Hàng năm hoàn thuế GTGT của các doanh nghiệp này chiếm tỷ trọng không nhỏ trong số thu của toàn Cục, trong đó: hoàn thuế GTGT đối với hoạt động xuất khẩu và hoàn thuế GTGT đối với dự án
Trang 1NGUYỄN THỊ THU THỦY
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI
Trang 2Tôi cam đoan luận văn với đề tài “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoàn thuế
giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định” là công trình
nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, kết quả trong luận văn là trung thực và kết luận khoa học của luận văn chưa từng công bố bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây
Trang 3
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn cô TS LÊ THỊ THANH MỸ đã tận tình hướng dẫn và góp ý chỉnh sửa bản thảo luận văn của tôi trong suốt quá trình thực hiện
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo Cục Thuế tỉnh Bình Định cùng các anh chị các Phòng đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin số liệu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy cô Khoa Kinh tế-Kế toán thuộc Trường Đại học Quy Nhơn đã đóng góp ý kiến và tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành chương trình học trong suốt thời gian tôi theo học tại trường Tôi cảm ơn Quý Thầy Cô giảng dạy tại Trường Đại học Quy Nhơn đã truyền dạy những kinh nghiệm quý báu làm nền tảng cho tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin cảm ơn gia đình tôi đã động viên, khích lệ tinh thần và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ 6
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KHU VỰC CÔNG 6
1.1.1 Khái quát về lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ trong khu vực công 6
1.1.2 Khái niệm kiểm soát nội bộ 7
1.1.2.1 Theo báo cáo COSO 7
1.1.2.2 Theo báo cáo INTOSAI 9
1.1.3 Sự cần thiết kiểm soát nội bộ trong khu vực công: 10
1.1.3.1 Kiểm soát nội bộ đơn vị hoạt động công: 10
1.1.3.2 Vai trò của kiểm soát nội bộ trong khu vực công: 11
1.1.4 Các bộ phận cấu thành kiểm soát nội bộ trong khu vực công 12
1.1.4.1 Môi trường kiểm soát: 12
1.1.4.2.Đánh giá rủi ro 13
1.1.4.3 Hoạt động kiểm soát: 14
Trang 51.1.4.4.Thông tin và truyền thông: 16
1.1.4.5 Giám sát: 16
1.1.5 Khái quát về ngành Thuế tại Việt Nam 17
1.1.5.1 Đặc điểm ngành Thuế tại Việt Nam 17
1.1.5.2 Hệ thống văn bản pháp lý sử dụng trong việc kiểm soát hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư 19
1.2 KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ 21
1.2.1 Thuế GTGT và vai trò của thuế GTGT 21
1.2.1.1 Khái niệm về thuế GTGT 21
1.2.2.2 Đặc điểm thuế GTGT 21
1.2.2.3 Vai trò của thuế GTGT 23
1.2.2 Khái niệm, điều kiện và các trường hợp hoàn thuế GTGT: 24
1.2.2.1 Khái niệm hoàn thuế GTGT: 24
1.2.2.2 Điều kiện hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư: 25
1.2.2.3 Các trường hợp hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư: 25
1.2.3 Một số rủi ro có liên quan đến việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư 26
1.2.3.1 Nhận diện một số rủi ro có liên quan đến việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu 26
1.2.3.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro: 30
1.2.4 Kiểm soát nội bộ hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư 31
1.2.4.1 Các nguyên tắc kiểm soát nội bộ: 31
1.2.4.2 Các nguyên tắc của KSNB hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư 32
1.3 MÔ HÌNH KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOÀN THUẾ GTGT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 34
1.3.1 Mô hình KSNB hoàn thuế GTGT một số nước trên thế giới: 34
1.3.2 Bài học rút ra cho tỉnh Bình Định 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH 40
Trang 62.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CỤC THUẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH 40
2.1.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của Cục Thuế tỉnh Bình Định 40
2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Thuế tỉnh Bình Định: 40
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý của Cục Thuế tỉnh Bình Định 43
2.1.4 Sứ mạng, tầm nhìn, mục tiêu và phương hướng phát triển của Cục Thuế tỉnh Bình Định 44
2.1.5 Kết quả hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định trong giai đoạn 2014-2018: 48
2.2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH 50
2.2.1 Đối tượng, mục đích và phương pháp khảo sát 50
2.2.1.1 Đối tượng khảo sát 50
2.2.1.2 Mục đích khảo sát 50
2.2.1.3 Phương pháp khảo sát 50
2.2.2 Đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định 51
2.2.2.1 Môi trường kiểm soát 51
2.2.2.2 Đánh giá rủi ro 54
2.2.2.3 Các hoạt động kiểm soát: 54
2.2.2.5 Giám sát: 73
2.2.2.6 Tổng hợp kết quả khảo sát: 73
2.3 ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG VIỆC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH 80
2.3.1 Nhận diện những rủi ro trong việc hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định 80
2.3.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro: 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 87
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH 88
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 88
Trang 73.1.1 Quan điểm hoàn thiện 88
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện 91
3.1.3 Các nguyên tắc cần tuân thủ khi xây dựng các giải pháp 91
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÌNH ĐỊNH 91
3.2.1 Môi trường kiểm soát: 93
3.2.2 Đánh giá rủi ro: 93
3.2.3 Hoạt động kiểm soát 96
3.2.4 Thông tin và truyền thông: 99
3.2.5 Giám sát 100
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ: 102
3.3.1 Đối với Chính phủ và Bộ tài chính: 103
3.3.2 Đối với Tổng cục Thuế 103
3.3.4 Đối với các cơ quan ban ngành: 106
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 109
KẾT LUẬN CHUNG 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
bảng
1.1 Một số văn bản quy định về kiểm soát hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư 20
2.1 Tình hình hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế
tỉnh Bình Định trong giai đoạn từ năm 2014 đến 2018 48 2.2 Phân công chức năng, nhiệm vụ của từng phòng 52
2.5 Tình hình đăng ký thuế của DN từ năm 2014 – 2018 tại Cục
2.6 Kiểm soát về đăng ký thuế, kê khai và kế toán thuế 60
2.10 Kết quả thanh tra, kiểm tra thuế từ năm 2014 -2018 tại Cục
Trang 102.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức của ngành Thuế tỉnh Bình Định 44
2.4 Quy trình thanh tra, kiểm tra, giám sát thuế 66
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thuế là nguồn thu chính của ngân sách nhà nước (NSNN), là công cụ quan trọng điều tiết vĩ mô của nền kinh tế, góp phần đảm bảo công bằng xã hội Thuế ra đời và phát triển gắn với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Với tầm quan trọng của thuế, mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải sử dụng để điều tiết nền kinh tế xã hội
Ở Việt Nam, Luật thuế Giá trị gia tăng (GTGT) được Quốc hội khóa X thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 (thay cho thuế doanh thu) là một thành công lớn trong quá trình cải cách hệ thống thuế, có ý nghĩa lịch sử trong hoạt động quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước ta
