1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÁC HẠI CỦA CÁC CHẤT ĐỘC HẠI VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CƠ THỂ CON NGƯỜI

25 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm tổng quát về môi trường và độc chất. Tác hại của độc chất và ô nhiễm môi trường đối với sức khoẻ con người (hô hấp, tim mạch, da, tiêu hoá). Các con đường xâm nhập độc chất vào cơ thể. Cách bảo vệ cơ thể khỏi độc chất.

Trang 1

Chương I NHẬN BIẾT CÁC CHẤT ĐỘC HẠI TRONG MÔI TRƯỜNG

1 Khái niệm tổng quát về môi trường và độc chất

1.1 Môi trường là gì?

Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể và sự kiện đó Đây

là định nghĩa khái quát nhất về môi trường

Đối với con người thì môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của các cá nhân và cộng đồng con người

Hầu hết bệnh tật đều nảy sinh khi cơ thể tiếp xúc với một số tác nhân trong môi trường, có mối quan hệ giữa y học môi trường, sức khỏe môi trường, sinh thái học và khoa học môi trường

1.2 Độc chất là gì?

Ngày nay, chất hóa học ngày càng được ứng dụng vào việc phục vụ đời sống con người thì vấn đề độc chất học càng ngày càng phát triển Cơ cấu bệnh tật nói chung ở các nước đang phát triểncũng dã có sự dịch chuyển từ phòng chống các bệnh nhiễm trùng sang các bệnh không nhiễm trùng như các nước phát triển, người ta gọi đó là bệnh của nền văn minh Một trong các vấn đề quan tâm

đó là bệnh nhiễm các chất độc hóa học do tình trạng ô nhiễm môi trường sông Vậy thế nào thì được gọi là chất độc và những chất không độc

Độc chất là chất khi xâm nhập vào cơ thể gây nên các biến đổi sinh lý, sinh hoá; phá vỡ cân bằng sinh học và gây rối loạn chức năng sống bình thường, dẫn đến trạng thái bệnh lý của các cơ quan nội tạng, các hệ thống hoặc trên toàn cơ thể

Chất độc là chất với liều rất nhỏ trong những điều kiện nhất định có thể gây nên những rối loạn sinh lý, sinh hóa trong cơ thể, thậm chí gây nhiễm độc có thể dẫn tới tử vong

Như vậy giới hạn giữa chất độc và chất không độc được phân biệt bởi liều lượng Có tác giả

đề nghị giới hạn giữa chất độc và không độc là liều 100 mg/kg, nghĩa là chất nào có khả năng gây nhiễm độc từ liều dưới 100 mg/kg được coi là chất độc Paracelsus, cha đẻ của ngành độc chất học,

đã từng viết: “Mọi thứ đều là chất độc, trong mọi thứ đều có chất độc Chỉ có liều lượng là làm cho một thứ không phải là một chất độc”

2 Nguồn gốc và phân loại độc chất

2.1 Nguồn gốc: Tự nhiên và tổng hợp

- Chất độc có nguồn gốc thiên nhiên: động vật, thực vật, vi sinh vật, khoáng vật

Trang 2

- Chất độc có nguồn gốc tổng hợp, bán tổng hợp.

 Các chất độc có nguồn gốc tự nhiên:

Các chất độc có nguồn gốc thực vật: - Các thành phần khác nhau của một cây có thể có nồng

độ các chất khác nhau - Một số chất từ thực vật có thể gây chết người Ví dụ: Một số chất được sử dụng trong liệu pháp hóa học để diệt các tế bào ung thư, được tổng hợp bởi một số loài thông đỏ

Các chất độc có nguồn gốc động vật: - Các chất độc này có thể có nguồn gốc là các chất độc,nọc độc do động vật tiết ra - Các động vật có nọc độc thường được biết là các loài có khả năng tổng hợp một độc chất bởi một tuyến hay nhóm tế bào và có thể truyền nọc độc khi cắn hoặc châm

- Các động vật có độc thường là có thể là một mô hoặc một phần, thậm chí cả cơ thể là chất độc.2.2 Phân loại:

