1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

93 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp tăng cường tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay ..... K ết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Mục lục

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHAN THÀNH VI ỆT

Tuyên truy ền phổ biến về vệ sinh an toàn thực

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ N ỘI - NĂM 2018

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHAN THÀNH VI ỆT

Tuyên truy ền phổ biến về vệ sinh an toàn thực

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Trang 3

I

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan bài luận văn “Tuyên truyền phổ biến về Vệ sinh an toàn

th ực phẩm trên địa tỉnh Đăk Nông” là công trình khoa học nghiên cứu độc

lập của riêng tôi Tất cả các nội dung của công trình nghiên cứu này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi Các

số liệu và kết quả được nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực

Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết

Tác gi ả

Phan Thành Vi ệt

Trang 4

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Học viện hành chính

Quốc gia, Phân viện khu vực Tây Nguyên, Khoa sau Đại học đã động viên và

tạo mọi điều kiện để tác giả có thể yên tâm với công việc nghiên cứu

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn thầy giáo PGS.TS Lưu Kiếm Thanh - người

đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình, động viên tác giả trong suốt quá trình nghiên

cứu để hoàn thành luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, cán bộ công nhân viên các

Bộ, Ban ngành gồm: Bộ Công thương, Bộ Y tế, Cục An toàn vệ sinh thực

phẩm, Sở Công thương tỉnh Đăk Nông, Trung tâm Y tế huyện Cư Jút, Ủy ban Nhân dân huyện Cư Jút đã hỗ trợ cung cấp tài liệu để tác giả có cơ sở thực

tiễn hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thành nội dung nghiên cứu bằng tất

cả năng lực và sự nhiệt tình của bản thân, tuy nhiên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô và đồng nghiệp để hoàn thiện hơn nữa nhận thức của mình

Xin chân thành c ảm ơn!

Trang 6

IV

DANH M ỤC SƠ ĐỒ Trang

Sơ đồ 2.1: Mạng lưới quản lý an toàn thực phẩm 30

Sơ đồ 2.2: Bộ máy quản lý về an toàn thực phẩm ngành y tế tỉnh Đăk Nông 31

Trang 7

V

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TUYÊN TRUYỀN PHỔ BIẾN VỀ V Ệ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1 Vệ sinh an toàn thực phẩm và quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 8

1.2 Tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm 14

1.3 Trách nhiệm trong tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm20 Ti ểu kết Chương 1 23

Chương 2 TH ỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN PHỔ BIẾN VỀ VỆ SINH AN TOÀN TH ỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG 2.1 Khái quát về tỉnh Đắk Nông có ảnh hưởng tới tuyên truyền phố biến về vệ sinh an toàn thực phẩm 24

2.2 Tổ chức bộ máy thực hiện tuyên truyển phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm 29

2.3 Tình hình tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông 35

2.4 Đánh giá về tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông thời gian qua 55

Ti ểu kết Chương 2 60

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TUYÊN TRUYỀN PHỔ BI ẾN VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN T ỈNH ĐẮK NÔNG 3.1 Quan điểm tăng cường tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay 64

3.2 Giải pháp tăng cường tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiện nay 67

Ti ểu kết Chương 3 80

K ẾT LUẬN 82

DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

1

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 L ý do chọn đề tài

An toàn thực phẩm (ATTP) là một vấn đề vô cùng quan trọng và cấp thiết đối với toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Bởi vì nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người Ở nước ta hiện nay

có rất nhiều cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm, từ những cơ sở có quy

mô lớn, nhỏ đến hộ gia đình, thức ăn đường phố … chất lượng và các điều kiện đảm bảo ATTP các cơ sở này như thế nào? có đảm bảo hay không? cần

có sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý về ATTP để bảo vệ quyền lợi, cũng như sức khỏe người tiêu dùng

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thực phẩm chính là nguyên nhân

đã gây ra khoảng 50% các trường hợp tử vong đối với con người trên toàn thế giới Ngộ độc do thực phẩm luôn luôn là vấn đề quan tâm lo lắng của người dân Ở Việt Nam, theo tài liệu của Cục ATTP, số lượng các vụ ngộ độc thực phẩm cũng như số người bị nhiễm độc thực phẩm còn khá cao, đặc biệt là các trường hợp mắc bệnh nhiễm trùng bởi thực phẩm Theo số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê năm 2015, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 98 vụ ngộ độc thực phẩm làm 4.600 người bị ngộ độc, trong đó 16 người tử vong [17]

Theo số liệu thống kê của chi Cục ATTP tỉnh Đắk Nông tình hình ngộ độc thực phẩm (NĐTP) Năm 2015, trên địa bàn tỉnh chỉ xảy ra 01 vụ NĐTP tại thị xã Gia Nghĩa với 05 người mắc do ăn phải mướp đắng và không có trường hợp nào tử vong Năm 2016, Toàn tỉnh ghi nhận 147 ca ngộ độc lẻ tẻ nhưng không xảy ra trường hợp tử vọng Đồng thời, công tác TTPB về VSATTP tại các huyện, thị xã vẫn còn nhiều tồn tại đó là: sự phân công

chậm, chưa rõ ràng, kinh phí hạn chế, cán bộ làm công tác ATTP chưa được đào tạo bài bản,… đó là những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ nhằm nâng cao hiệu quả TTPB về VSATTP ở các huyện, thị xã

