Trong những năm qua, các doanh nghiệp ở các nước phát triển đã xây dựng hệ thống kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN THỊ THỌ
TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TẠI CÔNG TY TNHH MINH TIẾN
Chuyên ngành : Kế toán
Người hướng dẫn: PGS.TS.HÀ XUÂN THẠCH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Thọ
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ KTQT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 5
1.1.1 Bản chất, vai trò của KTQT chi phí 5
1.1.2 Sự phát triển của KTQT chi phí ở các nước và sự vận dụng ở Việt Nam7 1.2 PHÂN LOẠI CHI PHÍ THEO YÊU CẦU KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 9
1.2.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động 9
1.2.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ xác định lợi nhuận 10
1.2.3 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí 10
1.2.4 Các cách phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định 11
1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 13
1.3.1 Lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất 13
1.3.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 16
1.3.3 Tổ chức phân tích phục vụ kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp 19
1.3.4 Mô hình tổ chức KTQT 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MINH TIẾN 29
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH MINH TIẾN 29
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Minh Tiến 29
2.1.2 Đặc điểm kinh doanh 30
2.1.3 Đặc điểm tổ chức, quản lý SXKD của Công ty… 32
Trang 42.1.4 Tổ chức công tác kế toán tại Công ty TNHH Minh Tiến 35
2.2.PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 38
2.2.1 Phương pháp xử lý số liệu 38
2.2.2 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 38
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MINH TIẾN 39
2.3.1 Công tác phân loại chi phí tại Công ty 40
2.3.2 Công tác lập dự toán chi phí ở Công ty TNHH Minh Tiến 41
2.3.3 Công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty TNHH Minh Tiến 46
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MINH TIẾN 53
2.4.1 Ưu điểm 53
2.4.2 Nhược điểm 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3 TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MINH TIẾN 56
3.1.QUAN ĐIỂM VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MINH TIẾN 56
3.2 TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH MINH TIẾN 59
3.2.1 Phân loại chi phí phục vụ kế toán quản trị chi phí ở Công ty 59
3.2.2 Hoàn thiện công tác lập dự toán chi phí ở Công ty 60
3.2.3 Phương pháp định giá bán trong các tình huống khác nhau ở Công ty 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 74
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
NCTT Nhân công trực tiếp
NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp
QLDN Quản lý doanh nghiệp
SXC Sản xuất chung
SXKD Sản xuất kinh doanh
TSCĐ Tài sản cố định
HĐKT Hợp đồng kinh tế
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng định mức chi phí NVL 42
Bảng 2.2: Bảng dự toán chi phí NVLTT cho sản xuất sản phẩm 43
Bảng 2.3: Bảng dự toán chi phí NCTT cho sản xuất sản phẩm 44
Bảng 2.4: Bảng dự toán chi phí SXC cho sản xuất sản phẩm 45
Bảng 2.5: Bảng dự toán chi phí bán hàng và chi phí QLDN 46
Bảng 2.6: Bảng kê chứng từ xuất vật tư Hợp đồng kinh tế số 79/2018 thực hiện tháng 12/2018 47
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp chi phí NVLTT Hợp đồng kinh tế số 79/2018 thực hiện tháng 12/2018 47
Bảng 2.8: Sổ chi phí nhân công trực tiếp Hợp đồng kinh tế số 79/2018 thực hiện tháng 12/2018 49
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp chi phí NCTT Hợp đồng kinh tế số 79/2018 thực hiện tháng 12/2018 49
Bảng 2.10: Bảng tổng hợp chi phí sản xuất chung tháng 12/2018 51
Bảng 2.11: Bảng tính giá thành đơn vị 53
Bảng 3.1: Bảng phân loại chi phí SXC dự toán theo cách ứng xử Tháng 12/2018 62
Bảng 3.2: Bảng dự toán biến phí đơn vị 63
Bảng 3.3: Bảng dự toán chi phí linh hoạt Hợp đồng kinh tế số 79/2018 thực hiện tháng 12/2018 69
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu và tổ chức Công ty TNHH Minh Tiến 32
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất 34
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán 36
Sơ đồ 2.4: Sơ đồ hình thức kế toán Công ty đang áp dụng 37
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin chi phí do kế toán quản trị cung cấp có vai trò hết sức quan trọng trong các doanh nghiệp Nó là mối quan tâm hàng đầu đối với nhà quản lý, là cơ sở
để nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn Ở các nước phát triển, kế toán quản trị chi phí đã được các doanh nghiệp vận dụng để giúp các nhà quản trị trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch, từ đó đưa ra những phương án kinh doanh tối ưu Còn ở nước ta, khái niệm kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí xuất hiện từ đầu những năm 1990 Đến ngày 12 tháng
6 năm 2006 Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư số 53/2006/TT-BTC hướng dẫn về
kế toán quản trị, nhưng sự hiểu biết về kế toán quản trị ở nước ta còn khá mới mẻ,
áp dụng cụ thể vào từng loại hình doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế
Ngành gỗ là một trong số các ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, đòi hỏi các sản phẩm ngành gỗ phải đa dạng về kiểu dáng, có chất lượng và sức cạnh tranh cao Đứng trước xu thế hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp gỗ nói chung và Công ty TNHH Minh Tiến nói riêng muốn xây dựng doanh nghiệp có thương hiệu, có khả năng cạnh tranh cao; xây dựng một điểm đến thỏa mãn nhu cầu khách hàng … Nhiều vấn đề đặt ra cho Công ty cần phải giải quyết, trong đó làm thế nào để kiểm soát chi phí là một vấn đề được Công ty đặt lên hàng đầu Kế toán quản trị chi phí với vai trò của mình sẽ đáp ứng những nhu cầu về thông tin của quản trị trong việc lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định Tuy nhiên hiện nay công tác tổ chức xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong đó tập trung vào kế toán quản trị chi phí nhằm cung cấp thông tin chi phí phục vụ cho yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh tại Công ty vẫn chưa được chú trọng Hiện tại nhu cầu sử dụng thông tin chi phí còn tự phát, các công việc của kế toán theo dõi chi phí chỉ được thực hiện đan xen giữa các bộ phận, chưa có bộ phận chuyên trách Điều này làm cho thông tin chi phí cung cấp cho nhà quản trị chưa hợp lý, kịp thời và chính xác
Trang 92
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn, tôi đã chọn đề tài “Tổ chức kế
toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH Minh Tiến” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
- Về lý luận: Luận văn làm rõ bản chất, vai trò và nội dung kế toán quản trị chi
phí trong quản trị doanh nghiệp
- Về thực tiễn: Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chức kế toán quản
trị chi phí tại Công ty TNHH Minh Tiến để tìm ra những vấn đề còn hạn chế Qua
đó, đề xuất giải pháp xây dựng tổ chức kế toán quản trị chi phí phù hợp với yêu cầu
của cơ chế thị trường và đặc thù của Công ty TNHH Minh Tiến
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về kế