2.2.1 Các tiêu chí phân loại độc chất:

- Bản chất: kim loại nặng, chất trừ sâu, dung môi, phụ gia thực phẩm…

- Nguồn gốc : độc chất từ động vật hay thực vật

- Cơ quan đích: gan, thận, hệ tạo máu

- Tác động: ung thư, tổn thương gan…

- Trạng thái vật lý: khí, bụi hay dung dịch

- Yêu cầu dán nhãn: dễ nổ, dễ cháy, dễ oxi hóa

- Tính chất hóa học: amin vòng thơm, hydrocacbon halogen

- Khả năng gây độc: cực độc, độc, độc nhẹ

2.2.2 Phân loại dựa trên cơ quan bị tác động:

 Các chất gây ảnh hưởng tập trung: Cl2, O3, kiềm, muối kim loại nặng, formol, F,

 Các chất gây ảnh hưởng hệ thần kinh: CO2, Phenol, F, formol,

 Các chất gây độc hại máu: Zn, P,

 Các chất gây độc hại nguyên sinh chất

 Các chất gây độc hại hệ enzym: Na2SO4 , F,

 Các chất gây mê: Chlorofoc, CCl4 , ête,

 Các chất gây tác động tổng hợp: Formol, F,

Ngoài ra, Một số độc chất có hàm lượng khác nhau gây ảnh hưởng khác nhau

Ví dụ: phenol hàm lượng thấp → hệ thần kinh

phenol hàm lượng cao → máu

Trang 3

Chương II TÁC HẠI CỦA CÁC CHẤT ĐỘC HẠI VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI

CƠ THỂ CON NGƯỜI 2.1 TÁC HẠI CỦA CÁC CHẤT ĐỘC HẠI

Chất nguy hại gây tổn thương cho các cơ quan trong cơ thể: kích thích, dị ứng, gây độc cấp tính và mạn tính có thể gây đột biến gen, lây nhiễm, rối loạn chức năng tế bào… dẫn đến các tác động nghiêm trọng cho con người và động vật như gây ung thư, ảnh hưởng đến sự di truyền

2.1.1 Trên bộ máy tiêu hoá

Các chất độc khi xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá thường gây nôn mửa, đó là phản ứng đầu tiên của cơ thể (ngộ độc thuỷ ngân, thuốc phiện, phospho hữu cơ ); nhưng cũng do tác dụng của chất độc trên hệ thần kinh làm co bóp mạnh cơ hoành

Các chất độc như phospho hữu cơ và một số kim loại như chì, thuỷ ngân, bismut có thể

gây tiết nước bọt nhiều; ngược lại atropin làm khô miệng; acid, kiềm kích thích đường tiêu hoá như; thuốc chống đông máu, dẫn xuất salicylat gây chảy máu đưòng tiêu hoá

2.1.2 Trên bộ máy hô hấp

Các chất độc bay hơi đều xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, nên có thể gây ra những tổn thương tại chỗ hay toàn thân

a) Tại chỗ

Tác động kích thích biểu mô phổi do phù hay bỏng Nếu nhẹ thì gây ho kèm theo chảy nước mũi, khó thỏ, ngứa cổ, ngứa mũi Nếu nặng hơn thì có thể gây viêm phế quản, phù phổi và ngạt thỏ Một số chất độc gây kích thích phổi như amoniac, clorin, S02, HF

Con người khi tiếp xúc với hóa chất nguy hại có thể biểu hiện nhiễm độc qua các

triệu chứng lâm sàng và rối loạn chức năng như sau:

-Biểu hiện ở đường tiêu hoá: tăng tiết nước bọt, không miệng, kích thích đường tiêu

hoá, nôn, tiêu chảy, chảy máu đường tiêu hoá, vàng da

-Biểu hiện ở đường hô hấp: tím tái, thở nông, ngừng thở, phù phổi

-Biểu hiện rối loạn tim mạch: mạch chậm, mạch nhanh, trụy mạch, ngừng tim

-Các rối loạn thần kinh, cảm giác và điều nhiệt: hôn mê, kích thích và vật vã, nhức đầu

nặng, chóng mặt, điếc, hoa mắt, co giãn đồng tử, tăng giảm thân nhiệt

-Rối loạn bài tiết: vô niệu

(CÁI NÀY LÀM PP)

Trang 4

Tác động trên nhịp thở: thở chậm có thể do cloralhydrat, cyanua, cồn; thở nhanh do belladon, cocain, C02, strychnin, cafein, amphetamin, long não; khó thở kiểu hen do phospho hữu cơ.