Trang 9

2

Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Tuyên truyền phổ

bi ến về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Đăk Nông”làm luận

văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công

2 T ổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

Trong thời gian qua, vấn đề ATTP đã thu hút sự quan tâm chú ý của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu Qua quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học cũng như báo cáo em nhận thấy có một số đề tài, bài viết điển hình có nội dung gần nhất với đề tài khóa luận này như:

- Trong nghiên cứu của tác giả Chu Thế Vinh về đề tài: “Thực trạng ATTP ở các cơ sở ăn uống và công tác quản lý tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng năm 2012-2013”, tác giả đã có nhìn nhận sâu sắc về thực trạng ATTP tại thành phố Đà Lạt Nghiên cứu đã đánh giá thực trạng điều kiện ATTP tại

cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống (DVAU) tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng sẽ phần nào giúp cho ngành Y tế và các ngành liên quan trong việc phối hợp thực hiện tốt hơn công tác bảo đảm ATTP trong thời gian tới, hướng đến mục tiêu bảo đảm 100% cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống đạt tiêu chuẩn ATTP theo quy định của Bộ Y tế Do đó, kết quả của nghiên cứu không suy rộng ra địa phương khác, nghiên cứu này có thể là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo [16]

- Nguyễn Thị Giang, Bùi Thị Thu Hương - Khoa Kinh tế - Đại học Thương Mại (2009), đề tài nghiên cứu khoa học “Một số giải pháp trong QLNN đối với vấn đề ATTP tại các chợ trên địa bàn Quận Cầu Giấy” Đề tài

đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát vấn đề ATTP tại một số chợ trên địa bàn quận Cầu Giấy như chợ Đồng Xa, chợ Nhà Xanh, chợ Nghĩa Tân Từ đó chỉ

ra được thực trạng tình hình vi phạm ATTP, vấn đề QLNN về ATTP tại các chợ này Trên cơ sở quan điểm định hướng của Nhà nước về vấn đề ATTP, đề tài đã đưa ra giải pháp, kiến nghị với cơ quan quản lý nhằm thực hiện tốt hơn

Trang 10

- Trần Cầm Giang, Bùi Thị Thanh Huyền, Lê Thị Tri - Lớp 06QT2D, Khoa Quản trị kinh doanh - Đại học Tôn Đức Thắng thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu khoa học 2010 “Một số giải pháp tăng cường và kiểm soát ATTP

ở thành phố Hồ Chí Minh” Đề tài đã hệ thống hóa lại cơ sở lý luận về ATTP

để làm luận cứ cho việc nghiên cứu Tìm hiểu tình trạng vi phạm ATTP, công tác kiểm soát, quản lý, tuân thủ của các cơ quan chức năng và đề xuất giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm soát đối với vấn đề ATTP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đề tài này cũng có nhiều nét tương đồng với đề tài của học viên, nghiên cứu thực trạng ATTP để đưa ra giải pháp cho công

tác QLNN về ATTP [10]

Trên đây là một số đề tài có nét tương đồng nhất định với đề tài này nên học viên cũng đã tiếp thu thêm nhiều điểm mới trong đề tài đó Ngoài ra còn một số đề tài khác liên quan nhưng đề tài cũng có những nét khác biệt

nhất định nên tác giả tiếp tục nghiên cứu vấn đề này Tuy nhiên, từ trước đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào nghiên cứu cho tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Đăk Nông Đây là một khoảng trống trong nghiên cứu cần khắc phục, xuất phát từ tầm quan trọng của các chính sách QLNN cũng như thực tế đòi hỏi.Vì vậy, đề tài:

“Tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Đăk Nông” là một đề tài nghiên cứu tiếp theo trong thời gian hiện nay Qua

đó, hy vọng có thể bổ sung, hoàn thiện hơn những kết luận nghiên cứu trước

Trang 11

4

đây nhằm góp phần hoàn thiện việc tuyên truyền phổ biến về VSATTP ở các

địa phương trong cả nước

3 M ục đích và nhiệm vụ của đề tài

- Mục đích: Tăng cường hiệu quả tuyên truyền phổ biến về VSATTP trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Một là, hệ thống hóa và phân tích cơ sở lý luận đối với tuyên truyền

phổ biến về VSATTP trên địa bàn tỉnh Đăk Nông

+ Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng tuyên truyền phổ biến về VSATTP trên địa bàn tỉnh Đăk Nông

+ Ba là, đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền phổ

biến về VSATTP trên địa bàn tỉnh Đăk Nông

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu:

Tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Đắk Nông

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về không gian: Trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

+ Phạm vi về thời gian: Giai đoạn từ 2014 đến 2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thấy rõ được thực trạng Tuyên truyền phổ biến về VSATTP trên địa bàn tỉnh diễn ra như thế nào và đưa ra các giải pháp tăng cường tuyên truyền

phổ biến trên địa bàn tỉnh, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:

Gồm phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và phương pháp thu thập dữ

liệu sơ cấp

- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp:

Trang 12

5

Luận văn thu thập, phân loại tài liệu đã được công bố về thực trạng và chính sách nhà nước nhằm tuyên truyền phổ biến VSATTP như: các đề án, đề tài, sách tham khảo, các bài báo khoa học chuyên ngành, các luận văn tiến sỹ, đồng thời thu thập, phân loại các văn bản nhà nước về VSATTP nói chung và

những văn bản nhà nước được tỉnh Đăk Nông áp dụng nói riêng đã được ban hành như: Luật, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Nghị quyết, Thông tư, liên quan đến VSATTP

