Đề tài được hỗ trợ, kế thừa của đề tài cấp Quốc gia: “Nghiên cứu ứng dụng tổ hợp các giải pháp cải tạo, phục hồi hệ sinh thái khu vực bãi thải và khu khai thác khoáng sản nhằm ngăn ngừa
Trang 1NGUYỄN VĂN VƯƠNG
ĐÁNH GIÁ SUY THOÁI TÀI NGUYÊN ĐẤT
Trang 2CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học và các phòng ban chức năng của Trường Đại học Quy Nhơn đã tạo điều kiện thuận lợi trong công tác liên hệ và giải quyết các thủ tục học tập tại trường Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy, cô giáo Khoa Khoa học Tự nhiên - Trường Đại học Quy Nhơn, đặc biệt thầy giáo TS Nguyễn Hữu Xuân đã tận tình giúp đỡ trong quá trình học tập cũng như trong định hướng chọn đề tài và xây dựng đề cương
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, tận tình dạy bảo, trách nhiệm và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành tốt nhất luận văn của mình Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Mạnh Hà
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo của Trường Đại học Quy Nhơn đã nhiệt tình giảng dạy và cung cấp những kiến thức quý báu trong suốt quá trình tôi tham gia học tập tại Trường
Tác giả chân thành cảm ơn quý thầy cô trường THPT Trần Quang Diệu
đã tạo điều kiện cho tác giả được đi học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ
và chia sẻ với tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo
để luận văn được hoàn thiện hơn
Bình Định, ngày 29 tháng 6 năm 2019 Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Vương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU SUY THOÁI TÀI NGUYÊN ĐẤT 4
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 4
1.1.1 Khái niệm về đất và thoái hóa đất 4
1.1.2 Tài nguyên đất và vấn đề sử dụng đất bền vững 8
1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU SUY THOÁI ĐẤT 10
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu suy thoái đất và các giải pháp ngăn ngừa, cải tạo đất thoái hóa trên thế giới 10
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu suy thoái đất ở Việt Nam 15
1.2.3 Tổng quan nghiên cứu suy thoái đất ở tỉnh Đắk Nông 19
1.3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu 21
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 23
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ PHÁT SINH VÀ SUY THOÁI ĐẤT TỈNH ĐẮK NÔNG 26
2.1 PHÂN TÍCH CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH VÀ SUY THOÁI ĐẤT 26
2.1.1 Vị trí địa lý 26
2.1.2 Đặc điểm địa chất, địa hình 27
2.1.3 Đặc điểm khí hậu 30
2.1.4 Đặc điểm thủy văn 31
2.1.5 Đặc điểm lớp phủ thực vật 32
2.1.6 Hoạt động kinh tế - xã hội 35
2.1.7 Hiện trạng sử dụng đất 36
2.2 QUÁ TRÌNH PHÁT SINH VÀ SUY THOÁI ĐẤT TỈNH ĐẮK NÔNG 38
2.2.1 Quá trình mùn hóa, khoáng hóa 38
2.2.2 Quá trình bồi tụ phù sa, hình thành đất phù sa 38
2.2.3 Quá trình feralit hình thành đất đỏ vàng 39
Trang 52.2.4 Quá trình xói mòn, rửa trôi 40
2.2.5 Quá trình laterit hình thành kết von và đá ong 41
2.2.6 Quá trình glây 41
2.2.7 Quá trình nhân tác 42
2.3 ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN ĐẤT TỈNH ĐẮK NÔNG 43
2.3.1 Hệ thống phân loại đất tỉnh Đắk Nông 43
2.3.2 Đặc điểm các đơn vị đất 44
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ SUY THOÁI TÀI NGUYÊN ĐẤT PHỤC VỤ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG TỈNH ĐẮK NÔNG 52
3.1 CÁC DẠNG SUY THOÁI ĐẤT CHÍNH VÀ NGUYÊN NHÂN SUY THOÁI ĐẤT TỈNH ĐẮK NÔNG 52
3.1.1 Các dạng suy thoái đất chính 52
3.1.2 Phân tích nguyên nhân gây suy thoái đất 54
* Nguyên nhân chủ quan: 56
3.2 ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG SUY THOÁI ĐẤT TỈNH ĐẮK NÔNG 58
3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá tiềm năng suy thoái đất 58
3.2.2 Phân cấp và kết quả đánh giá tiềm năng suy thoái đất tỉnh Đắk Nông 61
3.3 SUY THOÁI ĐẤT HIỆN TẠI TỈNH ĐẮK NÔNG 64
3.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá suy thoái đất hiện tại 64
3.3.2 Kết quả đánh giá suy thoái đất hiện tại 67
3.4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN ĐẤT TỈNH ĐẮK NÔNG 72
3.4.1 Giải pháp chính sách 72
3.4.2 Giải pháp quản lý 74
3.4.3 Giải pháp khoa học kỹ thuật 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC……… 89 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc
2 FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
3 KT-XH Kinh tế - xã hội
6 pHKCL Độ chua trao đổi
7 ASSOD Dự án đánh giá thực trạng thoái hóa đất do tác nhân
vùng Nam và Đông Nam Á
9 CEC Phân tích cation trao đổi
10 DTTN Diện tích tự nhiên
11 BĐKH Biến đổi khí hậu
14 IC Đất cây bụi, có các cây gỗ tái sinh rải rác
15 KH & CN Khoa học và Công nghệ
16 TN - MT Tài nguyên và môi trường
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Đắk Nông (tính đến 31/12/2016) 37
Bảng 2.2: Hệ thống phân loại đất tỉnh Đắk Nông tỷ lệ 1: 100.000 44
Bảng 3.1: Diện tích các dạng suy thoái đất chính tỉnh Đắk Nông 54
Bảng 3.2: Tiêu chí đánh giá suy thoái đất tiềm năng 59
Bảng 3.3: Phân cấp mức độ suy thoái đất tiềm năng 62
Bảng 3.4: Kết quả đánh giá suy thoái đất tiềm năng tỉnh Đắk Nông 63
Bảng 3.5: Phân cấp chỉ tiêu độ chua của đất cho thành lập bản đồ suy thoái hiện tại 64
Bảng 3.6: Phân cấp chỉ tiêu hàm lượng hữu cơ cho thành lập bản đồ suy thoái đất hiện tại 65
Bảng 3.7: Phân cấp thành phần cơ giới phục vụ đánh giá suy thoái hiện tại 65
Bảng 3.8: Tác động của các loại hình sử dụng đất đến suy thoái hiện tại 66
Bảng 3.9: Kết quả đánh giá suy thoái đất hiện tại tỉnh Đắk Nông 72
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Đắk Nông 27
Hình 2.2: Bản đồ đất tỉnh Đắk Nông tỷ lệ 1: 100.000 44
Hình 3.1: Kết von, đá ong hóa trên bề mặt huyện Đắk GLong, tỉnh Đắk Nông 53
Hình 3.2: Đất hoang hóa trên nền kết von, đá ong huyện Đắk GLong, tỉnh Đắk Nông 53
Hình 3.3: Đất trống sau mùa vụ ở Krông Nô 57
Hình 3.4: Đốt rừng chuẩn bị canh tác ở Đắk Glong 57
Hình 3.5: Bản đồ tiềm năng suy thoái đất tỉnh Đắk Nông tỷ lệ 1: 100.000 63
Hình 3.6: Hiện trạng rừng thưa đã qua khai thác ở Cư Jút 69
Hình 3.7: Đất trồng, đồi núi trọc (trái) và rừng nghèo kiệt (phải) ở Đắk Glong 71
Hình 3.8: Bản đồ suy thoái đất hiện tại tỉnh Đắk Nông tỷ lệ 1: 100.000 72
Trang 8MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thoái hóa đất và hoang mạc hóa là vấn đề môi trường mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt, giải quyết nhằm phát triển bền vững nông nghiệp, đảm bảo
an ninh lương thực Thoái hóa đất là nguyên nhân chính dẫn đến hoang mạc hóa ở các vùng khô hạn, bán khô hạn và bán ẩm ướt, làm giảm năng suất cây trồng trên diện rộng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái Trước thực trạng đó, UNEP đã kêu gọi cần nghiên cứu ngăn ngừa thoái hoá đất
và hoang mạc hoá ở mỗi quốc gia và trên toàn cầu Sự thành công trong ứng phó với thoái hóa đất đòi hỏi phải hiểu rõ những nguyên nhân, các tác động và mức độ thoái hóa đất trong mối liên hệ với các yếu tố khí hậu, thổ nhưỡng, nước, thảm thực vật và hoạt động KT-XH Ở Việt Nam, “Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020” đã được ban hành Trong đó chỉ ra: nước ta có khoảng 9,34 triệu ha đất
bị thoái hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau tập trung ở Tây Bắc, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên
Đắk Nông là một trong 5 tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên nước ta, nằm hoàn toàn trên cao nguyên M’Nông rộng lớn, bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa núi cao với cao nguyên rộng lớn, dốc thoải, và các dải đồng bằng thấp trũng Chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của nhiệt đới ẩm gió mùa cận xích đạo, phân hóa thành hai mùa rõ rệt Tương tác giữa các thành phần địa lý tạo nên lớp phủ thổ nhưỡng đa dạng và có các quá trình suy thoái đất phức tạp Lớp phủ thổ nhưỡng hình thành từ quá trình phong hóa mạnh và triệt để, cộng với địa hình chủ yếu là đối núi dốc dẫn đến các quá trình laterit - bauxite, xói mòn - rửa trôi diễn ra mạnh mẽ dẫn đến suy thoái đất Mặt khác, các tác động gây ra suy thoái đất ngày càng phức tạp, từ tập quán du canh du cư đốt nương làm rẫy liên tục, chăn thả gia súc quá tải,… đến các hoạt động nhân tác qui mô lớn như: khai thác khoáng sản, canh tác nông nghiệp không hợp lý (phân bón,
