1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến lược an ninh của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương thập niên đầu thế kỷ XXI

34 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 275,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chiến tranh lạnh kết thúc cùng với sự sụp đổ của Liên Xô đã đem đến cho Mỹ cơ hội trở thành siêu cường duy nhất thế giới. Dưới hai nhiệm kỳ của Tổng thống Bill Clinton, Mỹ theo đuổi chiến lược đối ngoại “can dự và mở rộng” với mục tiêu bao trùm là duy trì vị thế, vai trò lãnh đạo của Mỹ và ngăn không cho một cường quốc hay một nhóm nước nào nổi lên đe doạ vị trí siêu cường số một của Mỹ trên trường quốc tế. Từ sau Chiến tranh lạnh, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang nổi lên và thu hút sự quan tâm ngày càng lớn của Mỹ. Mỹ đặc biệt coi trong khu vực này bởi đây là khu vực phát triển năng động nhất thế giới và cũng là nơi tập trung những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, đòi hỏi Mỹ phải có biện pháp can thiệp nhằm bảo vệ an ninh hữu hiệu và cục diện an ninh chưa định hình, việc dính líu hơn nữa vào các vấn đề của khu vực nhằm tranh thủ thời cơ chiến địa vị chủ đạo trở thành nhu cầu thực tế của Mỹ. Khi Tổng thống Bush lên nhậm chức, chính quyền Đảng Cộng hoà với một đội ngũ các nhà hoạch định chính sách an ninh đối ngoại chủ trương ngoại giao dựa trên ưu thế sức mạnh quân sự của Mỹ đã có những bước điều chỉnh mạnh mẽ trong chiến lược an ninh đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Bước sang thế kỷ XXI, khu vực châu Á – Thái Bình Dương nổi lên là một trong những địa bàn trọng điểm của thế giới cũng như trong cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ phát động. Những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ở khu vực cùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nước lớn trong khu vực khiến Mỹ phải tiến hành những điều chỉnh chiến lược an ninh để giữ vững vị thế lãnh đạo trong khu vực này. Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, sau tám năm cầm quyền của Tổng thống Bush, nước Mỹ có một nhà lãnh đạo mới với phương châm đối ngoại “sử dụng sức mạnh thông minh là công cụ của chính sách đối ngoại” [148], cho việc xử lý các vấn đề toàn cầu. Cũng như chính quyền tiền nhiệm, chính quyền mới của Tổng thống Obama cũng nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang nổi lên định hình môi trường quốc tế mới. Chính quyền Obama cũng đã tiến hành một số điều chỉnh chiến lược an ninh để phù hợp với những biến động của tình hình thế giới và khu vực, nhằm mục tiêu bất biến là duy trì vị trí lãnh đạo của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương. Việc Mỹ điều chỉnh chiến lược an ninh đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã làm gia tăng sự lo ngại về khả năng Mỹ can thiệp sâu vào các quốc gia trong khu vực. Về lâu dài, việc tăng cường lực lượng quân sự của Mỹ sẽ tạo ra nhiều tác động phức tạp đối với an ninh, ổn định của nhiều nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, tác động tới môi trường an ninh của Việt Nam cũng như tác động tiêu cực đến đường lối đối ngoại của Việt Nam. Chính vì vậy, trước những tính toán lợi ích của Mỹ liên quan đến an ninh khu vực, Việt Nam cần xử lý thận trọng và khéo léo theo đúng phương châm đường lối đối ngoại đã vạch ra trong đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và XI. Đứng trước những thách thức như vậy, việc nghiên cứu những điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết. Luận văn thạc sĩ với tiêu đề “Chiến lược an ninh của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương thập niên đầu thế kỷ XXI” sẽ làm rõ nội dung chiến lược an ninh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, vị trí của Việt Nam trong tổng thể chiến lược này, làm cơ sở thực tiễn trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam với Mỹ cũng như những vấn đề liên quan đến tình hình an ninh khu vực trong những năm tới. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Do tính chất và quy mô tác động nhanh chóng, sâu sắc nên chiến lược an ninh của Mỹ nói chung và chiến lược an ninh đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói riêng đã trở thành đề tài được giới nghiên cứu trong và ở những mức độ khác nhau. Có thể đến các tác phẩm như: “Mỹ thay đổi chiến lược toàn cầu” (1998) của Lý Thực Cốc; “Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh” (2004) của Lê Linh Lan. Bên cạnh đó, còn có các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước như “Chính sách châu Á của Bill Cliton” của tác giả người Ấn Độ MV. Rappai; “Học thuyết Bush” của Jamie Glozov, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 06/2003; “Sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu sau Chiến tranh lạnh của Mỹ: từ George Bush (cha) đến Bill Clinton”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 1/2001; “Mỹ và vấn đề toàn cầu sau chiến tranh lạnh” của Trần Bá Khoa, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 8 – 10/2001; “A strategy of partnerhips” của Colin Powell, Foreign Affairs, January/February, 2004… Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã phản ánh nhiều khía cạnh nhưng chưa mang tính hệ thống về nội dung điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhất là những điều chỉnh gần đây trong bối cảnh tình hình khu vực có những sự thay đổi. Do đó, tác giả hy vọng luận văn sẽ đóng góp thêm cho việc nghiên cứu vấn đề này. 3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1. Mục đích - Tìm hiểu, phân tích những nhân tố tác động đến việc điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương dưới thời của tổng thống Bush và sau đó là Tổng thống Obama, tìm hiểu tính kế thừa và sự khác biệt dẫn đến những điều chỉnh chiến lược dưới hai thời tổng thống. - Nghiên cứu, phân tích chiến lược của Mỹ đối với châu Á – Thái Bình Dương dưới thời Tổng thống Bush và tổng thống Obama; tác động của những điều chỉnh chiến lược đó đến tình hình an ninh của Việt Nam cũng như một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam. 3.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài: - Về không gian: Luận văn đặt trọng tâm nghiên cứu chiến lược an ninh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. - Về thời gian: Luận văn lấy mốc thời gian lịch sử từ thế kỷ XXI, đánh dấu bằng thời điểm G. Bush lên làm Tổng thống Mỹ cho đến hai năm đầu nhiệm kỳ của tân Tổng thống Obama. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 4.1. Cơ sở lý luận Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin; những nhận định, đánh giá của Đảng và Nhà nước ta về tình hình quốc tế và khu vực. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một cách chọn lọc các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chiến lược an ninh của Mỹ được công bố từ sau Chiến tranh lạnh đến nay có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp tiếp cận lịch sử và phương pháp logic. Các phương pháp khác như tiếp cận hệ thống, phân tích, so sánh, tổng hợp và dự báo được sử dụng như là những phương pháp bổ trợ cần thiết cho hai phương pháp chủ yếu trên. 5. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có bố cục chính như sau: Chương 1: Khái quát chiến lược an ninh của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương sau Chiến tranh lạnh. Trong chương này, tác giả làm rõ vị trí của châu Á – Thái Bình Dương trong chiến lược an ninh của Mỹ; lợi ích an ninh – chính trị của Mỹ ở khu vực này; quá trìn hình thành chiến lược sau an ninh châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ và nội dung chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ sau Chiến tranh lạnh đến hết thập niên cuối cùng của thế kỷ XX. Chương 2: Điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương thập niên đầu thế kỷ XXI Chương này sẽ phân tích các nhân tố tác động đến việc điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ trong thời kỳ Bush là Tổng thống sau đó là tổng thống Obama. Đặc biệt, tác giả sẽ làm rõ các nội dung có tính bất biến, nội dung có tính kế thừa trong quá trình điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Chương 3: Việt Nam trong chiến lược an ninh châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ Chương này sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề: Vị trí của Mỹ trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; vị trí của Việt Nam trong tính toán chiến lược của Mỹ; Tác động của việc Mỹ điều chỉnh chiến lược an ninh châu Á – Thái Bình Dương thập niên đầu thế kỷ XXI đến an ninh của Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị cho chính sách đối ngoại và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Do đề tài nghiên cứu khá rộng và phức tạp, kinh nghiệm của người viết còn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi thiếu sót. Tác giả rất mong nhiều được sự góp ý của thầy cô và các bạn.

