữ tương ứng “inflow of cash” (luồng vốn chạy vào); “cash” là tiền, “inflow” là dòng chảy vào. Tiền rút vốn được gọi là outflow of cash”. “Outflow” là dòng chảy ra. Và cũng từ đây thuật ngữ “cash flow” (chu chuyển tiền hay dòng ngân lưu) ra đời. Khi nói “cạn kiệt nguồn vốn” người ta dùng hình tượng “reservoir runs dry” cũng tương tự như dùng trong trường hợp “ấm đun cạn hết nước”. Cách hiểu cũng như các thuật ngữ trên vẫn được dùng để ghi chép các giao dịch thu chi nguồn vốn trong doanh nghiệp ngày nay. Nếu kế toán chỉ dừng lại ở việc quản lý tài sản sao cho có hiệu quả thì chưa đủ. Ngày nay do tốc độ phát triển như vũ bão của công việc kinh doanh mang tính thương mại quốc tế thì việc quản lý đòi hỏi phải đi vào chiều sâu, phải quan tâm đến chất lượng của hoạt động doanh nghiệp. Kế toán được sử dụng rộng rãi để diễn giải các hoạt động khác như hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính (operating, investing and financing activities). Do vậy cùng với kế toán, phân tích hoạt động kinh doanh là một trong những công cụ đắc lực để quản lý và điều hành có hiệu quả các hoạt động doanh nghiệp. Phân tích hoạt động doanh nghiệp liên quan đến một số môn học mới xuất hiện chừng vài thập niên trở lại đây, chủ yếu ở các nước có nền kinh tế phát triển như: “kế toán quản trị” (management accounting), “phân tích báo cáo tài chính” (the analysis of financial statements), “quản trị tài chính” (financial management). Để đáp ứng hoạt động phân tích hoạt động doanh nghiệp hàng loạt thuật ngữ mới xuất hiện. Thí dụ “phân tích tỷ số” (ratio analysis) là một công việc của “phân tích báo cáo tài chính”. Các tỷ số sẽ rút gọn khối lượng dữ liệu chứa trong bảng báo cáo tài chính” thành dạng thực tế để dễ hiểu, dễ sử dụng. Các nhà quản lý (manager) cần phải biết “khả năng thanh khoản” (liquidity), khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn (short term liability) của doanh nghiệp mà họ đang điều hành. Họ phải quan tâm đến “tỷ số lưu hoạt” (current ratio), đó là kết quả việc so sánh giữa “tài sản hiện hành” (current assets) và “nợ hiện hành” (current liabilities).Các “cổ đông(shareholders) muốn biết “lãi cổ tức” (stock dividend) có được an toàn hay không, họ phải được cung cấp kết quả qua phân tích “tỷ số bảo chứng lợi nhuận cổ tức” ( dividend cover) ở nơi mà họ đang bỏ vốn đầu tư. Kết quả của tỷ số dựa vào việc so sánh “lợi nhuận trong năm tài chính” (profit for the financial year) với “lãi cổ tức phải chi trả” (dividend payable). Hàng loạt các thuật ngữ mới xuất hiện để đáp ứng cho các hoạt động này. Thí dụ không chỉ có các nhà quản lý mà cả những người làm công” (employee), “con nợ” (debtor), “trái chủ “ (creditor), các “nhà cung ứng vật tư” (supplyer) và cả các “công ty cạnh tranh” (rival company) đều 1 quan tâm đến “tỷ số thời gian thu nợ trung bình” ( average collection period) và “tỷ số lượng hàng quay vòng” (stock turnover). Các cổ đông, các nhà tư vấn”(adviser), các nhà đầu tư”(investor) quan tâm đến “tỷ số khả năng sinh lời” (profitability)........ Giao dịch ngân hàng cũng là hoạt động phổ biến trong hoạt động làm ăn của doanh nghiệp. “Ngân hàng là thủ quỹ của nền kinh tế”. Điều này trở nên cần thiết khi nước ta ra nhập WTO. Trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại quốc tế sẽ trở nên thường xuyên. Trong quá trình hoạt động cũng như tất cả các hoạt động quốc tế kể cả quan hệ mậu dịch và phi mậu dịch đều cần đến tài chính. Rất nhiều thuật ngữ ra đời như “tín dụng thư” (letter of credit (LC); “tín dụng thư huỷ ngang” và “tín dụng thư không huỷ ngang” (revocable LC, irrevocable LC); “thư tín dụng giáp lưng” (back to back LC); “giao hàng trên tàu” (free on board); “giá hàng, phí bảo hiểm, cước vận chuyển” (cost, insurance, freight (CIP)); “hối phiếu” (bill of exchange draft); “lệnh phiếu” ( promissory note)... 1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, thị trường tài chính luôn là thị trường sôi động mang tính quyết định sự phát triển bền vững và lớn mạnh của một nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên ở nước ta, thị trường này mới nhen nhúm. Do vậy, nhu cầu tìm hiểu, tiếp thu những tri thức mới về lĩnh vực này trở nên vô cùng cấp bách, đòi hỏi hàng loạt các thuật ngữ ra đời, tuy chưa chính xác nhưng cũng đáp ứng được vấn đề nắm bắt tri thức khoa học mới. Bất cứ một tài liệu chuyên ngành nào cũng kèm theo thuật ngữ để giải thích những tri thức khoa học liên quan. Nhưng vì đây là một mảng tri thức đang còn nhiều mới mẻ, chúng ta chưa kịp xây dựng cho mình một hệ thống thuật ngữ riêng, mà còn vay mượn nhiều của nước ngoài, trước kia là của Nga, Pháp, nay là của tiếng Anh. Đây là điều kiện để thuật ngữ tiếng Anh ào ạt vào Việt Nam. Chỉ tính riêng các từ điển song ngữ AnhViệt về lĩnh vực Tài chínhKế toán Ngân hàng những năm 90 của thế kỷ trước cho tới nay đã có những quyển sau: 1. 1985: Nguyễn Đức Dy, Đỗ Mộng Hùng, Vũ Hữu Tửu, Vũ Hoài Thủy, Từ điển Ngoại thương AnhViệt, Trường Đại học Ngoại thương. 2. 1992: Nguyễn Thị Ái Nguyệt, Nguyễn Tùng Lâm, Từ điển AnhViệt Thương mạiTài chínhNgân hàng AnhViệt, Nxb Thế giới – Nxb Mũi Cà Mau 3. 1994 : Trần Ngọc Thịnh, Từ điển Quản lý Kinh doanh Tài chính, Nxb Thế giới. 4. 1996 : Công ty dịch thuật Quốc tế, Từ điển ViệtAnh Thương mạiTài chính thông dụng, Nxb Thống kê. 5. 1997: Ninh Hùng, Quang Minh, Từ điển AnhViệt thương mại quốc tế, Nxb Tre. 6. 2001: Trần Văn Chánh, Từ điển Kinh tế thương mại AnhViệt, Nxb Đà Nẵng. 7. 2003: Đỗ Hữu Châu, Từ điển thuật ngữ Tài chính Quốc tế Anh Việt, Nxb Thanh niên. 8. 2003: Lê Văn Tề, Từ điển Kinh tếTài chínhNgân hàng AnhViệt, Nxb Thanh niên 9. 2003: Khải Nguyên, Văn Hạnh, Từ điển Kế toánKiểm toánThương mại AnhViệt, Nxb Thống kê. Nhìn chung, chúng ta có thể nêu ra một số nhận định như sau về thuật ngữ Tài chính tiếng Việt: Bên cạnh những đặc điểm chung với nhiều hệ thống thuật ngữ khoa học xã hội và nhân văn khác của Việt Nam, hệ thuật ngữ Tài chính tiếng Việt còn có các đặc điểm riêng của mình. Do sự phát triển mạnh mẽ những năm gần đây để đáp ứng kịp thời sự thay đổi của nền kinh tế, có những thuật ngữ được cấu tạo chưa chuẩn xác, chưa trong sáng tiếng Việt là điều không tránh khỏi. Thuật ngữ Tài chính dùng ở Việt Nam chủ yếu là qua con đường vay mượn các thuật ngữ nước ngoài theo các phương thức phổ biến là: chuyển dịch, phiên âm, chuyển tự và mượn nguyên dạng. Về nguồn gốc, các thuật ngữ Tài chính dùng ở Việt Nam phần lớn được tạo lập từ các yếu tố HánViệt (thí dụ: kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng...). Đa phần các thuật ngữ tài chính tiếng Việt được cấu tạo từ các yếu tố Hán Việt. Các yếu tố thuần Việt rất ít. Các thuật ngữ Tài chính được hình thành từ lối phiên chuyển các thuật ngữ AnhMỹ ngày càng nhiều, thí dụ: “chống độc quyền” hay “chống tơrớt” (antitrust), “nhân” hay “mác” (brand mark), chế độ hạn ngạch” hay “chế độ cô ta” (quota system)...... Có tình hình sử dụng song song thuật ngữ Tài chính tiếng Việt và thuật ngữ phiên chuyển từ tiếng AnhMỹ, thí dụ: marketing – tiếp thị, bán hàng online – bán hàng trên mạng, down giá – hạ giá, lãi suất hot – lãi suất cao ...