toán quản trị chi phí cả về lý luận và thực tiễn ở Công ty TNHH Minh Tiến nhằm
đạt mục tiêu tổ chức hệ thống kế toán quản trị chi phí ở Công ty TNHH Minh Tiến
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu nghiên cứu kế toán quản trị chi phí tại
Công ty TNHH Minh Tiến, bao gồm toàn bộ các đơn vị tham gia hoạt động sản
xuất kinh doanh và văn phòng Công ty
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, so sánh, kiểm chứng… để trình bày các vấn đề về tổ chức kế toán quản trị chi phí ở Công ty TNHH Minh Tiến Từ đó tìm ra các tồn tại của Công ty, tổng hợp đưa ra kết luận từ thực tiễn và đề xuất các giải pháp tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH Minh Tiến Chương 3: Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH Minh Tiến
6 Tổng quan tài liệu
Thông tin chi phí do kế toán quản trị cung cấp chủ yếu phục vụ cho yêu cầu
Trang 103
quản lý của doanh nghiệp, nó là bộ não điều khiển toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là cơ sở để nhà quản lý đưa ra các quyết định tối ưu Trong những năm qua, các doanh nghiệp ở các nước phát triển đã xây dựng hệ thống kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị từ đó giúp họ có quyết định đúng đắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Kế toán quản trị, trong đó có kế toán quản trị chi phí là thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam trong hơn hai mươi năm trở lại đây và đã thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã bước đầu vận dụng và xây dựng một bộ máy kế toán quản trị riêng biệt và cũng đã có rất nhiều nghiên cứu
về vấn đề này Điển hình là công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Dược (1997) với “Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kế toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả đã trình bày phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu này còn mang tính chất chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh hoạt của kế toán quản trị lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng ngành
Trong thời gian gần đây, việc nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Điển hình là các công
trình nghiên cứu: “Kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần An Hưng” của tác
giả Trần Thị Ngọc Thư (2017), “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại DNTN Minh Thảo” của tác giả Phạm Tùng Sơn (2017), “Nghiên cứu vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn tỉnh Bình Định” của tác giả Nguyễn Thị Liêm (2017), “Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị tại các khách sạn trên địa bàn TP.Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” của tác giả Nguyễn Thị Hường (2017), “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại công ty cổ phần cấp thoát nước Bình Định” của tác giả Ngô Thị Mỹ Linh (2017) Tất cả các nghiên cứu này đã khái quát được các vấn đề lý luận chung về kế toán quản trị chi phí, thấy được tầm quan trọng của kế toán quản trị chi phí trong việc cung cấp thông tin về chi phí cho quản trị doanh
Trang 114
nghiệp Các tác giả cũng nêu rõ nội dung của kế toán quản trị chi phí từ khâu lập kế hoạch, dự toán chi phí đến khâu lập các báo cáo làm cơ sở để kiểm tra đánh giá chi phí cho đến khâu phân tích chi phí để ra các quyết định kinh doanh Qua đó, các tác giả đề xuất phương hướng hoàn thiện tổ chức và vận dụng kế toán quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài
Mặc dù vậy tất cả các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu chuyên sâu về công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp gỗ trong nước nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng, trong khi Bình Định là một trong bốn tỉnh được xem là trung tâm chế biến đồ gỗ xuất khẩu và tiêu thụ nội địa của cả nước, các doanh nghiệp gỗ đang rất cần những thông tin kế toán quản trị chi phí phục vụ cho công tác ra quyết định của nhà quản trị Vì vậy, luận văn mà tác giả đang tập trung nghiên cứu là: “Tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH Minh Tiến”
Trang 12
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 TỔNG QUAN VỀ KTQT CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Bản chất, vai trò của KTQT chi phí
a Bản chất KTQT chi phí
Bản chất của kế toán quản trị chi phí trước hết thể hiện ở bản chất của kế toán, bởi vì kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu đời, có rất nhiều định nghĩa về kế toán dưới các góc độ khác nhau, tuy nhiên trong phần này tác giả chỉ phân tích hai định nghĩa cơ bản dưới góc độ bản chất và nội dung của kế toán
Về bản chất, kế toán được định nghĩa là một bộ phận của hoạt động quản lý, với chức năng xử lý và cung cấp thông tin thực hiện về khách thể quản lý cho chủ thể quản lý [4] Quá trình sản xuất ra của cải vật chất là yêu cầu tất yếu khách quan cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Để quá trình sản xuất được thực hiện một cách có hiệu quả cần phải có hoạt động quản lý, tức là hoạt động định hướng cho quá trình sản xuất và tổ chức thực hiện theo những hướng đã định Trong hoạt động quản lý này, kế toán đóng vai trò là cầu nối thông tin giữa khách thể quản
lý và chủ thể quản lý
Về nội dung của kế toán, kế toán được định nghĩa là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh
tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán [7] Dưới góc độ này, kế toán cần áp dụng
hệ thống các phương pháp đặc thù (chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá và tổng hợp – cân đối) để cung cấp các thông tin phù hợp, tin cậy và so sánh được nhằm giúp cho những người sử dụng thông tin đưa ra được các quyết định đúng đắn đối với tổ chức
Trong nội dung kế toán nêu trên bao hàm cả kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán tài chính là một bộ phận kế toán cung cấp thông tin chủ yếu cho các chủ
Trang 13ra các quyết định quản trị KTQT chi phí không chỉ thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính thực sự phát sinh và hoàn thành mà còn cung cấp các thông tin phục vụ cho việc ra các quyết định tương lai trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
b Vai trò của kế toán quản trị chi phí
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải lập cả kế hoạch ngắn hạn và dài hạn Từ kế hoạch chung của doanh nghiệp các bộ phận triển khai thành kế hoạch riêng của bộ phận, đơn vị mình Để thực hiện vai trò của mình,
kế toán quản trị chi phí tiến hành lập dự toán chi phí để trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập kế hoạch Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các mục tiêu mà kế hoạch đã đề ra, kế toán quản trị chi phí đã cung cấp thông tin cho việc quản lý đến từng công việc cụ thể, như: quản lý sản xuất tác nghiệp, quản