Tác động trên mùi hơi thở như rượu, ete, aceton

b) Toàn thân

Làm mất khả năng cung cấp oxy cho cơ thể, dẫn đến chết vì ngạt như CO, HCN

Chất độc ức chế hô hấp gây ngạt thở tiến tới ngừng thở như thuốc phiện, cyanua, thuôc ngủ Một số chất có thể gây phù phổi như: hydrosulfua, phospho hữu cơ, HF, tetracloro etylen Chất gây xơ hoá phổi: bụi nhôm, bụi than, talc, silicagen

Ung thư phổi: crôm, niken, arsen

2.1.3 Trên hệ tim mach

Các chất trợ tim dùng quá liều đều gây độc:

Cafein, adrenalin, amphetamin làm tăng nhịp tim

Digitalin, eserin, phospho hữu cơ làm giảm nhịp tim

Đặc biệt, ngộ độc gan cóc và nhựa da cóc gây mạch không đều; ngộ độc quinidin, imipramin có thể gây ngừng tim Một số chất ảnh hưởng đến sự co giãn mạch như: acetylcolin làm giãn mạch

c) Bạch cầu

Trang 5

Số lượng bạch cầu giảm trong ngộ độc benzen, gây thiếu máu; tăng trong ngộ độc kim loại nặng.

d) Tỉểu cầu

Giảm trong ngộ độc benzen

Ngoài ra, dưới tác dụng của chất độc một số thành phần mới sẽ xuất hiện, người ta có thể dựa vào những chất này để chẩn đoán ngộ độc Ví dụ:

Ngộ độc chì xuất hiện chất coproporphyrin

Ngộ độc acid mạnh xuất hiện hematoporphyrin

2.1.5 Trên hệ thần kinh

Phần lớn các chất độc đều ít nhiều tác dụng lên hệ thần kinh gây rối loạn chức năng vận động, cảm giác Ví dụ:

Các loại thuốc mê toàn thân (ete, cloroform) tác đụng lên não và tuỷ sống làm mất phản xạ, sau

đó lên hành tuỷ gây ngừng thở

Thuôc ngủ, thuốc phiện, rượu etylic gây hôn mê

Amphetamin, long não, atropin, clo hữu cơ gây kích thích, vật vã

Strychnin kích thích tuỷ sống gây co cứng

Các chất gây rối loạn cảm giác như streptomycin, quinin, salicylat gây chóng mặt; santonin, quinacrin làm hoa mắt; streptomycin, kanamycin, neomycin gây điếc

Adrenalin, ephedrin, atropin, nicotin tác dụng lên hệ thần kinh giao cảm, gây giãn đồng tử, tim đập nhanh, co mạch Ngược lại, một số chất như eserin, acetylcholin, prostigmin tác dụng lên hệthần kinh phó giao cảm làm co đồng tử mắt, tim đập chậm, tăng bài tiết

2.1.6 Trên thận và hệ tiết niệu

Lượng máu qua thận mỗi ngày rất lớn, nên một lượng đáng kể thuốc và chất độc cũng được vận chuyển đến thận

Các kim loại nặng (thuỷ ngân, chì, cadimi ) ở liều thấp làm tăng glucose và acid amin trong nước tiểu, lợi niệu; liều cao gây hoại tử tế bào thận, vô niệu và có thể gây chết

Aspirin, acid oxalic, thuốc chống đông máu gây tiểu ra máu

Các dung môi hữu cơ có clo, sulfamid, CC14 gây viêm thận

Nhiều chất gây vô niệu như thuỷ ngân, sulphamid, mật cá trăm

Trang 6

Aminoglycosid (streptomycin, neomycin, kanamycin, gentamycin) gây hoại tử tế bào ống thận, dẫn đến suy thận cấp và bí tiểu.