Trang 9thuốc trừ sâu), chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp, đô thị hóa…
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng sử dụng đất, quy mô, mức độ suy thoái đất, cùng với các nguyên nhân và hậu quả của chúng là rất cần thiết Do đó tôi tiến hành chọn đề tài
luận văn: “Đánh giá suy thoái tài nguyên đất tỉnh Đắk Nông”
Đề tài được hỗ trợ, kế thừa của đề tài cấp Quốc gia: “Nghiên cứu ứng
dụng tổ hợp các giải pháp cải tạo, phục hồi hệ sinh thái khu vực bãi thải và khu khai thác khoáng sản nhằm ngăn ngừa hoang mạc hóa, sử dụng đất hiệu quả, bền vững vùng Tây Nguyên”, mã số: TN17/T04 thuộc Chương trình Tây Nguyên giai đoạn 2016-2020
2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Mục tiêu: Nghiên cứu đặc trưng địa lý phát sinh và thoái hóa đất, đặc điểm suy thoái đất tỉnh Đắk Nông Đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến suy thoái tài nguyên đất làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp sử dụng đất bền vững khu vực nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Tổng quan xây dựng về cơ sở lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu đánh giá suy thoái đất trong và ngoài nước cũng như tại tỉnh Đắk Nông
- Nghiên cứu, phân tích đặc điểm địa lý phát sinh, các quá trình hình thành và suy thoái đất tỉnh Đắk Nông;
- Đánh giá được hiện trạng và nguyên nhân suy thoái đất tỉnh Đắk Nông
- Đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng đất bền vững cho phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Đắk Nông
Trang 104 CƠ SỞ DỮ LIỆU
Cơ sở dữ liệu của đề tài bao gồm:
- Kế thừa và tham khảo tài liệu về nghiên cứu suy thoái đất trong nước
và nước ngoài; đặc biệt là các tài liệu của Chương trình Tây Nguyên 3 và Chương trình Tây Nguyên giai đoạn 2016-2020 về đánh giá suy thoái đất và các tài liệu có liên quan đến tỉnh Đắk Nông
- Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch KT-XH năm 2018 và mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp phát triển KT-XH năm 2019 của tỉnh Đắk Nông;
- Niên giám thống kê tỉnh Đắk Nông năm 2017;
- Hệ thống bản đồ tỷ lệ 1:100.000 gồm: Bản đồ địa hình tỉnh Đắk Nông; Bản đồ đất tỉnh Đắk Nông;
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 tỷ lệ 1: 100.000 tỉnh Đắk Nông
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu, đánh giá suy thoái đất nhằm đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên đất, hạn chế suy thoái
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn giúp cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách địa phương trong quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ môi trường, hạn chế suy thoái tài nguyên đất góp phần phát triển KT-XH theo hướng bền vững
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục chữ cái viết tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận trong nghiên cứu suy thoái tài nguyên đất Chương 2: Nghiên cứu đặc điểm phát sinh và suy thoái đất tỉnh Đắk Nông
Chương 3: Đánh giá suy thoái tài nguyên đất phục vụ đề xuất giải pháp
sử dụng đất bền vững tỉnh Đắk Nông
Trang 11CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU SUY
THOÁI TÀI NGUYÊN ĐẤT
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1 Khái niệm về đất và thoái hóa đất
“Đất (soil) là lớp mỏng trên cùng của bề mặt lớp vỏ Trái Đất (từ hàng chục centimet đến 1,5 – 2 mét, phần lớn được phủ bởi một kiểu thảm thực vật
và có thuộc tính về độ phì tự nhiên được hình thành bởi sự phát triển trong quá trình thành tạo từ lớp vỏ phong hóa dưới sự tác động đồng bộ và tổng hợp của không khí (khí quyển và khí trong vỏ phong hóa), khí hậu (đại, trung
và tiểu khí hậu), nước (nước mặt, nước ngầm và độ ẩm đất) và sinh vật Ngoài việc tạo thành từ các nguồn vật chất: rắn, lỏng và khí, thành phần sinh học giữ một vai trò quan trọng đối với thuộc tính hữu cơ và độ phì của đất.”
(A Ph Triosnhicôp, 1988 Bách khoa Toàn thư Địa lý)
Nền tảng khoa học của nghiên cứu đất được thực sự thiết lập bởi các công trình cổ điển của nhà Địa lý học người Nga, đó là V.V Docutraev (1879) Ông là người đầu tiên nghiên cứu về đất trong mối quan hệ với những quy luật phát sinh và hình thành đất Quan điểm đó của Docutraev là luận điểm cơ bản cho khái niệm phát sinh của đất Ông và các cộng sự cho rằng:
“Đất là một thể của tự nhiên có lịch sử riêng biệt và độc lập, được hình thành dưới tác động tương hỗ của các nhân tố như địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, chất hữu cơ động thực vật, con người và thời gian”
Đây có thể coi là định nghĩa đầu tiên phản ánh xác thực nguồn gốc hình thành đất, và nó đã được phát triển thành học thuyết phát sinh học đất trong suốt thế kỷ XX với các quy luật địa đới và phi địa đới Từ định nghĩa này, nên hiểu rằng đất được hình thành từ đá do sự biến đổi của nó theo thời gian, dưới tác động của sinh vật trong những điều kiện khác nhau của địa hình và khí hậu
Trang 12Định nghĩa đầy đủ về đất có thể biểu thị ở dạng hàm toán học, chỉ ra tính phụ thuộc hàm số của đất và các nhân tố hình thành đất theo thời gian như sau:
Đ = f [(Đa,Đh) (Kh,Tv) (Sv,Cn)]t
Trong đó:
Đ: Độ phì của đất trồng (độ phì hữu hiệu);
Đa: Nhóm đá mẹ mẫu chất (bao gồm cả vỏ phong hóa) hình thành đất; Đh: Địa hình hay nhóm địa mạo thổ nhưỡng hoặc kiểu hình thái địa hình với vai trò chi phối phân hóa năng lượng vật chất trong hình thành đất;
Kh: Các yếu tố sinh khí hậu hay khí hậu thổ nhưỡng ;
Tv: Thủy văn với vai trò của nước mặt, nước ngầm và nước trong đất; Sv: Sinh vật trong đó có vai trò của động thực vật, vi sinh vât trên mặt đất và trong đất;
Cn: Con người vừa có thể tác động làm thay đổi độ phì tự nhiên của đất, vừa tác động đến các yếu tố hình thành đất;
t: Thời gian được xét trong mối giao thoa của đại tuần hoàn vật chất và tiểu tuần hoàn sinh học tạo ra tuổi của đất
Bên cạnh đó, bản thân đất là một thể tổng hợp của tự nhiên, không nằm ngoài các quy luật của tự nhiên theo tiến trình thời gian đất cũng có quá trình phát sinh, quá trình phát triển và quá trình già hóa, thoái hóa mà nguyên nhân
có thể do tự nhiên hoặc do con người
Bên cạnh việc phân tích các quá trình hình thành, mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên với thổ nhưỡng, khoa học Đất ngày càng phát triển hơn với các nghiên cứu từ định tính, bán định lượng đến định lượng Con người cũng bắt đầu nhận thấy rằng ngoài quá trình phát sinh - phát triển, đất còn có dấu hiệu già cỗi, nghèo kiệt - hay còn gọi là thoái hóa Điều đó giải thích cho việc
vì sao năng suất cây trồng ngày càng suy giảm trên một vùng đất, hoặc sự
Trang 13xuất hiện những vùng đất không thể canh tác như trước đây hay những vùng đất bị sa mạc hóa… Từ những nhận thức ban đầu, sau đó là ý thức về việc phát hiện ra các vùng đất bị thoái hóa, các dạng thoái hóa đất và dấu hiệu nhận biết của nó… Trên cơ sở đó, những nghiên cứu sơ lược về đánh giá thoái hóa đất được triển khai để đưa ra các cảnh báo về vấn đề sử dụng đất, hướng đến cải tạo, bảo vệ đất Như vậy, nghiên cứu thoái hóa đất dần được
mở ra như một nhánh nghiên cứu trong khoa học Đất
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về thoái hoá đất, Lal và Stewart, 1995 cho rằng: Thoái hoá đất thường liên quan đến sự suy giảm chất lượng đất, gây
ra do sự lạm dụng và sử dụng không đúng cách của con người
Thoái hoá đất có thể được hiểu như là mức độ thay đổi theo chiều hướng xấu đi của chất lượng đất, kết quả là làm giảm khả năng sản xuất của đất do nguyên nhân chính là sự can thiệp của con người (UNEP, 1992)
Theo Oldeman - Ed (1991) đã định nghĩa: “Thoái hoá đất là quá trình làm giảm khả năng ở hiện tại hay trong tương lai của đất trong sản xuất hàng hoá hay cung cấp các dịch vụ” Thoái hoá đất có thể được hiểu như là mức độ thay đổi theo chiều hướng xấu đi của chất lượng đất, kết quả là làm giảm khả năng sản xuất của đất do nguyên nhân chính là sự can thiệp của con người (UNEP, 1992)