Trang 1

LỜI CẢM ƠNTrước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Phó Giám đốc Học việnNgoại giao, PGS.TS Nguyễn Thái Yên Hương đã dành nhiều thời gian, tậntình hướng dẫn cho tôi trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp này.Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến các giảng viên trong khoá học đãtruyền thụ cho học viên những kiến thức cơ bản và sâu sắc nhất làm nền tảngvững chắc để tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy, cô trong KhoaBồi dưỡng và Đào tạo đại học của Học viện Ngoại giao đã tổ chức tốt khoáhọc và tạo điều kiện giúp đỡ để khoá học thành công tốt đẹp

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và nhữngngười bạn đã ủng hộ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện khoáluận tốt nghiệp này

Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2011

Học viên

Lê Minh Hằng

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chiến tranh lạnh kết thúc cùng với sự sụp đổ của Liên Xô đã đem đếncho Mỹ cơ hội trở thành siêu cường duy nhất thế giới Dưới hai nhiệm kỳ củaTổng thống Bill Clinton, Mỹ theo đuổi chiến lược đối ngoại “can dự và mởrộng” với mục tiêu bao trùm là duy trì vị thế, vai trò lãnh đạo của Mỹ và ngănkhông cho một cường quốc hay một nhóm nước nào nổi lên đe doạ vị trí siêucường số một của Mỹ trên trường quốc tế

Từ sau Chiến tranh lạnh, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang nổilên và thu hút sự quan tâm ngày càng lớn của Mỹ Mỹ đặc biệt coi trong khuvực này bởi đây là khu vực phát triển năng động nhất thế giới và cũng là nơitập trung những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, đòi hỏi Mỹ phải có biện phápcan thiệp nhằm bảo vệ an ninh hữu hiệu và cục diện an ninh chưa định hình,việc dính líu hơn nữa vào các vấn đề của khu vực nhằm tranh thủ thời cơchiến địa vị chủ đạo trở thành nhu cầu thực tế của Mỹ

Khi Tổng thống Bush lên nhậm chức, chính quyền Đảng Cộng hoà vớimột đội ngũ các nhà hoạch định chính sách an ninh đối ngoại chủ trươngngoại giao dựa trên ưu thế sức mạnh quân sự của Mỹ đã có những bước điềuchỉnh mạnh mẽ trong chiến lược an ninh đối với khu vực châu Á – Thái BìnhDương Bước sang thế kỷ XXI, khu vực châu Á – Thái Bình Dương nổi lên làmột trong những địa bàn trọng điểm của thế giới cũng như trong cuộc chiếnchống khủng bố do Mỹ phát động Những thách thức an ninh truyền thống vàphi truyền thống ở khu vực cùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nước lớntrong khu vực khiến Mỹ phải tiến hành những điều chỉnh chiến lược an ninh

để giữ vững vị thế lãnh đạo trong khu vực này

Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, sau tám năm cầm quyền của Tổngthống Bush, nước Mỹ có một nhà lãnh đạo mới với phương châm đối ngoại

Trang 3

“sử dụng sức mạnh thông minh là công cụ của chính sách đối ngoại” [148],cho việc xử lý các vấn đề toàn cầu Cũng như chính quyền tiền nhiệm, chínhquyền mới của Tổng thống Obama cũng nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo của

Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang nổi lên định hình môitrường quốc tế mới Chính quyền Obama cũng đã tiến hành một số điều chỉnhchiến lược an ninh để phù hợp với những biến động của tình hình thế giới vàkhu vực, nhằm mục tiêu bất biến là duy trì vị trí lãnh đạo của Mỹ ở Châu Á –Thái Bình Dương

Việc Mỹ điều chỉnh chiến lược an ninh đối với khu vực châu Á – TháiBình Dương đã làm gia tăng sự lo ngại về khả năng Mỹ can thiệp sâu vào cácquốc gia trong khu vực Về lâu dài, việc tăng cường lực lượng quân sự của

Mỹ sẽ tạo ra nhiều tác động phức tạp đối với an ninh, ổn định của nhiều nướctrong khu vực, trong đó có Việt Nam, tác động tới môi trường an ninh củaViệt Nam cũng như tác động tiêu cực đến đường lối đối ngoại của Việt Nam.Chính vì vậy, trước những tính toán lợi ích của Mỹ liên quan đến an ninh khuvực, Việt Nam cần xử lý thận trọng và khéo léo theo đúng phương châmđường lối đối ngoại đã vạch ra trong đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và XI.Đứng trước những thách thức như vậy, việc nghiên cứu những điềuchỉnh chiến lược an ninh của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương

có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết Luận văn thạc sĩ với tiêu đề “Chiến lược an ninh của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương thập niên đầu thế kỷ XXI” sẽ làm rõ nội dung chiến lược an ninh của Mỹ ở khu vực châu Á

– Thái Bình Dương, vị trí của Việt Nam trong tổng thể chiến lược này, làm cơ

sở thực tiễn trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Namvới Mỹ cũng như những vấn đề liên quan đến tình hình an ninh khu vực trongnhững năm tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Do tính chất và quy mô tác động nhanh chóng, sâu sắc nên chiến lược an

Trang 4

ninh của Mỹ nói chung và chiến lược an ninh đối với khu vực châu Á – TháiBình Dương nói riêng đã trở thành đề tài được giới nghiên cứu trong và ở

những mức độ khác nhau Có thể đến các tác phẩm như: “Mỹ thay đổi chiến lược toàn cầu” (1998) của Lý Thực Cốc; “Chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh” (2004) của Lê Linh Lan.

Bên cạnh đó, còn có các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước như

“Chính sách châu Á của Bill Cliton” của tác giả người Ấn Độ MV Rappai;

“Học thuyết Bush” của Jamie Glozov, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 06/2003; “Sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu sau Chiến tranh lạnh của Mỹ:

từ George Bush (cha) đến Bill Clinton”, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 1/2001; “Mỹ và vấn đề toàn cầu sau chiến tranh lạnh” của Trần Bá Khoa, Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 8 – 10/2001; “A strategy of partnerhips” của

Colin Powell, Foreign Affairs, January/February, 2004…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã phản ánh nhiều khíacạnh nhưng chưa mang tính hệ thống về nội dung điều chỉnh chiến lược anninh của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhất là những điều chỉnhgần đây trong bối cảnh tình hình khu vực có những sự thay đổi Do đó, tác giả

hy vọng luận văn sẽ đóng góp thêm cho việc nghiên cứu vấn đề này

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích

- Tìm hiểu, phân tích những nhân tố tác động đến việc điều chỉnh chiếnlược an ninh của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương dưới thời của tổng thốngBush và sau đó là Tổng thống Obama, tìm hiểu tính kế thừa và sự khác biệtdẫn đến những điều chỉnh chiến lược dưới hai thời tổng thống

- Nghiên cứu, phân tích chiến lược của Mỹ đối với châu Á – Thái BìnhDương dưới thời Tổng thống Bush và tổng thống Obama; tác động của nhữngđiều chỉnh chiến lược đó đến tình hình an ninh của Việt Nam cũng như một

số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam

Trang 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

- Về không gian: Luận văn đặt trọng tâm nghiên cứu chiến lược an ninhcủa Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

- Về thời gian: Luận văn lấy mốc thời gian lịch sử từ thế kỷ XXI, đánhdấu bằng thời điểm G Bush lên làm Tổng thống Mỹ cho đến hai năm đầunhiệm kỳ của tân Tổng thống Obama

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp tiếp cậnlịch sử và phương pháp logic Các phương pháp khác như tiếp cận hệ thống,phân tích, so sánh, tổng hợp và dự báo được sử dụng như là những phươngpháp bổ trợ cần thiết cho hai phương pháp chủ yếu trên

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có bố cục chính như sau:

Chương 1: Khái quát chiến lược an ninh của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương sau Chiến tranh lạnh.

Trong chương này, tác giả làm rõ vị trí của châu Á – Thái Bình Dươngtrong chiến lược an ninh của Mỹ; lợi ích an ninh – chính trị của Mỹ ở khu vựcnày; quá trìn hình thành chiến lược sau an ninh châu Á – Thái Bình Dươngcủa Mỹ và nội dung chiến lược an ninh của Mỹ thời kỳ sau Chiến tranh lạnhđến hết thập niên cuối cùng của thế kỷ XX

Trang 6

Chương 2: Điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương thập niên đầu thế kỷ XXI

Chương này sẽ phân tích các nhân tố tác động đến việc điều chỉnh chiếnlược an ninh của Mỹ trong thời kỳ Bush là Tổng thống sau đó là tổng thốngObama

Đặc biệt, tác giả sẽ làm rõ các nội dung có tính bất biến, nội dung có tính

kế thừa trong quá trình điều chỉnh chiến lược an ninh của Mỹ ở khu vực châu

Do đề tài nghiên cứu khá rộng và phức tạp, kinh nghiệm của người viếtcòn hạn chế nên luận văn khó tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhiềuđược sự góp ý của thầy cô và các bạn

