Để thực hiện điều này, cần chú ý đến vai trò của hiệp hội nghề nghiệp, cũng như các trường đại học, các trung tâm đào tạo trong việc giới thiệu, phổ biến, hướng dẫn việc vận dụng các côn
Trang 1NGUYỄN THỊ THU VÂN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG
KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của TS Đỗ Huyền Trang Các nội dung nghiên cứu, kết quả
trong đề tài này là trung thực và chưa công bố bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Bình Định, ngày tháng năm 2019 Tác giả luận văn
Trang 3Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến
TS Đỗ Huyền Trang - người hướng dẫn khoa học cho tôi, đã định hướng đề tài,
trực tiếp hướng dẫn và có những góp ý quý báu giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô của Trường Đại học Quy Nhơn đã giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý giá làm nền tảng để thực hiện Luận văn này
Đồng thời, Tôi xin chân thành Cảm ơn Quý Thầy, Cô phòng Sau đại học Trường Đại học Quy Nhơn đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành các thủ tục liên quan đến luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các anh, chị và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp các tài liệu, thảo luận giúp tôi hoàn thiện các thang đo, phiếu khảo sát và dành thời gian để tham gia và trả lời phiếu khảo sát
Sau cùng, Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và tạo chỗ dựa vững chắc cho tôi trong suốt quá trình học và có được kết quả nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn
Bình Định, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các đề tài nghiên cứu 3
2.1 Nghiên cứu trong nước 3
2.2 Nghiên cứu nước ngoài 8
3 Mục tiêu nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa của đề tài 12
7 Cấu trúc đề tài 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 13
1.1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp 13
1.1.2 Tiêu chí mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp 14
1.2 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 15
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Kế toán quản trị 15
1.2.2 Khái niệm về Kế toán quản trị 18
1.2.3 Chức năng của Kế toán quản trị 20
1.2.4 Nội dung của Kế toán quản trị 23
1.3 CÁC LÝ THUYẾT NỀN LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN 23
1.3.1 Lý thuyết bất định 23
Trang 5CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32
2.1.1 Mô hình nghiên cứu 32
2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 33
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 40
2.2.1.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 40
2.2.2 Thiết kế bảng câu hỏi 46
2.2.3 Thu thập dữ liệu và phương pháp lấy mẫu 47
2.2.3.1 Thu thập dữ liệu 47
2.2.3.2 Phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu 47
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
3.1 MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 53
3.2 KIỂM ĐỊNH ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO 53
3.2.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha đối với biến phụ thuộc Mức độ vận dụng kế toán quản trị 54
3.2.2 Kiểm định Cronbach’s Alpha đối với các biến độc lập 55
3.3 PHÂN TỐ NHÂN TỐ KHÁM PHÁ (EFA) 59
3.3.1 Kết quả phân tích nhân tố các biến độc lập 59
3.3.2 Kết quả phân tích nhân tố đối với biến phụ thuộc 61
3.4 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN 62
3.5 PHÂN TÍCH HỒI QUY 64
3.6 THẢO LUẬN KẾT QUẢ HỒI QUY 66
CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 69
4.1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 69
Trang 6KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 7ANOVA: One way Anova
Phân tích phương sai một yếu tố EFA: Exploratory Factor Analysis
Phân tích nhân tố khám phá CFA: Confirmatory Factor Analysis
Phân tích nhân tố khẳng định SPSS: Statistical Package for the Social Sciences
Phần mềm thống kê dành cho khoa học xã hội định lượng DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
KTQT: Kế toán quản trị
KTQTCL: Kế toán quản trị chất lượng
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8Hình 1.1 Mô hình chức năng của kê toán quản trị 20 Hình 2.1 Mô hình đề xuất các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định 33 Hình 2.2 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 39
Trang 9Bảng 1.1 Các giai đoạn phát triển của kế toán quản trị 16
Bảng 2.1 Thang đo Mức độ vận dụng KTQT 42
Bảng 2.2 Thang đo mức độ phân quyền 43
Bảng 2.23 Thang đo Nhận thức về kế toán quản trị của Ban lãnh đạo 43
Bảng 2.4 Thang đo Trình độ của nhân viên kế toán 44
Bảng 2.5 Thang đo Sự hỗ trợ của ban lãnh đạo 45
Bảng 2.6 Thang đo Văn hóa tổ chức 46
Bảng 3.1 Cronbach’s Alpha đối với biến Mức độ vận dụng KTQT 54
Bảng 3.2 Cronbach’s Alpha đối với biến Mức độ phân quyền 55
Bảng 3.3 Cronbach’s Alpha đối với biến Nhận thức về kế toán quản trị của Ban lãnh đạo 56
Bảng 3.4 Cronbach’s Alpha đối với Trình độ của nhân viên kế toán 57
Bảng 3.5 Cronbach’s Alpha đối với biến Sự hỗ trợ của ban lãnh đạo 57
Bảng 3.6 Kết quả Cronbach’s Alpha đối với biến Văn hóa tổ chức 58
Bảng 3.7 Kiểm định KMO và Bartlett đối với các biến độc lập 59
Bảng 3.8 Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với nhân tố 59
Bảng 3.9 Ma trận xoay nhân tố 60
Bảng 3.10 Kết quả hệ số KMO và kiểm định Bartlett đối với biến phụ thuộc 62
Bảng 3.11 Kết quả phân tích tương quan 62
Bảng 3.12 Kiểm định hệ số hồi quy 64
Bảng 3.13 Bảng tóm tắt mô hình 65
Bảng 3.14 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 65
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế mở cửa và hội nhập, các tổ chức tại Việt Nam cần có sự chuẩn bị về nhiều mặt vốn, công nghệ, thiết bị và quản trị tổ chức Để quản trị hiệu quả, các tổ chức cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống thông tin hỗ trợ quản trị nói chung và thông tin kế toán quản trị nói riêng để cung cấp thông tin kịp thời phục vụ cho công tác quản trị và ra quyết định Kế toán quản trị là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác kế toán, hệ thống thông tin của một tổ chức Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức Kế toán quản trị được xem là quá trình cung cấp cho các nhà quản lý và người lao động trong một tổ chức với các thông tin có liên quan, cả về tài chính và phi tài chính; đưa ra quyết định, phân bổ nguồn lực và giám sát, đánh giá và khen thưởng việc thực hiện Trong bối cảnh đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách mới đối với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp (đơn vị sự nghiệp công lập) nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, tạo hành lang pháp lý cho các đơn vị sự nghiệp phát huy quyền tự chủ để phát triển đơn vị
và giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Tự chủ tài chính là xu thế tất yếu của xã hội phát triển và các đơn vị sự nghiệp có thu buộc phải thích nghi Trong môi trường mới này, các đơn vị sự nghiệp có thu sẽ có nhiều cơ hội để tự khẳng định mình nhưng cũng phải chịu không ít áp lực cạnh tranh vốn có của kinh tế thị trường Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thì các đơn vị hành chính sự nghiệp dưới sự quản lý của nhà nước cũng từng bước đổi mới cách thức quản lý hoạt động của mình theo xu hướng từng bước nâng cao tính tự chủ về tài chính Việc quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập cũng nằm trong quá trình đó Tuy nhiên, để làm được điều này, các nhà lãnh đạo đơn vị phải sử dụng nguồn nhân lực, nguồn tài chính