2.1.7 Trên gan

Gan là cơ quan chính chịu trách nhiệm chuyển hoá các chất độc Từ tĩnh mạch cửa, gan nhận tất cả các chất do chuyển hoá thức ăn cung cấp và các chất độc Do vậy, hầu như trường hợp ngộ độc nào cũng có tổn thương ở gan như:

Rượu làm xơ hoá gan

Một số chất gây tắc nghẽn mật: clopromazdn, clothiaãd, inùpramin, sulfanilamid, diazepam, estradiol

Một số thuốc gây viêm gan: isoniazid, papaverin, imipramin, halothan, colchicin, metyldopa, phenyl butazon

Các chất độc có khả nẳng gây ung thư gan: aflatoxin, uretan, vinyl clorid

2.1.8 Trên hệ sinh sản

Các chất độc không chỉ khác nhau về bản chất hoá học mà còn khác nhau về vị trí tác động và

cơ chế gây độc trên hệ sinh sản, gây ra nhũng rối loạn chức năng của hệ sinh sản (nam và nữ) và tác động lên cả quá trình mang thai, sinh đẻ và bài tiết sữa

Một số chất độc tác động trực tiếp lên tuyến sinh dục, một số chất khác tác động gián tiếp lên

hệ sinh sản thông qua tác động lên hệ nội tiết Ví dụ:

Chì tác động lên hệ thần kinh trung ương làm thay đổi sự bài tiết hormon của vùng dưới đồi hoặc gonadotropin dẫn đến ngăn cản sự rụng trứng

Nhiều loại thuốc trị ung thư (busutfan, cyclophosphamid, nitrogen mustard, vinblastin ) và các tác nhân alkyl hoá tác động lên tuyến sinh dục bằng cách can thiệp vào sự phân chia tế bào hoặc cản trở sự tạo tinh trùng

Thuốc trị nấm dibromocloropropan (DBCP) tác động trên tế bào stertoli ở nam giới, nhưng

lại không gây độc trên động vật thí nghiệm giống cái

2.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường không khí đối với con người

2.2.1 Ảnh hưởng tới cơ quan hô hấp

Một số loại tác nhân có nguồn gốc hữu cơ: bụi, phấn hoa, bông, đay, gai có khả năng gây co thắt phế quản, gây hen v.v làm suy giảm chức năng hô hấp

Trang 7

- Các khí SO2, NO2, carbuahydro không những gây kích thích tế bào bề mặt đường hô hấp làm tăng tiết, thủng phế nang mà nó còn gây phản ứng co thắt các cơ trơn, gây Mệt Hb làm giảm khả năng vận chuyển các chất khí của hồng cầu, thậm chí nhiều trường hợp gây tử vong

- CO là tác nhân gây suy hô hấp mạnh và nhanh nhất có thể gây tử vong vì CO kết hợp Hb tạo thành methemoglobin, vô hiệu hóa khả năng vận chuyển O2 của hồng cầu

- Viêm phế quản mạn tính: những người tiếp xúc với bụi, tỉ lệ bị viêm phế quản mạn nhiều khi lên tới 10 – 15%, còn đối với các hơi khí độc tỉ lệ bệnh này là 15 - 35%

- Tỷ lệ bệnh ung thư vòm, ung thư phổi ở vùng ô nhiễm càng ngày càng tăng cao

2.2.2 Ảnh hưởng tới cơ quan thần kinh

Hệ thống thần kinh rất nhạy cảm với các chất độc có khả năng hòa tan trong mỡ như:

carbuahydro, aldehyt, dầu mỏ Nhiều khi những chất này gây rối loạn quá trình oxy hóa khử dẫn đến hiện tượng tổn thương các tế bào và gây nên các bệnh thần kinh