Theo Winkler (1968) trên quan điểm sinh thái học và môi trường thì đất đã được xem như một vật thể sống, vì trong đó nó có chứa nhiều các sinh vật: vi khuẩn, nấm, tảo, thực vật, động vật Do đó đất cũng tuân theo các quy luật sống
Phát sinh phát triển già cỗi thoái hoá
Nguyễn Đình Kỳ (1990) cho rằng: Sự suy thoái đất có thể xảy ra ngay trong giai đoạn phát sinh, phát triển hay chuyển hoá đất Trong giai đoạn phát sinh, phát triển thoái hoá đất thể hiện dưới dạng tiềm năng (gọi là thoái hoá tiềm năng) bị chi phối bởi các quá trình tự nhiên vốn có (trong đó có sự già
Trang 14hoá đất), chuyển hoá đất tự nhiên sang các dạng khai thác khác nhau của con người thường dẫn đến thoái hoá Thoái hoá hiện tại biểu hiện sự suy giảm từng yếu tố, tính chất đất hoặc thoái hóa toàn diện trong mỗi thời điểm
Đến năm 2002, FAO đã đưa ra khái niệm thoái hóa đất như sau: “Thoái hóa đất là sự suy giảm tạm thời hoặc vĩnh viễn khả năng sản xuất của đất”
Trong báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam 2005 cho rằng: “Đất bị thoái hoá là đất có độ phì nhiêu kém đi và mất cân bằng dinh dưỡng do bị rửa trôi, xói mòn, suy thoái hoá học (mặn hoá, phèn hoá), mất chất dinh dưỡng, mùn và các chất hữu cơ, đất bị chua, xuất hiện nhiều độc tố hại cây trồng, úng ngập, thoái hoá hữu cơ, đất bị trượt lở, hoang mạc hoá”
Từ những định nghĩa và khái niệm ở trên, tất cả đều nói đến sự suy giảm năng suất sinh học của đất, giảm độ che phủ của thực vật, giảm chất lượng và trữ lượng nguồn nước, suy thoái đất và ô nhiễm không khí Thoái hoá đất là hai mặt của quá trình phát triển, tiến hoá, dẫn tới làm giảm tiềm năng của nguồn tài nguyên đất
Trên thực tế những nguyên nhân thoái hoá đất rất đa dạng và phức tạp, gắn liền với các điều kiện phát sinh đất, có nơi thoái hoá thể hiện như một dạng thiên tai (thoái hoá tự nhiên) và có nơi khác chủ yếu do con người tác động vào (thoái hoá nhân tác)
Thoái hoá tự nhiên chính là thoái hoá tiềm năng còn thoái hoá nhân tác
là thoái hoá và ô nhiễm hiện tại do các hoạt động của con người gây ra
Thoái hoá tiềm năng được tổng hợp từ các yếu tố tác động vào quá
trình thoái hoá đất tự nhiên: độ dốc, chiều dài sườn, mẫu chất thành tạo đất, cấu trúc vỏ phong hoá (có tầng laterit, hay tầng phèn tiềm tàng), yếu tố khí hậu thổ nhưỡng (đặc tính mùa mưa tập trung hay khô hạn kéo dài) Độ nguy hiểm của thoái hoá tiềm năng được tính đến vị trí địa lý phát sinh đất như đỉnh sườn, thung lũng, vùng thượng lưu phân bố hay vùng trũng tích tụ Thoái
Trang 15hoá tiềm năng có thể coi là “thế năng” hay mức độ bền vững của phẫu diện phát sinh điển hình khi rơi vào tình trạng thoái hoá Thoái hoá tiềm năng được xác định bằng cường độ của các quá trình gây thoái hóa (mạnh, trung bình, yếu) như xói mòn, rửa trôi, mặn hoá, phèn hoá
Thoái hoá hiện tại là mức độ suy thoái độ phì hiện tại của phẫu diện đất
so với độ phì phát sinh tự nhiên do quá trình khai thác đất cho mục đích nông nghiệp, công nghiệp do huỷ hoại của chiến tranh, do các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, do quá trình đô thị hoá và sự suy thoái do sử dụng nhiều phân hoá học, thuốc trừ sâu ở đồng bằng Thoái hoá hiện tại thể hiện ở một tập hợp hay một dấu hiệu như: Phẫu diện bị xáo trộn, xói mòn mất tầng A hay B, độ đá lẫn, đá lộ đầu tăng, cấu trúc đất bị phá vỡ, xuất hiện mặt chắn địa hoá, hàm lượng mùn suy giảm, các chất dinh dưỡng (N, P, K, Ca, Mg ) cũng giảm xuống qua giới hạn nghèo kiệt Thoái hoá hiện tại được đo bằng tính chất của thoái hoá đất thông qua các tác nhân như vật lý, hóa học, cấu trúc, hay sinh học
1.1.2 Tài nguyên đất và vấn đề sử dụng đất bền vững
Đất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người Đất có hai nghĩa: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản xuất nông lâm nghiệp
Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chất humic 5%, không khí 20% và nước 35%
Vào cuối thế kỷ 20, trước nguy cơ suy giảm tài nguyên toàn cầu, cộng đồng quốc tế đã kêu gọi hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên đất nói riêng không phải vô tận Nó cũng
có giới hạn mức độ khai thác, nếu sự thay đổi vượt quá giới hạn sẽ dẫn đến
Trang 16mất khả năng tự điều chỉnh Đất bị thoái hoá, ô nhiễm, rửa trôi, bạc màu Nếu phân loại tài nguyên thiên nhiên theo khả năng tái tạo thì tài nguyên đất
là tài nguyên được tái tạo song rất chậm chạp Một tầng đất hoàn chỉnh cấu trúc phải trải qua hàng nghìn đến hàng triệu năm từ phong hoá đá mẹ đến đất Bởi vậy lớp vỏ thổ nhưỡng trên Trái Đất rất mỏng manh Đặc biệt là sự phát triển KT-XH, khai thác tài nguyên quá mức đã gây thảm hoạ cho môi trường nói chung và tài nguyên đất nói riêng Thoái hóa đất là một trong những nguyên nhân dẫn đến sa mạc hóa, hoang hoá và gia tăng đất trống đồi núi trọc Đó chính là sử dụng đất kém bền vững, làm cho môi trường thiên nhiên ngày càng bị suy thoái Vấn đề sử dụng đất bền vững đang là vấn đề cấp bách của nước ta và nhiều quốc gia trên thế giới Như vậy sử dụng đất bền vững chính là quá trình sử dụng đất không những đạt được hiệu quả kinh tế trước mắt mà còn không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái đất trong tương lai Hội khoa học Đất Việt Nam đã cụ thể hóa tiêu chí sử dụng đất bền vững đáp ứng các mặt sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: là sử dụng đất hợp lý sao cho cây trồng đạt năng suất, cao chất lượng tốt, được thị trường và mọi người chấp nhận Nghĩa
là sử dụng đất mang lại lợi nhuận cao;
- Bền vững về mặt môi trường: là sử dụng phải bảo vệ đất ngăn cản sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường thiên nhiên;
- Bền vững về mặt xã hội và nhân văn: là thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống con người
Như vậy, phát triển bền vững là việc quản lý, giữ gìn cơ sở của nguồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng các thay đổi về công nghệ và thể chế nhằm đạt và thỏa mãn nhu cầu của con người cho thế hệ ngày nay và cả cho mai sau Theo FAO, phát triển bền vững là áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp, có lợi ích lâu dài về mặt kinh tế và được xã hội chấp nhận nhằm duy
Trang 17trì, bảo vệ đất cùng các nguồn tài nguyên di truyền thực vật - động vật trên
nó, bảo vệ môi trường không khí xung quanh không bị huỷ hoại
1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU SUY THOÁI ĐẤT 1.2.1 Tổng quan nghiên cứu suy thoái đất và các giải pháp ngăn ngừa, cải tạo đất thoái hóa trên thế giới
Giai đoạn trước năm 2000: sau hội thảo quốc tế về thoái hóa đất (soil degradation) do FAO và UNEP năm 1979, các dự án đánh giá thoái hóa đất bắt đầu được tiến hành Một số kết quả đạt được là: Bản đồ thoái hóa đất tiềm năng khu vực Nam Phi và Trung Cận Đông tỷ lệ 1/5.000.000, xác định tiềm năng thoái hóa do xói mòn, mặn hóa, phèn hóa [5] Bản đồ thực trạng thoái hóa đất toàn cầu do nhân tác tỷ lệ 1/10.000.000 và vùng Mỹ La Tinh tỷ lệ 1/1.000.000 với 12 dạng thoái hóa đất được gộp thành 4 nhóm: xói mòn do nước; xói mòn do gió; thoái hóa hóa học; thoái hóa vật lý với mức độ thoái hóa đất gồm 4 cấp: nhẹ, trung bình, mạnh và rất mạnh [6] Năm nguyên nhân gây thoái hóa đất được xác định: chặt phá rừng và thay đổi thảm thực vật; chăn thả đại gia súc; canh tác nông nghiệp; khai thác cạn kiệt thảm thực vật cho nhu cầu sinh hoạt; hoạt động công nghiệp Dự án sử dụng đất và hoang mạc hóa vùng Địa Trung Hải (MEDALUS), xác định mức độ nhạy cảm với hoang mạc hóa, chia thành 4 loại: chất lượng đất (đá mẹ, độ dày tầng đất, độ dốc, hướng sườn); khí hậu (lượng mưa, mức độ khô hạn, sườn đón gió); thảm thực vật (nguy cơ cháy, tỷ lệ che phủ, biện pháp chống xói mòn và chống hạn, khả năng tự phục hồi) và mức độ quản lý (kiểu sử dụng đất, mức độ thâm canh, kỹ thuật làm đất, kiểm soát cháy rừng) [7] Dự án đánh giá thực trạng thoái hóa đất do nhân tác vùng Nam và Đông Nam Á (ASSOD) đã thành lập bản đồ thực trạng thoái hóa đất tỷ lệ 1/5.000.000 theo 4 mức độ: nhẹ, trung bình, mạnh và rất mạnh Kết quả đã chỉ ra 19 dạng thoái hóa, gộp thành 4 nhóm: xói mòn do nước (3 dạng), xói mòn do gió (3 dạng), thoái hóa hóa học