Vì thế, sau nhiều năm thực hiện Luật thuế GTGT đã chứng tỏ được những ưu thế của mình, đặc biệt là vấn đề đảm bảo được số thu cho Ngân sách, đồng thời khắc phục được nhược điểm tính trùng lặp của thuế doanh thu, chồng chéo qua nhiều khâu của thuế doanh thu, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh Do cơ chế vận hành của thuế GTGT đã xuất hiện một công việc phải làm, đó là vấn đề hoàn thuế GTGT Hoàn thuế GTGT là biện pháp tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu hồi lại số vốn đã ứng trước Đây là một chế định rất tiến bộ của Luật thuế GTGT Cục Thuế tỉnh Bình Định là cơ quan chuyên môn nằm trong hệ thống thu thuế Nhà nước, được giao nhiệm vụ quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh Bình Định, có nhiều tiềm năng về kinh tế Tổng thu ngân sách cả tỉnh năm 2018 là: 8.324 tỷ đồng, đạt 134,5% so dự toán được giao, tăng 19,5% so với cùng kỳ Tính đến ngày 31/12/2018 tổng số doanh nghiệp và hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bình Định là 39.620 doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và hộ kinh doanh Số thu từ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định chiếm 68,2 % trong tổng số thu các sắc thuế vào NSNN; trong đó thu về thuế GTGT chiếm 55.6% số thu của khối doanh nghiệp Hàng năm hoàn thuế GTGT của các doanh nghiệp này chiếm tỷ trọng không nhỏ trong số thu của toàn Cục, trong đó: hoàn thuế GTGT đối với hoạt động xuất khẩu và hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư Đặc biệt, công tác hoàn thuế GTGT
Trang 12đối với dự án đầu tư trong thời gian vừa qua đã đem lại nhiều kết quả tốt Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế về chính sách chưa được quy định rõ như: doanh nghiệp mới thành lập từ dự án đầu tư đã phát sinh doanh thu có được hoàn không, tiến độ đầu tư của dự án, dự án đầu tư được chia theo nhiều giai đoạn (gối đầu, cuốn chiếu) cũng như việc lợi dụng chính sách hoàn thuế GTGT để bòn rút NSNN đang diễn ra rất phổ biến, gây thất thoát lớn cho NSNN,…những hạn chế này đã đặt ra một đòi hỏi cần được tăng cường kiểm soát hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư
để chống thất thoát quỹ hoàn thuế của Nhà nước phù hợp với tình hình kinh tế của tỉnh nhà, cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu hồi vốn nhằm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần tăng trưởng kinh tế
Với những lý do nêu trên, việc lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định”,
theo tôi là hoàn toàn cần thiết nhằm góp phần thực hiện nghiêm túc chính sách pháp luật về hoàn thuế GTGT, góp phần chống thất thoát quỹ hoàn thuế của Nhà nước và đạt được mục tiêu đề ra của Luật thuế GTGT
2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Qua tham khảo một số đề tài thạc sĩ nghiên cứu trước đây đã được công bố về vấn đề thuế và kiểm soát hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế và các Chi cục Thuế trực thuộc nhằm nhận diện những bất cập về công tác kiểm soát nội bộ (KSNB) về thuế
và đề xuất các giải pháp để công tác kiểm soát thuế hữu hiệu hơn, tránh thất thu cho ngân sách Mỗi đề tài nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục tiêu khác nhau:
- Luận văn thạc sỹ “Tăng cường kiểm soát thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Bình Định của tác giả Lê Thị Hồng Lũy Luận văn đã trình bày thực trạng công tác kiểm soát thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Bình Định; Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, thống kê để nhận diện thực trạng kiểm soát việc khai thuế, nộp thuế GTGT, gian lận, trốn thuế đối với các DN do Cục Thuế trực tiếp quản lý
- Luận văn thạc sỹ “Tăng cường công tác kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục Thuế thành phố Quy Nhơn” của tác giả Đặng Tương Mỵ Luận văn đã đánh giá và
Trang 13nêu thực trạng công tác kiểm soát về thuế GTGT đối với các DN do Chi cục Thuế thành phố Quy Nhơn trực tiếp quản lý Đồng thời, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục Thuế thành phố Quy Nhơn
- Luận văn thạc sỹ “ Kiểm soát hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Bình Định” của tác giả Đào Thị Minh Hiếu Luận văn đánh giá khái quát về công tác kiểm soát hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Bình Định Đồng thời, luận văn nêu ra các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác kiểm soát hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Bình Định
Hầu hết các nghiên cứu trên chỉ đề cập đến công tác kiểm soát thuế GTGT chung Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một tác giả nào nghiên cứu về kiểm soát nội
bộ hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định Do vậy, việc tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định” theo tác giả là phù hợp
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát của đề tài là hoàn thiện KSNB hoàn thuế GTGT đối với dự
án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định Từ mục tiêu chung, tác giả đề ra các mục
tiêu chi tiết sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về KSNB hoàn thuế GTGT đối
với dự án đầu tư
- Phân tích, đánh giá thực trạng KSNB hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định
- Đề xuất các giải pháp và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện KSNB hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về KSNB hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư
- Phạm vị nghiên cứu: Cục Thuế tỉnh Bình Định Thời gian nghiên cứu từ
11/2018 đến tháng 5/2019
Trang 145 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích các tài liệu: Tác giả đã sử dụng phương pháp này để
hệ thống hóa lý luận về KSNB hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư theo báo cáo COSO 2013 và INTOSAI GOV 9100
- Phương pháp phỏng vấn: Thảo luận với nhân viên trong đơn vị về hoạt động KSNB hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư, thực hiện qua phỏng vấn trực tiếp và gửi khảo sát qua mail, phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên được lựa chọn, kết quả phỏng vấn được tổng hợp theo mẫu thống nhất
- Phương pháp điều tra khảo sát: Sử dụng bảng câu hỏi khảo sát tập trung kiểm soát nội bộ hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế tỉnh Bình Định Bảng câu hỏi được thiết
kế để thu thập các ý kiến bổ sung cho một số vấn đề mà tác giả cần phải làm rõ thêm, phiếu trả lời từ nhiều đối tượng khác nhau như: Cục trưởng, Phó cục trưởng, Trưởng phòng, phó Trưởng phòng và một số công chức kiểm tra thuế…
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định” dự kiến sẽ mang lại ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn như sau:
- Làm rõ ý nghĩa của việc tăng cường kiểm soát nội bộ hoàn thuế đối với dự
án đầu tư nói chung và kiểm soát hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư nói riêng trong điều kiện ngành thuế Việt Nam đang chuyển từ mô hình quản lý thuế theo đối tượng sang mô hình quản lý theo chức năng
- Luận văn đã nêu lên thực trạng, đánh giá phân tích thực trạng về kiểm soát nội bộ hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định Trên cơ
sở đó, luận văn nêu ra các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác kiểm soát nội bộ hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định
7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Trang 15Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoàn thuế giá trị gia tăng đối với
dự án đầu tư
Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện kiểm soát nội bộ
hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án đầu tư tại Cục Thuế tỉnh Bình Định
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KHU VỰC CÔNG
1.1.1 Khái quát về lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ trong khu vực công