Ví dụ: benzen, carbuahydro gây rối loạn quá trình oxy hóa khử ở tế bào thần kinh gây nhiễm độc thần kinh cấp tính

Một số loại bụi phấn hoa có khả năng gây bệnh tâm thần theo mùa

Nhiễm độc chì hữu cơ - viêm não chì

2.2.3 Ảnh hưởng tới cơ quan tuần hoàn và máu

- Có nhiều chất độc có tác dụng gây co mạch ngoại vi ở các vùng có nhiều tế bào non gây rối loạn chuyển hóa tế bào

Ví dụ: chì, asen, gây nhiễm độc cấp và ảnh hưởng đến mạch máu vùng tiếp xúc (dãn mạch, hoại tử mao mạch)

- Một số chất độc: CO, NO2, S gây rối loạn chuyển hóa trao đổi chất của tế bào máu, làm rối loạn quá trình trao đổi và vận chuyển chất khí, gián tiếp gây thiểu dưỡng các tế bào của các tổ chức, trong đó có tế bào của hệ tuần hoàn

2.2.4 Ảnh hưởng tới cơ quan tiêu hóa

Nhiều chất độc có trong môi trường không khí bị ô nhiễm có khả năng gây độc trên hệ thống tiêu hóa

Trang 8

Ví dụ: Các bụi chì, thuốc trừ sâu, người và động vật ăn phải có thể gây rối loạn tiêu hóa trầm trọng, tác động xấu, tác động trực tiếp trên gan, tụy, lách và cơ trơn.

2.2.5 Ảnh hưởng tới cơ quan tiết niệu

Cơ quan tiết niệu là nơi đào thải các chất độc, những người hít phải các chất độc trong môi trường không khí bị ô nhiễm như: benzen, arsen, chì sẽ được chuyển hóa để đào thải qua thận, nếuhàm lượng các chất độc có trong môi trường không khí cao hơn ngưỡng cho phép thì sẽ gây viêm ông thận cấp

2.2.6 Ảnh hưởng tới các giác quan

- Đặc biệt là mũi, mắt dễ bị tác động của môi trường, nếu môi trường không khí bị ô nhiễm thì

sẽ dẫn đến tình trạng mắt, mũi bị viêm nhiễm cấp tính

Ví dụ: bụi, hơi thuốc trừ sâu gây viêm mũi, tổn thương giác mạc mắt

- Nguồn gây ung thư: amiang, arsen, các chất có nguồn gốc phóng xạ gây ung thư phổi, ung thưthực quản, ung thư da

- Không khí bị ô nhiễm còn ảnh hưởng tới toàn thân được biểu hiện qua Hội chứng SBS (Sieb Building Syndrome: Hội chứng ô nhiễm không khí nội thất), bao gồm các triệu chứng về mắt, mũi, họng, da, toàn thân

2.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm nước đến cộng đồng dân cư

- Bệnh mắt hột: do sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm, gặp hầu hết các vùng nông thôn miền núi

- Bệnh viêm phần phụ: ao tắm rửa hàng ngày bằng các loại nước bị nhiễm bẩn

- Bệnh do các chất hóa học, các chất phóng xạ có trong nước xuất phát từ nước thải công nghiệp, nước thải của các cơ sở hạt nhân gây ô nhiễm nguồn nước như nhiễm độc chì, arsen, thủy ngân vv

- Bệnh do các yếu tố vi lượng: Thiếu iod trong nước gây bướu cổ địa phương Fluor quá cao hay quá thấp cũng gây bệnh răng miệng

2.4 Tình hình các loại bệnh tật phổ biến có liên quan đến hoá chất độc hại:

Hơn một phần ba (35%) bệnh tim thiếu máu cục bộ, nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn thế giới, và khoảng 42% bệnh đột quỵ, nguyên nhân lớn thứ hai đối với tỷ lệ tử vong toàn cầu, có thể được ngăn chặn bằng cách giảm hoặc loại bỏ tiếp xúc với hóa chất như ô nhiễm không khí xung quanh, ô nhiễm không khí gia đình, khói thuốc lá thụ động và chì

Trang 9

Các hóa chất như kim loại nặng, thuốc trừ sâu, dung môi, sơn, chất tẩy rửa, dầu hỏa, carbon monoxide và thuốc có thể dẫn đến ngộ độc không chủ ý tại nhà và tại nơi làm việc Các trường hợp ngộ độc không chủ ý được ước tính gây ra 193.000 ca tử vong hàng năm với phần lớn là do phơi nhiễm hóa chất có thể phòng ngừa.