Trang 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHIẾN LƯỢC AN NINH CỦA MỸ TẠI CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG SAU CHIẾN TRANH LẠNH

1.1 Vị trí của châu Á – Thái Bình Dương trong chiến lược an ninh của Mỹ

Sau Chiến tranh lạnh, trọng tâm chiến lược của Mỹ về cơ bản vẫn nằm ởchâu Âu vì đây là khu vực mà Mỹ có những lợi ích sống còn cả về kinh tế,chính trị và quân sự Tuy nhiên, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang nổilên và thu hút sự quan tâm ngày càng lớn của Mỹ

1.1.1 Lợi ích kinh tế của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương

Tháng 7/1993, trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi vàoNhà Trắng, Tổng thống B Clinton đã đến khu vực Đông Bắc Á Tại đây, ôngnêu lên viễn cảnh về một “Cộng đồng Thái Bình Dương mới” mà Hoa Kỳ có

ý định thiết lập ở khu vực này Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Warren Christophernhấn mạnh: “Là một cường quốc toàn cầu có những lợi ích toàn cầu, Mỹ cólợi ích to lớn trong sự năng động của khu vực này, và chúng ta có khả nănglớn nhất có thể duy trì nó theo cách thức có lợi cho nhân dân Mỹ và toàn thếgiới” [17] Châu Á – Thái Bình Dương hiện nay đóng vai trò rất quan trọngđối với nền kinh tế Mỹ Sức mạnh kinh tế Mỹ phụ thuộc ngày càng nhiều vàocác mối quan hệ mậu dịch quốc tế Trong bối cảnh đó, châu Á – Thái BìnhDương trở thành khu vực có tầm quan trọng đặc biệt vì các nền kinh tế ở khuvực này là những nền kinh tế lớn của thế giới, là thị trường hấp dẫn đối với

Mỹ trong chính sách tự do hoá thương mại của chín quyền Clinton

Khu vực này chiếm hơn 27% giá trị sản phẩm quốc dân, 25% kim ngạchbuôn bán thế giới Xuất khẩu của khu này từ chỗ chỉ chiếm 1/7 tổng sản phẩmxuất khẩu thế giới thời kỳ Chiến tranh lạnh, nay chiếm trên 30% [90; trang258] Tại châu Á, có bốn trong số các nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới là

Trang 8

Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc Mỹ ngày càng phụ thuộc nhiềuhơn vào châu Á trong xuất khẩu và đầu tư Châu Á – Thái Bình Dương chiếmkhoản 40% buôn bán của Mỹ với thế giới Năm 1995, thương mại hai chiềugiữa Mỹ và châu Á – Thái Bình Dương vượt hơn 400 tỷ đôla Mỹ [62; trang11] Báo cáo “Chiến lược an ninh Đông Á – Thái Bình Dương của Bộ QuốcPhòng Mỹ (2/1995) viết: “Vành đai châu Á – Thái Bình Dương ngày nay làkhu vực bạn hàng buôn bán lớn nhất của Mỹ Dự kiến châu Á – Thái BìnhDương (trừ Mỹ) sẽ chiếm khoảng 1/3 hoạt động kinh tế thế giới vào đầu thế

kỷ tới Sự ổn định thịnh vượng của châu Á có tính chất sống còn đối với nềnkinh tế Mỹ và an ninh thế giới…Sự phụ thuộc của chúng ta vào các nguồnnước ngoài ngày càng chứng tỏ tầm quan trọng ngày càng tăng của khu vựcchâu Á đối với Mỹ Tuy nhiên, quan hệ thương mại giữa Mỹ và khu vực ngàycàng trở nên không cân bằng theo hướng bất lợi cho Mỹ và Mỹ có thâm hụtthương mại với hầu hết các nước trong khu vực Năm 1998, thâm hụt buônbán với Trung Quốc là 56,8 tỷ USD và với Nhật Bản là 73.4 tỷ USD [32;trang 7]

Mặc dù vậy, châu Á – Thái Bình Dương vẫn đang mở ra những cơ hộithuận lợi cho hợp tác kinh tế của Mỹ với khu vực và góp phần giúp Mỹ thựchiện được ưu tiên chiến lược khôi phục sức mạnh kinh tế làm động lực và chỗdựa an ninh cho các hoạt động đối ngoại khác

1.1.2 Lợi ích an ninh – chính trị của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương

Sau chiến tranh, quan hệ tam giác Mỹ - Nhật Bản – Trung Quốc đã dầnthay thế tam giác chiến lược Mỹ - Liên Xô – Trung Quốc của thời kỳ trước.Khu vực châu Á – Thái Bình Dương là nơi mà mối quan hệ tay ba này thểhiện rõ nét nhất, tác động sâu sắc nhất để tình hình khu vực

Đây là khu vực tập trung chủ yếu các lợi ích cũng như những thách thứcđối với vai trò an ninh của Mỹ Nhật Bản và Hàn Quốc được coi là những

Trang 9

đồng minh chủ chốt của Mỹ, còn Trung Quốc vừa là đối tác, vừa là đối thủ

mà Mỹ thấy cần phải “can dự toàn diện” Quan hệ an ninh song phương giữa

Mỹ và một số đồng minh trong khu vực được coi là những trụ cột chính trongchính sách an ninh khu vực Mỹ Điều này được phản ánh trong việc quân đội

Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương chủ yếu đóng trên lãnh thổ hai nước này,chiếm tới 85% lực lượng của Mỹ tại khu vực