Trang 18(5 dạng), thoái hóa vật lý (8 dạng) [8] Dự án đánh giá thoái hóa đất vùng Trung và Đông Âu đã xây dựng bản đồ thoái hóa đất vùng Trung và Đông Âu
tỷ lệ 1:2.500.000 Thoái hóa đất được đánh giá ở 3 khía cạnh: dạng thoái hóa (xói mòn do nước, xói mòn do gió, thoái hóa hóa học và thoái hóa vật lý); mức độ thoái hóa (không đáng kể, thoái hóa nhẹ, trung mình, nặng và rất nặng); tác động của thoái hóa đến chức năng của đất [9]
Từ năm 2000 đến nay, dự án xây dựng hệ thống đánh giá và giám sát hoang mạc hóa (DeSurvey) đã đánh giá được thực trạng hoang mạc hóa và xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thoái hóa đất đai, đánh giá tính dễ bị tổn thương của các hệ thống sử dụng đất Hệ thống giám sát linh hoạt đã được thiết kế nhằm: (1) làm rõ quá trình hoang mạc hóa một cách hệ thống và năng động; (2) quan trắc và đánh giá thực trạng hoang mạc hóa, thoái hóa đất quy
mô lớn; (3) nhận thức đúng [10], [11] Từ 2002 - 2008, dự án đánh giá thoái hóa đất đai các vùng khô hạn ở 6 nước: Argentina, Trung Quốc, Cuba, Senegal, Nam Phi và Tunisia đã xây dựng: Hướng dẫn đánh giá thoái hóa đất cấp quốc gia; phần mềm thu thập dữ liệu cho đánh giá thoái hóa đất; hướng dẫn xác định và mô tả các chỉ tiêu đặc trưng thoái hóa đất quốc gia; phương pháp lập bản đồ hệ thống sử dụng đất phục vụ đánh giá thoái hóa; phương pháp đánh giá thoái hóa đất cấp địa phương [12], [13] Dự án hỗ trợ khung hành động đa quốc gia trong quản lý đất đai Trung Á cho thấy, các nước Trung Á bị tác động nghiêm trọng của hạn hán và hoang mạc hóa; khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp có tưới bị mặn hóa và lầy hóa [14]
Quan điểm chung về suy thoái đất toàn cầu trong bối cảnh hiện nay đó là: Suy thoái đất, suy giảm chất lượng đất do các hoạt động của con người là
đã trở thành vấn đề toàn cầu lớn trong thế kỷ 20 và sẽ vẫn là một vấn đề quan trọng trong thế kỷ 21 vì tác động bất lợi của nó đến năng suất nông nghiệp, sinh kế… Tầm quan trọng của suy thoái đất có thể được nâng cao hơn nữa do
Trang 19ảnh hưởng của nó đối với an ninh lương thực thế giới và chất lượng môi trường [7] Nhiều tổ chức nghiên cứu đã công bố và đi đến kết luận chung rằng tình trạng suy thoái đất đang ngày càng nghiêm trọng và cần thiết phải
có các chiến lược, biện pháp để cải thiện tình trạng này Các mối đe dọa đáng
kể nhất đối với tài nguyên đất trên thế giới được chỉ ra là: (1) Xói mòn (do gió
và nước), (2) Suy giảm độ phì (chất hữu cơ), (3) Mất cân bằng dinh dưỡng đất, (4) Nhiễm mặn, (5) Chai cứng bề mặt, (6) Mất đa dạng sinh học đất, (7)
Ô nhiễm đất, (8) Axít hóa, (9) Nén chặt đất, (10) Ngập úng [1]
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, thực trạng suy thoái đất ở một số vùng địa lý trên thế giới như sau: ở Bắc Mỹ bị suy thoái đất do nén chặt đất, nhiễm mặn, axit hóa và ô nhiễm bởi các hợp chất nhân tạo gây ra Nhưng xói mòn đất do gió và nước dẫn đến các tính chất vật lý bị suy giảm, mất chất dinh dưỡng và có thể dẫn đến hoang mạc hóa được cho là chiếm ưu thế Mức
độ mất SOM được ghi nhận bởi thực tế là ở Bắc Mỹ là nồng độ chất hữu cơ trong đất chỉ bằng khoảng 50% mức độ khi đất được chuyển đổi từ rừng hoặc thảo nguyên sang đất nông nghiệp [2] Ở Tây Âu, mức độ và nguyên nhân của suy thoái đất hóa học, vật lý và sinh học của đất rất khác nhau, nhưng nông nghiệp và lâm nghiệp là nguyên nhân chính Ở Đông Âu, thoái hóa đất đến từ nạn phá rừng, thay đổi khí hậu, sự định cư lâu dài của con người, lạm dụng đất nông nghiệp mà không có quy hoạch bền vững, các phương thức canh tác bảo thủ Một lần nữa, nguyên nhân chính của suy thoái đất là xói mòn do nước
và gió, suy giảm chất hữu cơ, nhiễm mặn, axit hóa, nén chặt đất [1],[1] Suy thoái đất ở Ấn Độ được ước tính sẽ ảnh hưởng đến 147 triệu ha Nguyên nhân
tự nhiên dẫn đến suy thoái đất là động đất, sóng thần, hạn hán, tuyết lở, lở đất, núi lửa phun trào, lũ lụt, lốc xoáy và cháy rừng Suy thoái đất do con người: giải phóng mặt bằng và phá rừng, canh tác nông nghiệp không hợp lý, quản lý kém nước thải và chất thải công nghiệp, chăn thả quá mức, quản lý rừng bất
Trang 20cẩn, khai thác bề mặt, phát triển đô thị, thương mại và công nghiệp Các biện pháp nông nghiệp không phù hợp bao gồm: làm đất quá mức, sử dụng máy móc nặng, sử dụng phân bón vô cơ mất cân đối, tưới tiêu kém, lạm dụng thuốc trừ sâu, lập kế hoạch chu kỳ cây trồng kém [4]
Bên cạnh việc xác định các nguyên nhân gây thoái hóa đất từ đó đánh giá thực trạng thoái hóa chi tiết và cụ thể cho từng quốc gia hoặc lãnh thổ, thì nghiên cứu thoái hóa đất hiện đại trên thế giới còn tập trung chủ yếu vào một
số khía cạnh sau:
- Đánh giá thoái hóa đất canh tác nông nghiệp nhấn mạnh đến các chỉ tiêu vật lý và dinh dưỡng đất như: CEC, OM, hàm lượng lân, kali, nitơ cũng như tầng dày đất, thành phần cơ giới… Thoái hóa đất dưới các loại hình cây trồng khác nhau thách thức sự bền vững của thâm canh nông nghiệp trong bối cảnh khan hiếm tài nguyên đất Điều này thể hiện trong một số công trình của các tác giả García-González và nnk (2018), Guillaume và nnk (2016) [13],[15]
- Thoái hóa đất trong mối quan hệ mật thiết với sự thay đổi lớp phủ thực vật và các loại hình sử dụng đất Thông tin chính xác về sử dụng đất và
sự thay đổi độ che phủ đất từ các loại hình sử dụng đất khác nhau đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định nguyên nhân, chính sách và chiến lược để làm chậm và đẩy lùi suy thoái đất Các nghiên cứu gần đây theo khía cạnh này đó là Karamesouti và nnk (2015), Mekonnen và nnk (2018) [16], [1]
- Đánh giá thoái hóa đất thông qua chỉ số chất lượng đất (SQI) hoặc phân tích đa chỉ tiêu Các phương pháp thống kê đa biến bao gồm phân tích thành phần chính và phân tích cụm được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của con người và tự nhiên đến chất lượng đất Điều đó thể hiện mối liên hệ giữa suy thoái đất và các yếu tố địa lý: độ dốc, độ cao, lượng mưa, nhiệt độ, bức xạ Mặt Trời… Một số công bố của các tác giả Bednár và Sarapatka (2018), Khaledian và nnk (2017), Nabiollahi và nnk (2018), Pulido
Trang 21và nnk (2017), Sione và nnk (2017) [3], [17], [19], [20], [21].
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu gần đây ở Trung Quốc, Nga và Australia đã chỉ ra rằng để đáp ứng nhu cầu của dân số đang có xu hướng mở rộng, cần thiết phải cải tạo đất bằng cách áp dụng các biện pháp quản lý đất đai và nông nghiệp bền vững Đây được cho là giải pháp tốt nhất để giảm thiểu và đảo ngược xu hướng suy thoái đất hiện nay Để giảm mất đất và tăng cường hệ sinh thái địa phương, chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích người dân giảm thiểu suy thoái đất do gió thông qua một loạt các chính sách và dự
án sinh thái Những biện pháp này bao gồm canh tác bền vững, thiết lập đai chắn gió và rào chắn dạng bàn cờ, trồng rừng Do đó, suy thoái đất ở nhiều vùng đất khô cằn miền Bắc Trung Quốc đang dần được kiểm soát Ở Nga, việc trồng trọt trên những vùng đất màu mỡ rộng lớn đã khiến một lượng đáng kể chất hữu cơ ban đầu trong đất bị mất đi và đất đã trở nên kém năng suất hơn từ nửa cuối thế kỷ 19 Các chương trình phục hồi tập trung vào việc trồng cây chắn gió đã được thực hiện để cải tạo và khắc phục đất bị thoái hóa Những việc làm này đã bảo vệ đất canh tác khỏi xói mòn do gió và nước, cải thiện vi khí hậu cho sự phát triển của cây trồng và cung cấp thêm môi trường sống cho động vật và thực vật hoang dã Suy thoái đất ở Úc cũng bị chi phối bởi xói mòn đất Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp canh tác nông nghiệp hiện đại đang làm giảm đáng kể tổn thất xói mòn [5], [14], [18]