Các hóa chất được phân loại là chất gây ra bệnh ung thư ở con người đã được nhận diện và

là một danh sách khá dài Các chất gây ung thư do nghề nghiệp ước tính gây ra từ 2% đến 8% của tất

cả các loại ung thư Đối với dân số nói chung, ước tính có 14% ung thư phổi là do ô nhiễm không khí xung quanh, 17% là do ô nhiễm không khí gia đình, 2% do hít khói thuốc lá thụ động và 7%

là do tiếp xúc hoá chất nghề nghiệp

Tiếp xúc với một số hóa chất nhất định, như chì, đã được chứng minh có liên quan đến giảm phát triển hệ thần kinh ở trẻ em và làm tăng nguy cơ bị chứng rối loạn thiếu tập trung và khuyết tật trí tuệ Bệnh Parkinson có liên quan đến việc tiếp xúc với thuốc trừ sâu

Ô nhiễm không khí và hít khói thuốc lá thụ động là các yếu tố nguy cơ cho một kết cục thai kỳ bất lợi như trọng lượng sơ sinh thấp, sinh non và thai chết lưu Ví dụ, tiếp xúc trước đây với khói thuốc lá thụ động được ước tính làm tăng nguy cơ tử vong sơ sinh 23% và dị tật bẩm sinh

13% Ngoài ra, khoa học đã chứng minh mối liên quan giữa nhiều hóa chất khác và kết cục thai kỳ bất lợi hoặc dị dạng bẩm sinh ở trẻ sơ sinh

Đục thủy tinh thể, nguyên nhân quan trọng nhất gây mù lòa trên toàn thế giới, có thể phát triển

do tiếp xúc với không khí trong gia đình bị ô nhiễm Trong đó, tiếp xúc với khói do nấu ăn là nguyênnhân gây ra 35% các trường hợp đục thủy tinh thể ở phụ nữ và 24% tổng số trường hợp bệnh đục thủy tinh thể

Hít khói thuốc lá thụ động và ô nhiễm không khí cũng chịu trách nhiệm chính cho 35% các bệnhnhiễm trùng đường hô hấp dưới cấp tính, bao gồm viêm phổi, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản (là những nguyên nhân quan trọng nhất gây tử vong ở trẻ em), và cũng liên quan đến nhiễm trùng đường hô hấp trên và viêm tai giữa

Hơn một phần ba (35%) gánh nặng bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là do tiếp xúc với hóachất trong hít khói thuốc lá thụ động, ô nhiễm không khí hoặc khí nghề nghiệp, khói và bụi

Ô nhiễm khói thuốc và ô nhiễm không khí có thể làm giảm chức năng phổi và khuynh hướng

dễ bị bệnh phổi ở bào thai và trẻ sơ sinh

Khói thuốc lá và ô nhiễm không khí có thể dẫn đến phát triển và tăng tần suất mắc bệnh hen phế quản Ô nhiễm không khí làm tần suất khởi phát cơn hen và làm tăng tỷ lệ nhập viện Bệnh hen phế quản nghề nghiệp là một trong những bệnh thường gặp nhất liên quan đến ô nhiễm không khí nơi làm việc

Trang 10

Trên thế giới, có hơn 800.000 trường hợp tử vong do tự tử mỗi năm Trong đó, có khoảng 20% các vụ tự tử có thể được ngăn chặn được thông qua việc hạn chế tiếp cận các chất hoá chất độc hại Tự gây ngộ độc bằng cách uống thuốc trừ sâu là phương tiện tự tử chính ở Ấn Độ, Trung Quốc

và một số nước Trung Mỹ

Tiếp xúc và phơi nhiễm hoá chất độc hại là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong Tổ chức Y tế thế giới đã cảnh báo sự nguy hiểm của hoá chất độc hại ảnh hưởng lên sức khoẻ qua chuyên đề “The public health impact of chemicals: knowns and unknowns”.