Trang 11của đơn vị cho hợp lý, hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu, điều này phụ thuộc rất nhiều vào thông tin do kế toán cung cấp Vì vậy, việc sử dụng hệ thống kế toán quản trị không những đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp mà còn trong các đơn vị sự nghiệp kế toán quản trị được thực hiện trong các đơn
vị sự nghiệp vừa có tính chất quản lý vừa có tính chuyên môn học thuật, nhằm hỗ trợ cho nhu cầu thông tin, cho việc lập kế hoạch và trách nhiệm ra quyết định ở các cấp quản lý trong phạm vi nội bộ đơn vị sự nghiệp, do tác động của cơ chế bao cấp trong một thời gian dài nên công tác kế toán ở các đơn vị sự nghiệp mới chỉ dừng lại ở việc phản ánh các khoản mục thu - chi theo hệ thống tài khoản và mục lục ngân sách nhà nước Việc tổ chức, vận hành công tác kế toán quản trị chưa mang tính hệ thống và khoa học ở các đơn vị sự nghiệp đã gây khó khăn cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành kiểm soát các hoạt động Do vậy, để phát triển cùng với sự cạnh tranh của nền kinh tế thị trường thì trước hết các đơn vị sự nghiệp phải hiểu thấu đáo các quy luật kinh tế, phải biết sử dụng tốt nhất các nguồn lực sẵn có của mình, phải biết nắm bắt những cơ hội… các đơn vị sự nghiệp phải
có thông tin hữu ích liên quan đến thông tin bên trong và bên ngoài tổ chức Việc vận dụng kế toán quản trị vào công tác quản lý tổ chức trên địa bàn tỉnh Bình Định chịu sự tác động của nhiều nhân tố Do vậy, việc nghiên cứu nhận diện và lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố đến việc vận dụng kế toán quản trị tại đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định là chủ đề quan trọng và cấp thiết
Nhận thức được vấn đề này, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Các
nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị tại đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp
phần quản lý tài chính hiệu quả hơn trong bối cảnh hiện nay
Trang 122 Tổng quan các đề tài nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu trong nước
Nhận thức được tầm quan trọng của việc vận dụng KTQT, các nhà nghiên cứu trong nước cũng có các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT vào các doanh nghiệpở nhiều lĩnh vực, ngành hàng khác nhau Sau đây, tác giả tổng hợp một số các nghiên cứu có liên quan đến việc vận dụng KTQT cập nhật theo thứ tự thời gian
(1) Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dung KTQT chiến lược trong các doanh nghiệpViệt Nam Nghiên cứu được thực hiện đối với người phụ trách công tác kế toán trong các doanh nghiệp vừa và lớn; việc khảo sát được tiến hành tại 3 thành phố lớn, đại diện cho trung tâm kinh tế của Việt Nam là: Hà Nội, TP.HCM và
Đà Nẵng Nghiên cứu đã sử dụng mô hình cấu trúc SEM để tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT chiến lược và thành quả Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy nhân tố cạnh tranh và phân cấp quản
lý có tác động mạnh đến việc vận dụng các công cụ KTQTCL Cụ thể, khi yếu tố cạnh tranh càng cao, các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng càng nhiều các công cụ KTQTCL và khi phân cấp quản lý càng lớn cũng thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng nhiều KTQTCL Kết quả nghiên cứu này còn chỉ
ra rằng khi doanh nghiệp sử dụng càng nhiều KTQTCL thì thành quả của doanh nghiệp (cả ở góc độ tài chính và phi tài chính) đạt được càng lớn Vì thế, nhà quản trị doanh nghiệp cần đẩy mạnh việc phân cấp quản lý, tạo điều kiện cho các công cụ KTQTCL được sử dụng rộng rãi, đồng thời cần khuyến khích đơn vị mình sử dụng KTQTCL nhiều hơn sẽ góp phần nâng cao thành quả hoạt động của doanh nghiệp Ở góc độ vĩ mô, cần có những chính sách phù hợp chỉ ra những ưu điểm của việc vận dụng các công cụ KTQTCL, từ
đó khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng KTQTCL, góp phần tăng năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như thúc đẩy sự phát
Trang 13triển của KTQT nói chung và KTQTCL nói riêng ở Việt Nam Để thực hiện điều này, cần chú ý đến vai trò của hiệp hội nghề nghiệp, cũng như các trường đại học, các trung tâm đào tạo trong việc giới thiệu, phổ biến, hướng dẫn việc vận dụng các công cụ KTQTCL đến với doanh nghiệp, thông qua các khóa học chính khóa hay bồi dưỡng kiến thức về KTQTCL;
(2) Nghiên cứu của Trần Ngọc Hùng (2016) về “Các yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam” đã đóng góp khoa học một số điểm cơ bản như sau: Một là, thông qua việc tổng hợp thực tiễn vận dụng KTQT trong các DNNVV tại một số quốc gia và khu vực, rút ra được những bài học kinh nghiệm cho việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam Hai là, thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã
đề xuất các giải pháp đồng bộ để góp phần làm gia tăng tính khả thi của việc vận dụng KTQT trong các DNNVV tại Việt Nam Ba là, kết quả nghiên cứu này cũng góp phần làm tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích cho các nghiên cứu khoa học liên quan khác cũng như áp dụng trong thời gian tới tại những
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Việt Nam
Bằng phương pháp hỗn hợp kết hợp nghiên cứu định tính (như phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia) và định lượng (như phương pháp kiểm định trung bình mẫu độc lập và chi bình phương, phân tích hồi quy đa biến, phân tích nhân tố khám phá), tác giả đã xác định được các nhóm nhân tố bao gồm: mức
độ sở hữu của nhà nước, mức độ cạnh tranh của thị trường, văn hoá doanh nghiệp, nhận thức của người chủ/điều hành doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, chi phí cho việc tổ chức KTQT và chiến lược doanh nghiệp lần lượt tác động đến việc vận dụng KTQT trong DNNVV Việt Nam theo mức tác động từ cao xuống thấp Từ đó, tác giả đưa ra các kết luận và kiến nghị nhằm nâng cao tính khả thi khi vận dụng KTQT vào các DNNVV Việt Nam
(3) Nghiên cứu của Nguyễn Minh Thành (2017) về “Yếu tố ảnh hưởng đến KTQT tại doanh nghiệpsản xuất và kinh doanh điện Theo Nguyễn Minh
Trang 14Thành (2017), trong bối cảnh thị trường phát điện cạnh tranh hiện nay, việc
áp dụng KTQT cũng như bộ máy kế toán của các doanh nghiệpsản xuất kinh doanh điện có nhiều điểm khác biệt đối với các ngành sản xuất thông thường khác Nghiên cứu đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung KTQT thông qua các đặc điểm bên trong và bên ngoài doanh nghiệpsản xuất, kinh doanh điện tại Việt Nam Theo đó, quy trình sản xuất kinh doanh điện; sản phẩm điện; doanh thu; chi phí; mục tiêu phát triển doanh nghiệpcủa chủ sở hữu; trình độ của nhà quản trị doanh nghiệp; trình độ của người làm KTQT
và ứng dụng công nghệ thông tin là những yếu tố bên trong ảnh hưởng tới nội dung KTQT tại các doanh nghiệp điện Ảnh hưởng của đặc điểm môi trường bên ngoài tác động đến KTQT tại các doanh nghiệp điện như: sự phát triển của ngành điện; mức độ cạnh tranh trong ngành điện Việc áp dụng nội dung KTQT tại mỗi doanh nghiệp nói chung hay doanh nghiệp sản xuất kinh doanh điện nói riêng đều phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Do vậy, khi nghiên cứu áp dụng nội dung KTQT tại các doanh nghiệp cần phải xem xét đầy đủ các yếu tố này, như vậy hệ thống KTQT nói chung hay các nội dung KTQT nói riêng tại mỗi doanh nghiệp mới có thể đem lại hiệu quả cao nhất, đáp ứng được nhu cầu thông tin của nhà quản trị cũng như đảm bảo thực hiện được các mục tiêu do chủ sở hữu doanh nghiệpđặt ra