lý tồn kho, quản lý chi phí, Kế toán quản trị chi phí còn được coi là công cụ để đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch - thông qua việc phân tích các chi phí, từ đó có những quyết định hợp lý để hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Kế toán quản trị chi phí giúp thực hiện chức năng kiểm tra của quản lý một cách rất hiệu quả thông qua việc thu thập và cung cấp các thông tin chi tiết về tình hình thực hiện kế hoạch, phát hiện các khoản chênh lệch so với kế hoạch và các nguyên nhân dẫn đến tình hình đó, giúp nhà quản lý nắm bắt hoạt động nào đem lại lợi ích, hoạt động nào đang duy trì lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp,… Với khả năng cung cấp thông tin về chi phí và lợi nhuận thu được từ từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng lĩnh vực hoạt động, từng bộ phận,… kế toán quản trị chi phí sẽ rất hữu ích trong việc kiểm soát chi phí sản xuất và vòng đời của sản
Trang 147
phẩm cũng như hiệu quả của từng hoạt động Có thể nói, kế toán quản trị chi phí đóng vai trò kiểm soát toàn bộ các khâu của hoạt động kinh doanh một cách rất cụ thể, chi tiết và thường xuyên Ngoài ra, trong một số tình huống đặc biệt, các thông tin về chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, nhất là trong các trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên thị trường
Trong môi trường kinh doanh ở giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vai trò của KTQT càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Việc ứng dụng KTQT vào doanh nghiệp sẽ giúp tiết kiệm được chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động
1.1.2 Sự phát triển của KTQT chi phí ở các nước và sự vận dụng ở Việt Nam
Cùng với sự ra đời và phát triển của kế toán nói chung, KTQT chi phí nói riêng cũng có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài:
- Sự phát triển của KTQT chi phí diễn ra vào đầu thế kỷ XIX Cuối thế kỷ XIX, KTQT chi phí được sử dụng rộng rãi trong các cơ sở sản xuất Chủ các xưởng dệt ở Mỹ lưu giữ những bản ghi chi phí chi tiết, xác định chi phí cho từng công đoạn kéo sợi, dệt vải, nhuộm vải Các nhà quản lý các hãng xe lửa đã áp dụng các hệ thống kế toán chi phí khá lớn và phức tạp có thể tính toán chi phí cho các mức hàng chuyên chở khác nhau Các xưởng thép cũng có các bản ghi chi tiết về chi phí nguyên vật liệu và nhân công, những thông tin này trợ giúp việc nâng cao hiệu quả quản lý và định giá sản phẩm Hầu hết các cách thức của
kế toán chi phí và kế toán nội bộ thực hiện trong thế kỷ XX đều được bắt đầu phát triển trong giai đoạn 1880 – 1925
- Sau những năm cuối thập niên 1920, KTQT chi phí hầu như không có những bước phát triển mới Các nhà nghiên cứu cũng chưa tìm ra những lý do chính xác cho sự chững lại của kế toán quản trị chi phí trong giai đoạn này Nhưng thông tin
về chi phí trên các báo cáo của kế toán tài chính được yêu cầu cao hơn có thể là một trong những nguyên nhân để hệ thống KTQT chi phí hầu như chỉ tập trung vào việc đáp ứng các yêu cầu đó và sao nhãng việc cung cấp thông tin chi phí một cách chi tiết hơn về từng sản phẩm riêng lẻ Đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai, trong
Trang 158
khi các nền kinh tế khác đều kiệt quệ thì nền kinh tế Mỹ phát triển nhanh chóng, chiếm một nửa tổng giá trị sản phẩm của cả thế giới Với bối cảnh như vậy, các công ty Mỹ không thấy có sức ép về nhu cầu thông tin đối với lợi nhuận của từng loại sản phẩm đơn lẻ Những năm 1950 – 1960 cũng có một số nỗ lực nhằm nâng cao tính hữu ích về mặt quản lý của hệ thống kế toán chi phí truyền thống, tuy nhiên những nỗ lực này chủ yếu tập trung vào việc làm cho các thông tin kế toán tài chính
có ích hơn đối với nội bộ
- Đến tận thập niên 1960, 1970 nền kinh tế thế giới không chỉ có sự thống trị của một mình kinh tế Mỹ, mà với sự phát triển của các nền kinh tế Âu – Á, đặc biệt
là nền kinh tế Nhật Bản, cạnh tranh giữa các nền kinh tế này ngày càng gay gắt, dẫn đến nhu cầu cần có một hệ thống kế toán quản trị chi phí hiệu quả hơn, hiện đại hơn Chính vì vậy, trong những năm cuối thế kỷ XX có rất nhiều đổi mới trong hệ thống KTQT chi phí được thực hiện ở các nước Mỹ, Âu, Á Hệ thống KTQT chi phí được thiết kế lại để đáp ứng các nhu cầu thông tin thay đổi do sự thay đổi của cách thức sản xuất và phân phối các sản phẩm Hệ thống KTQT chi phí không chỉ cần thiết trong các đơn vị sản xuất mà còn cần thiết trong cả các đơn vị kinh doanh dịch
vụ Các phương pháp KTQT chi phí mới được ra đời và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, như các phương pháp target costing (chi phí mục tiêu), Kaizen costing (chi phí hoàn thiện liên tục)…
- Ở Việt Nam, trước những năm 1990, với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các đơn vị không phải chịu sức ép cạnh tranh nên không thấy nhu cầu cần phải có
hệ thống KTQT chi phí Khái niệm KTQT chi phí không tồn tại trong ý niệm của các nhà quản lý cũng như trên thực tế, mặc dù các chế độ kế toán thời đó cũng có những dáng dấp của hệ thống KTQT chi phí Cùng với sự đổi mới nền kinh tế sang
cơ chế thị trường, khái niệm về KTQT và KTQT chi phí xuất hiện tại Việt Nam từ đầu những năm 1990 và được nghiên cứu có hệ thống từ những năm 1999, tuy nhiên thực tế áp dụng KTQT tại các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế
Trang 16- Chi phí NVL trực tiếp: Khoản mục chi phí này bao gồm các loại nguyên liệu
và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm
- Chi phí nhân công trực tiếp: Là tiền lương chính, lương phụ, các khoản trích theo lương và các khoản phải trả khác cho công nhân trực tiếp sản xuất
- Chi phí sản xuất chung: Là những khoản chi phí liên quan đến việc quản lý sản xuất và phục vụ sản xuất tại phân xưởng Chi phí sản xuất chung là những chi phí phát sinh ở phân xưởng sản xuất để sản xuất ra sản phẩm nhưng không kể chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp, bao gồm các khoản chi phí như: tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên phân xưởng, chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí công cụ dùng trong phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố định tại phân xưởng, chi phí sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị, chi phí quản lý tại phân xưởng…
b Chi phí ngoài sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất là những chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất liên quan đến việc quản lý chung doanh nghiệp và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, loại chi phí này được chia thành hai loại như sau:
- Chi phí bán hàng: Là những chi phí phát sinh cần thiết để đảm bảo cho việc thực hiện các đơn đặt hàng, giao thành phẩm cho khách hàng, bao gồm các khoản chi phí như: chi phí vận chuyển, chi phí bốc vác, chi phí bao bì, chi phí lương nhân viên bán hàng, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí khấu hao tài sản cố định và những chi phí liên quan đến khâu dự trữ thành phẩm Loại chi phí này xuất hiện ở tất cả các loại hình doanh nghiệp như sản xuất, thương mại, dịch vụ
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là toàn bộ những khoản chi phí chi ra cho việc
Trang 1710
tổ chức và quản lý chung trong toàn doanh nghiệp, bao gồm chi phí nguyên vật liệu, công cụ, đồ dùng quản lý, chi phí khấu hao tài sản cố định dùng chung trong toàn doanh nghiệp, chi phí dịch vụ mua ngoài như điện, nước, điện thoại, sữa chữa tài sản, các chi phí về văn phòng phẩm, tiếp tân, hội nghị, đào tạo cán bộ…
Cách phân loại này giúp cho nhà quản trị xác định rõ vai trò, chức năng của chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ xác định lợi nhuận