Để phòng ngừa và khắc phục thoái hóa đất yêu cầu các giải pháp tích hợp từ việc kiểm soát tất cả các quá trình như: xói mòn do gió và nước, ô nhiễm, axit hóa, nhiễm mặn, suy giảm chất dinh dưỡng và chất hữu cơ trong đất Đối với đất nông nghiệp, các biện pháp bao gồm sử dụng cây che phủ và duy trì mật độ cây trồng thích hợp để giảm tác động của mưa, tăng khả năng giữ nước và tích trữ Cacbon Cuối cùng, việc giám sát liên tục tài nguyên đất
là cần thiết để ghi lại chiều hướng và mức độ thay đổi của tài nguyên đất
Trang 22Thông tin này rất cần thiết cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách Thông tin về các loại đất, đặc biệt là đất bị thoái hóa, phải được tích hợp với khí hậu Ngoài ra, với ba yếu tố về vật lý, hóa học và sinh học trong nghiên cứu đánh giá thoái hóa đất, mối quan hệ sinh học là phức tạp nhất và
ít được hiểu nhất Cho đến hiện nay, một số công cụ và kỹ thuật mới đã hoặc đang được phát triển để làm sáng tỏ các hệ thống phức tạp này
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu suy thoái đất ở Việt Nam
Từ năm 1975 đến nay công tác nghiên cứu đánh giá thoái hóa đất thực
sự được tiến hành một cách hệ thống bắt đầu những nghiên cứu phát sinh và thoái hóa đất phục vụ thực tiễn sản xuất Tiêu biểu là các nghiên cứu: Thoái hóa đất do xói mòn và các biện pháp chống xói mòn đất do mưa ở Tây Bắc; nghiên cứu định lượng xói mòn đất bằng việc xây dựng các trạm quan trắc xói mòn đất ở Gia Lai, Phú Thọ…[43] Nhiều kết quả quan trọng nghiên cứu các nhân tố gây xói mòn đất được đề cập; nghiên cứu xói mòn do gió có giá trị;
mô hình tính toán xói mòn; phân vùng xói mòn [43] Trong Chương trình Tây Nguyên 2, nghiên cứu về thoái hóa đất trên quan điểm tiếp cận địa lý tổng hợp
đã được tiến hành chi tiết Các yếu tố thoái hoá và dấu hiệu thoái hoá đã xác nhận đất bazan thoái hoá là một thực tế phổ biến trên Tây Nguyên Bản đồ thoái hóa tiềm năng và thoái hóa hiện tại đất bazan Tây Nguyên tỷ lệ 1: 250.000 đã được xây dựng Từ đó đánh giá và phân cấp thực trạng thoái hóa đất bazan Tây Nguyên, bước đầu đề xuất các giải pháp tổng hợp, sử dụng hợp
lý và cải tạo đất bazan thoái hóa Ngoài ra, còn có các công trình khẳng định sự
khác biệt của thoái hóa đất nhiệt đới: Đặc trưng địa lý phát sinh và thoái hóa đất trên các cao nguyên bazan nhiệt đới – ví dụ Tây Nguyên; Nghiên cứu giải pháp sử dụng hợp lý và bảo vệ đất phát triển trên đá bazan Tây Nguyên [34]
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 134 của Công ước Quốc tế về chống sa mạc hoá năm 1998 Là quốc gia tham gia Công ước, Việt
Trang 23Nam đã cam kết thực hiện các nghĩa vụ chung và triển khai các hoạt động thực hiện Công ước Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020 đưa ra mục tiêu: Khắc phục các nguyên nhân do con người gây ra sa mạc hoá, hình thành các giải pháp đề phòng, hạn chế quá trình sa mạc hoá do điều kiện tự nhiên; phục hồi tối đa các vùng đất đã bị sa mạc hoá, định canh định cư ở các vùng đất đã được phục hoá bảo đảm sự phát triển KT-XH của các vùng bị ảnh hưởng bởi sa mạc hóa đến năm 2020 hài hòa với các vùng khác trên cả nước Đồng thời, tại Hội
nghị "Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hoá" năm 2007 đã
nhấn mạnh: tiếp tục điều tra giám sát hiện trạng sa mạc hoá, hình thành cơ sở thống nhất về hạn hán - thoái hoá đất và hoang mạc hoá trên thực tế có mối quan hệ khăng khít, hạn hán kéo dài gây thoái hoá đất, sẽ dẫn đến hoang mạc hoá[55]
Nếu như từ trước đến nay, đất Việt Nam được nghiên cứu theo các hướng chính như: nông hóa thổ nhưỡng, môi trường đất, đánh giá phân hạng đất thì hiện nay nghiên cứu thoái hóa đất đã và đang trở thành một trường phái nghiên cứu được nhiều nhà Địa lý chú trọng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đứng trước nguy cơ hoang mạc hóa rất lớn, mà thoái hóa đất là một trong những nguyên nhân chính Cùng với sự trợ giúp hiệu quả của công nghệ viễn thám, các phần mềm xử lý, hiển thị, tính toán như: GIS, Mapinfo, các công trình thời kỳ này đã đi vào nghiên cứu theo chiều sâu với những vùng lãnh thổ đặc thù, từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp sử dụng đất bền vững
và cảnh báo hoang mạc hóa Các khía cạnh nghiên cứu thoái hóa đất khá đa dạng, đã được thể hiện trong nhiều công trình cũng như đề tài nghiên cứu
- Nghiên cứu thoái hóa đất tập trung vào các dạng thoái hóa điển hình ở Việt Nam như xói mòn đất, xâm nhập mặn, ô nhiễm đất Một số công trình gần đây theo hướng nghiên cứu này của Nguyễn Văn Dũng và Nguyễn Đình
Trang 24Kỳ (2012), Nguyễn Mạnh Hà và nnk (2013), Dương Thị Lịm và nnk (2018), Hoàng Thị Huyền Ngọc và nnk (2017) [31], [33], [40], [44]
- Nghiên cứu thoái hóa đất theo loại thoái hóa (ứng dụng ASSOD) gồm xói mòn, khô hạn, suy giảm độ phì, kết von, ô nhiễm, [42], [50] Kết quả đánh giá tổng hợp các loại thoái hóa đã phản ánh thực trạng thoái hóa đất làm căn cứ đề xuất giải pháp sử dụng đất hợp lý Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này chưa đề cập đến mối liên hệ giữa các loại thoái hóa và đưa ra dự báo thoái hóa đất theo không gian, đồng thời, yêu cầu nguồn dữ liệu ban đầu rất chi tiết Đánh giá thoái hóa đất theo ASSOD cũng là tiền đề cho “Quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất” ban hành năm 2012, cung cấp hướng dẫn về điều tra thống kê diện tích đất bị thoái hóa định kỳ hoặc theo cấp vùng, cấp tỉnh [24]
- Các quá trình thoái hoá đất ở nước ta diễn ra đa dạng, phức tạp tuỳ theo các vùng địa lý sinh thái khác nhau Thoái hoá đất vừa mang đặc điểm của điều kiện địa lý phát sinh vừa mang đặc điểm hoạt động khai thác của con người Vì vậy, cần nghiên cứu thoái hoá đất dưới góc độ địa lý tổng hợp Các công trình nghiên cứu chính được thực hiện theo hướng này bao gồm:
Nghiên cứu các quá trình thoái hoá đất Quảng Bình; Nghiên cứu quá trình thoái hoá đất tỉnh Quảng Trị; Nghiên cứu đánh giá và dự báo thoái hoá đất vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam [36], [37], [38]
- Nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa đất theo lưu vực sông hướng đến sử dụng, quản lý theo lưu vực và phòng tránh giảm nhẹ thiên tai được tiến hành trên nhiều lưu vực: sông Cầu, sông Ba, sông Kôn, sông Thu Bồn
Trong đó có một số công trình: “Nghiên cứu luận cứ khoa học cho các giải pháp phòng tránh lũ lụt lưu vực sông Ba” (2003), “Nghiên cứu địa lý phát sinh và thoái hóa đất lưu vực sông Lô, sông Chảy” (2004) [35]
- Thoái hóa đất là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến hoang mạc hóa Hoang mạc hóa là quá trình tiếp nối của thoái hóa đất ở Việt Nam
Trang 25và đặc biệt nhạy cảm ở vùng bán khô hạn như ở Ninh Thuận, Bình Thuận,
Điều này được khẳng định trong các công trình: Nghiên cứu tổng hợp thoái hóa đất, hoang mạc hóa ở Tây Nguyên; Nghiên cứu quản lý hạn hán và sa mạc hóa: Đồng bằng sông Hồng và Nam Trung Bộ; BĐKH với thoái hóa và hoang mạc hóa các tỉnh Trung Trung Bộ; Đánh giá tác động của BĐKH toàn cầu và hoang mạc hóa ở Nam Trung Bộ…[22], [25], [49], [52]
- Nghiên cứu thoái hóa đất Việt Nam và các biện pháp nhằm quản lý, cải tạo, phục hồi đất trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hoang mạc hóa gia
tăng: “Đất đồi núi Việt Nam - Thoái hóa và phục hồi”, Sử dụng bền vững đất miền núi và vùng cao ở Việt Nam, hay “Quản lý bền vững đất nông nghiệp: Hạn chế thoái hóa và phòng chống sa mạc hóa”, “Quản lý hạn hán, sa mạc hóa vùng Nam Trung Bộ trong bối cảnh BĐKH [26], [39], [45], [46]
- Ngoài ra, các nghiên cứu áp dụng các phương pháp đánh giá thoái hóa đất khác nhau như WOCAT, GIS-MCA hay viễn thám và GIS cũng đã được thực hiện Cụ thể là: thành lập bản đồ thoái hóa đất theo WOCAT của tác giả Nguyễn Quang Việt và nnk (2014) Tích hợp GIS và phân tích đa chỉ tiêu (MCA) thành lập bản đồ thoái hóa đất tiềm năng tỉnh Lâm Đồng tỷ lệ 1/100.000 với 4 cấp thoái hóa Công nghệ viễn thám và GIS trong Điều tra, đánh giá hiện trạng thoái hóa đất khu vực Điện Biên, Lai Châu [48], [51]
Các công trình nghiên cứu đánh giá thoái hóa đất và hoang mạc hóa trên đã được triển khai trong những năm gần đây ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào 2 vấn đề chính:
- Các điều tra cơ bản và đánh giá thực trạng thoái hóa đất và hoang mạc hóa
và tác động tới dân sinh, kinh tế, xã hội Nguyên nhân gây thoái hóa đất có rất nhiều, nhưng có thể chia thành hai nhóm chính là: Các nguyên nhân tự nhiên (xói mòn, rửa trôi, hạn hán ) và Các nguyên nhân từ con người (sử dụng đất đai không hợp lý, quản lý đất đai không phù hợp, do bom, đạn, chất
Trang 26độc dùng trong chiến tranh )
- Các giải pháp quản lý tổng hợp, qui hoạch khai thác sử dụng hiệu quả tài nguyên đất ngăn ngừa thoái hóa và hoang mạc hóa bao gồm: Giải pháp cải tạo, phục hồi tài nguyên; và các giải pháp công trình, phi công trình, công nghệ sinh học, công nghệ hóa học [55]
1.2.3 Tổng quan nghiên cứu suy thoái đất ở tỉnh Đắk Nông
Tài nguyên đất, vấn đề trọng tâm được đặt ra để nghiên cứu là suy thoái đất (thoái hóa đất và hoang mạc hóa), những nguy cơ thực trạng và đang xảy
ra trên quy mô rộng với tốc độ nhanh Tốc độ và quy mô thoái hóa đất dẫn đến hoang mạc hóa ngày nay đang ở mức báo động Chính vì vậy, vấn đề này
đã được Nhà nước và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Sau đây là một
số công trình nghiên cứu có liên quan đến tài nguyên đất ở tỉnh Đắk Nông
Những năm 1980, Nguyễn Đình Kỳ: nghiên cứu tổng hợp đất bazan thoái hóa vùng Tây Nguyên trên quan điểm địa lí tổng hợp đã nhận định: đất Tây Nguyên đã bị thoái hóa do sự xói mòn của tự nhiên và khai thác không hợp lý của con người
“Nghiên cứu một số giải pháp khoa học và công nghệ nhằm phát triển nông nghiệp bền vững trên đất dốc tại Đắk Nông” do Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ thực hiện (2012) Đề tài nghiên cứu đã xác định hệ thống canh tác phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững đất dốc ở địa phương
Công trình “Nghiên cứu xây dựng bản đồ thoái hóa đất tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông phục vụ sử dụng bền vững tài nguyên đất” của tác giả Lưu Thế Anh (2012) Kết quả đã xây dựng bản đồ thoái hóa đất tiềm năng tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông tỷ lệ 1/100.000 Đề tài xây dựng bản đồ chung cho cả 2 tỉnh đây cũng là một bất tiện cho việc sử dung riêng từng tỉnh và công trình cũng
là 1 trong những kết quả nghiên cứu của Chương trình Tây Nguyên 3 [55]
Trang 27“Thay đổi sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp ở tỉnh Đắk Nông giai đoạn 2000-2012” Việc tăng giảm đất sản xuất nông nghiệp và đất lâm nghiệp có mối tương quan chặt chẽ với nhau, các huyên có diện tích đất nông nghiệp tăng thì diện tích đất lâm nghiệp lại giảm Đề tài cũng tìm ra những nguyên nhân và đề xuất một số các biện pháp thiết thực sử dụng đất phù hợp cho địa phương Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập nhiều về vấn đề thoái hóa đất
Công trình nghiên cứu “Ứng dụng công nghệ GIS trong việc đánh giá thoái hóa đất tiềm năng, đề xuất giải pháp giảm thiểu, phục vụ quy hoạch phát triển bền vững khu vực Đắk Nông” (2012), đề tài đã xây dựng được mô hình tích hợp trong GIS các thông số đầu vào phục vụ cho việc thành lập bản đồ thoái hóa đất tiềm năng (hay bản đồ dự báo nguy cơ thoái hóa đất), tuy nhiên
đề tài chưa làm rõ một số vấn đề các tác động của các yếu tố do các hoạt động kinh tế xã hội dẫn đến thoái hóa đất như: vấn đề sử dụng phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, các hoạt động khai thác khoáng sản, quá trình đô thị hóa và hoạt động của các ngành công nghiệp,…
Đối với UBND tỉnh Đắk Nông, nhằm phục vụ công tác quản lí và sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lí đã có Kế hoạch số 202a/QĐ-UBND ngày 19/04/2017 của UBND tỉnh Đắk Nông về việc điều tra, đánh giá tài nguyên đất trên địa bàn tỉnh Đắk Nông Kết quả dự án điều tra đã thành lập Bản đồ thoái hóa đất thời kỳ đầu của tỉnh Đắk Nông, tỷ lệ 1: 100 000 và kèm theo Hướng dẫn quy trình kỹ thuật giảm thiểu thoái hóa đất theo loại hình và loại đất thoái hóa
Qua các nghiên cứu trên là toàn bộ các công trình đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho đề tài nghiên cứu một cách thiết thực Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu như trên, đề tài “Đánh giá suy thoái tài nguyên đất tỉnh Đắk Nông” đã xác định phương pháp luận, tiếp cận phân tích đánh giá
Trang 28suy thoái tài nguyên đất nhằm định hướng phục vụ đề xuất giải pháp sử dụng đất bền vững tỉnh Đắk Nông
1.3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu
1.3.1.1 Quan điểm Địa lý phát sinh và thoái hóa đất
Học thuyết phát sinh đất V.V Docutraev đưa ra năm 1883 đã được các nhà khoa học Nga và nhiều nước trên thế giới tiếp thu và hoàn thiện Sự tác động tổng hợp của các yếu tố tự nhiên và nhân tác như đá mẹ, địa hình, khí hậu, thủy văn, động thực vật và con người sẽ quyết định các quá trình hình thành các loại đất chính Mỗi vùng địa lý tự nhiên sẽ có quá trình hình thành đất khác nhau trên cơ sở của sự tác động tương hỗ giữa các nhân tố hình thành đất có tính đặc trưng riêng Phẫu diện đất thông qua dấu hiệu hình thái
là tấm gương phản ánh hoạt động của các quá trình hình thành đất
Vì vậy, việc nghiên cứu lớp vỏ thổ nhưỡng theo quan điểm nguồn gốc phát sinh phải được tiến hành nghiên cứu đồng bộ các nhân tố hình thành, phân tích sâu sắc tác động của từng yếu tố và tác động tổng hợp, tương hỗ giữa các yếu tố với sự hình thành đất nói chung, đối với tính chất và thành phần mỗi loại đất nói riêng Bên cạnh đó cần kết hợp với các quá trình hình thành đất đặc trưng, đặc điểm hình thái học và đặc tính lý hóa học của đất làm
cơ sở cho việc xây dựng hệ thống phân loại đất và thành lập bản đồ đất và bản
đồ thoái hóa đất phù hợp với đặc điểm của từng không gian lãnh thổ
1.3.1.2 Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống là quan điểm khoa học chung, phổ biến và là đặc trưng của địa lí học, có ý nghĩa quan trọng khi nghiên cứu địa tổng thể tự nhiên Trên quan điểm hệ thống xác định cấu trúc không gian, phân tích chức năng của các hợp phần, các yếu tố cấu tạo nên cấu trúc đứng và cấu trúc ngang của các thể tổng hợp tự nhiên trong quá trình trao đổi vật chất và năng
Trang 29lượng Quan điểm hệ thống cũng cho phép phân tích sự phân hóa lãnh thổ theo yếu tố động lực thành tạo qua đó tìm ra các mô hình thích ứng làm cơ sở cho dự báo biến động các thể tổng hợp tự nhiên
Áp dụng quan điểm này, các nghiên cứu đất trong một hệ thống có cấu trúc và chức năng của các hợp phần tự nhiên với những tác động qua lại, gắn kết với nhau giữa các nhân tố hình thành đất và thoái hóa đất
1.3.1.3 Quan điểm tổng hợp
Đất là tấm gương của cảnh quan và là hợp phần của địa tổng thể, là quan điểm chủ đạo, giữ vai trò kim chỉ nam cho mọi nghiên cứu địa lí mà các đối tượng được nằm trong tổng hòa các mối liên hệ giữa chúng với nhau Quan điểm này xem xét các yếu tố, quá trình phát sinh – thoái hóa đất là một
tổ hợp có tổ chức, giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau Sự tác động của con người vào một hợp phần hay bộ phận tự nhiên có thể thay đổi cả tổng thể Tuy nhiên, quan điểm này không yêu cầu nhất thiết phải nghiên cứu tất cả các thành phần mà có thể lựa chọn những nhân tố có vai trò chủ đạo, có tính chất quyết định đến các thuộc tính cơ bản nhất của tổng thể
Trên quan điểm tổng hợp, tác giả nghiên cứu suy thoái đất theo một số chỉ tiêu phù hợp và đại diện cho các thành phần tự nhiên theo cấu trúc thẳng đứng cũng như mối quan hệ giữa chúng bằng phương pháp phù hợp, thông qua việc lựa chọn và xử lý chỉ tiêu đại diện cho các thành phần như: địa chất (đá mẹ), địa hình, khí hậu, thủy văn, tính chất lớp phủ thổ nhưỡng (lý học, hóa học đất…), thảm thực vật…
1.3.1.4 Quan điểm sử dụng đất bền vững
Sử dụng đất bền vững đang là vấn đề cấp bách của nước ta và nhiều nước trên thế giới Thực chất, sử dụng đất bền vững chính là quá trình sử dụng đất đạt được hiệu quả kinh tế cao, mặt khác giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường sinh thái đất trong tương lai.