(4) Trần Thị Yến (2017) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp tại tỉnh Bình Định Từ đó, đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát đối với giám đốc,
kế toán trưởng, kế toán viên, chuyên viên KTQT và những người tham gia KTQT của doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bình Định Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố, cụ thể: Quy mô
Trang 15doanh nghiệp, Trình độ nhân viên kế toán trong doanh nghiệp, Mức độ cạnh tranh của thị trường Cả 03 yếu tố này đều tác động tích cực đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp tại tỉnh Bình Định Qua việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định, nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị cho việc áp dụng KTQT vào điều hành doanh nghiệp, góp phần quan trọng trong vấn đề
hỗ trợ thông tin cho nhà quản lý
(5) Nghiên cứu của Thái Anh Tuấn (2018) đã phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp Theo Thái Anh Tuấn (2018), trong môi trường cạnh tranh, KTQT ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nhà quản trị ra các quyết định hiệu quả Tăng cường hệ thống KTQT trong các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ thông tin cho các nhà quản trị ra các quyết định là điều kiện cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực, từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Do vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến việc áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp để có các chính sách tác động phù hợp giúp cho hệ thống KTQT trong các doanh nghiệp được hoàn thiện trở thành yêu cầu và nhiệm
vụ cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ và ảnh hưởng của một số yếu tố đến việc áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp, bao gồm: Áp lực cạnh tranh; Sự phân quyền; Quy mô doanh nghiệp;
Tỷ lệ sở hữu của các thành viên chuyên nghiệp; Công nghệ thông tin; Công nghệ sản xuất; Sự quan tâm của nhà quản trị đến KTQT; Trình độ nhân viên KTQT
(6) Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Nhân và cộng sự (2019) về các nhân tố tác động đến việc áp dụng KTQT trong các doanh nghiệp ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các Nhà quản lý/điều hành, Giám đốc tài chính hoặc các trưởng phòng ban, Kế toán trưởng và kế toán tổng hợp, chuyên viên KTQT và những người tham gia
Trang 16trực tiếp trong công tác KTQT của các doanh nghiệp xây dựng doanh nghiệp NXD tỉnh Tiền Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố tác động cùng chiều với mức độ tác động sắp xếp theo trình tự giảm dần là Nhận thức
về KTQT của người điều hành; Chi phí tổ chức; Trình độ của nhân viên kế toán; Quy mô doanh nghiệp; Mức độ cạnh tranh; Chiến lược kinh doanh và cuối cùng là Tính vừa đúng lúc (Just-InTime - JIT) Kết quả nghiên cứu đã xác định được các yếu tố tác động đến áp dụng KTQT của các doanh nghiệp tỉnh Tiền Giang với mức độ giải thích của mô hình hồi quy là 53.1% Từ kết quả nghiên cứu, để có thể triển khai việc áp dụng KTQT nhằm tăng cường khả năng cung cấp thông tin để ra quyết định, các tác giả đề xuất các doanh nghiệptỉnh Tiền Giang cần tập trung tăng cường nhận thức cho nhà quản trị
về vai trò và vị trí cũng như tầm quan trọng của KTQT trong doanh nghiệp; xây dựng kế hoạch kinh phí để triển khai và vận hành KTQT; nâng cao trình
độ nhân viên kế toán để đảm bảo được sự vận hành tốt nhất của hệ thống KTQT
Có thế thấy rằng, tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của việc vận dụng KTQT vào các doanh nghiệp và các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau (định tính, định lượng, định tính kết hợp định lượng); trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau (ngành xây dựng, ngành điện,…); quy mô doanh nghiệp khác nhau (DNNVV, doanh nghiệp lớn,…); phạm vi nghiên cứu tại các địa phương khác nhau đã xây dựng nên lượng thông tin đáng kể làm nền tảng ứng dụng cho đội ngũ quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên cho đến nay, tại Việt Nam các nghiên cứu về phân tích các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT trong doanh nghiệp chủ yếu là các nghiên cứu định tính, chưa có nhiều nghiên cứu định lượng dẫn đến những đề xuất về hàm ý quản trị hay giải pháp còn mơ hồ, thiếu tính xác thực và khó ứng dụng
Trang 172.2 Nghiên cứu nước ngoài
Không chỉ ở trong nước, các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT vào các doanh nghiệp cũng được thực hiện ở nhiều quốc gia, trong nhiều lĩnh vực khác nhau.Tác giả tổng hợp một số các nghiên cứu có liên quan đếnviệc vận dụng KTQT trong thời gian gần đây, được đăng tải trên các tạp chí quốc tế:
(1) Nghiên cứu của Ahmad (2012) về thực trạng vận dụng KTQT ở các doanh nghiệp tại Malaysia đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc áp dụng một loạt các hoạt động KTQT trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) của Malaysia trong lĩnh vực sản xuất với dữ liệu được thu thập từ một cuộc khảo sát đối với 160 kế toán viên Kết quả chỉ ra rằng các công cụ
kế toán truyền thống như ngân sách thông thường, chi phí truyền thống và các biện pháp hiệu quả tài chính được sử dụng rộng rãi bởi người trả lời Kết quả cũng cho thấy một số lượng đáng kể người được hỏi đã áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cả tài chính và phi tài chính nhưng sự phụ thuộc vào các biện pháp tài chính lớn hơn so với các biện pháp phi tài chính
(2) Nghiên cứu của Eman Al Hawari và Mahmoud Nassar (2017) về các yếu tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Jordan Mục đích của nghiên cứu này là xác định ảnh hưởng của một số yếu
tố như (Quy mô của doanh nghiệp, tuổi của doanh nghiệp và mức độ cạnh tranh) trong việc vận dụng các thực tiễn khác nhau của KTQT ở quy mô doanh nghiệpvừa và nhỏ Để đạt được các mục tiêu này, một bảng câu hỏi được thiết kế để thu thập dữ liệu, các bảng câu hỏi được phân phối cho các kế toán viên và quản lý tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Jordan Mẫu nghiên cứu bao gồm 100 nhà quản lý tài chính và kế toán viên được chọn theo phương pháp mẫu ngẫu nhiên Kết quả của nghiên cứu cho thấy các yếu
tố Quy mô doanh nghiệp, Tuổi doanh nghiệp và Mức độ cạnh tranh có tác động tích cực đến việc vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở
Trang 18Jordan Kết quả nghiên cứu cũng phân tích những khó khăn trong việc áp dụng KTQT của các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở Jordan