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH TIẾNG VIỆT 4
1 Lịch sử nghiên cứu thuật ngữ tài chính 4
1.1 Lịch sử hình thành của thuật ngữ ngành tài chính 4
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
2 Cơ sở lý luận 7
2.1 Khái niệm thuật ngữ và các khái niệm liên quan 7
2.2 Một số vấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính 10
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH TRONG TIẾNG VIỆT 11
1 Sơ lược về cấu tạo thuật ngữ tài chính trong tiếng Việt 11
2 Đơn vị nhỏ nhất cấu tạo thuật ngữ tài chính trong tiếng Việt 12
3 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ Tài chính tiếng Việt ở cấp độ từ vựng 12
1.1 Thuật ngữ là từ đơn tiếng Việt 12
1.2 Thuật ngữ là từ ghép tiếng Việt 13
2 Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ tài chính là đoản ngữ 14
2.1 Thuật ngữ tài chính là danh ngữ trong tiếng Việt 15
4.2 Thuật ngữ tài chính là động ngữ trong tiếng Việt 17
Chương 3: KHẢO SÁT THUẬT NGỮ TRONG BÁO ĐIỆN TỬ TAPCHITAICHINH.VN, NHẬN XÉT MỘT SỐ LỖI SAI CƠ BẢN TRONG VIỆC SỬ DỤNG THUẬT NGỮ 18
1 Tổng quan về trang báo điện tử tapchitaichinh.vn 18
1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Tạp chí Tài chính: 18
1.2 Qúa trình hình thành và phát triển 20
1.1 Các hoạt động chính 20
2 Một số lỗi sai thường gặp trong việc sử dụng thuật ngữ tài chính 22
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP CHUẨN HÓA THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH TIẾNG VIỆT 23
1 Cơ sở lý thuyết 23
1.1 Khái niệm chuẩn hóa 23
Trang 31.2 Các nội dung, yêu cầu của chuẩn hóa 24
1.3 Vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ 24
1.4 Lý thuyết điển mẫu với việc chuẩn hóa thuật ngữ 25
2 Đặc điểm các thuật ngữ báo chí tiếng Việt chưa đạt chuẩn 26
3 Một số đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ tài chính trong báo chí tiếng Việt 27
3.1 Cơ sở khoa học 27
3.2 Một số đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ báo chí tiếng Việt cụ thể 28
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Tài liệu khảo sát: 31
Tài liệu tham khảo 32
Trang 4M Đ U Ở ĐẦU ẦU
1 Lý do ch n đ tài ọn đề tài ề tài
Hiện nay, trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày một phát triển Sự phát triển của các ngànhnghề nhất là ngành tài chính đang là động lực thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tếnước ta Trong một ngành có nhiều sự thay đổi tính đến từ giây như tài chính, việc nắm bắt thôngtin là vô cùng quan trọng không chỉ với những công ty hay ngân hàng lớn mà những cá nhânquan tâm đến ngành này cần được cung cấp rất nhiều thông tin để nắm bắt được sự biến độngcủa thị trường, nắm bắt được tâm lý đó báo điện tử riêng dành cho ngành tài chính ra đời nhưtapchitaichinh.vn, cafeF.vn, vietstock.vn, … ra đời nhằm đưa thông tin nhanh nhất đến ngườiđọc
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành khoa học tài chính là những nghiên cứu về lýluận và ứng dụng thực tiễn ngày càng sâu sắc và rộng rãi với các khái niệm và phạm trù màchính thuật ngữ tài chính là những từ và ngữ biểu thị những khái niệm và phạm trù khoa học.Vấn đề đặt ra đó là chưa hẳn những người viết báo hoặc biên tập nội dung đã nắm rõ và logic hệthống thuật ngữ, điều này rất dễ dẫn đến sự nhầm lẫn cơ bản cho người đọc Đồng thời, hệ thốngthuật ngữ tài chính cũng tồn tại một số thuật ngữ được sử dụng trong văn bản thiếu tính thốngnhất về cách viết thuật ngữ cũng như cách hiểu nội dung các thuật ngữ, dẫn đến tình trạng khiếunại, tranh chấp, bất đồng xảy ra trong thực tiễn Do vậy, vấn đề thống nhất và chuẩn hóa hóathuật ngữ về cách viết và cách hiểu thuật ngữ là rất cần thiết và cấp bách
Với vấn đề như vậy, việc chuẩn hóa một số thuật ngữ tài chính nói chung và nghiên cứu đềxuất chuẩn hóa thuật ngữ tài chính trong báo chí nói riêng đang rất cấp thiết cả về mặt khoa họclẫn thực tiễn Đưa ra đề tài nghiên cứu này, tôi mong có thể góp phần nào sức lực để giải quyếtvấn đề đó
2 M c đích và nhi m v nghiên c u ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ệm vụ nghiên cứu ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ứu
Thông qua việc khảo sát hệ thống thuật ngữ tài chính trong báo điện tử cụ thể làtapchitaichinh.vn mục đích của bài luận là thống kê các thuật ngữ tài chính hay được sử dụngtrên báo điện tử từ đó nhận xét và đưa ra những đề xuất về chuẩn hóa hệ thuật ngữ tài chính tiếngViệt và hướng đến xây dựng một hệ thống thuật ngữ chuẩn
3 Đ i t ối tượng và phạm vi nghiên cứu ượng và phạm vi nghiên cứu ng và ph m vi nghiên c u ạm vi nghiên cứu ứu
Đối tượng nghiên cứu của bài luận là các thuật ngữ tài chính tiếng Việt hiện đang được sửdụng trong báo chí, đó là các từ ngữ biểu thị các khái niệm và các đối tượng chuyên môn đangđược sử dụng ở báo điện tử, tạp chí hoặc rộng hơn là các văn bản của cơ quan nhà nước
Trang 5Phạm vi nghiên cứu của bài chỉ giới hạn ở mặt đồng đại, nghĩa là chỉ khảo sát các thuật ngữtài chính hiện đang được sử dụng trong lĩnh vực báo chí Do vậy, các vấn đề về lịch sử phát triển,quá trình vận động và biến đổi của thuật ngữ tài chính tiếng Việt qua các giai đoạn lịch sử khôngnằm trong phạm vi nghiên cứu của bài luận Đồng thời, bài chỉ giới hạn nghiên cứu thuật ngữcủa ngành tài chính, cho nên các thuật ngữ của các ngành khác được đề cập đến trong nội dungcủa các bài báo cũng không nằm trong đối tượng của nghiên cứu này.