Trang 30Từ quan điểm phát triển bền vững trên ta thấy, sự phát triển bền vững đòi hỏi phải có đủ ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Vận dụng quan điểm này, trong đánh giá suy thoái tài nguyên đất tỉnh Đắk Nông, luận văn không chỉ dựa vào đặc điểm của tài nguyên đất, tiềm năng tự nhiên của chúng mà còn xem xét đến hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và môi trường kết hợp với hiện trạng sử dụng đất cũng như phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từ đó đề xuất sử dụng hợp lý tài nguyên đất
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
1.3.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý số liệu, tài liệu
Thu thập, kế thừa các tài liệu, số liệu phân tích, các bản đồ chuyên đề
về các điều kiện tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật) có liên quan đến đề tài Tất cả các nguồn số liệu, tài liệu có liên quan đến đối tượng và lãnh thổ nghiên cứu đã được tác giả kế thừa, tiếp cận và vận dụng trong nghiên cứu đề tài Trên cơ sở những tài liệu thu thập được, việc chọn lọc và xử lí sẽ giúp định hình tài liệu toàn diện và khái quát chủ đề nghiên cứu
- Phân tích tổng hợp dữ liệu: Phương pháp này được sử dụng ở giai đoạn trong phòng giúp làm rõ cơ sở lý luận và các hướng cũng như các công trình nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong đề tài Việc phân tích và tổng hợp các tài liệu và các công trình nghiên cứu trước đó giúp tránh trùng lặp trong nghiên cứu, thừa kế các kết quả nghiên cứu trước
đó theo hướng nghiên cứu của đề tài
- Nguồn số liệu xây dựng bản đồ suy thoái đất tiềm năng: đánh giá đặc điểm tự nhiên của vùng nghiên cứu Phân cấp chỉ tiêu suy thoái của các đặc điểm tự nhiên: độ dốc, tầng dày đất, địa hình, địa mạo, khí hậu…
- Nguồn số liệu xây dựng bản đồ suy thoái đất hiện tại: Đặc điểm lý hóa học của các nhóm đất ở một số phẫu diện đất điển hình để làm rõ đặc điểm
Trang 31thổ nhưỡng ở các vùng đất bị suy thoái Phân cấp chỉ tiêu thực vật trên cơ sở chiết tách từ bản đồ thảm thực vật và hiện trạng sử dụng đất
- Nguồn số liệu về hiệu quả KT-XH của các mô hình sử dụng đất hiệu quả cung cấp thêm cơ sở để đề xuất sử dụng bền vững tài nguyên đất tỉnh Đắk Nông
1.3.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Đây là phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học địa lí Trong quá trình thực địa, đặc điểm của các yếu tố liên quan tới quá trình thoái hóa đất đều được quan sát và ghi chép lại đầy đủ Với việc khảo sát theo tuyến, các yếu tố tự nhiên, yếu tố KT-XH, đặc biệt chú ý các loại hình sử dụng đất của khu vực nghiên cứu được đánh giá một cách tổng hợp để từ đó tìm ra những nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái đất và đề xuất các biện pháp
sử dụng đất ở địa phương cho phù hợp
1.3.2.3 Phương pháp bản đồ và GIS
Việc ứng dụng các phần mềm bản đồ cùng các phép phân tích không gian trong môi trường GIS và thể hiện trên các bản đồ kết quả rất hữu ích trong việc trợ giúp công tác ra quyết định Để phân tích định lượng và xác định sự biến đổi không gian của các yếu tố địa lý phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề tài, tác giả đã sử dụng các phần mềm GIS và phần mềm bản đồ chuyên dụng như: phần mềm MapInfo 10.5 - biên tập các bản đồ thành phần như: bản đồ địa chất, hiện trạng sử dụng đất, bản đồ đất…; ArcGIS 9.3
để chồng xếp, nắn chỉnh các bản đồ trong quá trình thành lập bản đồ thoái hóa đất tiềm năng, thoái hóa đất hiện tại và tổng hợp thoái hóa đất
Bản đồ suy thoái đất được thành lập dựa trên các nguyên tắc địa lí phát sinh, đồng nhất tương đối và yếu tố trội Bản đồ kết hợp phân tích trong phòng thí nghiệm và khảo sát thực địa kết hợp nghiên cứu và phân tích các yếu tố địa lí có liên quan Bản đồ suy thoái đất có 3 loại: bản đồ suy thoái đất
Trang 32tiềm năng, bản đồ suy thoái đất hiện tại và bản đồ thực trạng suy thoái đất (đánh giá tổng hợp suy thoái đất) Đây là những bản đồ có ý nghĩa lớn đối với
sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường đất Trong luận văn này, học viên chỉ tiến hành thành lập 02 loại bản đồ: Bản đồ suy thoái đất tiềm năng và bản
đồ suy thoái đất hiện tại
1.3.2.4 Phương pháp tham vấn chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp mang lại những phản hồi có giá trị, bám sát nhất vào đề tài nghiên cứu dựa trên những nhận định, phân tích, đánh giá, phản hồi từ việc tác giả đã tiếp xúc và trao đổi với cán bộ quản
lý địa phương, người dân địa phương ở các điểm khảo sát nhằm thu thập nhanh thông tin về tình hình sử dụng tài nguyên, tình hình sản xuất, hoạt động KT-XH địa phương Các thông tin thu thập, chọn lọc phù hợp với mục đích nghiên cứu, bổ sung cho luận văn Nhờ có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan
từ các nhân chứng mà đề tài mang tính ứng dụng chân thực hơn
Việc trao đổi trực tiếp với các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu suy thoái tài nguyên đất, giúp cho luận văn có cái nhìn nhận đánh giá về suy thoái tài nguyên đất tỉnh Đắk Nông một cách toàn vẹn và hoàn chỉnh trong một tổng thể Từ đó đưa ra những giải pháp quản lí, sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lí nhất và bền vững nhất
Trang 33CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ PHÁT SINH
VÀ SUY THOÁI ĐẤT TỈNH ĐẮK NÔNG
2.1 PHÂN TÍCH CÁC ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH VÀ SUY THOÁI ĐẤT 2.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Đắk Nông được thành lập từ năm 2004, trên cơ sở tách ra từ tỉnh Đắk Lắk Đắk Nông nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây Nguyên, đoạn cuối của dãy Trường Sơn Về vị trí địa lý, Đắk Nông nằm trong khoảng tọa độ địa
lý từ 11045’ đến 12050’ vĩ độ Bắc và 107013’ đến 108010’ kinh độ Đông
- Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk;
- Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng;
- Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước;
- Phía Tây giáp Vương quốc Campuchia, với đường biên giới dài 130 km Đắk Nông có tổng DTTN 650.927 ha, gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã (Cư Jút, Đắk Mil, Krông Nô, Đắk Song, Đắk R'lấp, Tuy Đức, Đắk GLong và TX Gia Nghĩa) với rất nhiều dân tộc anh em sinh sống
Đắk Nông là tỉnh nằm trong khu vực tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia Nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Tây Nguyên, Đắk Nông
có quốc lộ 14 nối với các tỉnh phía Bắc của Tây Nguyên và các tỉnh miền Đông Nam Bộ; có quốc lộ 28 nối với Lâm Đồng, Bình Thuận và các tỉnh Nam Trung Bộ Vị trí địa lý trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Đắk Nông mở rộng giao lưu với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và duyên hải Miền Trung, tăng cường liên kết giữa Đắk Nông với các tỉnh để mở rộng thị trường cho các sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao của tỉnh
Trang 34Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Đắk Nông Nguồn: UBND tỉnh Đắk Nông
2.1.2 Đặc điểm địa chất, địa hình
2.1.2.1 Đặc điểm địa chất
a Lịch sử hình thành lãnh thổ
Trang 35Đắk Nông là một phần mảng thạch quyển Đông Dương kiến tạo trong giai đoạn Proterozoi muộn-Mezozoi Từ cuối Mioxel sang đầu Neogen thuộc
kỷ Đệ tứ của Kainozoi (cách đây khoảng 25 triệu năm) do tác động của các chuyển động kiến tạo, bề mặt cổ được nâng cao tạo thành các khối cao nguyên ở Tây Nguyên, trong đó có khối cao nguyên Đắk Nông Mặt khác, địa khối cổ bị phá vỡ, tạo nên những địa hào lớn và sau đó được lấp đầy bởi trầm tích thuộc Thống Neogen ở đầu kỷ Đệ tứ
Từ giữa kỷ Đệ tứ các chuyển động kiến tạo xảy ra mạnh làm nứt nẻ Trái Đất khá sâu, khiến cho núi lửa hoạt động mạnh, phun ra các lớp phủ bazan dày từ 100-30 0m Các dung nham đã lấp đầy các chỗ trũng của bề mặt địa hình cũ tạo nên bề mặt cao nguyên Đắk Nông như ngày nay
b Đặc điểm đá mẹ, mẫu chất
Tham gia vào cấu trúc địa chất lãnh thổ tỉnh Đắk Nông có mặt khá đa dạng các thành tạo trầm tích, trầm tích biến chất và phun trào có tuổi từ Proterozoi đến Kanozoi Cấu tạo địa chất tỉnh Đắk Nông bao gồm các nhóm
đá như sau:
- Nhóm đá macma acid và biến chất: phân bố huyện Cư Jút và phần ít phía Bắc huyện Đắk Mil, thuộc vỉa phía Tây nam của hệ tầng Ea Súp (J2es), chủ yếu là macma xâm nhập (granite), biến chất cổ (gơnai) và xen lẫn với ít trầm tích lục địa (cát bột kết)
- Nhóm đá macma bazơ: bao gồm chủ yếu các thành tạo phun trào bazalt tuổi Neogen-Pleitocen (N2-QI), thuộc hệ tầng đèo Bảo Lộc (J3đbl), tập trung chủ yếu ở các huyện Đắk Mil, Đắk Song, Đắk Nông và Đắk R’lấp Thành phần thạch học gồm andesit, andesitodacit, dacit, có nơi xen các lớp cuội kết tuf, cát kết tuf, và ít lớp mỏng silic
- Nhóm đá trầm tích: chủ yếu trầm tích lục nguyên, bao gồm các loại đá chủ yếu là phiến sét và đá cát, phân bố chủ yếu các vùng núi cao và trung