(3) Sudhashini Nair & Yee Soon Nian (2017) trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp Malaysia, cho rằng KTQT là quá trình chuẩn bị các báo cáo và tài khoản quản lý cung cấp chính xác và thông tin kịp thời, tài chính và thống kê để hỗ trợ trong việc ra quyết định quản lý Nó còn được gọi là quá trình xác định, đo lường, tích lũy, phân tích, chuẩn bị, giải thích và giao tiếp thông tin để giúp các nhà quản lý hoàn thành các mục tiêu của tổ chức Vận dụng KTQT được sử dụng bởi các nhà quản lý tổ chức ở nhiều cấp độ khác nhau, đồng thời, nó mang lại cho các nhà quản lý sự tự do lựa chọn khi có không có ràng buộc nào, ngoài chi phí thông tin được thu thập liên quan đến lợi ích của việc quản lý được cải thiện quyết định Các nghiên cứu đã tìm thấy rằng có những yếu tố có thể ảnh hưởng đến vận dụng KTQT Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu tác động của các yếu tố này đến hoạt động KTQT ở Malaysia Nghiên cứu đã thu thập được 200 mẫu từ các doanh nghiệp ở Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô tổ chức và công nghệ sản xuất tiên tiến có mối quan hệ với vận dụng KTQT
(4) Nghiên cứu của Tijani Amara và Samira Benelifa (2017) về các yếu
tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp ở Tunisian Tijani Amara và Samira Benelifa (2017) cho rằng hệ thống kế toán đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức công ty Mục đích của nghiên cứu này là để chứng minh rằng sự tích hợp của vận dụng KTQT là vấn đề hài hòa giữa các yếu tố bên ngoài và bên trong của các công
ty Nghiên cứu thu thập được 189 phiếu trả lời là các nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp ở Tunisian Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố môi trường doanh nghiệp; chiến lược kinh doanh và cấu trúc doanh nghiệp tác động đến việc vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp
Trang 19(5) Zohre Karimi và cộng sự (2017) trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng KTQT trong các công ty lọc dầu và hóa dầu ở Iran Nghiên cứu đã thu thập được 186 câu trả lời từ các kế toán viên và quản lý tài chính tại các công ty công ty lọc dầu và hóa dầu ở Iran Bằng việc sử dụng
mô hình cấu trúc để tiến hành phân tích dữ liệu, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố: Quan điểm của các nhà quản lý, Môi trường cạnh tranh, Văn hóa
xã hội là các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng KTQT trong các công ty
Từ các công trình nghiên cứu trên thế giới, có thể thấy rằng KTQT đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong công tác kế toán của doanh nghiệp Ngoài ra, cùng sự gia tăng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngày càng có nhiều các nghiên cứu thực nghiệm về việc vận dụng KTQT trong doanh nghiệp ở cả các nước đã và đang phát triển bằng các phương pháp định tính và định lượng, cung cấp nguồn thông tin đáng tin cậy hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý và vận hành doanh nghiệp
Qua tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy tính cấp thiết khi thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc vận dụng KTQT tại các doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam, để các tổ chức có thể có được các bằng chứng thực nghiệm xác thực, từ đó có các giải pháp tăng tính khả thi của việc vận dụng KTQT
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện việc phân tích các yếu tố đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định Từ đó, tác giả đưa ra các hàm ý quản trị nhằm nâng cao nâng cao mức độ vận dụng KTQT tại các đơn
vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định
Cụ thể, đề tài thực hiện những nhiệm vụ như:
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các đơn
vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định;
Trang 20- Đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định;
- Hàm ý một số chính sách nâng cao mức độ vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó và hàm ý các giải pháp nâng cao mức độ vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định
- Không gian: Các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định
- Thời gian: Dữ liệu sơ cấp do tác giả tiến hành thu thập từ các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định trong năm 2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đầu tiên tác giả tham khảo và kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đó về các yếu tố ảnh hưởng kế toán quản trị Tiếp theo, tác giả thực hiện phỏng vấn với một số chuyên gia là lãnh đao, kế toán trưởng các đơn vị sự nghiệp và một số giảng viên tại các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn để xây dựng và chuẩn hóa các biến quan sát, các thang đo phù hợp với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu
Phương pháp định lượng: Gửi bảng khảo sát trực tiếp đến lãnh đạo, kế toán trưởng tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định Từ dữ liệu
sơ cấp sử dụng phần mềm SPSS 20.0 tiến hành phân tích: đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan và phân tích hồi quy
Trang 216 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn góp phần bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về đến việc vận dụng KTQT tại các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định thông qua xây dựng khung phân tích để xác định các nhân tố tác động Từ đó cung cấp luận cứ khoa học cho các gợi ý chính sách nhằm gia tăng kết quả vận dụng kế toán quản trị, đồng thời tạo nền tảng để các đơn vị sự nghiệp và các
cơ quan ban ngành liên quan có các giải pháp nâng cao mức độ vận dụng kế toán quản trị
7 Cấu trúc đề tài
Đề tài được chia thành 4 chương chính
Chương 1: Cơ sở lý thuyết nnagg
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trong chương này tác giả sẽ trình bày tổng quan các lý thuyết về KTQT; các lý thuyết nền liên quan đến nội dung nghiên cứu và mối quan hệ giữa các
lý thuyết này với nội dung nghiên cứu của luận văn
1.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp
Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội Thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Khoản 1 Điều
9 Luật Viên chức)
Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị thuộc sở hữu nhà nước Được nhà nước cấp kinh phí khi mới thành lập, lãnh đạo của các đơn vị này
do cơ quan chức năng của nhà nước bổ nhiệm hoặc bãi miễn
Đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
- Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ)
- Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự
Ví dự như: Trường Cao đẳng kỹ thuật công nghệ Quy Nhơn là đơn vị thuộc Bộ Lao động thương binh và xã hội là đơn vị sự nghiệp công lập, trường Trung học cơ sở Lê Hồng Phong Quy Nhơn trực thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bình Định Bệnh viện đa khoa thành phố Quy Nhơn trực thuộc Sở Y tế Thành phố Quy Nhơn…Các đơn vị nghiên cứu, sự nghiệp (nghiên cứu khoa học kỹ thuật và giáo dục (bệnh viện, trường, viện nghiên
Trang 23cứu)… Đối với các cơ quan quản lý các ngành sự nghiệp, những tổ chức này
là những đơn vị cơ bản thực hiện nhiệm vụ của ngành…
1.1.2 Tiêu chí mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp
Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định
cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập đã chia đơn vị sự nghiệp công lập thành 4 loại:
- Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;
- Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên;
- Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên;
- Đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên
Luật Viên chức năm 2010 quy định 2 loại đơn vị sự nghiệp công lập gồm:
Đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự Và đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự Tiêu chí phân loại này không chỉ dựa trên khả năng tự chủ tài chính Mà còn phụ thuộc vào mức độ tự chủ nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và nhân sự
Xét dưới góc độ vị trí pháp lý, đơn vị sự nghiệp công lập có thể chia thành 5 loại sau:
- Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục;
- Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
Trong đó, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ bao gồm: Các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Và cơ cấu tổ chức của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ (các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách về ngành, lĩnh vực;
Trang 24báo; tạp chí Trung tâm thông tin hoặc tin học Trường hoặc trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; học viện) Và các đơn vị sự nghiệp công lập trong danh sách ban hành kèm theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
1.2 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Kế toán quản trị
KTQT ra đời và phát triển trên thế giới có thể đánh dấu từ đầu thế kỷ thứ
19, và cơ bản có thể chia làm 4 giai đoạn như sau [11]:
- Giai đoạn trước những năm 1950: KTQT ở giai đoạn này là xác định chi phí và kiểm soát tài chính Các kĩ thuật kế toán được sử dụng là dự toán
và kế toán chi phí Tuy nhiên, hoạt động KTQT mới dừng lại ở mức độ hoạt động chuyên môn thuần túy mang tính nghiệp vụ, kĩ thuật
- Giai đoạn từ sau năm 1950 đến đầu năm 1965: trọng tâm của KTQT là lợi nhuận KTQT lúc này phải cung cấp thông tin cho các nhà quản trị thực hiện chức năng hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức Về mặt kĩ thuật, KTQT đi sâu vào việc phân tích các quyết định; thiết kế và vận hành hệ thống kế toán trách nhiệm nhằm thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin cần thiết cho việc đánh giá trách nhiệm quản lý của các nhà quản trị các cấp trong những tổ chức có phân cấp trong quản lý
- Giai đoạn từ sau năm 1965 đến 1985: KTQT tập trung cắt giảm hao phí nguồn lực thông qua chiến lược quản trị chi phí Kĩ thuật kế toán được phát triển giai đoạn này là phân tích các quá trình và quản lý chi phí Hoạt động KTQT giai đoạn này là hoạt động theo nhóm
- Giai đoạn từ 1995 đến nay: quản trị nguồn lực và tạo ra giá trị thông qua việc quản trị nguồn lực chiến lược và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Kĩ thuật kế toán tập trung vào việc phân tích các yếu tố giá trị khách hàng, giá trị
cổ đông và cải cách tổ chức Hoạt động KTQT được xem là một bộ phận của quá trình quản trị
Trang 25Bảng 1.1 Các giai đoạn phát triển của kế toán quản trị
(Nguồn: Trần Ngọc Hùng (2016))
Như vậy, quá trình phát triển của KTQT được ghi nhận theo 4 giai đoạn Tuy nhiên, việc phân chia như vậy chỉ mang tính tương đối, thực ra, sự phát triển của KTQT có sự chuyển hóa và hòan thiện dần từ giai đoạn này đến giai
Giai đoạn Trọng tâm của
KTQT
Các kĩ thuật KTQT
Vị trí của KTQT trong tổ chức
Trước những
năm 1950
Chi phí: xác định chi phí và kiểm soát tài chính
Dự toán và kế toán chi phí
Hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ
Từ 1950 - 1965
Lợi nhuận: cung cấp thông tin cho hoạch định và kiểm soát
Phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm
Chức năng tham mưu, báo cáo cho quản lý
Từ 1965 - 1985
Cắt giảm hao phí:
tiết kiệm chi phí thông qua việc quản trị chi phí chiến lược
Phân tích quá trình và quản trị chi phí đương đại
Phân tích các yếu tố giá trị khách hàng, giá trị cổ đông và cải cách tổ chức
Là một phần của quá trình quản trị
Trang 26đoạn khác Mỗi quá trình của sự phát triển thể hiện sự đáp ứng của kế toán đối với yêu cầu quản trị trong môi trường mới Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, KTQT đã không ngừng hòan thiện, phát triển đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp thông tin hỗ trợ các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình quản trị hiện đại
Cũng như theo xu thế phát triển chung, kế toán quản trị vào Việt Nam ban đầu với hình thái hệ thống lập kế hoạch (dự toán ngân sách) và quản trị chi phí Phương pháp lập kế hoạch đã bắt đầu sơ khai từ sau những năm
1985, tuy nhiên bước đầu còn đơn giản và thiếu chính xác Sau khi kinh tế tư nhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục vụ cho nhu cầu hoạch định của doanh nghiệp mới được phát triển rầm rộ Phương pháp lập kế hoạch ở nhiều doanh nghiệp cũng khác nhau.Về cơ bản, phương pháp lập kế hoạch được phân làm hai cách [11]:
- Thứ nhất: lập kế hoạch dự trên sự tăng trưởng Các doanh nghiệp
thường dựa trên sự phát triển của công ty và các số liệu quá khứ (tốc độ tăng trưởng của doanh thu, mức độ gia tăng chi phí) và ước lượng kế hoạch thực hiện cho tương lai Phương pháp này thường được vận dụng khá phổ biến hiện nay do dể thực hiện và ước lượng tương đối chính xác Các doanh nghiệp hoạt động trong khối sản xuất thường vận dụng theo phương pháp này
- Thứ hai: dựa vào mục tiêu của doanh nghiệp Các doanh nghiệp
thường dựa vào mục tiêu tăng trưởng của mình trong thời gian tới và đề ra kế hoạch hành động sao cho thực hiện được mục tiêu đó Phương pháp lập kế hoạch này thường được vận dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ
Ngoài ra, rất ít doanh nghiệp chú trong đến việc lập kế hoạch kết hợp giữa hai phương pháp trên do sự phức tạp trong khâu lượng hoá số liệu kế hoạch và hạ tầng thông tin chưa đáp ứng được
Trang 27Qua quá trình phát triển gần 30 năm, KTQT tại Việt Nam hiện vẫn chỉ dừng lại ở khâu lập kế hoạch và quản trị chi phí, chưa tạo ra giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp KTQT vẫn bị hiểu sai từ nội dung đến cách thức xây dựng khiến cho nhiều doanh nghiệp còn lúng túng khi nghiên cứu để áp dụng (Phạm Quang Thịnh, 2018)
1.2.2 Khái niệm về Kế toán quản trị
KTQT là sự kết hợp giữa các phần hành kế toán và hoạt động quản trị, giúp cho doanh nghiệp đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn nhằm đạt mục tiêu chung của doanh nghiệp
KTQT là một bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin kế toán nói chung trong các tổ chức.Việc nghiên cứu KTQT được xem xét từ nhiều quan điểm và góc độ khác nhau
Theo Ronald W.Hilton (2011), kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chứ Trong khi đó, Ray H.Garrison và cộng sự (2012) cho rằng: “ Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việc điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức” [43]:
Theo các giáo sư đại học South Florida là Jack L.Smith, Robert M Keith và William L.Stephens (1983): “ Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát”[36]:
- Theo Thông tư 53/2006/TT-BTC ngày 12/6/2006 của Bộ Tài chính hướng áp dụng kế toán quản trị doanh nghiệp: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”
Trang 28Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm KTQT, song đều có những điểm cơ bản giống nhau:
+ KTQT là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán của các tổ chức hoạt động
+ KTQT là công cụ không thể thiếu được trong các doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trường vì nó là cơ sở khoa học để đưa ra mọi quyết định kinh doanh
+ Thông tin KTQT trong các tổ chức hoạt động giúp cho nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp: Lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểm tra