Luận văn còn khai thác và sử dụng các số liệu trực tuyến trên Internet

của Tổng cục thống kê, Bộ Y tế, các tổ chức Chính phủ, đồng thời sử dụng các quan điểm, đánh giá, nhận định của các chuyên gia về chính sách quản lý nhà nước về VSATTP đã công bố

Sau khi có các dữ liệu thứ cấp, tiến hành đánh giá, lựa chọn, sử dụng

dữ liệu phù hợp, kết hợp với phỏng vấn, hình thành nên khung lý thuyết nghiên cứu đồng thời đánh giá thực trạng và tác động của chính sách nhà nước giai đoạn từ năm 2014 đến 2018

- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:

Là phương pháp thu thập thông tin trong đó nhà nghiên cứu tiến hành quan sát đối tượng nghiên cứu Đây là một phương pháp thu thập dữ liệu đơn

giản, dễ thực hiện nhưng rất hữu ích, đầy đủ Người quan sát có thể sử dụng trực tiếp tai, mắt, để nghe, nhìn bằng phương tiện cơ giới

Luận văn sẽ tập trung quan sát trực tiếp điều kiện, dụng cụ sản xuất,

chế biến thực phẩm, địa điểm kinh doanh thực phẩm và cách thức quản lý của

các cơ quan chức năng trong địa bàn Tỉnh về VSATTP

5.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

- Phương pháp xử lý dự liệu sơ cấp

Để phân tích dữ liệu thu thập trên luận văn tập trung vào phương pháp phân tích thống kê truyền thống, bảng excel Khi sử dụng phương pháp này, các dữ liệu xử lý bằng phần mềm excel và tổng hợp phân tích dựa trên các

Trang 13

5.3 Phương pháp khác

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp đồ thị, biểu đồ, hình vẽ hoặc mô hình Từ các bảng số liệu, lập ra biểu đồ để thông qua đó quan sát và rút ra những đánh giá

tổng quát Tuyên truyền phổ biến về VSATTP trên địa bàn tỉnh Đăk Nông

6 Ý nghĩa, lý luận và thực tiển của luận văn

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về TTPB đối với vấn đề VSATTP trên địa bàn tỉnh Đăk Nông

- Đánh giá một cách tổng quát thực trạng với những kết quả và hạn chế

về TTPB đối với vấn đề ATTP trên địa bàn tỉnh Đăk Nông hiện nay

- Nêu phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường TTPB đối với vấn đề ATTP trên địa bàn tỉnh Đăk Nông trong thời gian tới

7 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

Tuyên truyền phổ biến về VSATTP có một ý nghĩa hết sức quan trọng Nghiên cứu đề tài này để thấy được thực tiễn vấn đề VSATTP đang diễn ra

hết sức phức tạp tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, các chợ trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, nghiên cứu cũng thể hiện những mặt hạn chế trong công tác Tuyên truyền phổ biến về VSATTP

Đối với đề tài: Việc nghiên cứu vấn đề này làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn

Trang 14

7

Đối với đối tượng được chọn để nghiên cứu: Việc Tuyên truyền phổ biến đối với các cơ sở chế biến, sản xuất, kinh doanh thực phẩm tốt sẽ giúp

phần cải thiện chất lượng sản phẩm bán ra, giảm thiểu số vụ ngộ độc thực

phẩm, giúp các cơ sở này kinh doanh lành mạnh hơn

Đối với vấn đề tuyên truyền phổ biến: Nghiên cứu những vấn đề về VSATTP trên địa bàn tỉnh Đăk Nông mang lại một cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng công tác tuyên truyền phổ biến về VSATTP trên địa bàn tỉnh, từ đó đưa ra được giải pháp tăng cường tuyên truyền phổ biến nhằm thay đổi được hành vi con người, giảm thiểu số tai nạn về VSATTP nói chung

8 K ết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Mục lục, Danh mục, Phụ

lục, Bảng biểu, Tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn bao gồm như sau:

Chương1: Cơ sở lý luận của tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn

thực phẩm

Chương 2: Thực trạng tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực

phẩm trên địa bàn tỉnh Đăk Nông

Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường tuyên truyền phổ biến

về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Đăk Nông

Trang 15

Theo cách hiểu phổ biến, thực phẩm là những sản phẩm dùng cho việc

ăn, uống của con người ở dạng nguyên liệu tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm [18]

Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 quy định, Thực

phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản (khoản 1 Điều 3)

Cũng theo pháp lệnh này, Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) là các

điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức

khỏe, tính mạng của con người (khoản 2 Điều 3)

Luật An toàn thực phẩm 2010 (thay thế Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực

phẩm năm 2003) quy định, An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm

không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người (khoản 1 Điều 2); Điều

ki ện bảo đảm an toàn thực phẩm là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy

định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khoẻ, tính mạng con người (khoản 6 Điều 2) Như vậy, theo cách hiểu từ điều chỉnh

Trang 16

9

của Luật, an toàn thực phẩm (ATTP) bao hàm cả yếu tố đảm bảo vệ sinh thực phẩm Trong luận văn này, về mặt thuật ngữ, sử dụng cụm từ VSATTP để đảm bảo lô-gic về mặt hình thức Về nội dung, để phù hợp với quy định hiện hành, ATTP bao hàm cả nghĩa về VSTP

Về thuật ngữ ATTP, theo cách hiểu phổ biến, là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển, cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng [18]