a Chi phí sản phẩm
Chi phí sản phẩm là toàn bộ những chi phí liên quan đến việc sản xuất hoặc mua các sản phẩm Đối với các sản phẩm sản xuất công nghiệp thì các chi phí này bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Các chi phí sản phẩm được gắn liền với sản phẩm và chúng được chuyển sang kỳ sau khi sản phẩm đang còn tồn kho chờ bán và khi sản phẩm đã được tiêu thụ thì chúng được xem là phí tổn thời kỳ và được tính trừ vào kết quả kinh doanh trong kỳ
b Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ và được tính hết thành phí tổn trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là những chi phí thời kỳ Chi phí thời kỳ
sẽ được tính đầy đủ trên các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị đạt ở mức nào đi nữa Chi phí thời kỳ ngay khi phát sinh được coi là phí tổn trong kỳ
1.2.3 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Dựa trên cách ứng xử của chi phí đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động có thể chia toàn bộ chi phí thành ba loại: Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp
a Biến phí
Biến phí là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng, giảm theo sự tăng, giảm về mức độ hoạt động Tổng số của biến phí sẽ tăng khi mức độ hoạt động tăng và ngược lại Tuy nhiên nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động thì biến phí lại không đổi trong phạm vi phù hợp Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động
Trang 1811
b Định phí
Định phí là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi Vì tổng định phí không thay đổi nên khi mức độ hoạt động tăng thì phần định phí trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm đi, và ngược lại Trong các doanh nghiệp sản xuất, các loại chi phí bất biến thường gặp là chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương nhân viên quản lý, chi phí quảng cáo,…
c Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là chi phí mà thành phần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến
và yếu tố khả biến Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản nó thể hiện đặc điểm của biến phí Sự pha trộn giữa phần bất biến và khả biến có thể theo những tỷ lệ nhất định
Nhằm phục vụ việc lập kế hoạch, phân tích và quản lý chi phí, cần phải phân tích các chi phí hỗn hợp thành yếu tố khả biến và yếu tố bất biến Việc phân tích này được thực hiện bằng một trong ba phương pháp: Phương pháp cực đại, cực tiểu, phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình quân bé nhất
Cách phân loại này giúp nhà quản trị nhận biết sự thay đổi của chi phí khi mức
độ hoạt động thay đổi, nhận biết thông tin về chi phí và tính toán dự toán kết quả được nhanh chóng Ngoài ra còn giúp xây dựng mô hình chi phí trong mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng, lợi nhuận, phân tích điểm hòa vốn, phân tích chi phí và xác định sản lượng, doanh thu hòa vốn, xác định được chi phí bỏ ra để đạt được lợi nhuận dự kiến Qua đó nhà quản trị xác định phương hướng sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí, làm cơ sở ra quyết định ngắn hạn
1.2.4 Các cách phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định
Để phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi phí của doanh nghiệp còn được xem xét ở nhiều khía cạnh khác Nổi bật nhất là việc xem xét trách nhiệm của các cấp quản lý đối với các loại chi phí phát sinh Hơn nữa, các nhà quản
lý nên nhìn nhận đúng đắn các loại chi phí khác nhau phục vụ cho việc phân tích, so sánh để ra quyết định lựa chọn phương án tối ưu trong các tình huống
Trang 1912
a Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí khi phát sinh được tính trực tiếp vào các đối tượng sử dụng như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, nó được tính thẳng vào từng đơn đặt hàng, từng nhóm sản phẩm, từng sản phẩm…
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí khi phát sinh không thể tính trực tiếp vào các đối tượng sử dụng, mà cần phải tiến hành phân bổ theo một tiêu thức phù hợp
Ví dụ như chi phí sản xuất chung sẽ được phân bổ cho các đối tượng sửu dụng theo
số giờ lao động trực tiếp, số giờ máy, số lượng sản phẩm sản xuất…
b Chi phí chênh lệch và chi phí chìm (lặn)
- Chi phí chênh lệch
Nhà quản trị thường phải đứng trước việc lựa chọn những phương án khác nhau, quyết định lựa chọn chủ yếu là dựa vào các chi phí của từng phương án Chi phí chênh lệch là chi phí có trong phương án này nhưng lại không có hoặc
có sự khác biệt với chi phí trong phương án khác Chi phí chênh lệch là căn cứ giúp cho nhà quản trị lựa chọn các phương án kinh doanh
- Chi phí chìm (lặn)
Chi phí chìm (lặn) là những chi phí đã chi ra trong quá khứ và nó không thể tránh được dù lựa chọn bất kỳ phương án nào, ví dụ như những khoản chi phí đã được đầu tư để mua sắm tài sản cố định
c Chi phí kiểm soát được và không kiểm soát được
Chi phí kiểm soát được đối với một cấp quản lý là những chi phí mà nhà quản trị cấp đó được quyền ra quyết định Những chi phí mà nhà quản trị cấp đó không được quyền ra quyết định thì gọi là chi phí không kiểm soát được
Xem xét chi phí ở khía cạnh kiểm soát có ý nghĩa lớn trong phân tích chi phí và
ra các quyết định quản lý, góp phần thực hiện tốt kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
d Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi chọn phương án này
Trang 2013
thay vì chọn phương án khác Chi phí cơ hội là một yếu tố đòi hỏi luôn phải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý Để đảm bảo chất lượng của các quyết định, việc hình dung và dự đoán hết tất cả các phương án hành động có thể có liên quan đến tình huống cần ra quyết định là quan trọng hàng đầu Có như vậy, phương
án hành động được lựa chọn mới thực sự là tốt nhất khi so sánh với các khoản lợi ích mất đi của tất cả các phương án bị loại bỏ
Với khái niệm chi phí cơ hội sẽ giúp nhà quản trị nhận thức, lựa chọn phương
án tập hợp và phân bổ chi phí thích hợp và giúp đưa ra quyết định chính xác hơn
1.3 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.3.1 Lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất
a Lập dự toán chi phí sản xuất
Dự toán là một chức năng không thể thiếu được đối với các nhà quản lý hoạt động trong môi trường cạnh tranh ngày nay Trong KTQT chi phí, dự toán là một nội dung quan trọng, nó thể hiện mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp, của từng bộ phận; đồng thời dự toán cũng là cơ sở để kiểm tra, kiểm soát cũng như ra quyết định trong doanh nghiệp
Khi tiến hành lập dự toán chi phí cho từng hoạt động nhằm cung cấp thông tin cho chức năng hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm soát chi phí Dự toán chi phí được lập chính xác và đầy đủ sẽ bảo đảm cho hoạt động SXKD được hiệu quả Thông qua dự toán chi phí các nhà quản trị sẽ có kế hoạch về chi phí và nguồn lực
để tiến hành các hoạt động đồng thời có thể lường trước những khó khăn trước khi chúng chưa xảy ra để có biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh và đảm bảo cho kế hoạch của từng bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp
- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
-Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán sản xuất Để lập dự toán nguyên vật liệu trực tiếp cần xác định:
+ Định mức tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất một sản phẩm
Trang 2114
+ Đơn giá xuất nguyên vật liệu
+ Mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ dự toán được tính toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho [9, tr 172]
- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng từ dự toán khối lượng sản xuất Dự toán này cung cấp những thông tin quan trọng liên quan đến quy mô của lực lượng lao động cần thiết cho kỳ dự toán Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phí hoặc bị động trong sử dụng lao động Dự toán lao động còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất Để lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp, doanh nghiệp cần xây dựng:
+ Định mức lao động để sản xuất sản phẩm
+ Tiền công cho từng giờ lao động hoặc từng sản phẩm [9, tr 176]
Số liệu về chi phí nhân công phải trả còn là cơ sở để lập dự toán tiền mặt
- Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất, phát sinh trong phân xưởng ngoài chi phí nhân công trực tiếp và chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Dự toán này được tính như sau:
Dự toán chi
phí SXC =
Dự toán biến phí SXC +
Dự toán định phí SXC (1.1) Trong đó:
Dự toán biến
phí SXC =
Dự toán biến phí đơn vị SXC x
Sản lượng sản xuất theo dự toán (1.2)
b Lập dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
kỳ trước
x
Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí SXC theo dự
kiến
(1.3)
Trang 2215
- Dự toán chi phí bán hàng
Dự toán chi phí bán hàng phản ánh các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm dự tính của kỳ sau Dự toán này nhằm mục đích tính trước và tập hợp các phương tiện chủ yếu trong quá trình bán hàng
Dự toán chi phí
bán hàng =
Dự toán biến phí bán hàng +
Dự toán định phí bán hàng (1.4) Trong đó, dự toán định phí bán hàng căn cứ vào tỷ lệ % dự kiến theo định nghĩa bán hàng thực tế kỳ trước Dự kiến biến phí bán hàng trên cơ sở sản lượng tiêu thụ trong kỳ
- Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Dự toán chi phí
quản lý DN =
Dự toán biến phí quản lý DN +
Dự toán định phí quản lý DN (1.5) Đối với biến phí quản lý DN thường sử dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm Dựa trên cơ sở tỷ lệ biến phí quản lý DN trên biến phí trực tiếp trong và ngoài khâu sản xuất ở các kỳ kế toán trước để xác định tỷ lệ biến phí bình quân giữa các kỳ
Đối với định phí quản lý DN thường không thay đổi theo mức độ hoạt động Việc lập dự toán định phí quản lý DN căn cứ vào dự báo các nội dung cụ thể của từng yếu tố chi phí
c Lập dự toán chi phí linh hoạt
Khi DN lập dự toán dựa trên một mức hoạt động cụ thể thì dự toán này được gọi là dự toán tĩnh Dự toán tĩnh không phù hợp với việc phân tích và kiểm soát chi phí, đặc biệt là chi phí sản xuất chung vì mức độ hoạt động thực tế so với mức hoạt động dự toán thường có sự khác biệt Do đó, một loại dự toán cần được xây dựng để đáp ứng yêu cầu phân tích trong trường hợp mức hoạt động thực tế khác với mức hoạt động mà dự toán, đó là dự toán linh hoạt Dự toán linh hoạt là dự toán được xây dựng dựa trên một phạm vi hoạt động thay vì một mức hoạt động
Trình tự lập dự toán linh hoạt cần phải tiến hành qua 4 bước như sau:
- Bước 1: Xác định phạm vi phù hợp cho đối tượng được lập dự toán
Trang 2316
- Bước 2: Xác định ứng xử của chi phí, tức là phân loại chi phí thành biến phí, định phí
- Bước 3: Xác định biến phí đơn vị dự toán
Biến phí đơn vị dự toán = Tổng biến phí dự toán
(1.6) Tổng mức hoạt động dự toán
- Bước 4: Xây dựng dự toán linh hoạt, cụ thể:
+ Đối với biến phí:
Dựa vào kế hoạch linh hoạt tính theo mức hoạt động thực tế, việc đánh giá tình hình chi phí tại đơn vị được đúng đắn hơn do chi phí thực tế và kế hoạch linh hoạt đều dựa trên một mức hoạt động tương đương
1.3.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
a Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành
Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi được xác định trước để tập hợp chi phí
Có hai biểu hiện về đối tượng tập hợp chi phí đó là: các trung tâm chi phí; sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm cùng loại, một công việc (đơn đặt hàng) hay một hoạt động, một chương trình nào đó
Để lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở doanh nghiệp, cần dựa vào các
cơ sở sau đây:
- Đặc điểm quy trình công nghệ
+ Với sản xuất giản đơn, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hoặc toàn bộ quá trình sản xuất hoặc nhóm sản phẩm
+ Với sản xuất phức tạp, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết,
bộ phận sản phẩm…
- Loại hình sản xuất
Trang 24- Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh: Dựa trên cơ sở trình
độ, yêu cầu và tổ chức quản lý để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Với trình độ cao thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất càng cụ thể và ngược lại
Đối tượng tính giá thành là kết quả của quá trình sản xuất hoặc quá trình cung
cấp dịch vụ cần được tính giá thành để phục vụ các yêu cầu quản lý Trong DN sản xuất, đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc hoàn thành qua quá trình sản xuất Trong DN dịch vụ, đối tượng tính giá thành có thể là một chương trình, một hoạt động kinh doanh nào đó
b Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
- Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo phương pháp toàn bộ
Phương pháp tính giá toàn bộ là phương pháp mà toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm tại phân xưởng, tại nơi sản xuất, được tính vào giá thành của sản phẩm hoàn thành Đây là phương pháp tính giá truyền thống trong kế toán chi phí, dựa trên ý tưởng sản phẩm của quá trình sản xuất là kết hợp lao động với các loại tư liệu sản xuất để biến nguyên liệu, vật liệu thành sản phẩm có thể bán được Vì vậy, giá thành của sản phẩm tạo ra từ quá trình sản xuất phải dựa trên toàn
bộ các chi phí để sản xuất sản phẩm đó
Theo phương pháp tính giá toàn bộ, giá thành sản phẩm hoàn thành bao gồm ba loại chi phí: chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Cơ sở tính các chi phí này vào giá thành được chuẩn mực kế toán quốc tế về hàng tồn kho và cả chuẩn mực kế toán Việt Nam chấp nhận như là một nguyên tắc khi xác định giá gốc của thành phẩm ở doanh nghiệp sản xuất Sở dĩ phương pháp này được thừa nhận trong kế toán tài chính vì nó tương đối khách quan trong nhận diện các khoản mục chi phí sản xuất Phương pháp tính giá toàn bộ được coi như là phần giao thoa giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán
Trang 2518
tài chính sử dụng phương pháp tính giá toàn bộ nhằm mục đích lập Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh vào cuối kỳ kế toán Tuy nhiên, trên phương diện kế toán quản trị, phương pháp này có thể coi là một cách tính đầy đủ các chi phí sản xuất để làm cơ sở định giá bán sản phẩm, đánh giá hiệu quả nội bộ, kiểm soát chi phí theo từng trung tâm chi phí và ra quyết định Nếu như kế toán tài chính chỉ quan tâm đến hao phí thực tế để tính giá thành thì vận dụng phương pháp này trong kế toán quản trị có thể tính theo giá phí tạm tính như trường hợp tính giá thông dụng trong hệ thống tính giá theo đơn đặt hàng, hoặc giá định mức, giá tiêu chuẩn trong quá trình xây dựng kế hoạch Chính sự khác biệt này đã nâng tầm kế toán chi phí trong hệ thống kế toán quản trị ở các tổ chức
- Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo phương pháp trực tiếp
Tính giá thành theo phương pháp trực tiếp là phương pháp mà theo đó chỉ có các chi phí sản xuất biến đổi liên quan đến sản xuất sản phẩm tại phân xưởng, nơi sản xuất được tính vào sản phẩm hoàn thành Phần chi phí sản xuất chung cố định không được tính vào giá thành sản phẩm hoàn thành Đây có thể coi là cách tính giá thành không đầy đủ để phục vụ những yêu cầu riêng trong quản trị doanh nghiệp Cách tính này vì thế không liên quan đến thông tin tài chính công bố ra bên ngoài Vấn đề đặt ra là tại sao không tính đến định phí sản xuất chung trong giá thành sản phẩm trong khi các chi phí này, đặc biệt là chi phí khấu hao TSCĐ có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất Các nhà quản trị quan niệm rằng, định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ, nghĩa là doanh nghiệp luôn phát sinh chi phí này để duy trì
và điều hành hoạt động nhà xưởng cho dù có sự tăng giảm sản lượng trong kỳ trong giới hạn quy mô nhà xưởng Định phí sản xuất chung gần như ít thay đổi qua các năm trước khi có sự thay đổi quy mô đầu tư Do vậy, sẽ là không hợp lý khi tính chi phí sản xuất chung cố định cho sản phẩm hoàn thành Cách nhìn định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ cũng đồng nghĩa không xem chi phí này là chi phí sản phẩm, và khi đó, định phí này là yếu tố cần giảm trừ từ doanh thu để báo cáo sự thật
về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy, giá thành sản phẩm hoàn thành gồm ba loại: chi phí nguyên vật liệu
Trang 2619
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và biến phí sản xuất chung Trình tự tập hợp chi phí và tính giá thành theo phương pháp trực tiếp như sau:
+ Xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành
+ Chi phí sản xuất khi phát sinh cần phân loại theo cách ứng xử chi phí Các chi phí sản xuất biến đổi sẽ tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí Phần định phí sản xuất chung sẽ tập hợp riêng để phục vụ cho các yêu cầu khác trong kế toán quản trị Trong trường hợp không thể phân loại ngay thành biến phí và định phí (như trường hợp của chi phí hỗn hợp) thì chi phí sẽ theo dõi riêng và đến cuối kỳ kế toán tách thành biến phí và định phí)
+ Cuối kỳ, kế toán tổng hợp toàn bộ biến phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm Giá thành đơn vị sản phẩm được xác định như sau:
Giá thành đơn vị
Tổng biến phí sản xuất
(1.8) Sản lượng hoàn thành trong kỳ
Công thức trên được vận dụng để tính theo từng khoản mục biến phí sản xuất trong giá thành của sản phẩm hoàn thành, làm cơ sở để lập báo cáo giá thành sản phẩm theo khoản mục
1.3.3 Tổ chức phân tích phục vụ kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp
] x Giá dự
toán (1.9)
Trang 27(1.10)
- Biến động chi phí NVL trực tiếp
Chi phí NVL trực tiếp bao gồm chi phí NVL chính và NVL phụ hao phí trực tiếp cho quá trình sản xuất sản phẩm Biến động về chi phí có thể được kiểm soát gắn liền với yếu tố lượng và giá có liên quan
tế sử dụng
-
Lượng NVL trực tiếp dự toán sử dụng ] x
Đơn giá NVL trực tiếp theo
Lượng NVL trực tiếp thực tế (1.12)
Nếu kết quả âm, giá vật liệu thực tế thấp hơn giá vật liệu dự toán, được đánh giá
là tình hình quản lý sản xuất tốt nếu chất lượng NVL đảm bảo và ngược lại
dự toán
(1.13)
Trang 28dự toán
] x
Thời gian lao động thực tế
+ Biến động biến phí sản xuất chung (1.15)
Biến động biến phí sản xuất chung
Kiểm soát biến động biến phí sản xuất chung phụ thuộc vào phương pháp mà DN
đã chọn để lập dự toán biến phí sản xuất chung, nó thể hiện qua các nhân tố sau:
Nếu định mức biến phí sản xuất chung được xây dựng cho từng yếu tố chi phí căn cứ vào mức độ hoạt động thì việc kiểm soát biến động cũng được phân tích thành nhân tố lượng và nhân tố giá, như phân tích chi phí NVL trực tiếp
Nhân tố lượng: Ảnh hưởng của lượng (mức độ hoạt động) đến biến động của biến phí sản xuất chung được xác định:
-
Mức độ hoạt động dự toán
] x
Đơn giá biến phí sản xuất chung dự toán
(1.16)
Ảnh hưởng của nhân tố lượng có thể do sự thay đổi sản xuất theo nhu cầu thực
tế, điều kiện trang thiết bị có thể làm tăng, giảm năng suất
Trang 2922
Nhân tố giá: Các mức chi phí này thay đổi có thể do chi phí thu mua, chi phí vận chuyển thay đổi, sự biến động giá cả chung của thị trường, nhà nước thay đổi mức lương và ảnh hưởng của nhân tố giá được xác định:
-
Đơn giá biến phí sản xuất chung
] x Mức độ hoạt động thực tế (1.17)
Trường hợp định mức biến phí sản xuất chung được xác định bằng tỷ lệ % trên biến phí trực tiếp, khi phân tích tình hình biến động cần thiết phải điều chỉnh biến phí sản xuất chung dự toán theo mức độ hoạt động thực tế, theo phương pháp lập dự toán Sau đó, so sánh biến phí sản xuất chung thực tế đã được điều chỉnh với dự toán để xác định các khoản chênh lệch, các nguyên nhân dẫn đến các khoản chênh lệch đó
Biến động định phí sản xuất chung
Biến động định phí sản xuất chung thường liên quan đến việc thay đổi cấu trúc sản xuất của DN hoặc do hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất của DN …
Kiểm soát định phí sản xuất chung nhằm đánh giá việc sử dụng năng lực TSCĐ, được xác định:
-
Định phí sản xuất chung theo dự toán (1.18)
Khi phân tích định phí sản xuất chung, người ta cần xem xét định phí tùy ý, định phí bắt buộc cũng như định phí kiểm soát được với định phí không kiểm soát được để xác định nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể của các bộ phận
b Phân tích thông tin chi phí phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị
- Phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận (CVP)
Phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận (gọi tắt là phân tích CVP) là một kỹ thuật được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của những thay đổi về chi phí, giá bán, và sản lượng đối với lợi nhuận của doanh nghiệp
Trang 3023
Để có lợi nhuận, tổng chi phí của doanh nghiệp phải nhỏ hơn tổng doanh thu Trong kinh doanh, sẽ có phát sinh các định phí nhất định bất kể mức tiêu thụ tại doanh nghiệp Mỗi lần bán hàng là mỗi lần phát sinh các biến phí đi kèm Hoạt động kinh doanh vì thế trước hết phải xem xét doanh thu có bù đắp được biến phí, tạo ra mức chênh lệch để tiếp tục bù đắp định phí hay không Do đó, các nhà quản trị cần phải quan tâm đến giá bán và số lượng hàng bán để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Nội dung của phân tích CVP bao gồm:
+ Phân tích điểm hòa vốn: Là khởi điểm của phân tích CVP Mặc dù điểm hòa vốn không phải là mục tiêu hoạt động của DN, nhưng phân tích hòa vốn sẽ chỉ ra mức hoạt động cần thiết để DN có lãi Ngoài ra phân tích điểm hòa vốn còn cung cấp thông tin có giá trị liên quan đến các cách ứng xử chi phí tại mức tiêu thụ khác nhau
+ Phân tích mức sản lượng cần thiết để đạt mức lợi nhuận mong muốn
+ Xác định giá bán sản phẩm với mức sản lượng, chi phí và lợi nhuận mong muốn