Như vậy, KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị nhằm tối ưu hóa các mục tiêu; là loại kế toán dành cho các nhà quản trị, nó được coi như một hệ thống trợ giúp cho quản trị, ra quyết dịnh, là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp
KTQT gồm có các mục tiêu:
- Cung cấp thông tin cho nhà quản lý để lập kế hoạch và ra quyết định;
- Trợ giúp cho nhà quản lý trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động của đơn vị;
- Thúc đẩy các nhà quản lý đạt được mục tiêu đề ra;
- Đo lường hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý và các bộ phận, đơn
vị trực thuộc của đơn vị
Trang 291.2.3 Chức năng của Kế toán quản trị
Hình 1.1 Mô hình chức năng của kê toán quản trị
Kế toán quản trị là bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức, các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức, do đó nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động của đơn vị
Một là, lập kế hoạch: để xây dựng kế hoạch nhà quản trị thường phải dự đoán, phán đoán kết quả của các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ
sở khoa học có sẵn Các nhà quản lý luôn có kế hoạch kinh doanh rõ ràng vào đầu các năm tài chính và mục tiêu của họ là đưa công ty cán đích doanh thu
Ra quyết định
Trang 30Kế hoạch này sẽ gắn liền với mục tiêu ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn Khi lên kế hoạch, nhà quản lý cần liên kết tất cả các lực lượng của các bộ phận trong công ty để hướng tới mục tiêu đã xác định
Tóm lại, kế hoạch là phương hướng chỉ đạo để các hoạt động kinh doanh diễn ra một cách bình thường, đồng thời cũng là căn cứ để đánh giá các kết quả của đơn vị
Hai là, tổ chức công tác điều hành: trong việc tổ chức, nhà quản lý sẽ quyết định cách liên kết tốt nhất giữa tổ chức, con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được thực hiện có hiệu quả nhất Trong việc điều hành, các nhà quản lý giám sát hoạt động hàng ngày và giữ cho cả tổ chức hoạt động trôi chảy
Đây là chức năng cơ bản của các nhà quản trị Chức năng này nhằm truyền đạt các chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ phận trong đơn vị Đồng thời tổ chức hoạt động tại các bộ phận theo như kế hoạch đã phê duyệt Chức năng này yêu cầu các nhà quản lý phải liên kết các bộ phận với nhau, sử dụng nguồn lao động hợp lý nhằm khai thác tối đa các yếu tố để đạt được các mục tiêu đã dự định Chức năng này yêu cầu các nhà quản trị phải sử dụng tổng hợp các thông tin của nhiều bộ phận trong đơn vị, các thông tin bên trong và bên ngoài, thông tin định lượng và thông tin định tính để từ đó phán đoán và thực hiện tốt các quá trình kinh doanh theo các kế hoạch, dự toán đã xây dựng
Tổ chức thực hiên còn là sự kết hợp hải hoà giữa các yếu tố trong quá trình sản xuất và vai trò của các nhà quản trị để thực hiện các khâu công việc theo như kế hoạch đã đề ra nhằm để đạt được mục tiêu của quá trình kinh doanh Đây là giai đoạn quyết định nhất, bởi vì các quyết định kinh doanh phải hết sức linh hoạt, phù hợp với các yếu tố sản xuất và đạt được mục tiêu tối ưu
Trang 31Ba là, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện: Sau khi đã lập kế hoạch và
tổ chức thực hiện, nhà quản lý phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch Để thực hiện chức năng kiểm tra, các nhà quản lý sử dụng các bước công việc cần thiết để đảm bảo cho từng bộ phận và cả tổ chức đi theo đúng
kế hoạch đã vạch ra Trong quá trình kiểm tra, nhà quản lý sẽ so sánh hoạt động thực tiễn với kế hoạch đã thiết lập.So sánh này sẽ chỉ ra ở khâu nào công việc thực hiện chưa đạt yêu cầu, và cần sự hiệu chỉnh để hoàn thành nhiệm vụ
và mục tiêu đã thiết lập.Hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện thông qua việc phân công, phân cấp dựa trên cơ chế quản lý tài chính và trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận trong một tổ chức hoạt động cụ thể
Bốn là, ra quyết định: Ra quyết định là việc thực hiện những lựa chọn hợp lý trong số các phương án khác nhau Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt, nó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu trong qúa trình quản lý một tổ chức, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá Chức năng ra quyết định được vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp Tất cả các quyết định đều
có nền tảng từ thông tin Do vậy, một yêu cầu đặt ra cho công tác kế toán, đặc biệt là KTQT là phải đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh, chính xác cho nhà quản lý nhằm hoàn thành tốt việc ra quyết định
Ra quyết định là công việc thường xuyên của các nhà quản trị ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp Việc ra quyết định thường dựa trên cơ sở tổng hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhưng trong đó thông tin kế toán quản trị thường giữ vai trò có tính chất quyết định và độ tin cậy cao Các nhà quản trị thường đứng trước nhiều phương án kinh doanh khác nhau Mỗi phương án thường bao gồm nhiều hệ thống thông tin đa dạng như là số lượng, chủng loại, chi phí, lợi nhuận, vốn, thị trường… Do vậy đòi hỏi kế toán quản trị phải tổng hợp, phân tích và chọn lọc hệ thống thông tin này Trên cơ sở đánh giá hệ thống thông tin do kế toán quản trị cung cấp để đưa ra các quyết định chọn phương án tối ưu
Trang 321.2.4 Nội dung của Kế toán quản trị
Kế toán quản trị có nội dung rất rộng, nội dung cơ bản như sau:
- Nếu xét theo nội dung các thông tin mà KTQT cung cấp, có thể khái quát KTQT doanh nghiệpbao gồm:
+ KTQT các yếu tố sản xuất kinh doanh (bao gồm: Hàng tồn kho, tài sản
cố định, lao động và tiền lương)
+ KTQT chi phí và giá thành sản phẩm
+ KTQT doanh thu và kết quả kinh doanh
+ KTQT về các hoạt động đầu tư tài chính
+ KTQT các hoạt động khác của doanh nghiệp
Trong các nội dung nói trên, trọng tâm của KTQT là lĩnh vực chi phí Vì vậy, một số tác giả cho rằng KTQT là kế toán chi phí
- Nếu xét quá trình KTQT trong mối quan hệ với chức năng quản lý, KTQT bao gồm các khâu:
+ Chính thức hoá các mục tiêu của doanh nghiệpthành các chỉ tiêu kinh tế + Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết
+ Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu
+ Soạn thảo báo cáo KTQT
Như vậy, thông tin của KTQT không chỉ là thông tin quá khứ, thông tin thực hiện mà còn bao gồm các thông tin về tương lai (kế hoạch, dự toán ) Mặt khác, thông tin KTQT không chỉ là các thông tin về giá trị còn bao gồm các thông tin khác (hiện vật, thời gian lao động )
1.3 CÁC LÝ THUYẾT NỀN LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
1.3.1 Lý thuyết bất định
Lý thuyết bất định đã được phát triển từ giữa những năm 1960, sau đó
nó được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu KTQT giữa những năm 1970 Lý thuyết bất định có tầm quan trọng đáng kể để nghiên cứu KTQT vì nó đã
Trang 33thống trị kế toán hành vi từ năm 1975 Lý thuyết bất định đưa ra giả thuyết là một quy trình và cấu trúc hiệu quả của doanh nghiệplà bất định trong bối cảnh của doanh nghiệp (CIMA và Tiessen, 1978) Lý thuyết này giả định rằng hoạt động hiệu quả của doanh nghiệpphụ thuộc vào mức độ phù hợp của cấu trúc doanh nghiệp với các sự kiện ngẫu nhiên xảy ra trước đó (Mullins, 2013) Các nhà lý luận về học thuyết bất định này tuyên bố rằng không có một giải pháp toàn cầu nào có thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của doanh nghiệp, và mức độ hiệu quả của giải pháp còn tuỳ thuộc vào đặc điểm của doanh nghiệp cũng như môi trường xung quanh