Nhật Bản và Hàn Quốc đóng góp nhiều nhất cho sự có mặt quân sự của

Mỹ tại ku vực Riêng Nhật Bản mỗi năm chi tới 5 tỷ USD, chiếm tới 75%toàn bộ chi phí cho khoảng 47.000 quân Mỹ đóng tại các căn cứ của nướcnày Ngoài ra, cả hai nước tiếp tục hiện đại hoá quân đội nên phải đặt muamột lượng lớn vũ khí, thiết bị và dịch vụ quân sự của Mỹ để tăng khả năngquốc phòng Đây là món lợi nhuận không nhỏ đối với ngành công nghiệpquân sự của Mỹ

Trong khi đó, tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã bắt đầu xuấthiện những đối thủ có khả năng đe doạ vai trò lãnh đạo của Mỹ Trung Quốcvới sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng cùng với Nhật Bản, mộtcường quốc kinh tế sẽ là những đối thủ mà Mỹ không thể không tính đến khitriển khai chiến lược toàn cầu của mình Gặp quan hệ Mỹ - Trung Quốc, Mỹ -Nhật Bản được coi là những mối quan hệ chủ yếu ở châu Á – Thái BìnhDương và có ảnh hưởng rất lớn đến hoà bình, ổn định của toàn bộ khu vực

Mỹ cho rằng “Trung Quốc là một quốc gia có thể làm thay đổi trật tự khu vựctheo cách thức làm cho lợi ích của khu vực kém được bảo đảm” [121; trang

132 – 133]

Ngoài ra, khi vực Đông Á còn tiềm ẩn nhiều nhân tố có khả năng gâymất ổn định khu vực như tình hình eo biển Đài Loan, Bán đảo Triều Tiên,tranh chấp Biển Đông và những nghi kị còn tồn tại giữa các nước trong khuvực Những nhân tố này đều liên quan trực tiếp tới lợi ích của Mỹ

Bên cạnh đó, những vấn đề an ninh phi truyền thống như vấn đề khủng

Trang 10

bố, nạn cướp biển, phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt, buôn bán ma tuý, tộiphạm xuyên quốc gia….cũng là thách thức trực tiếp và không nhỏ đối với anninh quốc gia và vai trò lãnh đạo của Mỹ tại khu vực.

Như vậy, trong khi vẫn coi châu Âu là ưu tiên hàng đầu, Mỹ cũng nhậnthấy tầm quan trọng của châu Á – Thái Bình Dương đối với việc triển khaichiến lược toàn cầu Mỹ đặc biệt coi trọng khu vực này bởi đây là khu vựcphát triển năng động nhất thế giới và cũng là nơi tập trung những mâu thuẫn

cơ bản nhất của thời đại, đòi hỏi Mỹ phải có biện pháp can thiệp nhằm bảo vệlợi ích của mình Hơn nữa, trong khi khu vực này vẫn chưa có một cơ chế anninh hữu hiệu và cục diện an ninh chưa định hình, việc dính líu hơn nữa vàocác vấn đề khu vực nhằm tranh thủ thời cơ chiếm vị trí chủ đạo trở thành nhucầu thực tế của Mỹ [79; trang 48 - 50]

1.2 Quá trình hình thành chiến lược an ninh ở châu Á – Thái Bình Dương

Sau Chiến tranh lạnh, trong bối cảnh tình hình khu vực châu Á – TháiBình Dương diễn biến nhanh chóng và phức tạp, chính quyền Washington đãphải mất nhiều công sức để nghiên cứu, xây dựng, điều chỉnh chiến lược của

Mỹ ở khu vực rộng lớn này

Ngay khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ đã tiến hành điều chỉnh chiến lược an ninhđối với khu vực này Tháng 5/1992, chính quyền Bush (cha) đã hoàn thànhchiến lược phòng thủ khu vực mới nằm trong “Đường lối này có mục tiêu baotrùm là ra sức ngăn ngừa bất kỳ một cường quốc thù địch nào đối với Mỹthống trị khu vực châu Âu và châu Á – Thái Bình Dương, ngăn chặn bất kỳquốc gia nào thách thức vai trò toàn cầu của Mỹ Tuy nhiên, chủ trương nàycủa Tổng thống Bush vấp phải sự chống đối của Quốc hội Mỹ cũng như sựphê phán, chỉ trích của đồng minh, bạn bè của Washington Vì vậy, đến cuốinăm 1992, bản kế hoạch đó đã được điều chỉnh, nhấn mạnh rõ hơn việc Mỹcần hợp tác với các đồng minh khu vực để thiết lập, duy trì trật tự mới thời kỳ

Trang 11

sau Chiến tranh lạnh.

Khi B.Cliton trở thành Tổng thống Mỹ, ông đã đưa ra Chiến lược toàncầu mới Điểm nổi bật trong Chiến lược toàn cầu của Mỹ dưới thời Tổngthống B.Cliton là trong khi vẫn coi châu Âu là địa bàn chiến lược trọng điểm,

Mỹ tỏ ra ngày càng quan tâm hơn tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương.Chính quyền Mỹ đã đưa ra khái niệm “Cộng đồng châu Á – Thái BìnhDương”, coi đây là một trong hai cánh tay chiến lược quan trọng nhất trongChiến lược toàn cầu mới của Mỹ (cùng với châu Âu) Trợ lý Bộ trưởng Ngoạigiao Mỹ phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương Wiston Lord cũng từng khẳngđịnh “đối với Hoa Kỳ, ngày nay không có khu vực nào quan trọng hơn châu

Á – Thái Bình Dương Ngày mai, trong thế kỷ XXI, không có khu vực nàoquan trọng như khu vực này” [58] Chính vì tầm quan trọng của khu vực châu

Á – Thái Bình Dương nên trong quá trình triển khai Chiến lược toàn cầu,chính quyền Cliton đã nhiều lần điều chỉnh Chiến lược an ninh đối với khuvực này