4 Tài li u và ph ệm vụ nghiên cứu ương pháp nghiên cứu ng pháp nghiên c u ứu
Các phương pháp được sử dụng trong tiểu luận:
các bảng biểu đồ để phân loại và đưa ra những số liệu chính xác làm cơ sở cho nhữngmiêu tả, phân tích, kiến giải và kết luận của bài luận
thành, đặc điểm ngữ nghĩa của hệ thống thuật ngữ tài chính tiếng Việt
Ngoài ra, bài còn sử dụng thủ pháp so sánh để so sánh cũng như tham chiếu chuẩn mực vớicác tiêu chuẩn của thuật ngữ nhằm giúp cho việc đặt và chuẩn hóa thuật ngữ tài chính tiếng Việt,đồng thời cũng là thủ pháp để so sánh với một số hệ thống thuật ngữ khác trong tiếng Việt vàmột số thuật ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài
Chương 1 tóm lược, phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu đã có của các tác giả trong vàngoài nước về thuật ngữ nói chung và thuật ngữ tài chính nói riêng, chỉ ra những vấn đề còn tồntại và những vấn đề mà bài luận cần tập trung nghiên cứu và giải quyết Đồng thời đưa ra lýthuyết làm cơ sở cho bài nghiên cứu
1 L ch s nghiên c u thu t ng tài chính ịch sử nghiên cứu thuật ngữ tài chính ử nghiên cứu thuật ngữ tài chính ứu ật ngữ tài chính ữ tài chính
1.1.L ch s hình thành c a thu t ng ngành tài chính ịch sử nghiên cứu thuật ngữ tài chính ử nghiên cứu thuật ngữ tài chính ủa thuật ngữ ngành tài chính ật ngữ tài chính ữ tài chính
Lịch sử nghiên cứu của ngành thuật ngữ tài chính ra đời cho thấy sự phát triển của hệthống thuật ngữ trong lĩnh vực này là hoàn toàn tự nhiên, song hành cùng sự phát triển của nềnvăn minh nhân loại
Ngành khoa học nghiên cứu về vấn đề kế toán (accounting) hình thành Mục đích củakhoa học này nhằm đưa những khái niệm, nhận thức thông thường thành quy luật, thành tư duylogic khiến cho nó có khả năng phản ánh hiện thực một cách sâu sắc và chính xác
Khoa học nghiên cứu về “kế toán” ra đời, kéo theo nó là “phân tích tài chính” Lĩnh vựcTài chính-Ngân hàng tồn tại song hành, hỗ trợ nhau Nói đến Tài chính là nói đến hoạt động giao
Trang 6lưu giữa các loại vốn như ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Kinh tế càng cao thì đầu tư càng nhiều.Đầu tư cần vốn phải thông qua những giao dịch thị trường, trong đó phải nói tới giao dịch ngânhàng Vì vậy, khi nói đến hoạt động trong lĩnh vực Tài chính-Kế toán-Ngân hàng, chủ yếu là ta
đề cập đến các vấn đề về kinh tế
Thuật ngữ Tài chính-Kế toán-Ngân hàng do đó còn có tên gọi chung là “thuật ngữ Kinh
tế “ Kế toán được hiểu là “một hệ thống đo lường, xử lý và truyền đạt thông tin tài chính về mộtđơn vị hạch toán độc lập” Thông tin được lưu giữ lại là những giao dịch hàng ngày liên quan vềgiá trị, chẳng hạn như mua bán, chi trả, thu nợ, vay mượn, hay nói các khác đó là những sự kiệnkinh tế ảnh hưởng đến nội bộ một doanh nghiệp và được gọi là “nghiệp vụ kinh tế phát sinh”(business transaction) Khi đã có một khối lượng lớn về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì doanhnghiệp cần phải có phương pháp lưu giữ và phân loại nó Khi đó khái niệm “tài khoản” ra đời(account) “Tài khoản” là tên gọi hay nói rõ hơn đó chính là cái “mác”, cái “nhãn” (labels) màcác nhân viên kế toán dùng để tập hợp, phân biệt các khoản tiền của các nghiệp vụ kế toán tương
tự
Hàng loạt các thuật ngữ ra đời như hệ thống tài khoản (accounting system), vốn chủ sởhữu (owner's equity), nợ phải trả (liability), tài sản (asset), doanh thu (revenues), chi phí(expenses), thương phiếu phải trả (notes payable), vay có thế chấp ( mortgage payable) Cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh ghi chép trong sổ sách phải sử dụng các thuật ngữ liên quan đến tiền,được đo lường bằng tiền (money measure) Các thông tin kế toán dưới dạng thuật ngữ tài chínhđược trình bày trong bốn bản báo cáo kế toán, đó là “bảng kê lãi lỗ” (the income statement),
“bảng kê vốn chủ sở hữu” (the statement of owner's equity), “bảng chu chuyển tiền mặt” (thestatement of cash flows) và “bảng cân đối tài sản” (the balance sheet) Hàng loạt các thuật ngữ kếtoán được đặt ra để gắn vào những “nghiệp vụ kinh tế phát sinh” được trình bày trong các bảngbáo cáo tài chính Ví dụ như “bảng cân đối tài sản” là bảng dùng để trình bày tình trạng tài chínhvào ngày tháng nhất định nào đó Ta sẽ thấy hàng loạt các thuật ngữ được tạo ra để gắn với các
“nghiệp vụ kinh tế phát sinh” như: “tài sản cố định (fixed assets), “tài sản lưu động” (currentassets), “tài sản vô hình” (intangible assets), “cổ phiếu ở công ty con” (shares in subsidiary), “kýquỹ ngắn hạn” (short term deposits), “dự phòng nợ và chi phí” (provisions for liabilities andcharges), “tiền bù cổ phiếu (share premium), “vốn cổ phần huy động” (called up share capital)
Xã hội phát triển, giao dịch trong làm ăn buôn bán càng mở rộng và trở nên phức tạp,nhất là hiện nay trong thời kỳ hội nhập quốc tế, cả thế giới hướng tới một cơ chế kinh tế duynhất, thuật ngữ càng cần phải được cập nhật thường xuyên Do vậy, thuật ngữ kế toán là một hệthống mở để đón nhận các thuật ngữ mới ra đời Thuật ngữ “nguyên tắc kế toán được chấp nhậnchung"(generally accepted accounting principles (GAAP) được dùng làm thước đo chung tìnhhình kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới hay từng doanh nghiệp trong các quốc gia đó Kế toánđược coi là một lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong thế giới kinh doanh hiện đại (Accounting isone of the fastest growing fields in the modern business world)
Nó được coi là “ngôn ngữ kinh doanh” (the language of business) Trước kia việc xuấthiện của công việc kế toán hoàn toàn là nhu cầu rất tự nhiên Các bộ tộc thời trung cổ hay mộtnhóm thương gia cần đến kế toán chỉ đơn giản là để quản lý của cải, tài sản mà họ kiếm được.Nhận thức của họ về việc quản lý của cải của mình cũng rất đơn giản Doanh nghiệp được tưởngtượng như một cái hộp đựng tiền hay một cái hồ chứa nước Do vậy tiền đầu tư vào doanhnghiệp, tiền vay mượn hay tiền rút ra cũng được miêu tả như dòng nước chảy Tiền bỏ vào doanhnghiệp có thuật ngữ tương ứng “inflow of cash” (luồng vốn chạy vào); “cash” là tiền, “inflow” là
Trang 7dòng chảy vào Tiền rút vốn được gọi là outflow of cash” “Outflow” là dòng chảy ra Và cũng từđây thuật ngữ “cash flow” (chu chuyển tiền hay dòng ngân lưu) ra đời Khi nói “cạn kiệt nguồnvốn” người ta dùng hình tượng “reservoir runs dry” cũng tương tự như dùng trong trường hợp
“ấm đun cạn hết nước” Cách hiểu cũng như các thuật ngữ trên vẫn được dùng để ghi chép cácgiao dịch thu chi nguồn vốn trong doanh nghiệp ngày nay
Nếu kế toán chỉ dừng lại ở việc quản lý tài sản sao cho có hiệu quả thì chưa đủ Ngày nay
do tốc độ phát triển như vũ bão của công việc kinh doanh mang tính thương mại quốc tế thì việcquản lý đòi hỏi phải đi vào chiều sâu, phải quan tâm đến chất lượng của hoạt động doanh nghiệp
Kế toán được sử dụng rộng rãi để diễn giải các hoạt động khác như hoạt động kinh doanh, hoạtđộng đầu tư và hoạt động tài chính (operating, investing and financing activities) Do vậy cùngvới kế toán, phân tích hoạt động kinh doanh là một trong những công cụ đắc lực để quản lý vàđiều hành có hiệu quả các hoạt động doanh nghiệp
Phân tích hoạt động doanh nghiệp liên quan đến một số môn học mới xuất hiện chừng vàithập niên trở lại đây, chủ yếu ở các nước có nền kinh tế phát triển như: “kế toán quản trị”(management accounting), “phân tích báo cáo tài chính” (the analysis of financial statements),
“quản trị tài chính” (financial management) Để đáp ứng hoạt động phân tích hoạt động doanhnghiệp hàng loạt thuật ngữ mới xuất hiện Thí dụ “phân tích tỷ số” (ratio analysis) là một côngviệc của “phân tích báo cáo tài chính” Các tỷ số sẽ rút gọn khối lượng dữ liệu chứa trong bảngbáo cáo tài chính” thành dạng thực tế để dễ hiểu, dễ sử dụng Các nhà quản lý (manager) cầnphải biết “khả năng thanh khoản” (liquidity), khả năng đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn (shortterm liability) của doanh nghiệp mà họ đang điều hành Họ phải quan tâm đến “tỷ số lưu hoạt”(current ratio), đó là kết quả việc so sánh giữa “tài sản hiện hành” (current assets) và “nợ hiệnhành” (current liabilities).Các “cổ đông"(shareholders) muốn biết “lãi cổ tức” (stock dividend)