Lý thuyết bất định được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về KTQT của Otley (1980).Theo Otley (1980), các yếu tố bất định tác động đến thiết kế của doanh nghiệp cũng đồng thời tác động đến các công cụ kỹ thuật KTQT Sau đó, Waterhouse và Tiessen (1983) đã chỉ ra rằng cấu trúc của doanh nghiệp phụ thuộc vào công nghệ và môi trường hoạt động của doanh nghiệp và sự hiệu quả của hệ thống KTQT lại phụ thuộc bất định vào cấu trúc của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh không ổn định hay áp dụng công nghệ đòi hỏi thay đổi liên tục thì thông tin chủ yếu là nội bộ và ngược lại, nếu môi trường hoạt động ổn định hoặc công nghệ ít thay đổi thì thông tin là hướng ra bên ngoài
Theo quan điểm của lý thuyết bất định, KTQT được coi là thành phân của cơ cấu tổ chức Việc thông qua ký thuyết bất định để nghiên cứu KTQT
là quá trình điều chỉnh sự phù hợp giữa KTQT cụ thể với các biến theo ngữ cảnh trong một tổ chức Không thể có một hệ thống KTQT duy nhất áp dụng cho tất cả các tổ chức, hoặc có thể thỏa mãn tất cả các tình huống diễn ra trong một tổ chức Hệ thống KTQT là bất định theo các hoàn cảnh có thể thay đổi bất kỳ lúc nào Hệ thống này cần phải có năng lực thích nghi với tất cả những thay đổi về môi trường, cạnh tranh, cơ cấu tổ chức hay công nghệ
Lý thuyết bất định nghiên cứu KTQT doanh nghiệp trong mối quan hệ
Trang 34tương tác với môi trường hoạt động của doanh nghiệp Nói cách khác một hệ thống KTQT thích hợp với doanh nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm doanh nghiệp và môi trường doanh nghiệp đó đang hoạt động Điều này cho thấy không thể xây dựng một mô hình KTQT khuôn mẫu áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp mà việc vận dụng KTQT doanh nghiệp phải tùy thuộc vào đặc thù từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đồng thời phải phù hợp với cơ cấu tổ chức, quy mô doanh nghiệp, trình độ công nghệ sản xuất và chiến lược tổ chức trong từng giai đoạn Điều này có nghĩa là việc xây dựng một hệ thống KTQT hiệu quả phải thích hợp với từng doanh nghiệp, với môi trường bên trong và bên ngoài mà doanh nghiệp đó đang hoạt động
Đã có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lý thuyết bất định là lý thuyết quan trọng nhất để giải thích mối quan hệ phức tạp giữa những thay đổi trong hệ thống KTQT và các yếu tố bên trong và bên ngoài tổ chức Lý thuyết bất định nghiên cứu KTQT trong mối quan hệ tương tác với môi trường hoạt động của
tổ chức Nói cách khác, một hệ thống KTQT thích hợp với tổ chức phụ thuộc vào đặc điểm và môi trường tổ chức đó đang hoạt động Điều này cho thấy không thể xây dựng một mô hình KTQT khuôn mẫu áp dụng cho tất cả tổ chức mà việc vận dụng KTQT vào tổ chức phải phụ thuộc vào đặc thù từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đồng thời phải phù hợp với cơ cấu
tổ chức, quy mô tổ chức, trình độ công nghệ và chiến lược tổ chức trong từng giai đoạn Việc xây dựng một hệ thống KTQT hiệu quả phải thích hợp với
từng tổ chức, với môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức đó hoạt động 1.3.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết thứ hai có tầm quan trọng đối với vận dụng KTQT là lý thuyết đại diện Lý thuyết đại diện nhấn mạnh rằng, các cổ đông cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, bằng cách (i) thiết lập những cơ chế đãi ngộ (compensation mechanisms) thích hợp cho các nhà quản trị, và (ii) thiết lập
Trang 35cơ chế giám sát (supervisory mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Theo Jensen and Meckling (1976), quan hệ giữa các cổ đông và người quản
lý công ty được hiểu như là quan hệ đại diện - hay quan hệ ủy thác Mối quan
hệ này được coi như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (những người chủ - principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý công ty (người thụ ủy - agents), để thực hiện việc quản lý công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của công
ty Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có
cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông Từ đó xung đột sẽ phát sinh khi
có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa
cổ đông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty
Hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị, giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị doanh nghiệp (và chủ doanh nghiệp) với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài
Trang 36(Healy và Palepu (2001)) Những hợp đồng này thường yêu cầu doanh nghiệp phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống KTQT như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực để nhà đầu
tư đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị doanh nghiệp có quản trị các nguồn lực của công ty gắn với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài
Lý thuyết đại diện giải thích vì sao phải áp dụng hệ thống kế toán trách nhiệm trong tổ chức và đối với các công ty cổ phần, công ty niêm yết hệ thống KTQT cần cung cấp những thông tin gì để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư và các cổ đông Đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam khi mà chưa có một thị trường chứng khoán phát triển hoàn chỉnh thì các thông tin KTQT tổ chức cung cấp chính xác và đầy đủ thực sự có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư Ngoài ra, lý thuyết đại diện cũng là cơ sở để xây dựng các báo cáo nội
bộ trong tổ chức, các báo cáo đánh giá trách nhiệm phù hợp với hệ thống phân quyền trong các tổ chức Việt Nam
1.3.3 Lý thuyết xã hội học (sociological theory)
Lý thuyết xã hội học tập trung vào việc làm thế nào tổ chức được thành lập thông qua tương tác giữa con người, tổ chức và xã hội Covaleski và cộng
sự (1996) cho rằng sự tồn tại của một tổ chức yêu cầu phù hợp với xã hội về hành vi có thể chấp nhận được để đạt được mức độ cao của hiệu quả sản xuất Các nhà lý thuyết xã hội học xem xét hệ thống KTQT về mặt thực tiễn
xã hội hơn là chỉ về mặt kỹ thuật để đưa ra quyết định nội bộ và hiệu quả tổ chức Thực tiễn KTQT phản ánh quyền lực chính trị và xã hội Ví dụ, Wildavsky và Caiden (2003) lập luận rằng hệ thống ngân sách có thể được sử dụng cho mục đích khác ngoài vấn đề kiểm soát như sử dụng ngân sách để thiết lập và duy trì các mối quan hệ quyền lực hiện tại, bản chất chính trị của ngân sách thường quan sát thấy trong đời sống xã hội phức tạp Quan điểm về quá trình lao động trong các tác phẩm của Carl Marx nhấn mạnh sự phân chia
Trang 37giai cấp trong xã hội, mâu thuẫn giữa lao động, tiền lương và các nhà tư bản
Từ quan điểm của nhà tư bản, lao động cần được giảm thiểu và tối đa hóa giá trị thặng dư, không giống như các yếu tố khác của sản xuất Do đó các nhà đầu tư phải kiểm soát được lao động cũng như quá trình lao động Thông qua một số công trình như Hopper và Armstrong (1991), Collinson (1987), Oakes
và Covaleski (1994), các tác giả đều lập luận rằng KTQT và thông tin chi phí
là công cụ để khai thác hiệu quả sản xuất