Tháng 4/1990, Chính phủ Hoa Kỳ đệ trình lên Quốc hội nước này mộtbản báo cáo nhan đề: “Cơ cấu Chiến lược châu Á – Thái Bình Dương: Triểnvọng thế kỷ XXI”, trong đó, Chiến lược an ninh của Mỹ mới chỉ từng bướcđiều chỉnh và đưa ra những dự đoán về môi trường an ninh khu vực ở châu Á– Thái Bình Dương trong tương lai, đồng thời nêu ra dự án cơ bản về Chiếnlược an ninh của Hoa Kỳ đối với khu vực này Đến tháng 3/1992, Mỹ lại đưa

ra chính sách mới về châu Á – Thái Bình Dương dưới đầu đề: “Cộng đồngThái Bình Dương mới – 10 mục tiêu của Hoa Kỳ” Về cơ bản, chính sáchchâu Á – Thái Bình Dương năm 1992 chỉ là sự tiếp tục đường lối trước đócủa Mỹ nhưng đã thay đổi cách nhìn với tư thế siêu cường duy nhất của thếgiới Trọng tâm chiến lược của B.Cliton đối với khu vực vẫn là phối hợp chặtchẽ các chính sách kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh Ở giai đoạn này

có thể thấy Mỹ ưu tiên khôi phục sức mạnh kinh tế, đẩy mạnh hợp tác kinh tế

Trang 12

với các nước ở châu Á – Thái Bình Dương Chính vì lý do này mà Mỹ đã đưa

ra dự kiến cắt giảm lực lượng quân đội Mỹ đang triển khai ở khu vự (lúc này

là 135.000 quân)

Tuy nhiên, tháng 2/1995, Bộ phòng Mỹ lại công bố Chiến lược mới đốivới khu vực (Chiến lược Đông Á – Thái Bình Dương năm 1995), qua đó thểhiện rõ ý định đưa vấn đề an ninh trở lại vị trí trung tâm thay vì tập trung vàolĩnh vực kinh tế như giai đoạn đầu thập kỷ 90 Báo cáo Chiến lược an ninhĐông Á năm 1995 được coi như sự tái khẳng định vai trò của Mỹ ở khu vựcnày và hướng tới các mục tiêu muốn giữ vai trò chủ đạo về an ninh ở châu Á– Thái Bình Dương Trong Báo cáo này, Hoa Kỳ gián tiếp thừa nhận cục diện

an ninh khu vực đã thay đổi với các mục tiêu lôi léo Trung Quốc đi theo quỹđạo toàn cầu và khu vực của Hoa Kỳ bằng chính sách gọi là “can dự tíchcực”; tăng cường hợp tác với ASEAN thông qua diễn đàn ARF

Tháng 11/1998, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Wiliam Cohen lại đưa ra bảnBáo cáo chiến lược Đông Á mới Chiến lược an ninh của Mỹ về cơ bản đượctriển khai theo những hướng chủ đạo đã được vạch ra trong Bản Báo cáo năm

1995, không có thay đổi lớn cho đến hết nhiệm kỳ hai của Cliton, bởi Chiếnlược an ninh châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ là một phần trong chiến lược

an ninh toàn cầu của Mỹ

1.3 Chiến lược an ninh của Mỹ tại Châu Á – Thái Bình Dương trong thập niên cuối của thế kỷ XX

Về cơ bản, chiến lược an ninh của Mỹ đối với khu vực châu Á – TháiBình Dương từ sau Chiến tranh lạnh vẫn nhằm phục vụ mục tiêu lâu dài vàxuyên suốt của Mỹ là “thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo”, giữvững vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ, phổ biến giá trị và lối sống Mỹ trêntoàn cầu và ngăn chặn bất kỳ nước nào trở thành đối thủ có khả năng đe doạ

vị trí, vai trò và an ninh của Mỹ Mục tiêu này được cụ thể hoá thành nhữngnội dung cơ bản trong Chiến lược an ninh tại châu Á – Thái Bình Dương

Trang 13

1.3.1 Duy trì sự có mặt quân sự lâu dài ở khu vực

Việc duy trì sự có mặt quân sự của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương làyếu tố chủ chốt trong chính sách quốc phòng của Mỹ tại khu vực này Sự cómặt quân sự của Mỹ có vai trò trọng yếu trong việc đảm bảo an ninh và thúcđẩy chiến lược của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương Tháng 2/1995, Mỹcông bố bản Báo cáo chiến lược Đông Á lần thứ ba trong đó quyết định duytrì 100.000 quân tại khu vực này, tương đương với châu Âu, trong đó ở NhậtBản và Hà Quốc là khoảng 85.000 quân [112] Lực lượng này đảm bảo cho

Mỹ có khả năng đối phó kịp thời với khủng hoảng khu vực cũng như nhữngnơi khác trên thế giới, ngăn ngừa bất kỳ một cường quốc khu vực nào nổi lênthách thức địa vị bá chủ thế giới của Mỹ, tạo điều kiện cho Mỹ nâng cao ảnhhưởng trong các vấn đề ở khu vực Mỹ cho rằng “quân Mỹ đóng tại châu Á lànhân tố uy hiếp quan trọng”, ngoài ra “còn quyết định môi trường an ninh,khiến về cơ bản không có khả năng nảy sinh sự thách thức nào [80] WilliamCohen cũng từng khẳng định “Sự dính líu quân sự của Mỹ thúc đẩy ổn địnhkhu vực, ngăn chặn sự hiếu chiến và đe doạ hàng ngày ở khu vực”[84]

Toàn bộ lực lượng của Mỹ đóng tại Nhật Bản, Hàn Quốc và các lựclượng cơ động trên biển tại khu vực nhằm ngăn chặn xung đột, thực hiện cáccam kết an ninh của Mỹ và bảo đảm tự do hàng hải Ở Đông Nam Á, mặc dù