có được an toàn hay không, họ phải được cung cấp kết quả qua phân tích “tỷ số bảo chứng lợinhuận cổ tức” ( dividend cover) ở nơi mà họ đang bỏ vốn đầu tư Kết quả của tỷ số dựa vào việc
so sánh “lợi nhuận trong năm tài chính” (profit for the financial year) với “lãi cổ tức phải chi trả”(dividend payable) Hàng loạt các thuật ngữ mới xuất hiện để đáp ứng cho các hoạt động này.Thí dụ không chỉ có các nhà quản lý mà cả những người làm công” (employee), “con nợ”(debtor), “trái chủ “ (creditor), các “nhà cung ứng vật tư” (supplyer) và cả các “công ty cạnhtranh” (rival company) đều 1 quan tâm đến “tỷ số thời gian thu nợ trung bình” ( averagecollection period) và “tỷ số lượng hàng quay vòng” (stock turnover) Các cổ đông, các nhà tưvấn”(adviser), các nhà đầu tư”(investor) quan tâm đến “tỷ số khả năng sinh lời”(profitability) Giao dịch ngân hàng cũng là hoạt động phổ biến trong hoạt động làm ăn củadoanh nghiệp “Ngân hàng là thủ quỹ của nền kinh tế” Điều này trở nên cần thiết khi nước ta ranhập WTO Trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại quốc tế sẽ trở nên thường xuyên Trongquá trình hoạt động cũng như tất cả các hoạt động quốc tế kể cả quan hệ mậu dịch và phi mậudịch đều cần đến tài chính Rất nhiều thuật ngữ ra đời như “tín dụng thư” (letter of credit (L/C);
“tín dụng thư huỷ ngang” và “tín dụng thư không huỷ ngang” (revocable L/C, irrevocable LC);
“thư tín dụng giáp lưng” (back to back L/C); “giao hàng trên tàu” (free on board); “giá hàng, phíbảo hiểm, cước vận chuyển” (cost, insurance, freight (CIP)); “hối phiếu” (bill of exchange /draft); “lệnh phiếu” ( promissory note)
1.2.Tình hình nghiên c u trong n ứu ước c
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, thị trường tài chính luôn là thị trường sôiđộng mang tính quyết định sự phát triển bền vững và lớn mạnh của một nền kinh tế quốc gia
Trang 8Tuy nhiên ở nước ta, thị trường này mới nhen nhúm Do vậy, nhu cầu tìm hiểu, tiếp thu những trithức mới về lĩnh vực này trở nên vô cùng cấp bách, đòi hỏi hàng loạt các thuật ngữ ra đời, tuychưa chính xác nhưng cũng đáp ứng được vấn đề nắm bắt tri thức khoa học mới Bất cứ một tàiliệu chuyên ngành nào cũng kèm theo thuật ngữ để giải thích những tri thức khoa học liên quan.Nhưng vì đây là một mảng tri thức đang còn nhiều mới mẻ, chúng ta chưa kịp xây dựng chomình một hệ thống thuật ngữ riêng, mà còn vay mượn nhiều của nước ngoài, trước kia là củaNga, Pháp, nay là của tiếng Anh Đây là điều kiện để thuật ngữ tiếng Anh ào ạt vào Việt Nam.Chỉ tính riêng các từ điển song ngữ Anh-Việt về lĩnh vực Tài chính-Kế toán- Ngân hàng nhữngnăm 90 của thế kỷ trước cho tới nay đã có những quyển sau:
1 1985: Nguyễn Đức Dy, Đỗ Mộng Hùng, Vũ Hữu Tửu, Vũ Hoài Thủy, Từ điểnNgoại thương Anh-Việt, Trường Đại học Ngoại thương
2 1992: Nguyễn Thị Ái Nguyệt, Nguyễn Tùng Lâm, Từ điển Anh-Việt Thươngmại-Tài chính-Ngân hàng Anh-Việt, Nxb Thế giới – Nxb Mũi Cà Mau
3 1994 : Trần Ngọc Thịnh, Từ điển Quản lý Kinh doanh Tài chính, Nxb Thế giới
4 1996 : Công ty dịch thuật Quốc tế, Từ điển Việt-Anh Thương mại-Tài chínhthông dụng, Nxb Thống kê
5 1997: Ninh Hùng, Quang Minh, Từ điển Anh-Việt thương mại quốc tế, Nxb Tre
6 2001: Trần Văn Chánh, Từ điển Kinh tế thương mại Anh-Việt, Nxb Đà Nẵng
7 2003: Đỗ Hữu Châu, Từ điển thuật ngữ Tài chính Quốc tế Anh Việt, Nxb Thanhniên
8 2003: Lê Văn Tề, Từ điển Kinh tế-Tài chính-Ngân hàng Anh-Việt, Nxb Thanhniên
9 2003: Khải Nguyên, Văn Hạnh, Từ điển Kế toán-Kiểm toán-Thương mại Việt, Nxb Thống kê
Anh-Nhìn chung, chúng ta có thể nêu ra một số nhận định như sau về thuật ngữ Tài chínhtiếng Việt:
Bên cạnh những đặc điểm chung với nhiều hệ thống thuật ngữ khoa học xã hội và nhânvăn khác của Việt Nam, hệ thuật ngữ Tài chính tiếng Việt còn có các đặc điểm riêng của mình
Do sự phát triển mạnh mẽ những năm gần đây để đáp ứng kịp thời sự thay đổi của nền kinh tế,
có những thuật ngữ được cấu tạo chưa chuẩn xác, chưa trong sáng tiếng Việt là điều không tránhkhỏi
Thuật ngữ Tài chính dùng ở Việt Nam chủ yếu là qua con đường vay mượn các thuật ngữnước ngoài theo các phương thức phổ biến là: chuyển dịch, phiên âm, chuyển tự và mượnnguyên dạng
Về nguồn gốc, các thuật ngữ Tài chính dùng ở Việt Nam phần lớn được tạo lập từ các yếu
tố Hán-Việt (thí dụ: kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng ) Đa phần các thuật ngữ tài chínhtiếng Việt được cấu tạo từ các yếu tố Hán Việt Các yếu tố thuần Việt rất ít
Trang 9Các thuật ngữ Tài chính được hình thành từ lối phiên chuyển các thuật ngữ Anh-Mỹ ngàycàng nhiều, thí dụ: “chống độc quyền” hay “chống tơ-rớt” (antitrust), “nhân” hay “mác” (brandmark), chế độ hạn ngạch” hay “chế độ cô ta” (quota system) Có tình hình sử dụng song songthuật ngữ Tài chính tiếng Việt và thuật ngữ phiên chuyển từ tiếng Anh/Mỹ, thí dụ: marketing –tiếp thị, bán hàng online – bán hàng trên mạng, down giá – hạ giá, lãi suất hot – lãi suất cao
2 C s lý lu n ơng pháp nghiên cứu ở lý luận ật ngữ tài chính
2.1.Khái ni m thu t ng và các khái ni m liên quan ệm vụ nghiên cứu ật ngữ tài chính ữ tài chính ệm vụ nghiên cứu
2.1.1 Thu t ng theo quan ni m truy n th ng (d ật ngữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ưới góc nhìn ngôn ngữ i góc nhìn ngôn ng ữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ
h c) ọc)
Xét từ góc độ ngôn ngữ học, có thể chia thành ba xu hướng chính sau:
Một số nhà nghiên cứu nước ngoài khi định nghĩa thuật ngữ đã quan tâm tới việc chỉ ra sựkhác biệt giữa thuật ngữ với từ thông thường Kuz'kin N.P (1962) cho rằng: "Nếu như từ thôngthường, từ phi chuyên môn tương ứng với đối tượng thông dụng, thì từ của vốn thuật ngữ lạitương ứng với đối tượng chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến".[Dẫn theo 7, 10] Tương tự, Moiseev A.I (1970) khẳng định :"Chính biên giới giữa thuật ngữ vàphi thuật ngữ không nằm giữa các loại từ và cụm từ khác nhau mà nằm trong nội bộ mỗi từ vàcụm từ định danh"[dẫn theo 7,10] Kapanadze L.A cũng nhấn mạnh:"Thuật ngữ không gọi tênkhái niệm như từ thông thường mà là khái niệm được gán cho nó dường như là gắn kèm theo nócùng với định nghĩa"[dẫn theo 13,4]
Bên cạnh đó, khá nhiều nhà nghiên cứu khi định nghĩa thuật ngữ lại chú ý đến chức năng màthuật ngữ đảm nhiệm Vinokur G.O (1939) khẳng định "Thuật ngữ - đấy không phải là những từđặc biệt, mà chỉ là những từ có chức năng đặc biệt” và đó là “chức năng gọi tên”[dẫn theo 4,4].Đồng thời ông cho rằng bất cứ từ nào cũng được cấu tạo để có vai trò là một thuật ngữ Quanniệm của Vinokur G.O cho thấy nền tảng của thuật ngữ chính là ngôn ngữ, cụ thể là các đơn vị
từ vựng Bên cạnh đó, Vinôgrađốp V.V (1947) còn chỉ rõ thuật ngữ không chỉ có chức năng gọitên mà còn có chức năng định nghĩa: “Trước hết từ thực hiện chức năng định danh, nghĩa là hoặc
nó là phương tiện biểu thị, lúc đó nó chỉ là một kí hiệu đơn giản, hoặc nó là phương tiện của địnhnghĩa logic, lúc đó nó là thuật ngữ khoa học”[dẫn theo 7,14] Tương tự, Gerd A.X (1968) trongđịnh nghĩa của mình cũng nhấn mạnh chức năng định nghĩa của thuật ngữ:"Thuật ngữ là một đơn
vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi cácđặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa"[dẫn theo 11,19]
Phần lớn các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước khi định nghĩa thuật ngữ đã tập trung đếnviệc xác định thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Tu (1960),
Đỗ Hữu Châu (1962) là những nhà ngôn ngữ học đầu tiên đưa ra định nghĩa về thuật ngữ, trong
đó các tác giả chỉ rõ thuật ngữ không chỉ biểu thị khái niệm khoa học mà thuật ngữ còn chỉ tên cả
sự vật, hiện tượng khoa học Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đưa ra các định nghĩa về
Trang 10thuật ngữ Nhìn chung các định nghĩa đều nhấn mạnh đến tính chính xác của khái niệm và đối
tượng chuyên môn mà thuật ngữ biểu thị: "Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ.
Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn của con người" [dẫn theo 12 ,270]
Ở nước ngoài, một số nhà ngôn ngữ học Nga khi đưa ra định nghĩa cũng nhấn mạnh đến kháiniệm và đối tượng chuyên môn thuật ngữ biểu thị Chẳng hạn, Akhmanova O.S (1966) địnhnghĩa: "Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kĩthuật, v.v ) được sáng tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn.v.v ) để biểu hiện chính xác cáckhái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn”[dẫn theo 10,474]
Những năm gần đây ở Việt Nam, khi bàn về vấn đề thuật ngữ nói chung hoặc trong các côngtrình nghiên cứu về thuật ngữ thuộc một số các chuyên ngành cụ thể, hầu hết các nhà nghiên cứucũng đều đưa ra định nghĩa thuật ngữ hoặc chấp nhận quan điểm định nghĩa thuật ngữ trong mốiquan hệ với khái niệm và đối tượng chuyên môn mà thuật ngữ biểu thị
2.1.2 Thu t ng theo quan ni m m i (d ật ngữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ới góc nhìn ngôn ngữ ưới góc nhìn ngôn ngữ i góc nhìn thu t ng h c) ật ngữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ọc)
Từ lâu đã có nhiều công trình trên thế giới và trong nước nghiên cứu về “thuật ngữ” Nóiđến thuật ngữ người ta thường nhắc đến tên tuổi một số nhà thuật ngữ học nổi tiếng nhưE.Wuster (Đức), J.C.Boulanger (Anh),W.E Flood, R.W Brown (Mỹ) và đáng chú ý là một số lànhà ngôn ngữ học Liên Xô trước đây và Nga hiện nay Khái niệm thuật ngữ được nêu trong haicuốn Terminovedenie: Predmet, metody, structura (Thuật ngữ học: Đối tượng, phương pháp, cấutrúc), in năm 2007, tái bản lần thứ ba, của tác giả V.M.Leichik Obshaja terminologhija: Voprosyteorii (Thuật ngữ học đại cương: Những vấn đề lý thuyết) in năm 2007, tái bản lần thứ tư,của batác giả là A.V Superanskaja, N.V Podolskaja, N.V Vasileva
Theo các tác giả này thì có thể định nghĩa về thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ là đơn vị từvựng của một thứ ngôn ngữ nhất định dùng cho những mục đích chuyên môn, nó biểu thị mộtkhái niệm lý thuyết chung - cụ thể hay trừu tượng của một lĩnh vực tri thức hay hoạt độngchuyên môn nhất định”(Leichik, tr.31-32) “Thuật ngữ là từ (hay cụm từ) chuyên môn, được thừanhận trong hoạt động chuyên ngành và được sử dụng trong những điều kiện đặc biệt Thuật ngữ
là sự biểu đạt bằng từ ngữ một khái niệm của một hệ thống các khái niệm thuộc một lĩnh vực trithức chuyên ngành nhất định Thuật ngữ là yếu tố khái niệm cơ sở của thứ ngôn ngữ dùng chocác mục đích chuyên môn” ( Superanskaja, Podolskaja và Vasileva, tr.14)
Như vậy, định nghĩa thuật ngữ theo quan niệm của thuật ngữ học giúp chúng ta có mộtcái nhìn bao quát, toàn diện về bản chất của thuật ngữ Thuật ngữ không chỉ phạm trù của ngônngữ học mà nó còn là phạm trù của logic học và khoa học liên ngành Còn định nghĩa thuật ngữtheo quan niệm truyền thống lại giúp chúng ta có một cái nhìn cụ thể về thuật ngữ: về hình thức,thuật ngữ là những từ và cụm từ; về nội dung, thuật ngữ biểu thị các khái niệm hoặc đối tượngchuyên môn
2.1.2.1. Quan ni m thu t ng đệm thuật ngữ được sử dụng trong bài ật ngữ được sử dụng trong bài ữ được sử dụng trong bài ược sử dụng trong bài ử dụng trong bài ụng trong bàic s d ng trong bài
Bài luận được xây dựng với hướng tiếp cận từ đặc điểm cấu trúc-hệ thống của thuật ngữtài chính, nghĩa là chủ yếu xem xét thuật ngữ tài chính trên phương diện ngôn ngữ học, cho nên
sẽ tiếp cận thuật ngữ theo quan niệm truyền thống (từ góc độ của ngôn ngữ học) là chính: “Thuật
Trang 11ngữ là từ ngữ biểu hiện một khái niệm hoặc một đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn” Đây là định nghĩa do Nguyễn Đức Tồn nêu ra trong công trình Những vấn đề
thời sự của chuẩn hóa tiếng Việt (2010) và cũng được trích đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ số 12/
2010, trang 4
2.1.2.2. M t vài v n đ v thu t ngột vài vấn đề về thuật ngữ ấn đề về thuật ngữ ề về thuật ngữ ề về thuật ngữ ật ngữ được sử dụng trong bài ữ được sử dụng trong bài
a Tiêu chuẩn xây dựng thuật ngữ
Việc xây dựng, thống nhất thuật ngữ khoa học liên quan chặt chẽ tới việc xác định các tiêuchuẩn của thuật ngữ Vì vậy, đây là một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu rất quantâm
Có thể thấy, các nhà nghiên cứu đưa ra khá nhiều tiêu chuẩn cho thuật ngữ Nhưng có thểkhái quát chúng lại thành các tiêu chuẩn: tính khoa học, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng.Trong đó, tính khoa học được tất cả các nhà nghiên cứu từ trước đến nay coi đó là tiêu chuẩnquan trọng bậc nhất Còn các tiêu chuẩn tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng không đượccác nhà nghiên cứu chú trọng như nhau Nhìn chung, quan niệm của các nhà nghiên thời kì đầu(những năm 60-70), ngoài tính khoa học họ rất quan tâm đến tính dân tộc và tính đại chúng, còntính quốc tế thì chưa được chú ý và ít được đề cập đến Trong giai đoạn hiện nay, hầu như tất cảcác nhà nghiên cứu đều khẳng định, tính quốc tế là một trong những phẩm chất bắt buộc củathuật ngữ, bên cạnh tính khoa học Tuy nhiên, tính dân tộc và tính đại chúng thì lại không đượcchú ý nhiều
b Thuật ngữ và pháp danh
Các nhà khoa học nước ngoài cũng như Việt Nam có chung quan điểm về thuật ngữ và danhpháp: thuật ngữ gắn với hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể, và ở thuật ngữ, chức năngđịnh nghĩa là quan trọng, còn danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học mà