Foucault (1926-1984) sử dụng cách tiếp cận để nghiên cứu KTQT trong một bối cảnh chính trị và xã hội rộng hơn Một loại của lý thuyết xã hội học thường được sử dụng là lý thuyết đại diện Nó giải thích quá trình thể chế mà theo đó quy định, chuẩn mực hoặc thói quen đã trở thành hướng dẫn cho hành vi xã hội (Scott 2004) Như Covaleski et al.(1996) đã chỉ ra sự phù hợp với chuẩn mực xã hội của hành vi chấp nhận được và mức độ cao của sản xuất hiệu quả là tương đối quan trọng cho sự sống còn của một tổ chức
Một cách tổng thể, lý thuyết xã hội học là các khung phân tích dùng để nghiên cứu các hiện tượng xã hội Khái niệm “lý thuyết xã hội học” bao hàm các ý tưởng về việc xã hội thay đổi và phát triển như thế nào, các phương pháp để giải thích về hành vi xã hội (social behavior), về sức mạnh và cấu trúc xã hội, về giới tính và sắc tộc, về sự hiện đại và hiện tượng xã hội hoá,
về các cuộc cách mạnh và các xã hội lý tưởng (Harrington 2005, 1) Trong mỗi nghiên cứu về xã hội học, mỗi chủ đề sẽ được nêu bật hơn so với các chủ
đề còn lại, ví dụ như các chủ đề về bản chất của đời sống xã hội (the nature of social life), mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, cấu trúc của các tổ chức xã hội, vai trò và khả năng biến đổi xã hội, cũng như các chủ đề về giới tính,chủng tộc và giai cấp … (Elliot 2008)
Lý thuyết xã hội học tập trung vào việc làm thế nào tổ chức được thành lập thông qua tương tác giữa con người, tổ chức và xã hội Covaleski et al.(1996) cho rằng sự tồn tại của một tổ chức yêu cầu phù hợp với xã hội về
Trang 38hành vi có thể chấp nhận được để đạt được mức độ cao của hiệu quả sản xuất
Từ đó, các nghiên cứu của các nhà lý thuyết xã hội học xem xét hệ thống KTQT về mặt thực tiễn xã hội hơn là chỉ về mặt kỹ thuật để đưa ra quyết định nội bộ và hiệu quả tổ chức
Lý thuyết xã hội học cho thấy hệ thống KTQT trong tổ chức không chỉ
là những vấn đề mang tính nội bộ tổ chức mà nó chịu tác động ảnh hưởng trong một bối cảnh xã hội chung, nó liên quan đến các chế độ, chính sách hiện hành và giải quyết các mối quan hệ với người lao động trong tổ chức Chính vì vậy các mục tiêu của tổ chức đặt ra phải nằm trong mục tiêu chung
mà xã hội chấp nhận được Điều này phù hợp với xu hướng phát triển bền vững và lợi ích tổ chức phải gắn với lợi ích chung của xã hội Ví dụ các tiêu chuẩn chi phí phải xây dựng trên cơ sở định mức chung của ngành, hay việc lập các kế hoạch về chi phí tiền lương phải trên cơ sở mức lương tối thiểu do nhà nước quy định, các thông tin về chi phí KTQT cung cấp cũng sẽ chịu sự tác động bởi các quy định của các chính sách thuế, chính sách tài chính của Nhà nước…
1.3.4 Lý thuyết tâm lý (Psychological theory)
Lý thuyết tâm lý học đã được sử dụng để nghiên cứu KTQT trong hơn
50 năm, Argyris (1952, 1953) dựa vào mối quan hệ của con người và động lực nhóm để điều tra bối cảnh xã hội của ngân sách
Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò con người trong tổ chức, quan điểm của nhóm này cho rằng năng suất lao động không chỉ do yếu tố vật chất quyết định mà còn do nhu cầu tâm lý xã hội của con người "Vấn đề tổ chức là vấn
đề con người" và họ chỉ ra rằng trong trường phái cổ điển có nhiều hạn chế vì
đã bỏ qua yếu tố con người trong quá trình làm việc
Tác giả của lý thuyết các quan hệ con người trong tổ chức là Mary Parker Pollet (1868 - 1933) Tác giả này cho rằng, trong quá trình làm việc, người lao động có các mối quan hệ với nhau và với các nhà quản trị Đồng
Trang 39thời tác giả cũng nhấn mạnh, hiệu quả của quản trị phụ thuộc vào việc giải quyết các mối quan hệ này Các tác giả về hành vi con người cho rằng hoạt động của con người phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tâm lý xã hội Chính các yếu tố này tạo nên các quan hệ tốt đẹp trong quá trình lao động, từ đó mà có thể đạt hiệu quả trong quá trình làm việc
Con người là một trong những thành phần quan trọng nhất của các tổ chức, đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của các tổ chức Khi hành
vi cá nhân phù hợp với mục tiêu của tổ chức, các tổ chức phát triển thịnh vượng Để hiểu tác động của các hành vi của cá nhân đối với tổ chức, lý thuyết tâm lý được áp dụng trong nghiên cứu KTQT để nghiên cứu mối quan
hệ giữa hành vi cá nhân và KTQT (Birnberg và cộng sự, 2007) trong các quá trình lập ngân sách, kiểm soát và ra quyết định
Stedry (1960) sử dụng lý thuyết động lực để điều tra ảnh hưởng của mục tiêu ngân sách tới hiệu suất cá nhân Hopwood (1972) sử dụng khái niệm này
từ lý thuyết tâm lý nghiên cứu cấp trên sử dụng thông tin kế toán để đánh giá cấp dưới và ảnh hưởng của cấp dưới với các nhân viên khác
Trong những năm 1970, KTQT sử dụng lý thuyết tâm lý để nghiên cứu làm thế nào các cá nhân xử lý các thông tin để lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định Mock và cộng sự (1975) điều tra sự phản hồi tương tác của KTQT với nhận thức và phong cách cá nhân để gây ảnh hưởng đến các quyết định điều hành Lý thuyết tâm lý học có thể được sử dụng để giải thích cả nguyên nhân và ảnh hưởng của KTQT đến hành vi cá nhân
Lý thuyết tâm lý chỉ ra rằng việc thiết lập và vận hành hệ thống KTQT trong tổ chức phải xem xét tác động đến mối quan hệ con người trong tổ chức (quan hệ cấp trên với cấp dưới, quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức với nhau) Điều này liên quan đến quá trình hoạch định ngân sách, quá trình kiểm soát đánh giá và ra quyết định phải tạo được động lực và hướng đến việc nâng cao hiệu suất các bộ phận Ví dụ việc thiết lập các định mức chi phí và
Trang 40các chỉ tiêu đánh giá nếu chỉ quan tâm đến cắt giảm chi phí mà không chú ý đến nâng cao hiệu suất và giải quyết hài hòa lợi ích giữa các bộ phận trong tổ chức có thể sẽ không huy động được mọi người trong tổ chức nỗ lực phấn đấu giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận
Việc nghiên cứu các lý thuyết có ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng
mô hình và nội dung vận dụng KTQT trong từng loại hình tổ chức và trong các nền kinh tế khác nhau Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu KTQT là
cơ sở nền tảng và xuất phát điểm để xác định các nội dung KTQT đối với từng tổ chức và vận dụng một cách có hiệu quả Đồng thời các lý thuyết cũng chỉ ra rằng hệ thống KTQT tổ chức chỉ thực sự hữu hiệu khi nó được xây dựng và phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng loại hình tổ chức
và từng nền kinh tế cụ thể Điều đó cũng có nghĩa không có một mô hình KTQT khuôn mẫu áp dụng cho tất cả các tổ chức Việt Nam, việc vận dụng KTQT trong tổ chức còn tùy thuộc vào đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, quy mô tổ chức, trình độ công nghệ và môi trường kinh doanh hiện tại Đồng thời trước những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất và môi trường kinh doanh mang tính toàn cầu, hệ thống KTQT trong tổ chức cũng cần có sự thay đổi và điều chỉnh linh hoạt mới đem lại hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu của các nhà quản trị
Tóm tắt Chương 1
Trong Chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan các lý thuyết về KTQT bao gồm quá trình hình thành và lịch sự phát triển của KTQT, vai trò của KTQT trong hoạt động của tổ chức; các lý thuyết nền liên quan đến nội dung nghiên cứu như lý thuyết bất định, lý thuyết đại diện, lý thuyết xã hội học và
lý thuyết tâm lý và mối quan hệ giữa các lý thuyết này với nội dung nghiên cứu của luận văn