+ Phân tích ảnh hưởng của giá bán đối với lợi nhuận theo các thay đổi dự tính
về biến phí và định phí
Quá trình phân tích CVP dựa trên các công cụ: Số dư đảm phí, tỷ lệ số dư đảm phí, kết cấu chi phí, đòn bẩy kinh doanh và những kỹ thuật liên kết thích hợp giữa biến phí và định phí, sản lượng, giá bán, doanh số, kết cấu hàng bán Chính sự liên kết này giúp nhà quản trị nhận thức được sự thay đổi nào làm tăng hay không tăng lợi nhuận Đồng thời nó cũng chỉ ra sự lựa chọn sản lượng, doanh thu hòa vốn với những quan điểm nhận thức chi phí khác nhau, với những thay đổi dự kiến giá bán trong tương lai
Tuy nhiên, các nhà quản trị gặp khó khăn trong phân tích này vì một số hạn chế nhất định của nó Đó là khi phân tích CVP phải dựa trên giả thiết kết cấu sản phẩm
cố định, tồn kho không thay đổi, giá trị đồng tiền ổn định…Do đó, tính khả thi, sự chính xác khi ra quyết định dựa vào quan hệ CVP cần phải xem xét và hội tụ những
Trang 3124
điều kiện cần thiết Trong khi đó, nhà quản trị phải thường xuyên đương đầu với nhiều quyết định khó khăn và phức tạp Vì vậy, cần phải có một phương pháp khoa học tổng hợp, phân tích và báo cáo ngắn gọn, nhanh chóng những thông tin cần thiết đảm bảo tính khoa học cho các quyết định quản trị, đó chính là phương pháp chọn lựa thông tin thích hợp nhằm thiết lập thông tin cơ sở cho các quyết định kinh doanh được hữu ích
- Phân tích thông tin chi phí thích hợp để ra các quyết định kinh doanh
Phương pháp phân tích thông tin thích hợp sẽ hỗ trợ cho nhà quản trị trong việc lựa chọn các quyết định kinh doanh Quá trình ra quyết định của doanh nghiệp là việc lựa chọn từ nhiều phương án khác nhau, trong đó mỗi phương án được xem xét bao gồm rất nhiều thông tin của kế toán nhất là thông tin về chi phí đầu tư nhằm đạt được các lợi ích kinh tế cao nhất
Quá trình phân tích thông tin chi phí thích hợp để làm căn cứ ra các quyết định kinh doanh gồm 3 bước:
+ Tập hợp tất cả các thông tin liên quan đến các phương án cần xem xét Chi phí được tập hợp không những bao gồm chi phí thực tế, ước tính mà còn bao gồm
cả chi phí tiềm ẩn, chi phí cơ hội
+ Nhận diện và loại trừ các thông tin không thích hợp, bao gồm các chi phí lặn
và các khoản thu nhập, chi phí như nhau giữa các phương án
+ Phân tích các thông tin còn lại (thông tin thích hợp hay thông tin khác biệt) để làm căn cứ ra quyết định
Thông tin sẽ khác nhau ở những mục đích nghiên cứu khác nhau Vì vậy, việc vận dụng mô hình phân tích thông tin chi phí thích hợp mang tính chất nguyên tắc
và thông tin chi phí thích hợp sẽ khác nhau khi so sánh, chọn lựa các phương án kinh doanh ở những môi trường, điều kiện kinh doanh khác nhau
Như vậy, bằng mô hình phân tích thông tin thích hợp, các nhà quản trị sẽ có được những thông tin nhanh hơn, chính xác, phù hợp và đảm bảo tính khoa học để phục vụ cho các quyết định
Trang 32Theo mô hình này kế toán trưởng chịu trách nhiệm chung về toàn bộ công tác
kế toán trong doanh nghiệp từ việc tổ chức xây dựng bộ máy kế toán, lưu chuyển chứng từ, vận dụng tài khoản, hệ thống báo cáo… nhằm cung thông tin cho nhà quản trị Các bộ phận kế toán có chức năng thu thập và cung cấp thông tin kế toán vừa tổng hợp, vừa chi tiết đồng thời lập dự toán tổng hợp và chi tiết theo yêu cầu quản lý KTQT chi phí đặt trọng tâm vào việc xây dựng, kiểm tra, xác định và hoạch định các chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh Khi đó doanh nghiệp
có thể lựa chọn một trong hai phương pháp xác định chi phí và giá thành sản phẩm: phương pháp kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm theo công việc và phương pháp kế toán chi phí, tính giá thành theo quá trình sản xuất
KTQT không sử dụng chế độ kế toán riêng, tách rời với kế toán tài chính mà sử dụng các tài khoản kế toán chi tiết, hệ thống sổ kế toán và báo cáo KTQT kết hợp chung trong một hệ thống kế toán thống nhất với kế toán tài chính Hệ thống KTQT được tổ chức kết hợp với hệ thống kế toán tài chính Kế toán tài chính và KTQT được tổ chức thành một bộ máy thống nhất trong cùng một bộ máy kế toán Kế toán tài chính sử dụng các tài khoản kế toán tổng hợp còn KTQT sử dụng các tài khoản chi tiết, sổ kế toán chi tiết phù hợp, báo cáo kế toán nội bộ và còn sử dụng thêm các phương pháp khác như phương pháp thống kê, phương pháp toán để hệ thống hóa
và xử lý thông tin Việc ghi chép, phản ánh, xử lý và truyền đạt thông tin được tính đến cả mục đích của kế toán tài chính và KTQT nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin
kế toán cho cả đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Mô hình này sẽ tiết kiệm được chi phí vận hành hệ thống kế toán cho các doanh nghiệp nhưng hiệu quả sẽ không cao do KTQT có thể không tuân thủ những nguyên tắc kế toán giống như kế toán tài chính, mà nếu thực hiện trên cùng một hệ thống thì khó có thể thực hiện được
Trang 3326
Điều kiện vận dụng mô hình này cho những doanh nghiệp có quy mô tổ chức nhỏ, quy trình sản xuất kinh doanh đơn giảm
b) Mô hình tách rời
Theo mô hình này, KTQT đặt trọng tâm vào việc xác định và kiểm soát chi phí
ở các doanh nghiệp sản xuất, bằng cách chia chi phí theo các trung tâm trách nhiệm quản lý, phân tích đánh giá và tìm các nguyên nhân làm sai lệch chi phí và cuối cùng điều hòa giữa kế toán tài chính và KTQT
KTQT sử dụng hệ thống kế toán riêng, tách rời hoàn toàn với kế toán tài chính
Hệ thống KTQT được tổ chức thành bộ máy riêng sử dụng hệ thống tài khoản kế toán, sổ kế toán và báo cáo kế toán nội bộ tách rời với kế toán tài chính Kế toán tài chính thu thập, xử lý, lập báo cáo tài chính cung cấp cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp Kế toán tài chính tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc, quy định của Nhà nước, trong khi đó KTQT được coi là công việc riêng của doanh nghiệp, các doanh nghiệp tự xây dựng hệ thông hóa thông tin một cách chi tiết nhằm cung cấp thông tin theo yêu cầu quản lý và tổ chức hệ thống sổ sách, báo cáo phục vụ cho mục tiêu quản trị doanh nghiệp
Mô hình tách rời là mô hình tổ chức hệ thống KTQT độc lập với hệ thống kế toán tài chính cả về bộ máy kế toán và công tác kế toán Với mô hình này, hệ thống KTQT chi phí sẽ phát huy được tối đa vai trò của mình, tuy nhiên doanh nghiệp sẽ phải trang trải rất nhiều chi phí để vận hành mô hình này Tính thực tiễn của mô hình tách rời có thể không cao vì rất ít các doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính để vận hành đồng thời hai hệ thống kế toán mặc dù những lợi ích của việc cung cấp thông tin mà hai hệ thống này mang lại sẽ cao hơn so với mô hình kết hợp
Điều kiện vận dụng mô hình này cho những doanh nghiệp có quy mô tổ chức lớn, quy trình sản xuất kinh doanh hiện đại
c) Mô hình hỗn hợp
Mô hình hỗn hợp là mô hình vừa có tính tách rời vừa có tính kết hợp Đối với các phần hành có tính tương đồng giữa kế toán tài chính và KTQT thì sẽ được áp dụng theo mô hình kết hợp, còn đối với các phần hành có sự khác biệt căn bản và có
Trang 3427