nó chỉ gắn với sự vật, đối tượng cụ thể của một lĩnh vực khoa học Danh pháp là tên gọi chuyênmôn được dùng trong một lĩnh vực khoa học cụ thể và đối với danh pháp, chức năng gọi tên mới
là quan trọng
c Thuật ngữ và từ nghề nghiệp
Một thuật ngữ có thể trở thành từ nghề nghiệp khi thuật ngữ ấy chỉ các đối tượng, sự vật cụ thể Tuy nhiên, từ nghề nghiệp là các đơn vị từ vựng gọi tên các sự vật, hoạt động, tính chất, tên gọi của sản phẩm không thể trở thành thuật ngữ Ví dụ :từ vựng được sử dụng giữa những người cùng làm trong một ngành nghề cụ thể tại một làng, một vùng cư dân nào đó, và đó là các nghề thủ công như nghề gốm sứ, nghề dệt, nghề mộc, nghề giấy…
2.2.M t s v n đ liên quan đ n thu t ng tài chính ột số vấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính ối tượng và phạm vi nghiên cứu ấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính ề tài ến thuật ngữ tài chính ật ngữ tài chính ữ tài chính
2.2.1 Khái ni m thu t ng tài chính ệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ật ngữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ
Cho đến nay hệ thuật ngữ Tài chính trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt chưa đượcnghiên cứu sâu về phương diện lý luận Chủ yếu hay gặp những quyển Từ điển đối chiếu song ngữ Nga-Việt, Pháp-Việt, Anh- Việt hoặc ít hơn là từ điển giải thích thuật ngữ Những cuốn từ điển này đã là những công cụ hữu ích, tra cứu tiện lợi cho các giảng viên, sinh viên thuộc các
Trang 12khoa kinh tế, tài chính, ngân hàng, thương mại vv cho các nhà doanh nghiệp, cũng như cho những người làm nghiên cứu, dịch thuật Dựa trên quan niệm về thuật ngữ đã nêu ở trên và trên
cơ sở các tài liệu sách báo chuyên ngành đã có, chúng ta có thể đưa ra một số cách hiểu về các thuật ngữ Tài chính như sau:
Thuật ngữ Tài chính có thể được hiểu là những từ và cụm từ cố định biểu thị các khái niệm và đối tượng chuyên môn thuộc lĩnh vực tài chính; trong đó khái niệm “tài chính” được
quan niệm như sau Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên (2004), “tài chính” được giải thích là: “Việc quản lý của cải xã hội tính bằng tiền theo những mục đích nhất định”, và “tài chính xí nghiệp” là “việc quản lý số vốn hiện có của xí nghiệp dùng cho sản xuất và kinh
doanh” Còn theo Từ điển chuyên ngành “Dictionary of Economic” do 2 giáo sư người Anh Christopher Pass và Bryan Lowes biên soạn (1997) thì khái niệm “tài chính” được định nghĩa là
“ Các hoạt động kế toán hướng đến việc hình thành các tài khoản lỗ lãi và bảng tổng kết tài sản hàng năm để báo cáo cho các cổ đông về toàn bộ thành quả (lợi nhuận) của công ty” Tài chính liên quan đến việc diễn giải các dữ liệu đã được kế toán ghi chép và tổng hợp Ban quản trị, các
cổ đông và những thành viên có quyền lợi liên quan đến doanh nghiệp có thể dựa vào các số liệu
đó để đánh giá tình hình trong quá khứ và hoạch định cho hoạt động tương lai Cho nên, “thuật ngữ tài chính” ở đây chúng tôi hiểu là thuật ngữ được dùng trong lĩnh vực chuyên môn về “tài chính”, dùng để “phân tích hoạt động kinh doanh” (operating activities analysis), “phân tích báo cáo tài chính” (the analysis of financial statements) và các thuật ngữ đến vấn đề “quản trị tài chính” (financial management) liên quan đến vấn đề “quản trị tài chính”(financial
management)
1.2.2 Lý thuy t đi n m u v i vi c chu n hóa thu t ng tài chính ết điển mẫu với việc chuẩn hóa thuật ngữ tài chính ển mẫu với việc chuẩn hóa thuật ngữ tài chính ẫu với việc chuẩn hóa thuật ngữ tài chính ới góc nhìn ngôn ngữ ệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ẩn hóa thuật ngữ tài chính ật ngữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ ữ theo quan niệm truyền thống (dưới góc nhìn ngôn ngữ
Quan niệm về chuẩn được một số nhà ngôn ngữ học bàn luận, đáng chú ý là các quanđiểm của Hoàng Phê (1980) và Đỗ Hữu Châu (1981) cho rằng chuẩn của ngôn ngữ là một thựcthể tồn tại khách quan trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn của ngôn ngữ, luôn luôn có nguy cơ bịphá vỡ để tạo ra cái chuẩn mới, thậm chí có nhiều chuẩn cùng tồn tại Nếu một thuật ngữ đãđược xây dựng đúng chuẩn, nghĩa là đáp ứng được các tiêu chuẩn của một thuật ngữ điển hìnhthì sẽ luôn luôn được dùng đúng chuẩn trong hoạt động giao tiếp chuyên môn
Ch ương pháp nghiên cứu ng 2: Đ C ĐI M HÌNH TH C THU T NG TÀI CHÍNH ẶC ĐIỂM HÌNH THỨC THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH ỂM HÌNH THỨC THUẬT NGỮ TÀI CHÍNH ỨU THUẬT NGỮ ẬT NGỮ Ữ
Chương 2 có nhiệm vụ đi sâu vào phân thích thuật ngữ tài chính, thuật ngữ có những đặctrưng riêng của nó về hai phương diện: cấu tạo hình thức và cấu tạo ngữ nghĩa, vậy nên cần phântích cấu trúc của thuật ngữ trong lĩnh vực tài chính
1 S l ơng pháp nghiên cứu ượng và phạm vi nghiên cứu c v c u t o thu t ng tài chính trong ti ng Vi t ề tài ấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính ạm vi nghiên cứu ật ngữ tài chính ữ tài chính ến thuật ngữ tài chính ệm vụ nghiên cứu
Về cấu tạo hình thức ta nhận thấy thuật ngữ tiếng Việt tuân thủ theo quy tắc cấu tạo từ thôngthường Hình thức của thuật ngữ chỉ khác từ thông thường ở chỗ là đòi hỏi phải ngắn gọn vàvững chắc về kết cấu Số lượng thuật ngữ được tạo ra ngày một nhiều Để quản lý toàn bộ thuậtngữ và đưa thuật ngữ mới vào hệ thống, ta phải phân loại cấu tạo hình thức và đưa nó vào khuôn
Trang 13mẫu thích hợp Khuôn mẫu ở đây là nơi tập trung những thuật ngữ có cùng một đặc điểm cấutạo Hay nói rõ hơn, một thuật ngữ mới tạo ra để chính xác về khái niệm khoa học nó phải đượcđặt vào mô hình cấu tạo phù hợp.