Theo các chuyên gia của Tổ chức Lương Nông (FAO) và tổ chức Y tế Thế giới thì: “ATTP là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng” Quan niệm này rất đầy đủ, lột tả được bản chất của vấn đề nhưng đề ngắn gọn và dễ hiểu mà vẫn bao hàm được ý nghĩa trong quản lý, khái niệm được chấp nhận hơn cả là: “ATTP là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người, không chứa các tác nhân sinh học, hóa học, lý học quá giới hạn cho phép” [19]

1.1.2 Quan niệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Luật ATTP 2010 quy định quản lý nhà nước về VSATTP Theo quy định của Luật này thì, QLNN về VSATTP là việc nhà nước thực hiện quyền

lực công dân để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động về ATTP

QLNN về VSATTP là quản lý theo ngành do nhiều cơ quan thực hiện

Đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, cơ chế và chính sách phát triển lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội QLNN về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện VATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh

Trang 17

lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý và nghiên cứu khoa học

1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

ATTP là một vấn đề rất phức tạp, quản lý rất khó khăn, đòi hỏi có nhiều chủ thể tham gia vào quản lý thì mới đạt hiệu quả đặt ra; tổ chức quản

lý về ATTP phải được đổi mới cho phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp với chiến lược phát triển mà Đảng và Nhà nước đã đạt ra, mà chủ thể chính và quan trọng nhất là Nhà nước Theo quy định của pháp luật QLNN đối với vấn

đề ATTP bao gồm những nội dung như sau:

1.1.3.1 Ban hành và tri ển khai các văn bản về an toàn thực phẩm

- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về ATTP;

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về ATTP, các quy định và tiêu chuẩn về ATTP;

- Ban hành các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành

Trang 18

11

- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm;

- Quản lý hệ thống kiểm nghiệm, thử nghiệm về ATTP;

- Quản lý việc công bố tiêu chuẩn ATTP, chứng nhận đủ điều kiện ATTP;

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về ATTP

- Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật về ATTP;

- Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực ATTP;

- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước về an toàn thực

1.1.4 Vai trò của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Trong những năm gần đây vấn đề ATTP đang diễn ra ngày càng trầm trọng, nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra liên tiếp, gây thiệt hại đến tính mạng con người và tiền của Trước những diễn biến đó thì vai trò của quản lý nhà nước là đặc biệt quan trọng trong đó Nhà nước là chủ thể trực tiếp và toàn diện của quản lý về ATTP Trước hết nhà nước thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến ATTP để hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch, đảm bảo ATTP Ngoài ra, thông qua các văn bản chính sách, nhà

Trang 19

Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật cũng như đội ngũ thanh tra, kiểm tra, kiểm tra các cấp để quản lý vấn đề ATTP Các bộ phận này có trách nhiệm riêng biệt để thanh tra, kiểm tra, kiểm tra lập lại trật tự sản xuất, kinh doanh theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà nước Các bộ, ngành có liên quan phối hợp với Bộ Y tế để cùng quản lý các vấn đề liên quan đến ATTP

Nhà nước tổ chức tuyên truyền, giáo dục về ATTP cho nhân dân để nâng cao ý thức và hiểu biết vấn đề này Chỉ đạo tổ chức các đợt cao điểm về ATTP, đẩy mạnh công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm, công tác tuyên truyền, giáo dục đạt hiệu quả Như vậy, Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trong mọi lĩnh vực có liên quan đến thực phẩm từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng

Mặt khác, QLNN về ATTP là sự tác động của các cơ quan QLNN về ATTP nhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Công tác quản lý chất lượng thực phẩm ra đời và phát triển cùng với các hoạt động của đời sống kinh tế và xã hội, công tác quản lý ATTP có vai trò quan trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc đến hầu khắp các lĩnh vực, từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cho đến việc bảo vệ môi trường, an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng và lợi ích quốc gia Trong thời kỳ nền kinh tế phát triển như hiện nay thì vai trò của quản lý ngày càng trở lên quan trọng Vai trò quản lý nhà nước về ATTP trước hết

Trang 20

13

phải là vai trò định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, mà muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Như vậy, định hướng cơ bản về công tác ATTP hiện nay là đáp ứng các tiêu chuẩn quốc

tế Làm tốt công tác này sẽ giúp hàng hoá của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế

Vai trò không thể thiếu của QLNN về ATTP là việc đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc Thông qua việc quy định và kiểm soát về vệ sinh, an toàn, môi trường Nhà nước đảm bảo sản phẩm, hàng hóa, nguyên vật liệu… nhập khẩu vào Việt Nam phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho môi trường tự nhiên và xã hội Bằng các hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên ở các khu vực cửa khẩu các khu vực buôn bán để kịp thời phát hiện và xử lý những vi phạm

Nhờ có vai trò QLNN về ATTP đã tạo niềm tin đối với người tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ trên thị trường Mặt khác, vai trò của Nhà nước còn thể hiện ở chỗ

đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực ATTP Định hướng cho công tác đảm bảo ATTP theo đúng chủ trương chính sách

đã đề ra Hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực ATTP

1.1.5 Nguyên tắc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Nhà nước là chủ thể quan trọng nhất, thống nhất quản lý về ATTP Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh

Trang 21

14

Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quy định do cơ quan QLNN có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng

Quản lý ATTP phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, lưu thông kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với ATTP và tuân thủ về luật