Tiếp xúc với các hóa chất khác nhau xảy ra hàng ngày và thông qua nhiều cách khác nhau như uống, hít phải, tiếp xúc qua da và qua dây rốn ảnh hưởng đến bào thai Nhiều hóa chất vô hại nhưng cũng có nhiều hoá chất là mối đe dọa đối với sức khỏe của con người và môi trường

Tình hình sản xuất hóa chất tiếp tục tăng và làm tăng tiềm năng tiếp xúc với hóa chất Các hoá chất thường gặp trong môi trường nhưng rất nguy hiểm đối với sức khoẻ con người bao gồm thuốc trừ sâu, amiăng, các hóa chất gia dụng và hoá chất nghề nghiệp khác, ô nhiễm môi trường xung quanh

và ô nhiễm không khí gia đình, khói thuốc lá, chì và arsen Quản lý môi trường tốt có thể làm giảm phơi nhiễm hoá chất nguy hiểm đến sức khoẻ con người

Tiếp xúc với hoá chất độc hại có thể gây ra các bệnh lý thuộc nhóm không lây nhiễm và các bệnh lý thuộc nhóm chấn thương do ngộ độc không chủ ý hoặc do tự hại

Trang 11

Dưới đây là biểu đồ phân bố nguyên nhân tử vong do các bệnh lý do tiếp xúc hoặc có liên quan đến phơi nhiễm các hoá chất độc hại:

Phân bố tỷ lệ tử vong do các nhóm bệnh lý có liên quan đến hoá chất (TCYTTG-2016)

Dưới đây là biểu đồ phân bố tần suất tử vong (trên 1.000 dân) do nhóm bệnh không lây nhiễm

và nhóm bệnh chấn thương do tiếp xúc hoá chất độc hại theo các khu vực trên thế giới:

Tần suất tử vong do chấn thương và bệnh không lây nhiễm do tiếp xúc hoá chất độc hại theo các

khu vực trên thế giới (TCYTTG – 2016)

Trang 12

2.5 Ví dụ một số tác hại của độc chất đối với con người:

Vụ dịch sương mù ở Luân Đôn năm 1952 là vụ địch điển hình được mô tả trong lịch sử, đó là dohàm lượng SO2 trong không khí tăng cao do khí thải của nhà máy

- Tại Nhật Bản xuất hiện bệnh Minamata là do hội chứng nhiễm độc thủy ngân do ăn phải cá chứa nhiều thủy ngân hữu cơ bởi thải các chất thủy ngân ra môi trường nước vùng Minamata

- Các vụ nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật ngày càng nhiều, số tử vong cũng tăng cao

- Vụ dịch xuất huyết trẻ em do sử dụng phấn rôm có chứa chất chông đông tại thành phố Hồ ChíMinh được phát hiện do thiết kế nghiên cứu ca bệnh - đối chứng

- Hàng năm có khoảng 200.000 chất hóa học được phát hiện ra và có khoảng 20.000 chất được đưa vào sản xuất, gây tăng quá trình nhiễm độc

Chương III ĐƯỜNG XÂM NHẬP CHẤT ĐỘC VÀO CƠ THỂ CON NGƯỜI

3.1 Cơ chế gây độc

Chất độc muốn có được một tác động lên cơ thể sinh vật, chất độc đó phải xâm nhập được vào

tế bào sinh vật Tế bào có thể được xem như là một cái túi trong chứa tế bào chất và nhân, bên ngoài

là màng nguyên sinh chất (hay là màng ngoại chất) bao bọc Tế bào Thực vật ngoài màng nguyên sinh chất còn có một màng xeluto cứng đẻ bảo đảm cho thực vật bền vững

Ngày đăng: 16/08/2021, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w