đã đóng cửa các căn cứ quân sự ở Philippines song Mỹ lại đạt được một sốhiệp định và thoả thuận với các nước khác ủng hộ cam kết tiếp tục duy trì lựclượng quân sự của Mỹ Những cam kết này bao gồm các trạm dừng chân, sửachữa các thiết bị quân sự, sắp xếp các cuộc huấn luyện và tiếp ứng hậu cần.Lấy ví dụ cam kết năm 1998 của Singapore về việc duy trì căn cứ hải quânChangi, Hiệp định giữa Mỹ và Philippin (1/1998) cho phép tiến hành các cuộccung cấp nhiên liệu và địa điểm quá cảnh cho máy bay và tàu chiến Mỹ trênđường tới các điểm nóng ở khu vực Bên cạnh đó, Mỹ cũng nhấn mạnh tớitầm quan trọng của các chương trình diễn tập giữa lực lượng quân sự Mỹ với

Trang 14

quân đội các nước đồng minh Việc phối hợp các hoạt động và các cuộc tậptrận chung thường được tiến hành hàng năm Ngoài ra, Mỹ cũng tham gia cáchoạt động kết hợp huấn luyện, trao đổi chuyên gia quân sự.

1.3.2 Ngăn ngừa các điểm nóng khu vực bùng nổ thành xung đột vũ trang

1.3.2.1 Vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên

Việc tránh để nổ ra chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên là mục tiêu anninh của Mỹ tại khu vực Đông Á Mỹ tiếp tục duy trì lực lượng trên bán đảonày nhằm mục đích răn đe, ngăn chặn chiến tranh nổ ra, đồng thời thúc đẩytiến trình thống nhất Triều Tiên có lợi cho Mỹ để đảm bảo một Triều Tiênthống nhất phi hạt nhân và nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của Mỹ Nếu xungđột xảy ra thì sẽ gây tổn thất lớn cho Mỹ và các đồng minh như Nhật Bản,Hàn Quốc, đồng thời làm tăng đối đầu quân sự trực tiếp giữa Mỹ và TrungQuốc ở Đông Á Mỹ đã cố gắng giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo TriềuTiên thông qua thương lượng, duy trì các cuộc đàm phán bốn bên, đồng thờigây sức ép tối đa để Cộng hoà Dân chủ nhân dân (CHĐCN) Triều Tiên phải

đi vào giải pháp có lợi cho Mỹ

Tháng 2/1998, Kim Dae Jung đắc cử Tổng thống Hàn Quốc, triển khai

“Chính sách Ánh Dương” thúc đẩy tiến trình hoà giải và hợp tác liên Triều

Mỹ tỏ ra ủng hộ chính sách của Kim Dae Jung trong việc can dự tích cực vàoCHĐCN Triều Tiên, chủ trương lôi kéo Triều Tiên vào các kênh đối thoại,làm giảm căng thẳng trên Bán đảo Triều Tiên thông qua hợp tác kinh tế, duytrì đối thoại Tình hình Bán đảo Triều Tiên, nhờ đó có những chuyển biến tíchcực theo hướng giảm căng thẳng và tránh đối đầu

1.3.2.2 Vấn đề tự do hàng hải

Lợi ích của Mỹ tại biển Đông nằm trong lợi ích đa dạng và trải rộng của

Mỹ tại Đông Á – Tây Thái Bình Dương với tư cách là một cường quốc khuvực và toàn cầu Đối với Mỹ, Biển Đông là con đường huyết mạch nối Đại

Trang 15

Tây Dương với Tây Thái Bình Dương, là khu vực hoạt động, tuần tiễu củaHạm đội 7 tại Thái Bình Dương, là khu vực hoạt động, tuần tiễu của Hạm đội

7 tại Thái Bình Dương Biển Đông được gọi là “Địa Trung Hải” của ĐôngNam Á nên Mỹ đặc biệt coi trọng

Tự do hàng hải là lợi ích then chốt và cũng là lợi ích kinh tế và an ninhquan trọng nhất đối với Mỹ Biển Đông là tuyến đường thương mại quantrọng nhất và Mỹ coi tuyến đường này là vùng nước quốc tế cho phép tàuthuyền quân sự và thương mại tự do qua lại Mỹ luôn ủng hộ tự do hàng hảitrên thế giới, bao gồm cả biển Đông, và có lợi ích tại các tuyến đường biểntrong khu vực và do đó quan tâm đến việc giải quyết hoà bình tranh chấp tạihai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và các vùng khác

Quan ngại sâu sắc về căng thẳng tại biển Đông, Joseph Nye, trợ lý bộtrưởng quốc phòng Mỹ về an ninh quốc tế cho biết “Nếu xảy ra hành độngquân sự tại quần đảo Trường Sa và cản trở tự do trên biển, thì Mỹ sẽ chuẩn bịứng phó và đảm bảp tự do hàng hải được tiếp tục” [157]

Trong một thời gian dài, Mỹ duy trì chính sách “không can dự” vào cáctranh chấp ỏ biển Đông Từ sau chiến tranh Lạnh, Mỹ bắt đầu quan tâm nhiềuhơn tới xung đột tại biển đông khi các tranh chấp tuyên bố chủ quyền tại khuvực và hoạt động đơn phương của các nước ven biển để hỗ trợ lập trườngđang tăng lên Mỹ không ủng hộ bất kỳ bên nào trong các tranh chấp, nhưngmong muốn các nước này nên giải quyết bằng phương pháp hoà bình [138].Tuy nhiên, khi tình hình tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông ngày càngtrở nên phức tạp và đặc biệt sau khi Trung Quốc công bố Luật Lãnh hải ngày25/02/1995 xác định chủ quyền về mặt pháp lý đối với Biển Đông, Mỹ đãphản ứng thận trọng Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết Mỹ phản đối mạnh mẽ việc

đe doạ hay sử dụng vũ lực để khẳng định chủ quyền của bất kỳ nước nào Mỹkhông đứng về phía bất kỳ nước nào đang có tuyên bố tranh chấp và mongmuốn ủng hộ giải pháp hoà bình trong tranh chấp tại biển Đông Mỹ cũng

Trang 16

quan ngại sâu sắc tới các tuyên bố hàng hải hay hạn chế hoạt động hàng hảitại biển Đông không tuân theo luật quốc tế.