Quản lý ATTP phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp liên ngành

Quản lý ATTP phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng

1.2 Tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm

chung cho đối tượng (hiện tượng phổ biến, quy luật phổ biến, đặc điểm phổ

biến); (đt): truyền đạt rộng khắp, làm cho nhiều người cùng biết (phổ biến kiến thức, phổ biến nghị quyết đại hội) Liên quan đến phổ biến, có khái niệm

ph ổ cập (đt), là: tiến hành rộng khắp ở mọi nơi, đến với mọi đối tượng (phổ

cập giáo dục)

Từ những phân tích nêu trên, tuyên truyền phổ biến về VSATTP có thể

hiểu là hoạt động có mục đích của chủ thể (này), bằng những hình thức, biện

Trang 22

15

pháp phù hợp, nhằm truyền đạt thông tin tới đối tượng xác định để đạt được mục đích là nâng cao nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, thay đổi hành

vi, phong tục, tập quán sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, ăn uống lạc hậu, gây

mất an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng con người; đạo đức kinh doanh, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh

với sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng thực phẩm

Khái niệm tuyên truyền, phổ biến được luận văn đề cập có nhiều ý nghĩa tương đồng với vấn đề thông tin, giáo dục, tuyền thông về ATTP được

đề cập tại Chương IX Luật ATTP 2010 Chúng đều là hoạt động có mục đích

của chủ thể, nhằm cung cấp thông tin, kiến thức để thay đổi nhận thức, hành

vi của đối tượng có liên quan đến VSATTP theo hướng tích cực Về mặt pháp

lý, tác giả luận văn lấy Chương IX của Luật ATTP năm 2010 làm cơ sở pháp

lý cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến về VSATTP

Trong TTPB về VSATTP, nội dung quan trọng là TTPB pháp luật về ATTP mà trọng tâm là Luật ATTP năm 2010

Ở góc độ chung, phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để nhà nước dùng để trị dân Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể

Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị, các cuộc tập huấn

Có nhiều hình thức tuyên truyền pháp luật, song hình thức chiếm ưu thế

và giữ một vai trò quan trọng đối Tuyên truyền phổ biến pháp luật đó là hình

thức tuyên truyền miệng Tuyên truyền miệng là hình thức mà người nói trực

tiếp nói với người nghe về một nội dung nào đó nhằm nâng cao nhận thức,

Trang 23

16

niềm tin, ý thức cho người nghe và kích thích người nghe hành động theo mục đích của người tuyên truyền; Là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm nâng cao cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt

của đời sống xã hội"

So với phổ biến thì tuyên truyền cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính

là các phương thức tuyên truyền cụ thể

Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả

đã khá thống nhất với khái niệm tuyên truyền pháp luật: Tuyên truyền pháp

luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể tuyên truyền tác động lên đối tượng tuyên truyền một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành

1.2.1.2 Đặc điểm

- Tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm được tổ chức

thực hiện bởi những chủ thể xác định (Chính phủ, Các bộ, ngành Trung ương, UBND các cấp)

- Tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm là một bộ phận

của công tác giáo dục trính trị, tư tưởng

- Tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm có mối liên hệ

chặt chẽ với công tác xây dựng, thực hiện pháp luật

- Tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật giúp đối tượng được tác động có những hiểu biết

nhất định về pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng

Trang 24

17

1.2.2 Mục đích, yêu cầu của tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm

Việc TTPB về VSATTP có mục đích là: nhằm nâng cao nhận thức về

vệ sinh an toàn thực phẩm, thay đổi hành vi, phong tục, tập quán sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, ăn uống lạc hậu, gây mất an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe, tính mạng con người; đạo đức kinh doanh, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh với sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng thực phẩm

Việc TTPB về VSATTP vệ sinh về an toàn thực phẩm phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

- Chính xác, kịp thời, rõ ràng, đơn giản, thiết thực;

- Phù hợp với truyền thống, văn hoá, bản sắc dân tộc, tôn giáo, đạo đức

xã hội, tín ngưỡng và phong tục tập quán;

- Phù hợp với từng loại đối tượng được tuyên truyền

Những yêu cầu cụ thể đối với TTPB về VSATTP:

Trước hết đều phải có hiểu biết pháp luật Nếu không nhận thức đầy đủ

vị trí quan trọng và không thực hiện tốt công tác TTPBPL về VSATTP thì dù công tác xây dựng pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm có làm tốt đến mấy cũng không đạt được hiệu quả thực thi pháp luật

Th ứ hai TTPBPL về VSATTP phải tạo dựng được lòng tin vào pháp

luật về vệ sinh an toàn thực phẩm của đối tượng

TTPBPL về VSATTP chỉ có thể được mọi người thực hiện đúng và đầy

đủ khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm TTPBPL về VSATTP là để bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, đảm

bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội Khi nào người dân nhận thức đầy đủ được như vậy thì pháp luật về vệ sinh an toàn

thực phẩm không cần một biện pháp cưỡng chế nào mà mọi người vẫn tự giác

thực hiện

Trang 25

18

Thứ ba TTPBPL về VSATTP nhằm nâng cao ý thức tự giác chấp hành

pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm của đối tượng

Ý thức tự giác chấp hành pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm của nhân dân chỉ có thể được nâng cao khi công tác TTPBPL về VSATTP cho nhân dân được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết phục TTPBPL về VSATTP không đơn thuần là phổ biến các văn bản pháp luật về

vệ sinh an toàn thực phẩm đang có hiệu lực mà còn lên án các hành vi vi

phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng tình ủng hộ các hành vi

thực hiện đúng pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm, hình thành dư luận và tâm lý đồng tình ủng hộ với hành vi hợp pháp, lên án các hành vi vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm

Th ứ tư là TTPBPL về VSATTP góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu

quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội

TTPBPL về VSATTP đồng thời tạo ra khả năng đổi mới các quan hệ

xã hội trong môi trường quản lý nhà nước bằng pháp luật, hình thành các điều

kiện và nhân tố thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tạo

ra khả năng phát hiện và loại trừ những hiện tượng tiêu cực, chống đối pháp

luật diễn ra trong quá trình quản lý

1.2.3 Nội dung tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm

Nội dung chính của TTPB về VSATTP gồm:

- Kiến thức, pháp luật về an toàn thực phẩm

+ Tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch TTPB về ATTP;

+ Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật TTPB về ATTP, các quy định và tiêu chuẩn về ATTP;

+ Thông báo bằng phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn toàn

tỉnh các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về ATTP

Trang 26

19

- Nguyên nhân, cách nhận biết nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm và các biện pháp phòng, chống sự cố về an toàn thực phẩm

- Thông tin về các điển hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo đảm

an toàn; việc thu hồi thực phẩm không bảo đảm an toàn, xử lý đối với cơ sở vi phạm nghiêm trọng pháp luật về an toàn thực phẩm

1.2.4 Đối tượng tiếp cận tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm

Đối tượng của TTPB về VSATTP là:

- Tổ chức, cá nhân được quyền tiếp cận thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm

- Ưu tiên tiếp cận thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm cho các đối tượng sau đây:

1.2.5 Hình thức tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm

- Thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về an toàn thực phẩm

- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

- Lồng ghép trong việc giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc

hệ thống giáo dục quốc dân

- Thông qua hoạt động văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt của các đoàn thể, tổ chức xã hội và các loại hình văn hoá quần chúng khác

Trang 27

- Bộ Thông tin và Truyền thông: Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng thường xuyên thông tin, truyền thông về an toàn thực phẩm, lồng ghép chương trình thông tin, truyền thông về an toàn thực phẩm với các chương trình thông tin, truyền thông khác

- Bộ Giáo dục và Đào tạo: Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ quản lý ngành

và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có liên quan xây dựng nội dung giáo dục an toàn thực phẩm kết hợp với các nội dung giáo dục khác

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn:

+ Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

+ Quản lý an toàn thực phẩm đối với sản xuất ban đầu nông, lâm, thủy sản, muối

Trang 28

21

+ Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản, rau, củ, quả và sản phẩm rau, củ, quả, trứng và các sản phẩm từ trứng, sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản phẩm từ mật ong, thực phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ

+ Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

+ Báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc

lĩnh vực được phân công quản lý

- Trách nhiệm của Bộ Công Thương:

+ Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

+ Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các loại rượu, bia, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến bột

và tinh bột và các thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ

+ Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

+ Ban hành chính sách, quy hoạch về chợ, siêu thị, quy định điều kiện kinh doanh thực phẩm tại các chợ, siêu thị

Trang 29

1.3.2 Trách nhiệm của chính quyền địa phương và cơ quan, đoàn thể khác

Tại các địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm cho nhân dân trên địa bàn Nhiệm vụ này được giao cho Sở Y tế thực hiện, cơ quan tham mưu của Sở Y tế là Chi cục VSATTP Tại cấp tỉnh, Chi cục VSATTP là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh, có nhiệm vụ chủ trì hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể, tổ chức xã hội có trách nhiệm thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm thuộc phạm vi trách nhiệm của mình

1.3.3 Trách nhiệm của cơ quan thông tin đại chúng

Các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm ưu tiên về thời điểm,

thời lượng phát sóng để thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm trên đài phát thanh, đài truyền hình; dung lượng và vị trí đăng trên báo

in, báo hình, báo điện tử theo quy định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Việc thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng không thu phí, trừ trường hợp thực

Trang 30

TTPB về VSATTP là một nội dung của QLNN về VSATTP Đây là

một hoạt động có tính nghề nghiệp, được thực hiện bởi chủ thể có thẩm quyền, trách nhiệm, bằng những hình thức phù hợp với đối tượng Đây là

những vấn đề có tính lý luận cần lưu ý khi thực hiện hoạt động TTPB về VSATTP trên thực tế

Trang 31

24

Chương 2 THỰC TRẠNG TUYÊN TRUYỀN PHỔ BIẾN VỀ VỆ SINH AN TOÀN

THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK NÔNG

2.1 Khái quát về tỉnh Đắk Nông có ảnh hưởng tới tuyên truyền phố biến về vệ sinh an toàn thực phẩm

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Tây Nguyên, Đắk Nông có Quốc lộ

14 nối thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền đông Nam bộ với các tỉnh Tây nguyên, cách Thành phố Hồ Chí Minh 230 km về phía Bắc và cách Thành phố Ban Mê Thuột (Đắk Lăk) 120 km về phía Tây Nam; có Quốc lộ 28 nối Đắk Nông với Lâm Đồng, Bình Thuận và các tỉnh Duyên hải miền Trung, cách Thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) 180 km và Thành phố Phan Thiết (Bình Thuận) 230 km về phía Đông Đăk Nông có 130 km đường biên giới với nước

bạn Campuchia, có 02 cửa khẩu Bu Prăng và Dak Peur nối thông với Mondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh, Siem Reap, v.v