Khái niệm KSNB được sử dụng từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu về kiểm toán Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội
bộ Hoa Kỳ đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán
Đến thập niên 1970, KSNB được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế
hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận dụng nó vào các cuộc kiểm toán Vào năm 1977, Luật về chống hối lộ nước ngoài (Foreign Corrrupt Practices act) ra đời, các báo cáo của Cohen Commission
và Financial Executive Institute (FEI) đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) cũng đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống KSNB của tổ chức Năm 1979, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã thành lập một ủy ban tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm đưa ra các hướng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB
Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1985, AICPA đã tiến hành sang lọc, ban hành
và sửa đổi các chuẩn mực về sự đánh giá của kiểm toán viên (KTV) độc lập về KSNB và báo cáo về KSNB Hiệp hội kế toán nội bộ (IIA) cũng ban hành chuẩn mực và hướng dẫn KTV nội bộ về bản chất của kiểm soát và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy trì và đánh giá hệ thống KSNB
Từ năm 1985, sự quan tâm về KSNB ngày càng mạnh mẽ hơn, Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (Treadway Commision- TC) được thành lập Hoạt động này nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường kiểm soát, các quy tắt về đạo đức, các Ủy ban kiểm toán và chức năng của kiểm toán nội bộ Vì thế Ủy ban tổ
Trang 17chức đồng bảo trợ (COSO) của Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính đã được thành lập nhằm nghiên cứu KSNB:
- Thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau;
- Cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá
hệ thống KSNB để tìm giải pháp hoàn thiện
Trên cơ sở đó, hàng loạt các nghiên cứu về KSNB các lĩnh vực ra đời như:
- Phát triển theo hướng quốc gia: Nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB, điển hình là Báo cáo COCO 1995 của Canada, Báo cáo Turnbull 1999 của Anh,…
- Phát triển theo hướng quản trị: năm 2001, dựa trên báo cáo COSO
1992, COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) Dự thảo hình thành và công bố vào tháng 7/2003, nhưng đến năm 2004 ERM chính thức ban hành
- Từ nền tảng của báo cáo COSO 1992, Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) đã đưa ra những hướng dẫn về KSNB trong khu vực công
Năm 2013, trước tình hình thay đổi trong môi trường kinh doanh, cộng với
sự kỳ vọng về ngăn ngừa và phát hiện gian lận ngày càng cao và đặc biệt là sự phát triển của công nghệ hiện thông tin trên quy mô toàn cầu, COSO đã ban hành báo cáo mới thay thế báo cáo COSO 1992 thành Báo cáo COSO 2013 chủ yếu đề cập đến các hướng dẫn về quản trị rủi ro, KSNB và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ
đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của đơn vị Báo cáo COSO 2013 hiệu lực từ ngày 15 tháng 12 năm 2014
1.1.2 Khái niệm kiểm soát nội bộ
1.1.2.1 Theo báo cáo COSO
Theo Báo cáo COSO 1992 định nghĩa về kiểm soát nội bộ: “ Kiểm soát nội
bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn
vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu: Hoạt động hữu hiệu và có hiệu quả; Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các
Trang 18luật lệ và quy định được tuân thủ” [1]
Trong định nghĩa trên, bốn nội dung cơ bản là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu Chúng được hiểu như sau:
- KSNB là một quá trình: KSNB bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện
diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất KSNB là một quá trình nên sẽ không bao giờ chấm dứt, nó sẽ luôn luôn tồn tại
và phát triển cùng với tổ chức
- KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: KSNB không chỉ đơn thuần
là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu, mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên khác Vì vậy nó
sẽ chịu ảnh hưởng của những vấn đề mang tính chất của con người như trình độ, nhận thức, môi trường hoạt động
- KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: KSNB có thể ngăn chặn và phát
hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra Hơn nũa, một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý và chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó
Do đó người quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, thế nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro
- Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ:
Đối với Báo cáo tài chính: KSNB phải đảm bảo về tính trung thực và đáng tin cậy, bởi chính vì người quản lý đơn vị phải có trách nhiệm lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực và chế độ kiểm toán hiện hành
Đối với tính tuân thủ: KSNB trước hết phải bảo đảm hợp lý việc chấp hành luật pháp và các quy định Điều này xuất phát từ trách nhiệm của người quản lý đối với những hành vi không tuân thủ trong đơn vị
Đối với mục tiêu hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động: KSNB giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, mở rộng thị phần, thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị
Trang 191.1.2.2 Theo báo cáo INTOSAI
INTOSAIđược thành lập vào năm 1953, là tổ chức quốc tế về cơ quan kiểm toán tối cao, mà thành viên là các quốc gia thuộc Liên hiệp quốc.Trong đó, mục tiêu của tổ chức bao gồm:
- Thúc đẩy các hoạt động của đơn vị diễn ra có trình tự, đạt được tính hữu hiệu và hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị
- Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, tham ô, lãng phí và sử dụng sai mục đích
- Tuân thủ quy định của pháp luật và nội quy của đơn vị
- Thiết lập và báo cáo các thông tin tài chính, thông tin quản lý kịp thời và đáng tin cậy
Theo hướng dẫn chuẩn mực KSNB của INTOSAI 1992, khái niệm KSNB được định nghĩa như sau: “KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp
lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”
Theo hướng dẫn của INTOSAI năm 2004, INTOSAI 2004 định nghĩa về KSNB như sau: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị, nó được thiếp lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu chung của tổ chức” Theo đó, có 5 đặc điểm quan trọng cần làm rõ, đó là:
- KSNB là một quá trình KSNB không phải là từng hoạt động riêng rẽ mà là một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Quá trình này là phương tiện giúp đơn
vị đạt được mục tiêu của mình
- KSNB chịu sự chi phối của con người KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người Vì vậy, muốn hệ thống KSNB thực sự hữu hiệu và hiệu quả, tạo thành sức mạnh tổng hợp thì từng thành viên trong tổ chức phải hiểu được trách nhiệm, quyền hạn của mình và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của
tổ chức
Trang 20- KSNB được thiết lâp để đối phó với rủi ro Hoạt động của tổ chức luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn KSNB có thể giúp tổ chức nhận diện, chủ động phòng ngừa và đối phó với những rủi ro này, qua đó tối đa hóa khả năng đạt được mục tiêu
- KSNB cung cấp một đảm bảo hợp lý Trong tổ chức luôn có những rủi ro tiềm tàng và trong bản thân hệ thống KSNB cũng tồn tại những hạn chế tiềm tàng
Đó là sự phức tạp trong hoạt động của đơn vị, sự thông đồng của các cá nhân hay lạm quyền của nhà quản lý