Về hình thức, thuật ngữ Tài chính có thể có kiểu cấu tạo “đơn giản” chỉ gồm một yếu tố, như
thuật ngữ thuế của tiếng Việt hay thuật ngữ draft (hối phiếu) của tiếng Anh Nhiều thuật ngữ
được xếp vào loại kiểu cấu tạo “phức hợp” vì chúng được tạo thành từ hai yếu tố trở lên Thí dụ
từ phái sinh trong tiếng Anh như profitable Thuật ngữ này có thể tách ra được hai yếu tố, đó là profit một căn tố (root) mang nghĩa “lợi nhuận” và hậu tố (suffix) -able mang nghĩa “có khả
năng” đứng cuối từ Ta còn có thể gặp những thuật ngữ có cấu tạo phức tạp hơn nữa, bao gồm
trong nó cả ba loại yếu tố ( tiền tố, hậu tố và căn tố ) như trường hợp selfemployed : self - + | employ |+ -ed (tự cung ứng lao động).Thuật ngữ “phức hợp” có thể là từ ghép, được tạo thành
bằng phương thức “ghép” các yếu tố thuật ngữ Thí dụ: các thuật ngữ tài chính, tài vụ, tài khoảncủa tiếng Việt hay bank note (giấy bạc ngân hàng), drip-feed (tài trợ nhỏ giọt), debt-to-equity (nợ
so với vốn ) của tiếng Anh
Theo lý thuyết ngôn ngữ học, có ba phương thức cấu tạo từ phổ biến trong ngôn ngữ đó là:phương thức ghép, phương thức phụ gia và phương thức láy Phương thức ghép có cả trong tiếngAnh và tiếng Việt nhưng kiểu kết hợp các yếu tố trong từ ghép được mô tả khác nhau giữa cácngôn ngữ Phương thức phụ gia tạo ra mô hình cấu tạo từ phái sinh, một kiểu kết hợp đặc biệtcủa tiếng Anh Phương thức từ láy ở ngôn ngữ nào cũng có, chỉ khác nhau về mức độ năng sản
Từ láy là hình thức độc đáo của cấu tạo từ tiếng Việt cần nghiên cứu, đưa vào cấu tạo thuật ngữ
để mô hình thuật ngữ tiếng Việt thêm phong phú và khái niệm thêm súc tích
2 Đ n v nh nh t c u t o thu t ng tài chính trong ti ng Vi t ơng pháp nghiên cứu ịch sử nghiên cứu thuật ngữ tài chính ỏ nhất cấu tạo thuật ngữ tài chính trong tiếng Việt ấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính ấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính ạm vi nghiên cứu ật ngữ tài chính ữ tài chính ến thuật ngữ tài chính ệm vụ nghiên cứu
Trong công trình “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại”, tác giả Hồ Lê có đề nghị dùngthuật ngữ “nguyên vị” để chỉ đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt Trong khi đó tiếng (mặc nhiên là tiếng
có nghĩa) được không ít nhà Việt ngữ học sử dụng để chỉ đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt Và nhất làgần đây (năm 2002), quyển “Ngữ pháp tiếng Việt” do Hội đồng biên soạn của Ủy ban Khoa học
Xã hội Việt Nam thực hiện đã được phổ biến khá rộng trong giới sư phạm và học thuật Nhữngđặc điểm cơ bản nhất của ngữ pháp tiếng Việt đã được miêu tả và giải thích một cách kháchquan, đầy đủ trong quyển sách này Tiếng ở đây đã được lựa chọn là đơn vị cơ bản của tiếngViệt Tiếng trong tiếng Việt được chứng minh “tiếng tức là âm tiết”, “tiếng là đơn vị nhỏ nhất cóthể có nghĩa”, “tiếng là đơn vị ngữ pháp được dùng để cấu tạo từ”, từ đơn là từ một tiếng, từghép đa phần là từ hai tiếng Hay nói một cách ngắn gọn, tiếng có giá trị về cả ba mặt: ngữ âm(có tổ chức tối đơn giản là một âm tiết), ngữ nghĩa (có khả năng mang ý nghĩa), ngữ pháp (dùng
để cấu tạo từ) Tiếng của tiếng Việt khác với khái niệm hình vị được xây dựng trên cơ sở cáctiếng Ấn Âu ở chỗ vỏ ngữ âm của nó luôn luôn là một âm tiết, nó là đơn vị trung gian giữa hình
vị và từ Trong tiếng Việt số lượng từ đơn được tạo bởi một tiếng vô cùng lớn so với các ngônngữ Ấn Âu Và một điều khác biệt hoàn toàn với hình vị- đơn vị cấu tạo từ của các ngôn ngữ Ấn
Âu là tiếng-đơn vị cấu tạo từ của tiếng Việt có khả năng mang tính chất từ loại
Trang 143 Đ c đi m c u t o thu t ng Tài chính ti ng Vi t c p đ t ặc điểm cấu tạo thuật ngữ Tài chính tiếng Việt ở cấp độ từ ểm cấu tạo thuật ngữ Tài chính tiếng Việt ở cấp độ từ ấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính ạm vi nghiên cứu ật ngữ tài chính ữ tài chính ến thuật ngữ tài chính ệm vụ nghiên cứu ở lý luận ấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính ột số vấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính ừ
v ng ựng
1.1 Thu t ng là t đ n ti ng Vi t ật ngữ tài chính ữ tài chính ừ ơng pháp nghiên cứu ến thuật ngữ tài chính ệm vụ nghiên cứu
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa hoàn chính và có cấu tạo ổn định dùng để đặt câu
Trong tiếng Việt, thuật ngữ là từ đơn chỉ gồm một yếu tố cấu thành là một tiếng, ví dụ:
lãi, nợ, vốn…Đơn vị tiếng trong tiếng Việt có hai loại : tiếng có nghĩa “thực” hay còn gọi là
nghĩa từ vựng và tiếng có nghĩa “hư” hay còn gọi là nghĩa ngữ pháp.Thuật ngữ Tài chính có cấutạo là từ đơn luôn là loại “thực từ” đảm nhiệm vai trò định danh
Thuật ngữ từ đơn không nhiều nhưng cũng đủ để ta phân thuật ngữ từ đơn thành các loại
như: danh từ (Ví dụ: giá, lời, lương, phiếu, tiền, thuế, vốn…), động từ (Ví dụ: bán, chi, nhập, mua, xuất, thu, thuê, vay…), Tính từ thường làm yếu tố phụ trong tổ hợp thuật ngữ như: (bán) non (going short); (bỏ thầu) cao (outbid); (chợ) đen (black market); dễ (bán) (saleable); (hàng) nặng (heavy-lift); (hàng) lỏng (wet goods); (thị trường) xám (gray market); (thị trường đồ) cũ (second-hand market); (thị trường giá) rẻ (down market); (hối phiếu) nóng (hot bill); (chiết khấu) cao (deep discount bond); (sản phẩm) chính (staple product) “Hư từ” mang nghĩa ngữ
pháp dùng làm yếu tố phụ trong cấu tạo từ ngữ “Hư từ” có thể chia thành những loại nhỏ hơnnhư “phụ từ” và “kết từ” Những tiếng mang nghĩa ngữ pháp dùng để chỉ thời gian, trạng thái,mức độ hay dùng để chỉ ra mối quan hệ giữa yếu tố chính và yếu tố phụ trong thuật ngữ là mộtngữ
Một thuật ngữ là từ đơn tiếng Anh khi chuyển qua tiếng Việt không phải lúc nào cũng có
được một thuật ngữ từ đơn tương đương Thí dụ, thuật ngữ tiếng Anh inventory chỉ gồm một hình vị gốc từ, nhưng thuật ngữ tương đương tiếng Việt phải gồm ba tiếng: “hàng lưu kho” hay
“bản kiểm kê” Đại đa số thuật ngữ Tài chính tiếng Anh ở dạng từ đơn khi chuyển sang tiếng
Việt đều chuyển thành từ ghép hay cụm từ
1.2 Thu t ng là t ghép ti ng Vi t ật ngữ tài chính ữ tài chính ừ ến thuật ngữ tài chính ệm vụ nghiên cứu
Từ ghép tiếng Việt có 2 loại ghép nghĩa: từ ghép nghĩa đối và từ ghép nghĩa chính phụ
Ví dụ : nhà đá → cụm từ tự do khi ta hiểu với nghĩa nhà xây bằng đá, nhà lá → nhà làm bằng lá…Nhưng cũng với nghĩa nhà đá → từ ghép khi ta hiểu với nghĩa nhà tù
Để phân ranh giới đâu là từ ghép, đâu là cụm từ trong tiếng Việt, nếu chỉ nhìn vào hìnhthức cấu tạo thì gặp rất nhiều rắc rối Như ta biết từ đơn trong tiếng Việt có thể kết hợp với nhauthành những cụm từ khác nhau Những cụm từ này có hai trạng thái: trạng thái tự do và trạngthái cố định Các từ trong cụm từ ở trạng thái tự do kết hợp với nhau rất lỏng lẻo, thay đổi tùythuộc vào nhu cầu thông báo Trong khi đó, các từ trong cụm từ ở trạng thái cố định có kết hợpvững chắc và không tách riêng ra một cách tự do Để phân biệt ranh giới giữa hai tổ hợp từ này,chúng ta không chỉ đơn thuần căn cứ vào hình thức mà cần phụ thuộc vào ngữ nghĩa
Trang 15Có thể phân biệt hai loại từ ghép này dựa vào đặc điểm của chúng.
a
làm từ một tiếng Hai tiếng gắn bó với nhau theo quan hệ song song, bình đẳng, không cótiếng chính hay tiếng phụ; hay nói cách khác, những từ ghép kiểu này bao gồm nhữngtiếng vốn cùng loại không phụ thuộc lẫn nhau Trong sự phối hợp nghĩa giữa hai tiếng,nghĩa từ vựng của tiếng, từ một nghĩa gốc thành nghĩa hình tượng, nghĩa khái quát, đồngthời hai tiếng đối xứng nhau về nghĩa Ví dụ: buôn bán (sales), thu nhập (income), thu chi(collect-expense), chi trả (payment), hư hại (damage), thuê mướn (employ)
Thuật ngữ từ ghép đẳng lập có thể thay đổi trật tự các tiếng mà vẫn đảm bảo sự phối hợpngữ nghĩa trong thế đối xứng Nhưng, trên thực tế sự thay đổi trật tự từ trong thuật ngữ từghép vẫn bị hạn chế trong một vài trường hợp Việc thay đổi trật tự này đôi khi tạo ra một
sự phối hợp khác, có khi sai khái niệm thuật ngữ Ví dụ: buôn bán đổi trật tự thành bán buôn thì nó lại thành một thuật ngữ từ ghép có nghĩa khác Hai tiếng trong từ ghép ngoài
nhiệm vụ phối hợp ngữ nghĩa, đôi khi ta còn tìm thấy giữa chúng có sự phối hợp ngữ âm,
thí dụ như: của cải, dư dôi, đất đai, trang trải, ế ẩm…
b
thường có thể dùng thành từ, còn tiếng phụ có thể không có tư cách ngữ pháp đó, thí dụ,
đơn giá, tín phiếu, hoặc gồm loại hai tiếng không có khả năng sử dụng độc lập như: nhật biên, suy thoái (downturn)… Khác với thuật ngữ từ ghép đẳng lập, hai tiếng trong từ
ghép chính phụ gắn bó với nhau theo quan hệ chính phụ và trật tự giữa các tiếng khôngthay đổi Sự phối hợp nghĩa trong thuật ngữ từ ghép chính phụ là sự phối hợp giữa mộttiếng chính có nghĩa khái quát và một tiếng phụ có tác dụng hạn định phạm vi của nghĩa
khái quát đó.Ví dụ: tiền nóng (hot money), phí lãi (interest charge), trả góp (instalment)
….