Diện tích tự nhiên có 650.927 ha, có 08 đơn vị hành chính cấp huyện,

thị xã với dân số thống kê năm 2016 là 636.000 người Có 40 dân tộc cùng sinh sống, dân tộc đa dạng, chủ yếu là dân tộc kinh, M'Nông, Tày, Thái, Ê Đê, Nùng, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ khoảng 65,5%, M'Nông chiếm 9,7%, các dân tộc khác chiếm tỷ lệ nhỏ Trung tâm tỉnh lỵ là Thị xã Gia Nghĩa

Đăk Nông là khu vực chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây Nguyên và Đông nam bộ, chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng có sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể Nhiệt độ trung bình năm 22-

Trang 32

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Lĩnh vực Kinh tế

Về định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực Cụ thể ngành nông, lâm, thủy sản phát huy tiềm năng, thế mạnh đất đai và các điều kiện tự nhiên

nhằm đẩy mạnh phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa, xuất khẩu, gắn sản

xuất nông, lâm nghiệp với công nghiệp chế biến Tiếp tục đẩy mạnh chuyển

dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, thâm canh tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp thời kỳ 2011 - 2015 bình quân 7,5%/năm, trong đó trồng trọt tăng 7%/năm, chăn nuôi tăng 11,5%/năm, khâu dịch vụ tăng 21%/năm Năm 2015 thu nhập từ ngành nghề nông thôn và dịch vụ chiếm từ 15 - 20% tổng thu

nhập của cư dân nông thôn, đưa thu nhập kinh tế hộ gấp 1,8 - 2 lần hiện nay, sản lượng lương thực có hạt đạt 360.000 tấn, bình quân đầu người 537 kg Đến năm 2020, thu từ ngành nghề, dịch vụ chiếm 30% trở lên trong thu nhập

của cư dân nông thôn, sản lượng lương thực 370.000 tấn, bình quân đầu người trên 500kg đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ

Về phát triển thủy sản, lâm nghiệp tiếp tục đẩy mạnh nuôi trồng thủy

sản nước ngọt Cùng với chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp, cần khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cải tạo ao

hồ,diện tích mặt nước sông suối, hồ thủy điện chưa sử dụng để nuôi trồng

Trang 33

26

thủy sản Đẩy mạnh trồng rừng nguyên liệu, rừng phòng hộ nhằm phát triển vốn rừng, phủ xanh đất trống, tăng tỷ lệ che phủ toàn tỉnh

Lĩnh vực phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tiếp tục đầu tư

hạ tầng và xúc tiến, vận động doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh vào các khu công nghiệp: Tâm Thắng, Nhân Cơ và các cụm công nghiệp: Đắk Ha, Thuận An Thu hút đầu tư kinh doanh hạ tầng các cụm công nghiệp đã được quy hoạch, tạo điều kiện thuận lợi vềmặt bằng trong thu hút đầu tư Phấn đấu đến năm 2015 đưa giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh đạt 5.067 tỷ đồng, tăng bình quân 24,23%/năm thời kỳ 2011 - 2015, đến năm

2020 đạt 11.490 tỷ đồng, tăng bình quân khoảng 20,9%/năm thời kỳ 2011 -

2020

Về phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch Năm 2015 tổng kim

ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt khoảng 550 triệu USD, đến năm 2020 kim

ngạch xuất khẩu đạt khoảng 1.500 triệu USD Tốc độ tăng kim ngạch xuất

khẩu trên địa bàn tỉnh tăng bình quân 16,17%/năm giai đoạn 2011 - 2015 và giai đoạn 2016 - 2020 là 22,2%/năm Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu

dịch vụ xã hội đạt 18.405 tỷ đồng vào năm 2015, tăng bình quân 26,8%/năm giai đoạn 2011 - 2015; đạt 43.400 tỷ đồng vào năm 2020, tốc độ tăng bình quân cả giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 18,72%/năm

2.1.2.2 Lĩnh vực xã hội:

- Y t ế - Sức khoẻ:

Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được cải thiện, mạng lưới y

tế cơ sở được củng cố, nâng cấp; hệ thống y tế trên địa bàn phát triển mạnh cả

về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Các chương trình dự án mục tiêu quốc gia về y tế được thực hiện tốt Cơ sở vật

chất, trang thiết bị y tế được quan tâm đầu tư, có chất lượng hơn; tăng cường các dịch vụ kỹ thuật mới trong khám chữa bệnh Trách nhiệm và y đức của cán

bộ y tế được nâng lên Chủ động phòng, chống các dịch bệnh, không để lan

Trang 34

27

rộng Y học cổ truyền tiếp tục phát triển, Hội Đông y các cấp được củng cố và duy trì hoạt động, số lượng bệnh nhân khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền ngày càng tăng QLNN trong lĩnh vực ATTP, hành nghề y dược tư nhân; y học

cổ truyền, quản lý giá thuốc, vật tư y tế chuyển biến tốt hơn

Thực hiện tốt công tác tiếp âm, sản xuất trang truyền hình địa phương

và cộng tác viên với Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Tỷ lệ hộ được xem đài truyền hình 95% và nghe đài tiếng nói Việt Nam là 97%

- Văn hóa – Xã hội – Môi trường:

65% thôn, bon, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn thôn, bon, tổ dân phố văn hoá; 50 % xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn văn hoá 100% xã, phường, thị trấn có trạm truyền thanh cơ sở; tỷ lệ hộ được nghe sóng truyền thanh đạt 100; tỷ lệ hộ được xem truyền hình đạt 100%