- Các mục tiêu của KSNB Hoạt động của tổ chức luôn hướng về mục tiêu đề
ra Ở khu vực công, mục tiêu thường liên quan đến các dịch vụ công cộng và lợi ích cộng đồng, bao gồm:
Mục tiêu hoạt động: nhằm đạt được sự hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị
Mục tiêu về báo cáo: báo cáo cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính kịp thời, phù hợp cho các đối tượng sử dụng
Mục tiêu tuân thủ: tuân thủ công ước quốc tế, pháp luật của quốc gia và các quy định có liên quan
Mục tiêu về bảo vệ nguồn lực: mục tiêu này là phần chi tiết hóa mục tiêu về hoạt động của đơn vị, nhưng do đặc thù của khu vực công nên INTOSAI muốn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách, tránh lạm dụng, lãng phí nguồn lực quốc gia
1.1.3 Sự cần thiết kiểm soát nội bộ trong khu vực công:
1.1.3.1 Kiểm soát nội bộ trong khu vực công:
Trong khu vực công, KSNB cũng rất được quan tâm Hướng dẫn về KSNB của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao đã được ban hành năm 1992 và được cập nhật ở năm 2001, qua đó đưa ra các quan điểm và hướng dẫn về KSNB trong các đơn vị thuộc khu vực công Chẳng hạn, năm 1999 tại Hoa Kỳ trong chính quyền liên bang được Cơ quan Kiểm toán Nhà nước ban hành chuẩn mực về KSNB Hầu hết, các chuẩn mực về KSNB trong khu vực công hiện nay đều đặt trên
Trang 21nền tảng của Báo cáo COSO 1992 với những điểm chính đó là:[1]
- Xác định KSNB là một bộ phận/quy trình không thể thiếu trong tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu về: Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động, bao gồm
cả việc bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, hư hỏng hoặc sử dụng sai mục đích; Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Tuân thủ luật pháp và các quy định
- Xác định các chuẩn mực về KSNB trong năm yếu tố đó là: Môi trường kiểm soát, bao gồm việc tạo lập một cơ cấu và kỷ cương trong toàn bộ hoạt động của đơn vị; Đánh giá rủi ro, liên quan đến việc nhận biết, phân tích và lựa chọn những giải pháp đối phó với các sự kiện bất lợi cho đơn vị trong việc thực hiện các mục tiêu; Các hoạt động kiểm soát bao gồm các phương thức cần thiết để kiểm soát như xét duyệt, phân quyền, kiểm tra, phân tích rà soát…trong từng hoạt động cụ thể của đơn vị; Thông tin và truyền thông liên quan đến việc tạo lập một
hệ thống thông tin và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức, phục vụ cho việc thực hiện tất cả các mục tiêu kiểm soát nội bộ Trong điều kiện tin học hóa, hệ thống thông tin còn bao gồm cả việc nhận thức, phát triển và duy trì hệ thống phù hợp với đơn vị; Giám sát bao gồm các hoạt động kiểm tra và đánh giá thường xuyên và định kỳ nhằm không ngừng cải thiện kiểm soát nội bộ, kể cả việc hình thành và duy trì công tác kiểm toán nội bộ
Như vậy, các chuẩn mực KSNB trong khu vực công khi so sánh với Báo cáo COSO 1992 thì tập trung nhiều vào các chức năng, đặc điểm của đơn vị nhà nước
và các quy định có tính quy chuẩn hơn là chỉ mang tính hướng dẫn
1.1.3.2 Vai trò của kiểm soát nội bộ trong khu vực công:
KSNB giúp người quản lý có cái nhìn toàn diện về vấn đề kiểm soát trong tổ chức theo hướng xác định mục tiêu, đánh giá rủi ro và thiết lập các hoạt động kiểm soát; đồng thời tạo lập một môi trường kiểm soát tốt đi đôi với một hệ thống thông tin hữu hiệu Do đó, khái niệm và các chuẩn mực KSNB cần được đưa vào chương trình đào tạo cán bộ quản lý các đơn vị khu vực công
KSNB giúp nhà quản lý đánh giá toàn diện về vấn đề kiểm soát trong tổ chức theo hướng đánh giá rủi ro, xác định mục tiêu và thiết lập các hoạt động kiểm soát
Trang 22Bên cạnh đó, tạo lập môi trường kiểm soát tốt cùng với một hệ thống thông tin hữu hiệu Vì vậy, về khái niệm cũng như các chuẩn mực KSNB cần sớm đưa vào chương trình đào tạo đối với các nhà quản lý ở các đơn vị hoạt động công
Theo hướng dẫn về KSNB của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) đối với một tổ chức hành chính công thì sẽ thấy rất rõ tầm quan trọng của tổ chức KSNB trong việc:
Tạo lập một hệ thống thông tin và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức, phục vụ cho việc thực hiện tất cả các mục tiêu KSNB Tạo lập một cơ cấu kỷ cương trong toàn bộ chu trình hoạt động của đơn vị Giúp nhận biết, phân tích và lựa chọn các phương pháp tối ưu, hạn chế các sự kiện bất lợi trong việc thực hiện mục tiêu
Kiểm tra, đánh giá thường xuyên cũng như định kỳ giữa các bộ phận với nhau hoặc giữa cấp trên với cấp dưới giúp phát hiện, ngăn chặn kịp thời những sai sót hoặc cố tình gây ra, và cũng giúp đánh giá và hoàn thiện hơn những bất cập cần bổ sung của hệ thống KSNB
1.1.4 Các bộ phận cấu thành kiểm soát nội bộ trong khu vực công
1.1.4.1 Môi trường kiểm soát:
Môi trường kiểm soát là nền tảng cho tất cả các yếu tố khác trong KSNB, tạo lập một nề nếp kỷ cương, đạo đức và cơ cấu tổ chức cũng như hình thành nên một sắc thái chung cho tổ chức, ảnh hưởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên Trong một môi trường kiểm soát, có năm nhân tố dưới đây:
- Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo: Được thể hiện qua cá tính, tư
cách và thái độ khi điều hành công việc của người lãnh đạo Nhận thức về KSNB của các thành viên trong tổ chức tùy thuộc rất nhiều vào sự quan tâm nhà lãnh đạo
để xây dựng hệ thống KSNB tốt Ngược lại, nếu các thành viên trong tổ chức nhận thức rằng KSNB không quan trọng thì cũng có thể hiểu là lãnh đạo chưa quan tâm đúng mức đến KSNB
- Cơ cấu tổ chức: Bao gồm hệ thống báo cáo phù hợp với tổ chức, thiết lập
quy trình báo cáo kịp thời và kết quả thực hiện để đạt mục tiêu đề ra; Sự phân chia
Trang 23quyền và trách nhiệm báo cáo Mỗi cấp quản lý ý thức được quyền hạn của mình tới đâu, ở mức độ nào
- Chính sách nhân sự: Chính sách nhân sự bao gồm sự tuyển dụng, huấn
luyện, giáo dục, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật, kèm cặp nhân viên Mỗi cá nhân đóng vai trò quan trọng trong KSNB Khả năng, sự tin cậy của nhân viên rất cần thiết để kiểm soát được hữu hiệu Vì vậy, cách thức tuyển dụng, huấn luyện, giáo dục, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật là một phần quan trọng trong môi trường kiểm soát Việc ra quyết định tuyển dụng nhân viên phải đảm bảo được về tư cách đạo đức cũng như kinh nghiệm để thực hiện công việc được giao
- Sự liêm chính và giá trị đạo đức cá nhân, chuyên môn của nhà lãnh đạo và của đội ngũ nhân viên:
Sự liêm chính và tôn trọng giá trị đạo đức của nhà lãnh đạo và đội ngũ nhân viên xác định thái độ cư xử chuẩn mực trong công việc của họ Tinh thần tôn trọng đạo đức thể hiện qua tất cả các cá nhân, mọi cá nhân phải tuân thủ các điều
lệ, quy định và đạo đức về cách ứng xử của cán bộ công chức nhà nước
Thái độ và cách điều hành của người quản lý, quyết định giọng điệu (tone) của toàn bộ tổ chức trong việc thiết lập các chính sách về kế toán, tài chính của đơn vị; ví dụ như: công khai tài sản, quy chế chi tiêu nội bộ, mang tính công bằng, khách quan, vô tư, không thiên vị,
- Năng lực nhân viên:
Năng lực nhân viên bao gồm trình độ hiểu biết và kỷ năng làm việc cần thiết
để đảm bảo cho việc thực hiện có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm, hiệu qủa và hữu hiệu, cũng như có một sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của bản thân trong việc thiết lập hệ thống KSNB Đào tạo là một phương thức hữu hiệu để nâng cao trình độ cho các thanh viên trong tổ chức, đó là hướng dẫn về mục tiêu KSNB, phương pháp giải quyết những tình huống khó xử trong công việc