Trang 36bình các huyện Krông Nô, Đắk Nông và một ít phía Nam huyện Đắk R’lấp
- Nhóm trầm tích bở rời: bao gồm chủ yếu sản phẩm bồi tích từ sông giáp ranh với tỉnh Đắk Lăk và các sản phẩm dốc tụ hình thành do quá trình bào mòn xâm thực, tích đọng lại ven các suối nhỏ, chân đồi, thung lũng
Như vậy, tính chất lý hóa học của đất, sự phân bố các loại đất và các tính chất khác của đất gắn liền với tính chất và sự phân bố của các đá mẹ, mẫu chất Mỗi loại mẫu chất có thành phần, cấu trúc khác nhau sẽ quyết định
sự khác nhau về thành phần cấu trúc của phẫu diện đất
2.1.2.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Tỉnh Đắk Nông nằm trọn trên khối cao nguyên cổ Đắk Nông - Đắk Mil,
độ cao so với mặt nước biển từ 160 m (ở phía Bắc) và gần 1.980 m (phía Tây Nam) Địa hình cao dần từ Bắc xuống Nam, Đông Bắc - Tây Nam, có thể chia thành 3 dạng chính:
- Địa hình cao nguyên: phân bố trên cao nguyên bazan khu vực trung tâm và Tây Nam Độ cao khoảng 600 m đến gần 1.980 m, thuộc địa bàn các huyện Đắk Mil, Đắk Song, Thị xã Gia Nghĩa, huyện Tuy Đức và Đắk R’lấp Đỉnh cao nguyên ít dốc, sườn cao nguyên rất dốc, chia cắt mạnh Thảm thực vật chủ yếu là rừng trung bình, cây trồng, thảm cỏ, cây bụi
- Địa hình gò đồi: phân bố ở khu vực phía Bắc Độ cao 160- 600 m thuộc địa bàn huyện Cư Jút và Krông Nô Đá mẹ chủ đạo là đá bazan, có ít đá mẹ biến chất và đá sét Đá sét và biến chất phân bố ở chân và sườn dốc, phía trên
Trang 37su, tiêu, cây ăn trái và hoa màu, nơi độ dốc lớn khoanh nuôi bảo vệ rừng Nhóm đất phù sa (P), đất xám (X), đất đen (R) và đất thung lũng ở dạng địa hình bằng thấp sử dụng trồng cây lương thực, đậu đỗ và cây công nghiệp hàng năm, nơi độ dốc cao, tầng mỏng trồng hoặc khoanh nuôi bảo vệ rừng
2.1.3 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu tỉnh Đắk Nông vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng Khí hậu có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng
kể
Lượng mưa trung bình năm từ 2.200-2.400 mm, lượng mưa cao nhất 3.000 mm Tháng mưa nhiều nhất vào tháng 8, 9; mưa ít nhất vào tháng 1, 2 Tháng 8 có lượng mưa cao nhất khoảng 550 mm Lượng mưa bình quân năm
là 2.735 mm Lượng mưa bình quân năm cao nhất là 3.098 mm, thấp nhất là 2.362 mm Lượng mưa cao, lại khá tập trung nên dễ gây ra xói mòn, rửa trôi
và lũ lụt nếu diện tích rừng không đảm bảo cho việc phòng hộ đầu nguồn
Độ ẩm không khí trung bình 84% Độ ẩm tương đối trung bình tháng thấp nhất 71%, cao nhất là 93% Độ bốc hơi mùa khô 14,6-15,7 mm/ngày, mùa mưa 1,5-1,7 mm/ngày
Nhiệt độ trung bình năm 22-230C, nhiệt độ cao nhất 350C, tháng nóng nhất là tháng 4 Nhiệt độ thấp nhất 140C, tháng lạnh nhất vào tháng 12 Tổng
số giờ nắng trong năm trung bình 2.000-2.300 giờ Tổng tích ôn cao, rất phù hợp với phát triển các cây trồng nhiệt đới lâu năm
Hướng gió chủ yếu mùa mưa là Tây Nam, hướng gió chủ yếu mùa khô
là Đông Bắc, tốc độ gió bình quân 2,4 - 5,4 m/s và hầu như không có bão nên không gây ảnh hưởng đối với các cây trồng như cà phê, cao su, tiêu,…
Như vây, tài nguyên khí hậu chủ yếu vùng sản xuất nông nghiệp tỉnh
Trang 38Đắk Nông khá phong phú, chế độ nhiệt thích hợp và nhiệt độ, ánh sáng tương đối đều quanh năm Tuy nhiên, khí hậu trong năm có hai mùa là mùa khô và mùa mưa tương đối rõ ràng: Mùa mưa kéo dài 7 tháng từ tháng 4 đến hết tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến hết tháng 3 năm sau Mùa khô tổng lượng mưa chỉ chiếm khoảng 8 - 10% lượng mưa cả năm nên nhiều vùng khô hạn gay gắt, đặc biệt ở khu vực huyện Cư Jút và một số xã phía Bắc huyện Krông
Nô Mặt khác, mùa khô gió thường lớn cấp 4 - 5 nên ảnh hưởng lớn đến một
số cây trồng Mùa mưa, lượng mưa chiếm 90% lượng mưa cả năm, cung cấp
đủ nước cho sản xuất Tuy nhiên, những tháng mưa tập trung (tháng 7, 8, 9) gây xói mòn, rửa trôi, một số khu vực bị sạt lở, lũ quét ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống
Chính nền khí hậu đặc trưng đã tạo điều kiện cho khu vực phát triển một nền nông nghiệp đặc thù với những tập đoàn cây trồng dài ngày, đặc biệt
là cà phê, hồ tiêu, cao su, điều Tuy nhiên, lượng mưa lớn, lượng nhiệt cao kết hợp điều kiện địa hình núi cao dốc đã góp phần thúc đẩy một số quá trình phát triển đất theo hướng bất lợi xảy ra như rửa trôi, xói mòn và khoáng hóa nhanh các hợp chất hữu cơ trong đất
2.1.4 Đặc điểm thủy văn
Hệ thống sông suối của Đắk Nông dày đặc và phân bố tương đối đều khắp Các sông chính chảy qua địa phận tỉnh gồm hai hệ thống sống chính là: Sông Sêrêpôk do hai nhánh sông Krông Nô và Krông Na hợp lưu Do kiến tạo địa chất phức tạp, lòng sông trở nên hẹp và dốc nên tạo ra các thác nước lớn hùng vĩ, vừa có cảnh quan thiên nhiên đẹp, vừa có tiềm năng thủy điện như các thác: Trinh Nữ, Dray H'Linh, Gia Long, Đray Sap Thượng nguồn sông Đồng Nai gồm nhiều sông suối ở Đắk Nông là thượng nguồn như: Suối Đắk Rung, Đắk Nông, Đắk Bukso, ĐắkR'Lấp, Đắk R'Tih …
Các suối trên hầu hết có nước quanh năm, một số suối lượng nước lớn,
Trang 39có khả năng xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện với nhiều quy mô khác nhau phục vụ cho sản xuất và đời sống Trên địa bàn còn có nhiều hồ như: hồ Trúc, hồ Ea Tlinh, hồ Tây, hồ Đắk Rông,
Nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh Đắk Nông không nhiều Hệ thống sông suối phân bố tương đối đều, lượng mưa bình quân 2.000 mm/năm, lượng nước vào dòng chảy các sông suối rất lớn Tuy nhiên, do lượng mưa phân bố không đều theo thời gian và không gian, địa hình dốc, chia cắt phức tạp, khả năng giữ nước kém nên mùa mưa gây ngập úng cục bộ một số vùng ven sông Krông Nô (tháng 9-10), Krông Ana (tháng 10-11), đồng thời gây thiếu nước
cho một số khu vực trong mùa khô
Nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông không nhiều và không đều giữa các khu vực Khu vực phía Nam và trung tâm tỉnh nước ngầm thuộc loại trung bình và nghèo, lưu lượng các lỗ khoan khai thác và thăm dò phổ biến từ 1- 2 l/s, phù hợp khai thác nước phân tán và cấp nước cho các khu dân
cư Khu vực phía Bắc và Đông Bắc tỉnh nguồn nước ngầm nghèo, thậm chí rất nghèo, trừ một vài điểm xuất lộ cá biệt
Cùng với các yếu tố tự nhiên, thủy văn và hoạt động của nó đã tác động đến lớp vỏ thổ nhưỡng một cách mạnh mẽ Bên cạnh vai trò vận chuyển, phân bố lại vật chất, quan trọng là việc thúc đẩy quá trình thành tạo đất hoặc tạo ra những vùng đất phù sa màu mỡ thì quá trình nước chảy tràn bóc đi lớp
vỏ thổ nhưỡng, làm lộ trơ đá gốc, quá trình xâm thực rửa trôi của nước chia cắt lớp vỏ thổ nhưỡng, làm nghèo chất khoáng và làm chua đất Mạng lưới thủy văn có lưu lượng nước phong phú là điều kiện thuận lợi, đáp ứng yêu cầu về nước của ngành nông nghiệp
2.1.5 Đặc điểm lớp phủ thực vật
Theo hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng, tham khảo kết quả công
bố của Phan Kế Lộc [41] và nhiều công trình nghiên cứu tài nguyên rừng
Trang 40khác, thảm thực vật rừng ở đây được phân thành các loại chủ yếu sau:
- Rừng rụng lá: đây là kiểu rừng trên nhóm đất xám giữ nước kém, khí
hậu khô nóng khắc nghiệt, lượng mưa thấp Phân bố tập trung ở huyện Cư Jút Thành phần chủ yếu cây họ Dầu (Dipterocarpacea) rụng lá hàng năm, thường
gặp nhất là các loài dầu Trà beng (Dipterocarpus obtusifolus Teysm), dầu Đồng (Dipterocarpus tuberculatus Roxb),
- Rừng gỗ giàu cây lá rộng thường xanh: chiếm diện tích khá lớn, tập trung ở các huyện Krông Nô, Đắk R’lấp, Đắk Mil, Đắk Song và ven các thung lũng Thảm thực vật có nhiều tầng với các loài ưu thế như Dẻ, Trâm, Giổi xanh, Sao, Giáng hương, Gõ mật, Trắc, Kiền kiền, độ che phủ lớn, tầng thảm mục dày, đất tơi xốp
- Rừng hỗn giao tre nứa: phân bố khá tập trung ở Đắk Song, Đắk R’lấp,
Cư Jút Thành phần chủ yếu là các loài họ tre, nứa, le và họ dầu
- Rừng gỗ giàu cây lá rộng thường xanh và nửa rụng lá: phát triển trên
các loại đất nâu đỏ, đỏ vàng trên bazan, phù sa cổ của kiểu khí hậu nóng, hơi
ẩm Đây là loại đất tốt và địa hình khá bằng phẳng nên rừng đã bị khai thác để trồng cà phê, cao su, tiêu, Tuy nhiên, cũng thấy thành phần loài ưu thế là Săng lẻ, Trà beng, Cẩm lai, Trâm, Sồi
- Rừng nghèo cây lá kim: có diện tích rất nhỏ, không đáng kể, phân bố
ở khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và Tà Đùng (huyện Đắk Glong)
- Rừng thưa cây lá rộng nhiệt đới hơi ẩm: kiểu thảm rừng này có diện tích khoảng 41.000 ha Phân bố tập trung ở huyện Cư Jút, Đắk Mil, Krông Nô
- Rừng gỗ giàu hỗn giao cây lá rộng lá kim: kiểu rừng này có diện tích khoảng 17.000 ha; phân bố tập trung ở huyện Đắk Song, Đắk Glong
- Rừng gỗ nghèo hỗn giao cây lá rộng lá kim: diện tích rất nhỏ, không đáng kể, phân bố ở xã Đắk P’lao, huyện Đắk Glong
- Rừng giàu cây lá kim: diện tích nhỏ, khoảng 3.000 ha; phân bố tập