Khác với hình vị của tiếng Anh, tiếng trong tiếng Việt là đơn vị trung gian giữa hình vị
và từ Tiếng có khả năng mang tính chất từ loại như danh từ, động từ, tính từ Do vậy, kếthợp của từ tố trong từ ghép, ta có cảm giác đây là kết hợp của hai từ Quan điểm nàyđược tác giả Nguyễn Văn Tu khai thác trong nghiên cứu của mình
Hai thành tố trong cấu tạo từ ghép tiếng Việt có thể là những tiếng thuần Việt (V – V ), ví
dụ: giấy bạc, kho bạc, ế ẩm…; hoặc cả hai thành tố là tiếng gốc Hán (H – H) Thuật ngữ loại này mượn trực tiếp từ tiếng Hán và được đọc theo âm Hán Việt Ví dụ : đại lý (agency), viện trợ (finance), cấm vận (embargo), trái phiếu (bond), tư bản (capital), bản quyền (copyright), tổn thất (damage), tài sản (asset), ngân hàng (bank), chiết khấu (discount), thu nhập (earnings), chi phí (cost), hợp đồng (contract), chứng khoán (securities)…Từ ghép loại này là một khối gắn bó, ổn định giữa hai tiếng và có nghĩa
hoàn chỉnh
2 Đ c đi m c u t o c a thu t ng tài chính là đo n ng ặc điểm cấu tạo thuật ngữ Tài chính tiếng Việt ở cấp độ từ ểm cấu tạo thuật ngữ Tài chính tiếng Việt ở cấp độ từ ấn đề liên quan đến thuật ngữ tài chính ạm vi nghiên cứu ủa thuật ngữ ngành tài chính ật ngữ tài chính ữ tài chính ản ngữ ữ tài chính
Thuật ngữ thuộc lĩnh vực Tài chính không ngừng được tạo ra để đáp ứng nhu cầu ngày mộtphát triển hiện nay Nhiều thuật ngữ Tài chính nếu chỉ gói gọn trong một từ thì không đáp ứng
Trang 16nổi nhu cầu diễn giải trọn vẹn khái niệm khoa học Do vậy, việc tạo ra thuật ngữ với số lượngtham gia của nhiều thành tố tạo thành đoản ngữ là một điều tất yếu xảy ra
Nếu tạm gác mặt nghĩa lại, thuật ngữ là đoản ngữ nói chung, về hình thức cấu tạo cũng giốngnhư cụm từ thông thường, gồm một yếu tố làm trung tâm kết hợp với các yếu tố phụ khác; ví dụ :
legal estate (tài sản hợp pháp), Part-time work (công việc bán thời gian), operating statement (bản báo cáo chi phí điều hành), outstanding account (khoản nợ quá hạn), wage stickiness (sự thắt chặt tiền công), ability-to-pay principle of taxation (phương pháp tính thuế theo khả năng thanh toán), time saving bonus (tiền thưởng vượt mức thời gian), balance-of-payment disequilibrium (sự mất cân bằng trong cán cân thanh toán)… Qua các ví dụ trên, khi chỉ nhìn sơ
qua về mặt cấu tạo ta dễ có cảm nhận ban đầu là các tổ hợp thuật ngữ không có gì khác với cụm
từ phi thuật ngữ Nhưng thực ra nếu xem xét kỹ nội bộ của các yếu tố cấu tạo nên các tổ hợpthuật ngữ này thì sự thực không hẳn như vậy
Ví dụ: với danh ngữ wage stickiness Ta nhận thấy, danh từ trung tâm của cụm là stickiness, còn wage cũng là danh từ nhưng là định tố làm rõ nghĩa hơn cho danh từ trung tâm Để hiểu rõ nghĩa của danh ngữ ta có thể thay wage bằng một từ khác như: stickiness with one’s original idea ( giữ nguyên ý kiến ban đầu), hoặc có thể mở rộng thành : stickness with one’s name on the list (ghi tên ai vào danh sách) Danh từ stickiness lúc này nghĩa rất rộng, lúc thì “giữ chặt”, lúc
thì “giữ nguyên”, và lúc thì “ghi tên” Xét cả hình thức lẫn nội dung, khó có thể phân định ranhgiới giữa ngôn ngữ thường với ngôn ngữ học thuật
Do vậy, chúng ta không thể hiểu thuật ngữ wage stickiness có nghĩa thắt chặt tiền lương như cách hiểu của cụm từ-phi thuật ngữ giữ chặt ý kiến, ghi tên vào danh sách, mà phải hiểu nó trong
hệ thống thuật ngữ thuộc lĩnh vực Tài chính dùng để chỉ “một phương pháp giải quyết tình thế của các nhà quản lý Họ thường có khuynh hướng điều chỉnh tiền công xuống từng bước để đáp ứng nguồn cung quá mức trong thị trường lao động, một khi số lượng nhân công dư dôi quá mức yêu cầu và đó chính là nguyên nhân dẫn đến nạn thất nghiệp” Ví dụ: The wage stickiness is our best way to solve an unemployment at the moment (Thắt chặt tiền lương là một cách tốt nhất của
chúng tôi để giải quyết tình trạng thất nghiệp lúc này)
Cũng tương tự như vậy, một số thuật ngữ chỉ được hiểu rõ ràng và sử dụng chính xác trongphạm vi hạn hẹp về tài chính, người ngoài lĩnh vực này thường không thể hiểu chúng đầy đủ nhưgiới chuyên môn Ví dụ trên cho thấy nếu thuật ngữ có cấu trúc đoản ngữ kết cấu của nó rất vữngchắc, không thể tùy tiện thay đổi yếu tố cấu tạo mà không phá vỡ khái niệm do cả tổ hợp biểuthị Hay nói cách khác, đây là kiểu thuật ngữ có cấu trúc đoản ngữ
2.1 Thu t ng tài chính là danh ng trong ti ng Vi t ật ngữ tài chính ữ tài chính ữ tài chính ến thuật ngữ tài chính ệm vụ nghiên cứu
Trong hệ thống thuật ngữ lĩnh vực tài chính thì các thuật ngữ là danh ngữ là kiểu phổbiến nhất
Ví dụ : outstanding accounts (các khoản nợ quá hạn)
Trang 17Our outstanding accounts were paid off yesterday (Các khoản nợ quá hạn của chúng tôi
đã được thanh toán xong ngày hôm qua.)
Cũng như các danh ngữ thông thường, ngoài yếu tố trung tâm là danh từ, còn có các định
tố chính là danh từ có thể là danh từ một tiếng, ví dụ: phiếu xuất kho (delivery note), giá có khấu hao (amortized cost), hay yếu tố chính là danh từ hai tiếng, ví dụ như phúc lợi tồn tích (accrued benefits), tài sản khó thanh tiêu (illiquid assets) Điều mà chúng ta cần quan tâm là phải chuyển
dịch sao cho chính xác một thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt nhưng vẫn mang đặc điểm ngữpháp tiếng Việt Để làm tốt điều này, bên cạnh việc quan tâm đến phần trung tâm của đoản ngữ,
ta phải xem xét các định tố trước ( Ptr.) và định tố sau ( Ps.)
2.1.1 Định tố trong thuật ngữ là danh từ.
Định tố đứng ở vị trí ngay trước phần trung tâm là yếu tố loại thể như sự, nền, việc, các, người, ông , con, nhân viên…
Ví dụ : các khoản thuế thu nhập (income-tax-schedules); nền kinh tế tự do kinh doanh
Định tố đứng sau phần trung tâm có vai trò rất quan trọng trong cấu tạo thuật ngữ Cácđịnh tố này có tác dụng hạn định hay miêu tả khái niệm, giúp cho khái niệm thuật ngữ trở nên rõ
ràng, chính xác Nó có thể là tính từ như : sản phẩm xanh (“green” product); tiền tệ mềm (yếu) (soft loan); ngân sách linh hoạt (flexible budget) Nó có thể là danh từ như : doanh nghiệp gia