1.1.4.2 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích rủi ro cho phù hợp để đạt
Trang 24được mục tiêu của tổ chức và xác định biện pháp xử lý thích hợp KSNB nhằm mục đích thực hiện mục tiêu của tổ chức cho nên việc đánh giá rủi ro là rất quan trọng vì
nó ghi nhận các sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức Việc phân tích đánh giá rủi ro nhằm hạn chế những rủi ro chủ yếu vì thế việc nhận dạng rủi ro chủ yếu hết sức quan trọng, vì nó không chỉ làm ảnh hưởng của rủi ro
mà còn ảnh hưởng đến sự phân chia trách nhiệm và nguồn lực đối phó rủi ro
- Nhận dạng rủi ro: Bao gồm rủi ro từ bên ngoài và bên trong, rủi ro ở cấp
toàn đơn vị và từng hoạt động, rủi ro được xem xét liên tục trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức Liên quan đến khu vực công, các cơ quan nhà nước cần phải quản trị rủi ro làm ảnh hưởng đến các mục tiêu được giao, bao gồm cả các chỉ tiêu được giao trong bất kỳ kế hoạch nào của một tổ chức
- Đánh giá rủi ro: Để kiểm soát được rủi ro, vấn đề quan trọng không chỉ là
nhận ra các rủi ro tồn tại, mà còn là đánh giá tầm quan trọng, tác hại mà rủi ro gây
ra và khả năng xảy ra rủi ro Có nhiều phương pháp đánh giá rủi ro tùy theo mỗi loại rủi ro, tuy nhiên phải đánh giá rủi ro một cách có hệ thống
- Phát triển các biện pháp đối phó: Để phát triển các biện pháp đối phó với
rủi ro thì cần có bốn biện pháp đối phó đó là: Phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro, tránh né rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro Các biện pháp xử lý hạn chế rủi ro ở mức độ hợp lý bởi vì cần xem xét trên mối liên hệ giữa chi phí và lợi ích nhưng nếu như chúng ta nhận dạng được cũng như đánh giá được rủi ro thì chắc chắn rằng chúng ta
sẽ có sự chuẩn bị tốt hơn
1.1.4.3 Hoạt động kiểm soát:
Hoạt động kiểm soát là những chính sách, những thủ tục nhằm hạn chế rủi ro
và đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị Để đạt được hiệu quả cao đòi hỏi hoạt động kiểm soát phải phù hợp, dể hiểu, nhất quán giữa các thời kỳ, có hiệu quả, đáng tin cậy và có liên hệ trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát
Hoạt động kiểm soát bao gồm: Hoạt động kiểm soát phòng ngừa và phát hiện rủi ro Việc cân bằng giữa thủ tục kiểm soát phát hiện và phòng ngừa thường là sự phối hợp các hoạt động kiểm soát để hạn chế, bổ sung lẫn nhau giữa các thủ tục
Trang 25kiểm soát Hoạt động kiểm soát được thể hiện như sau:
- Về thủ tục phân quyền và xét duyệt: Khi thực hiện các nghiệp vụ chỉ được
thực hiện từ người được ủy quyền theo trách nhiệm và phạm vi của họ Việc ủy quyền là cách thường gặp để đảm bảo là chỉ có những nghiệp vụ là có thực mới được phê duyệt đúng như mong muốn của người lãnh đạo
- Về phân chia trách nhiệm: Trách nhiệm phải được giao cho từng cá nhân
một cách có hệ thống để đảm bảo việc kiểm tra mang lại hiệu quả Để giảm thiểu rủi ro về sai sót, cố ý làm sai và rủi ro không ngăn ngừa được thì một công việc từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc không được giao cho một bộ phận hay một cá
nhân nào Có 05 trách nhiệm chủ yếu đó là: Ủy quyền, phê chuẩn, ghi chép, xử lý
và đánh giá các nghiệp vụ nhưng cần lưu ý sự thông đồng làm phá hủy hoặc làm giảm sự hữu hiệu của KSNB
- Kiểm soát việc tiếp cận tài sản và sổ sách: Việc tiếp cận tài sản và sổ sách
của tổ chức phải được giới hạn cho những cá nhân mà họ được người lãnh đạo giao trách nhiệm bảo quản hoặc sử dụng tài sản Trách nhiệm này được thể hiện qua chứng từ, hàng tồn kho, ghi chép sổ sách Hạn chế việc tiếp cận tài sản làm giảm rủi ro làm thất thoát tài sản hoặc lạm dụng tài sản của Nhà nước Việc giới hạn tùy thuộc vào rủi ro thất thoát tài sản và phải được xem xét nghiêm túc
- Kiểm tra, đối chiếu: Chứng từ, sổ sách kế toán phải được đối chiếu thường
xuyên và định kỳ theo quy định của đơn vị Các nghiệp vụ, sự kiện phát sinh phải được kiểm tra trước, trong và sau khi xử lý
- Giám sát nhân viên: Đối với nhân viên, khi tiến hành giao công việc cần
phải thông báo rõ ràng, cụ thể về nghĩa vụ, về trách nhiệm và sự chịu trách nhiệm công việc được giao cho mỗi nhân viên Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của nhân viên phải đảm bảo nguyên tắc là có các hệ thống công việc trong phạm vi và thời gian cần thiết
- Rà soát việc thực hiện, xử lý và điều hành các hoạt động: Việc thực hiện,
xử lý và điều hành các hoạt động được rà soát dựa trên nhiều chuẩn mực nguyên tắc cơ bản, đánh giá hiệu quả và tính thực thi Nếu thấy không phù hợp với mục
Trang 26tiêu của tổ chức hoặc các chuẩn mực đã quy định thì cần phải rà soát lại để điều chỉnh cho phù hợp quy trình thực hiện để đạt được mục tiêu
1.1.4.4 Thông tin và truyền thông:
Công tác thông tin và truyền thông rất quan trọng và thật sự cần thiết trong việc thực hiện mục tiêu KSNB, thông tin và truyền thông bao gồm:
- Thông tin: Một hệ thống thông tin phù hợp phải tạo ra được các báo cáo
về hoạt động kế toán tài chính theo đúng chuẩn mực quy định Nó không những gồm các dữ liệu bên trong mà còn xem xét các thông tin bên ngoài cũng như những điều kiện, hoạt động cần thiết để phục vụ việc báo cáo và ra quyết định Khi được xác định là một thông tin thích hợp và đáng tin cậy tức là thông tin đó phải được phân loại đúng đắn các nghiệp vụ, sự kiện, ghi chép kịp thời, được chuyển tải thể hiện qua các biểu mẫu và lộ trình thông suốt bảo đảm cho
nhân viên thực hiện chức năng trong KSNB
- Truyền thông: Một hệ thống truyền thông tốt, có hiệu quả tức là việc cung
cấp thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới và ngược lại hoặc cùng cấp giữa các bộ phận được xuyên suốt trong toàn hệ thống của một tổ chức
Khi nhận được công việc bằng tài liệu hóa từ lãnh đạo về trách nhiệm của bản thân người nhân viên trong KSNB thì nhân viên phải hiểu vai trò của bản thân đối với HTKSNB cũng như đối với các nhân viên khác trong tổ chức Mặt khác,
các truyền thông nhận được từ bên ngoài cũng rất cần trong KSNB của tổ chức
1.1.4.5 Giám sát
Hệ thống KSNB cần được giám sát để đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống qua thời gian Những khiếm khuyết của hệ thống KSNB cần được phát hiện kịp thời để có biện pháp khắc phục càng sớm càng tốt
Việc giám sát được thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc kết hợp cả hai
Giám sát thường xuyên:
Giám sát thường xuyên KSNB được thiết lập cho những hoạt động thông thường và lặp lại của tổ chức Bao gồm cả những hoạt động giám sát và quản lý mang tính chất định kỳ ngay trong quá trình thực hiện của các nhân viên trong
Trang 27công việc hàng ngày Giám sát thường xuyên được thực hiện trên tất cả các yếu tố của KSNB và liên quan đến việc ngăn chặn và phát hiện tất cả những hiện tương
vi phạm luật pháp, không tiết kiệm, không hiệu quả của hệ thống
Giám sát định kỳ:
Phạm vi và tầng suất giám sát định kỳ phụ thuộc vào sự đánh giá mức độ rủi
ro và hiệu quả của thủ tục giám sát thường xuyên Giám sát định kỳ bao phủ toàn
bộ sự đánh giá, sự hữu hiệu của hệ thống KSNB và đảm bảo KSNB đạt kết quả như mong muốn dựa trên các phương pháp và thủ tục kiểm soát
1.1.5 Khái quát về ngành Thuế tại Việt Nam
1.1.5.1 Đặc điểm ngành Thuế tại Việt Nam
Ngày 10/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời ký Sắc lệnh số 27/SL lập ra Sở Thuế quan và Thuế gián thu Quyết định này là cơ sở pháp lý và là tiền đề cho ngành Thuế Việt Nam ra đời