ý nghĩa cung cấp thông tin đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp thì sẽ được tổ chức theo mô hình tách rời Thí dụ, phần hành kế toán chi phí - giá thành sẽ được tổ chức tách rời cho hai hệ thống kế toán tài chính và KTQT Mô hình này có tính linh hoạt và ý nghĩa cung cấp thông tin cao, tuy nhiên cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những đầu tư tương đối lớn về tổ chức bộ máy và công tác kế toán so với
mô hình kết hợp
Điều kiện vận dụng mô hình này cho những doanh nghiệp có quy mô tổ chức vừa và lớn, quy trình sản xuất kinh doanh khá hiện đại
Trang 3528
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
KTQT chi phí cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong
quá trình thực hiện các chức năng quản lý Trong chương này tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận về KTQT chi phí trong doanh nghiệp sản xuất Trước hết, trình bày khái quát KTQT chi phí, xác định vai trò KTQT chi phí, tiếp đó là phân tích những nội dung chủ yếu của KTQT chi phí, bao gồm: phân loại chi phí, dự toán chi phí, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí, phân tích thông tin chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh Đây là cơ sở lý luận làm tiền đề cho việc nghiên cứu thực trạng công tác kế toán chi phí ở Công ty TNHH Minh Tiến, từ đó tìm ra những phương hướng tổ chức mô hình KTQT chi phí phù hợp với Công ty
Trang 36
29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG
TY TNHH MINH TIẾN
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH MINH TIẾN
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Minh Tiến
- Công ty TNHH Minh Tiến là công ty ngoài quốc doanh hoạt động theo Luật Công ty (số 13/1999/QH 10 ngày 12/06/1999) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
số 4100490186 do Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế Hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định cấp lần đầu vào ngày 28/05/2003, thay đổi lần thứ 8 vào ngày 14/07/2014
Tên Công ty: CÔNG TY TNHH MINH TIẾN
Tên giao dịch quốc tế: MINH TIẾN CO.,LTD
Trụ sở chính: lô C9, C10 khu công nghiệp phú tài, Phường Bùi Thị Xuân, Thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định, Việt nam
Điện thoại: 056.641212 - Fax: 056.641479
Trang 3730
ngân hàng ngoại thương Việt Nam chi nhánh Phú Tài
- Hiện nay công ty đã có hơn 300 công nhân lành nghề với hệ thống máy móc tương đối hiện đại Chính vì vậy mà công ty đã từng bước hòa nhập vào thị trường trong và ngoài nước, khách hàng ngày càng tín nhiệm về chất lượng, quy cách sản phẩm, thời gian cũng như điều kiện giao hàng của công ty Công ty có thể chủ động được trong sản xuất vì thế công ty ngày càng đứng vững, có uy tín trên thị trường, tạo được niềm tin cho khách hàng
- Để khuyến khích vật chất và nâng cao năng suất lao động của người lao động hằng năm công ty đưa công nhân đi học các khóa bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao tay nghề để phục vụ cho quá trình sản ngày càng hiệu quả hơn
- Hiện nay số liệu của Công ty được tổng hợp như sau:
1 Sản xuất giường tủ bàn ghế
2 Cưa, xẻ bào gỗ và bảo quản gỗ
3 Sản xuất các sản phẩm khác từ gỗ, sản xuất các sản phẩm từ tre nứa, rơm rạ và vật liệu tết bện
4 Bán buôn nông, lâm sản nguyên liệu khác ( trừ gỗ, tre, nứa )
5 Bán buôn tre, nứa, gỗ cây và gỗ chế biến
6 Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử
Trang 38- Bàn có nhiều dạng: mặt tròn, mặt vuông, hình chữ nhật, đa giác,… với độ cao thấp khác nhau tùy theo đơn đặt hàng của khách hàng
- Ghế gồm có: ghế xếp, ghế ngồi, ghề nằm, ghế tay có vịnh, không có tay vịnh,… Ngoài ra, công ty còn sản xuất nhiều loại sản phẩm khác như: tủ, giường, quầy bar…
c) Thị trường tiêu thụ
- Công ty TNHH Minh Tiến là công ty chuyên chế biến gỗ lâm sản xuất khẩu nên thị trường tiêu thụ chủ yếu là thị trường trong nước và một số nước ở châu Âu, châu mỹ như Braxin, Pháp, Đức
- Trên thị trường hiện nay đối thủ cạnh tranh trước hết là các công ty trong ngành cạnh tranh với doanh ngiệp, không những vậy mà sản phẩm của công ty còn phải cạnh tranh với các công ty chế biến gỗ nước ngoài Do vậy công ty cần phải đưa ra những chiến lược sản xuất sản phẩm có chất lượng và mẫu mã đa dạng hơn, xây dựng hình ảnh riêng, thương hiệu riêng nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ cho công ty
- Nhu cầu sản phẩm gỗ trong nước và quốc tế hiện tại và tương lai đều có xu hướng tăng Bên cạnh đó, thu nhập của người dân ngày càng cao, nhu cầu về xây dựng và sữa chữa nhà cửa tăng dẫn đến nhu cầu về đồ gỗ trang trí nội thất tăng mạnh
- Như vậy, có thể nói thị trường tiềm năng của sản phẩm gỗ là rất lớn, vấn đề còn lại của công ty là phải có những chính sách như thế nào về sản phẩm, giá cả phân phối và xúc tiến xuất khẩu để khai thác được tốt các thị trường tiềm năng này
Trang 3932
Nói cách khác chính là tạo dựng niềm tin và uy tín về chất lượng sản phẩm đến khách hàng
2.1.3 Đặc điểm tổ chức, quản lý SXKD của Công ty
a) Đặc điểm về cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty
: Quan hệ tham mưu
: Quan hệ trực tuyến
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu và tổ chức Công ty TNHH Minh Tiến
Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận:
Ban Giám đốc: gồm 2 người là Giám đốc và Phó giám đốc điều hành chịu
trách nhiệm quản lý và chỉ đạo chung toàn công ty, thay mặt cho toàn công ty về
Giám Đốc
Phó Giám Đốc Điều hành
chức hành
chính
Phòng kế toán
hoạch (Tổng
hợp…)
Phòng kỹ thuật KCS
Xưởng sản xuất
Trang 40
33
mọi quyền lợi, nghĩa vụ trước Nhà nước, trước các cơ quan quản lý kinh tế, pháp luật, trước toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty và trước khách hàng
Phòng tổ chức hành chính: Phụ trách về công tác tổ chức quản lý lao động,
tiền lương, sắp xếp cơ cấu bộ máy nhân sự, tuyển dụng và giám sát theo dõi công nhân viên công ty Xử lý các thủ tục, các vấn đề về hành chính quản lý và các vấn
đề khác của công ty Giải quyết các kiến nghị, khiếu nại và đề ra các biện pháp khen thưởng, kỷ luật công nhân viên, phổ biến chính sách của cơ quan chủ quản, chính quyền, tổ chức hội họp, hoạt động đối nội, đối ngoại và bố trí đào tạo bồi dưỡng cán
bộ công nhân viên của công ty
Phòng kế toán: Thống kê thông tin kinh tế cho doanh nghiệp, theo dõi ghi chép
toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh cho Giám đốc và các bộ phận chức năng nhằm tổ chức, bảo quản, lưu trữ hồ sơ chứng từ một cách hiệu quả
Phòng kế hoạch: Lập kế hoạch sản xuất, theo dõi tiến độ hoạt động sản xuất
của Công ty, tham mưu cho Giám đốc về việc thực hiện kế hoạch, cung cấp số liệu
để Giám đốc chỉ đạo kịp thời công tác sản xuất trong từng giai đoạn Tham mưu cho Giám đốc về việc ký kết theo dõi việc thực hiện và thanh lý các hợp đồng kinh tế Tham mưu cho Giám đốc về tình hình giá của nguyên liệu đầu vào cũng như sản phẩm đầu ra của Công ty
Phòng kỹ thuật – KCS: Có nhiệm vụ nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới, quy
trình công nghệ sản xuất, quản lý và bảo dưỡng máy móc thiết bị, nghiên cứu ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ cho sản xuất, kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu, thành phẩm nhập kho, giám sát kiểm tra chất lượng công việc của các bước trong quy trình sản xuất
Xưởng sản xuất: Là nơi hoạt động sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm
b) Quy trình công nghệ sản xuất