Sau sự kiện Trung Quốc và Philippines tranh chấp chủ quyền trên đảoVành Khăn, ngày 31/5/1995, Mỹ công khai tuyên bố “ủng hộ Manila ngănchặn hành động xâm lược của Trung Quốc” Tháng 6/1995, Hạ viện Mỹthông qua “Dự luật lợi ích hải ngại của Mỹ” xác định: “Tự do hàng hải ở BiểnNam Trung Hoa là cực kỳ quan trọng đối với an ninh quốc gia của Mỹ và cácnước đồng minh” Ngày 7/8/1995, lần đầu tiên Mỹ chỉ rõ: “Tự do hàng hải ởkhu vực này là lợi ích căn bản của Mỹ” Xu hướng hợp tác quân sự giữa Mỹ

và các nước ASEAN trong vấn đề Trường Sa cũng trở nên nổi trội thông quaviệc Philippines đòi sửa đổi “Hiệp ước phòng thủ chung Philippines và Mỹ”với phạm vi mở rộng ra cả Trường Sa Tháng 5/1999, Quốc hội Philippinesthông qua “Hiệp định về trao đổi chuyến thăm của quân đội” tạo cho Mỹ hoànthiện việc bố trí chiến lược ở Đông Á, thâm nhập sâu vào vấn đề Trường Sa.Trong vấn đề Trường Sa, một mặt Mỹ nhấn mạnh ủng hộ các nước ASEANxây dựng cơ chế địa phương, mặt khác công khai tuyên bố về tự do hàng hảivới hàm ý Mỹ sẽ hành động nếu Trung Quốc có hành động đơn phươngchiếm giữ Trường Sa Những động thái trên cho thấy, Mỹ quan ngại sâu sắckhi tình hình biển Đông trở nên phức tạp có thể đe doạ tới lợi ích an ninh –kinh tế của Mỹ tại khu vực này

1.3.3 Kiểm soát phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt

Bản kế hoạch chiến lược đối ngoại do Bộ Ngoại giao Mỹ công bố ngày01/10/1997 nêu rõ: “Mối đe doạ trực tiếp và sâu sắc nhất đối với an ninh quốcgia Mỹ là khả năng một cuộc tranh chấp có sử dụng vũ khí huỷ diệt Mỹ vàcác quốc gia đánh giá cao việc các nước có hoặc không có vũ khí huỷ diệtcùng nhau ngăn chặn sử dụng vũ khí này bằng một thể chế hiệp ước kiểm soát

vũ khí”[78]

Khu vực Đông Á bao gồm một cường quốc hạt nhân là Trung Quốc, một

Trang 17

CHDCND Triều Tiên đang bí mật phát triển chương trình vũ khí hạt nhân vàtên lửa tầm xa mang đầu đạn hạt nhân và tên lửa tâm xa mang đầu đạn hạtnhân, một nước khá có tiềm lực hạt nhân rất lớn là Nhật Bản Hiện nay, điều

Mỹ quan tâm lớn nhất là khả năng sơ hữu vũ khí hạt nhân của CHĐCN TriềuTiên Từ năm 1993, Mỹ cùng với Nhật Bản và Hàn Quốc đã phối hợp vớinhau gây áp lực để Triều Tiên ngừng và cuối cùng là huỷ bỏ chương trìnhphát triển hạt nhân Mỹ cho rằng bán đảo Triều Tiên, ngay cả khi thống nhấtphải là khu vực phi hạt nhân Đây là mục tiêu an ninh trước mắt cũng như lâudài của Mỹ nhằm duy trì ảnh hưởng trên bán đảo này “Hiệp định khung” mà

Mỹ đạt được với CHDCND Triều Tiên tháng 10/1994 là một bước tiến lớnnhằm thực hiện mục tiêu trên Để buộc CHDCND Triều Tiên thực hiện đầy

đủ các điều khoản đã thoả thuận, Mỹ đe doạ: “Nếu Bắc Triều vi phạm thoảthuận thì họ sẽ nhận thấy hậu quả nghiêm trọng xẩy ra” [28 trang 17] Do đó,ngay từ năm 1994, Mỹ đã xác định “Hệ thống phòng thủ tên lửa chiến trường(TMD) đóng một vai trò chủ chốt trong việc thực hiện chiến lược này và rấtcần thiết để đối phó với hệ thống tên lửa vượt đại châu trong kho vũ khí củanhiều quốc gia Đông Á [28; trang 20]

Việc CHDCND Triều Tiên tiếp tục phát triển các loại vũ khí hạng nặng

và đồng loạt thử các loại tên lửa tầm ngắn, tầm trung và tâm xa đã làm cho

Mỹ và các đồng minh hết sức lo ngại Mỹ không chỉ lo ngại Mỹ không chỉ longại CHDCND Triều Tiên sẽ sử dụng các loại vũ khí này mà còn lo ngại côngnghệ sản xuất các loại vũ khí này có thể rơi vào tay các nước khác hoặc cácnhóm khủng bố quốc tế

1.3.4 Kiềm chế Trung Quốc

Mục tiêu chủ yếu trong chiến lược an ninh của Mỹ ở khu vực là duy trìvai trò lãnh đạo ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chống lại bất kỳ mộtcường quốc nào thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ ở khu vực Việc đề phòng

và ngăn chặn Trung Quốc tăng cường tiềm lực, giành quyền bá chủ là đặc

Ngày đăng: 16/08/2021, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w