và phát triển Ngày 06/08/2010, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số TTg lấy ngày 10 tháng 9 là “Ngày Truyền thống của ngành Thuế Việt Nam” ghi nhận sự cống hiến và bề dày thành tích của hệ thống Thuế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1370/QĐ-Sau 73 năm xây dựng và phát triển, ngành Thuế đã và đang từng bước hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước:
- Thay đổi chính sách phù hợp với tình hình mới
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong bối cảnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, ngân quỹ chính quyền non trẻ hầu như trống rỗng
Để giải quyết những nhu cầu cấp thiết và hiện thực hóa quan điểm lấy dân làm gốc, dựa vào dân, phục vụ nhân dân vừa đảm bảo lợi ích quốc gia, ngành Tài chính đã cải cách hệ thống thuế cũ, bãi bỏ các thứ thuế bất hợp lý và xây dựng chế
độ thuế mới
Dưới chính quyền cách mạng những năm kháng chiến (1956 - 1975), bên cạnh nguồn thuế chủ lực là thuế nông nghiệp, thì nhiều chính sách thuế mới đã ra
Trang 28đời như: Thuế doanh nghiệp, thuế lợi tức, thuế buôn chuyến, thuế hàng hóa, thuế sát sinh, thuế kinh doanh nghệ thuật, thuế thổ trạch, thuế môn bài, thuế muối và thuế rượu
Trong khoảng thời gian 1966 - 1975 là thời kỳ cải tạo và xây dựng CNXH ở miền Bắc, các loại thuế chủ yếu được thực hiện theo Nghị quyết số 200/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các sắc thuế để phù hợp với tình hình; trong đó thu từ khu vực quốc doanh, tập thể và cá thể đã góp phần động viên một phần cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam
Trong những năm 1976 -1989, các loại thuế tiếp tục được hoàn thiện, áp dụng đồng bộ trong cả nước, phù hợp với quá trình thống nhất các chính sách giá
cả, tiền tệ, thị trường Chính sách thuế đã được sửa đổi, cải tiến theo hướng động viên và tạo nguồn thu trong nước, kết hợp với tranh thủ nguồn vốn nước ngoài dưới hình thức viện trợ, vay nợ, đã đóng góp lớn vào ngân sách nhà nước (NSNN) Nhờ vậy, đã chủ động được nhu cầu chi tiêu thiết yếu ngày càng tăng của đất nước trong tình hình mới
- Cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia
Những kết quả đạt được trong công tác quản lý thu thuế đã góp phần tích cực hoàn thành các mục tiêu Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng đề ra; đặc biệt số thu các năm đã vượt mức dự toán được Quốc hội, Chính phủ giao, năm sau cao hơn năm trước, góp phần đảm bảo cân đối thu - chi của Nhà nước
Số liệu thống kê từ năm 1990 đến nay cho thấy, khi hệ thống thuế cả nước là một ngành dọc trực thuộc Bộ Tài chính thì nhiệm vụ thu NSNN luôn được ngành Thuế hoàn thành xuất sắc Tính bình quân, số thu nội địa giai đoạn 1990 - 2018 đạt 17,8% so với GDP (tổng thu NSNN giai đoạn này đạt 23,3% so với GDP) Tổng thu do ngành Thuế quản lý tăng dần qua các năm, đến nay đã chiếm hơn 80% so với tổng thu NSNN
Bên cạnh nhiệm vụ chính trị là thu NSNN, trong những năm qua, ngành Thuế cũng đang từng bước cải cách thủ tục hành chính, góp phần cải thiện môi
Trang 29trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
- Thuế và Hải quan đóng vai trò chủ lực trong huy động nguồn lực NSNN Những năm qua, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế
và Tổng cục Hải quan - những đơn vị chủ lực thực hiện nhiệm vụ thu NSNN đã quán triệt, triển khai thực hiện nhiều giải pháp để đảm bảo thực hiện đạt và vượt mức nhiệm vụ thu NSNN được Quốc hội, Chính phủ giao; hệ thống các quy trình thủ tục liên quan đến công tác thu nộp NSNN đã được từng bước xây dựng khá đầy đủ, toàn diện, minh bạch, dễ thực hiện
Trong những giai đoạn nền kinh tế gặp tác động bất lợi của kinh tế thế giới, gặp khó khăn đã tham mưu giúp Nhà nước ban hành những chính sách nuôi dưỡng nguồn thu như: cắt giảm, bãi bỏ nhiều khoản phí, lệ phí; gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, TNDN và thu tiền sử dụng đất; giảm thuế suất thuế TNDN; miễn giảm mức thuế; hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường; miễn, giảm, giãn thuế cho DN gặp nhiều khó khăn
Với những thành tích này, những năm qua ngành Thuế đã được Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Tài chính tặng thưởng nhiều Huân chương, Huy chương cao quý nhất; các tổ chức trong và ngoài nước đánh giá cao Ngành Thuế Việt Nam từng bước tiến lên hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, thực hiện thành công cam kết của
Ngành: “Minh bạch - Chuyên nghiệp - Liêm chính - Đổi mới”
1.1.5.2 Hệ thống văn bản pháp lý sử dụng trong việc kiểm soát hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư
Để thực hiện việc kiểm soát nội bộ hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư hiện nay Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế đã ban hành một số Luật, các văn bản để cụ thể để kiểm soát quá trình thực hiện
Trang 30Bảng 1.1: Một số văn bản quy định về kiểm soát hoàn thuế GTGT
đối với dự án đầu tư
1 15/5/2015 879/2015/QĐ-TCT
Về việc ban hành quy trình quản lý kê khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế của Tổng cục Thuế
2 12/8/2016 130/2016/TT-BTC
Hướng dẫn Nghị định số
100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế TTĐB và Luật Quản
lý thuế và sửa đổi một số điều tại các Thông tư về thuế
3 29/6/2016 99/2016/TT-BTC Hướng dẫn về quản lý hoàn thuế GTGT
của Bộ Tài chính
4 6/4/2016 106/2016/QH13
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Giá trị gia tăng, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành
5 27/12/2011 121/2011/NĐ-CP Hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng
Nguồn:[ Tác giả tổng hợp trong quá trình nghiên cứu]
Ngoài ra việc kiểm soát công tác hoàn thuế GTGT ở nước ta hiện nay được thực hiện theo một số văn bản pháp luật sau:
1 Bộ Tài chính (2013), Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06 tháng 11năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ, Hà Nội;
2 Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008; Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT số 31/2013/QH13 ngày 19/6/2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
Trang 313 Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008;
4 Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 Hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng;
5 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Ngày 18/12/2013 Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế giá trị gia tăng;
6 Thông tư số 219/2013/TT- BTC Ngày 31/12/2013 Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng
1.2 KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DỰ
ÁN ĐẦU TƯ
1.2.1 Thuế GTGT và vai trò của thuế GTGT
1.2.1.1 Khái niệm về thuế GTGT
Ở Việt Nam, thuế GTGT được ban hành thành Luật và được Quốc hội Khoá
IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 (ngày 10/5/1997) và có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/1999, thay thế cho Luật Thuế doanh thu
Theo Điều 2, Luật thuế GTGT của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, được sửa đổi bổ sung năm 2016 quy định:
“Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” [2]
Như vậy, Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, tiền thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa và dịch vụ, người tiêu dùng là người cuối cùng chịu thuế, người nộp thuế chỉ là người thay thế người tiêu dùng thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước
1.2.1.2 Đặc điểm thuế GTGT
Như đã trình bày, Thuế GTGT theo quy định tại Điều 2 Luật thuế GTGT với bản chất là một loại thuế gián thu Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch
Trang 32vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùng mới là người chịu thuế thông qua giá
cả hàng hóa dịch vụ Là một loại thuế độc lập nên thuế GTGT cũng có một số đặc điểm cụ thể như sau:
- Thuế GTGT là một sắc thuế thuộc loại thuế gián thu
Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện: người mua hàng hoá, dịch vụ là người phải trả khoản thuế này thông qua giá mua của hàng hoá, dịch vụ Đối tượng nộp thuế GTGT là người cung ứng hàng hóa, dịch vụ, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng Với tư cách là người bán hàng, các nhà sản xuất, kinh doanh sẽ cộng số thuế GTGT vào giá bán hàng hóa, dịch vụ mà người mua phải trả khi mua hàng hóa, dịch vụ
- Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không tính vào giá vốn, nên không trùng lắp như thuế doanh thu trước đây
Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn Tổng số thuế thu được của tất cả các giai đoạn đúng bằng
số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng Do đó, thuế GTGT tránh được hiện tượng đánh thuế trùng lắp và việc chỉ đánh thuế trên phần giá trị tăng thêm nhằm làm giảm bớt gánh nặng về thuế đối với người sản xuất, người cung cấp, người lưu thông và người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
- Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao: Tính trung lập được thể hiện ở hai
khía cạnh:
Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của
Trang 33người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp hàng hoá, dịch vụ
Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia
quá trình sản xuất kinh doanh của người nộp thuế; Mục tiêu của thuế GTGT không phải để trực tiếp điều chỉnh sự chênh lệch về thu nhập hay tài sản
- Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập
Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người phải trả khoản thuế đó, không phân biệt thu nhập cao hay thấp đều phải trả số thuế như nhau Như vậy, nếu so sánh giữa số thuế phải trả so với thu nhập thì người nào có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ này thấp hơn và ngược lại
- Thuế GTGT có thuộc tính lãnh thổ quốc gia
Vì xét về phạm vi đánh thuế, thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, người tiêu dùng cuối cùng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia là người chịu thuế Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu
1.2.1.3 Vai trò của thuế GTGT
Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ
mô đối với nền kinh tế Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, do đó thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng và được thể hiện như sau:
- Thứ nhất, thuế GTGT góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo nên sự cạnh
tranh bình đẳng giữa các chủ thể khi nó bắt buộc các chủ thể phải sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ
- Thứ hai, thuế GTGT giúp cho nhà nước kiểm soát được hoạt động, sản xuất,
nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa nhờ kiểm soát được hệ thống hóa đơn, chứng từ, khắc phục được nhược điểm của thuế doanh thu là trốn thuế Qua đó, thuế GTGT
Trang 34còn cung cấp cho công tác nghiên cứu, thống kê những số liệu quan trọng
- Thứ ba, thuế GTGT góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước một cách hợp
lý thông qua việc đánh thuế GTGT hàng nhập khẩu ngay từ khi nó xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam,bên cạnh đó thuế GTGT đánh vào hàng hóa xuất khẩu nhằm tạo
ra thuế GTGT đầu ra để được hoàn thuế GTGT
1.2.2 Khái niệm, điều kiện và các trường hợp hoàn thuế GTGT:
1.2.2.1 Khái niệm hoàn thuế GTGT:
Tại Chương 3, Điều 10 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/12/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
thuế GTGT của Việt Nam quy định về hoàn thuế GTGT như sau: "Việc hoàn thuế
giá trị gia tăng thực hiện theo quy định tại Điều 13 Luật thuế giá trị gia tăng và Khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng
” [3]
Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành không đưa ra khái niệm
về hoàn thuế GTGT Tuy nhiên, có thể xem xét khái niệm hoàn thuế giá trị gia tăng dưới nhiều góc độ khác nhau, cụ thể:
- Xét dưới góc độ nghiệp vụ thuế thì hoàn thuế GTGT là một biện pháp kỹ thuật trong công tác thu thuế
- Xét dưới góc độ kinh tế - tài chính, hoàn thuế GTGT là việc Nhà nước trả lại
số thuế GTGT mà người nộp thuế đã nộp cho ngân sách nhà nước trong một số trường hợp nhất định
- Xét dưới góc độ pháp lý thì hoàn thuế là quyền của người nộp thuế được nhà nước hoàn trả lại một khoản tiền thuế nhất định khi người nộp thuế gửi Giấy đề nghị hoàn trả ngân sách nhà nước thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định Hoàn thuế GTGT còn là một chế định pháp luật mà nội dung của nó là tập hợp các quy phạm pháp luật quy định về các trường hợp được hoàn thuế, đối tượng được hoàn thuế, điều kiện hoàn thuế, thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế, trình tự thủ tục hoàn thuế
Trang 351.2.2.2 Điều kiện hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư:
Để được hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư Doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
- Dự án đầu tư được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về đầu tư Trường hợp dự án đầu tư không thuộc đối tượng được phê duyệt theo quy định của pháp luật về đầu tư thì phải có phương án đầu tư được người có thẩm quyền ra quyết định đầu tư phê duyệt
- Sau khi bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện; nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư
1.2.2.3 Các trường hợp hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư
Trường hợp 1: Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu đã đăng ký kinh
doanh, đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu
tư theo từng năm, trường hợp số thuế GTGT lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo quy định Khoản 2, Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính
Trường hợp 2: Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ được hoàn thuế GTGT theo quy định tại Khoản
3, Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính, cụ thể:
- Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư cùng tỉnh, thành phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai riêng đối với dự án đầu tư và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT
của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện Sau khi bù trừ nếu số thuế
GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì
được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư
- Trường hợp cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế
Trang 36GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư chưa đi vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, chưa đăng ký thuế thì cơ sở kinh doanh lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư đồng thời phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư mới chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư
Tại Điểm c, Khoản 3, Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính quy định cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng
mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:
- Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng
ký theo quy định của pháp luật
- Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư quy định hoặc chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
- Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động quy định
- Dự án đầu tư khai thác tài nguyên, khoáng sản được cấp phép từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 hoặc dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm
trở lên theo dự án đầu tư
1.2.3 Một số rủi ro có liên quan đến việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư
1.2.3.1 Nhận diện một số rủi ro có liên quan đến việc hoàn thuế GTGT đối với
dự án đầu
Những năm qua, một bộ phận doanh nghiệp lợi dụng sự thông thoáng của chính sách hoàn thuế GTGT của Nhà nước để trục lợi, gây thất thu NSNN Nên việc
Trang 37nhận diện các rủi ro liên quan đến hoàn thuế GTGT nói chung và hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư nói riêng, qua đó đề ra biện pháp phòng chống hiệu quả là hết sức quan trọng Do đó, tác giả đưa ra một số nhận diện rủi ro có liên quan đến việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư như sau:
- Thứ nhất: rủi ro đối với vốn điều lệ đăng ký của doanh nghiệp
Theo quy định của Luật thuế GTGT hiện hành, đối với doanh nghiệp lần đầu
đề nghị hoàn thuế GTGT theo Dự án đầu tư, Cơ quan Thuế căn cứ Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm kiểm tra để xác định vốn điều lệ đã đăng ký lần đầu hoặc tăng, giảm vốn điều lệ qua các lần điều chỉnh
Quy đinh trên còn tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với trường hợp doanh nghiệp đã được hoàn thuế GTGT lần đầu, sau đó điều chỉnh tăng vốn điều lệ và đề nghị hoàn thuế GTGT từ lần thứ 2 trở đi Rủi ro đó là, nếu Cơ quan Thuế không kiểm tra việc doanh nghiệp có điều chỉnh tăng vốn điều lệ hay không? để yêu cầu doanh nghiệp chứng minh đã góp đủ vốn điều lệ, dẫn đến rủi ro trong công tác hoàn thuế
- Thứ hai: Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh
có điều kiện hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động
Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh thuộc một số ngành nghề có điều kiện kinh doanh như kinh doanh xăng dầu, kinh doanh khoáng sản, ….quy định tại Phụ lục 4, Danh mục Ngành, Nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, ban hành kèm theo Luật số 03/2016/QH14 ngày 22/11/2016 của Quốc Hội: sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục
4 về danh mục, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động thì không được hoàn thuế theo quy định
- Thứ ba: Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Quyết định phê duyệt Chủ trương đầu tư Theo quy định của Luật đầu tư có một số trường hợp phải cấp Giấy chứng nhận đầu tư như dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài hoặc trường hợp không
Trang 38cần Giấy chứng nhận đầu tư thì phải có Quyết định phê duyệt Chủ trương đầu tư mới đủ điều kiện hoàn thuế
- Thứ tư: quy định về Dự án đầu tư đã đi vào hoạt động không được hoàn thuế GTGT
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 1 Luật số 106/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế TTĐB và Luật Quản lý thuế (sửa đổi, bổ
sung Khoản 1 và Khoản 2 Điều 13 Luật Thuế GTGT): “1 Cơ sở kinh doanh nộp
thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào
kỳ tiếp theo
Trường hợp cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng."[2]
Tại Khoản 3, Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính (sửa đổi Điều 18 Thông tư số 219/2013/TT-BTC), quy định về việc hoàn thuế GTGT đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu từ là: "2 Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm, trừ trường hợp hướng dẫn tại điểm c Khoản 3 Điều này Trường hợp, nếu số thuế giá trị gia tăng lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào
sử dụng cho đầu tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng."[4] Theo quy định trên thì chỉ quy định dự án đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động thì được hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư nếu đáp ứng các điều kiện, chưa có quy định dự án đã phát sinh doanh thu là không được hoàn thuế Một
số dự án có phân thành nhiều giai đoạn, khi hoàn thành giai đoạn 1 thì số thuế
Trang 39GTGT còn được khấu trừ của giai đoạn 1 không được hoàn thuế Đơn vị tiếp tục đầu tư giai đoạn 2 có số thuế GTGT đầu vào còn được khấu trừ khi đơn vị đề nghị hoàn thì khó xác định số thuế GTGT còn được khấu trừ của giai đoạn 2 có bao gồm
số thuế GTGT được khấu trừ của giai đoạn 1
Bên cạnh đó, Thông tư số 130/2016/TT-BTC quy định chưa rõ đối với “Dự án chưa đi vào hoạt động”, “Dự án chạy thử” dễ dẫn đến người nộp thuế lợi dụng “Dự
án chạy thử” để hoàn thuế GTGT
- Thứ năm: Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm hàng hóa mà tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên theo dự án đầu tư
Đối với trường hợp doanh nghiệp có dự án đầu tư sản xuất sản phẩm từ tài nguyên, khoáng sản (có nguồn gốc trong nước) đã chế biến thành sản phẩm khác thì phải xác định tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm
từ 51% giá thành sản phẩm trở xuống thì được hoàn theo quy định tại Khoản 3.3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính Ngược lại, nếu tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì không thuộc trường hợp hoàn Việc xác định tỷ
lệ chưa được rõ ràng và sự thống nhất tại các văn bản dẫn đến nhiều rủi ro trong trường hợp này
- Thứ sáu: Trường hợp cơ sở kinh doanh đang hoạt động có dự án đầu tư cùng tỉnh, thành phố
Một số nội dung quy định giữa Luật, Nghị định, Thông tư còn chưa thống nhất Chẳng hạn, Luật số 106/2016/QH13, Nghị định số 100/2016/NĐ-CP chỉ quy định 2 trường hợp hoàn thuế GTGT song Thông tư số 130/2016/TT-BTC lại quy định 3 trường hợp hoàn thuế đối với dự án đầu tư, trong đó thêm trường hợp là cơ
sở kinh doanh đang hoạt động có dự án đầu tư cùng tỉnh, thành phố đang hoạt động,
mà không phân biệt dự án đầu tư mới hay dự án đầu tư mở rộng
Đối với trường hợp hoàn thuế này, Kiểm toán Nhà nước có ý kiến đề nghị Tổng cục Thuế báo cáo cấp có thẩm quyền đối với trường hợp này Tổng cục Thuế
Trang 40đang tổng hợp trình Bộ Tài chính báo cáo cấp có thẩm quyền nội dung trên Sau khi
có ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, Tổng cục Thuế sẽ thông báo để Cục Thuế biết và thực hiện Tại Cục Thuế tỉnh Bình Định đang thực hiện dừng không giải quyết hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế đối với trường hợp nêu trên
1.2.3.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro
- Quy định về thủ tục đối với hồ sơ kê khai thuế, hồ sơ hoàn thuế GTGT đơn giản, cụ thể:
+ Luật Quản lý thuế không quy định hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT đối với
dự án đầu tư phải đầy đủ các tài liệu để chứng minh đủ điều kiện để được hoàn thuế, như: Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, Hợp đồng thuê đất,
+ Luật Quản lý thuế đã bỏ quy định doanh nghiệp phải gửi Bảng kê hoá đơn hàng hoá, dịch vụ bán ra, mua vào khi lập hồ sơ khai thuế GTGT
Cơ quan Thuế không xác định doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hay doanh thu của dự án đang đầu tư Nên không xác định được Dự án đã đi vào hoạt động hay chưa?
- Thiếu sự đồng nhất giữa Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, cụ thể đó là:
+ Theo quy định tại Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/4/2016 của Quốc hội thì trường hợp cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư
có số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT
+ Nhưng Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật lại đặt ra hàng 07 điều kiện như