- 100% các cơ sở sản xuất mới phải áp dụng công nghệ sạch, xử lý chất

thải đạt tiêu chuẩn môi trường 95% khu vực công cộng, khu đông dân có thùng gom rác thải 100% các cơ sở sản xuất công nghiệp, cụm công nghiệp

có hệ thống xử lý rác thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường, thu gom 95%

chất thải rắn sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ 98% dân cư được sử dụng nước sạch

2.1.2.3 Đánh giá chung về tỉnh Đăk Nông

- V ề thuận lợi:

+ Sự quan tâm chỉ đạo của các cấp từ Trung ương đến địa phương đối

với công tác đảm bảo VSATTP

+ Sự chỉ đạo và hướng dẫn trực tiếp chuyên ngành của các Cục ATTP, Cục QLCL NLS & TS, Bộ Công thương, và của Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên

+ Sự quan tâm chỉ đạo thống nhất của Thường trực BCĐ VSATTP tỉnh đối với toàn bộ hệ thống quản lý công tác ATVSTP từ tỉnh đến huyện/thị xã, xã/phường/thị trấn

Trang 35

28

+ Sự phối hợp hoạt động của Sở Y tế, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Sở Công thương, Sở Khoa học & Công nghệ, Phòng Cảnh sát Môi trường - Công an tỉnh và các ban ngành, tổ chức đoàn thể xã hội, tạo sự gắn

kết đồng thuận trong công tác thanh kiểm tra, quản lý ATVSTP trên địa bàn

+ Về kinh phí:

Nguồn kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia VSATTP do Trung ương cấp còn hạn chế

+ Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc: còn thiếu trên

tất cả các tuyến, các ngành; Đặc biệt là phòng kiểm nghiệm, trang thiết bị,

dụng cụ, phương tiện phục vụ công tác lấy mẫu, kiểm nghiệm, kiểm tra nhanh

những chỉ tiêu ATTP đối với sản phẩm thực phẩm còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn quản lý

Trang 36

29

+ Phần lớn các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có quy mô nhỏ lẻ, manh mún, nhân công lao động ít, nguồn vốn đầu tư hạn hẹp, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất còn hạn chế, chưa được nhân rộng

2.2 Tổ chức bộ máy thực hiện tuyên truyển phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm

2.2.1 Thiết lập mạng lưới quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm

Công tác TTPB về ATTP đã được tổ chức, thực hiện theo quy định của pháp luật UBND tỉnh Đắk Nông chỉ đạo các Sở Y tế, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện nhiệm vụ TTPB về ATTP Các chi cục dưới Sở trực tiếp thực hiện nhiệm vụ TTPB về ATTP bao gồm Chi cục Quản lý thị trường, Chi cục ATTP, Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản Dưới chi cục là các đơn vị tham gia vào công tác chuyên môn; Công tác TTPB về ATTP (trong ngành y tế) đã được củng cố và đi vào hoạt động từ năm 2005, đến nay đã dần hoàn thiện Đã thành lập được Ban chỉ đạo liên ngành về ATTP, cấp huyện và cấp xã chỉ đạo hoạt động tuyên truyền đảm bảo ATTP trên địa bàn, sự phối hợp giữa các cơ quan trong công tác tuyên truyền phổ biến về an toàn thực phẩm như: UBND các huyện, thị xã đã thành

lập các đoàn liên ngành gồm y tế, kinh tế, kinh tế và Hạ tầng, Trung tâm y tế

dự phòng, đội quản lý thị trường, Công an các huyện/ thị xã, Đài truyền thanh truyền hình, uỷ ban mặt trận tổ quốc các huyện/thị xã, Đoàn thanh niên, Hội nông dân, Phòng Giáo dục và đào tạo; có trách nhiệm tuyên truyền phổ biến

về ATTP trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý và theo phân cấp của các Bộ Tuy nhiên, một số cán bộ còn thiếu kiến thức về tuyên truyền phổ biến về VSATTP và yếu về chuyên môn dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong triển khai nhiệm vụ Trước những yêu cầu ngày càng cao, việc nâng cao kiến thức quản lý và kiến thức chuyên môn ngày càng trở nên quan trọng

Trang 37

30

Bộ máy QLNN về ATTP đã được tổ chức, thực hiện theo quy định của pháp luật UBND tỉnh Đắk Nông chỉ đạo các Sở Y tế, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện nhiệm vụ quản lý về ATTP Các chi cục dưới Sở trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý về ATTP bao gồm Chi cục Quản lý thị trường, Chi cục ATTP, Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản Dưới chi cục là các đơn vị tham gia vào công tác chuyên môn

Bộ máy QLNN về ATTP (trong ngành y tế) đã được củng cố kiện toàn

và đi vào hoạt động từ năm 2005, đến nay bộ máy đã dần hoàn thiện Đã thành lập được Ban chỉ đạo liên ngành về ATTP, cấp huyện và cấp xã chỉ đạo toàn bộ hoạt động đảm bảo ATTP trên địa bàn

Mạng lưới quản lý về ATTP được thể hiện qua sơ đồ sau:

Ngu ồn: Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Đăk Nông

Sơ đồ 2.1 Mạng lưới quản lý an toàn thực phẩm

Qua sơ đồ 2.1 cho thấy UBND các cấp chỉ đạo toàn bộ hoạt động QLNN về ATTP trên địa bàn, tại tuyến tỉnh ngoài các sở ngành là đơn vị tham mưu chính cho UBND cấp tỉnh thì các chi cục chịu trách nhiệm về chuyên môn lĩnh vực ATTP Đối với tuyến huyện, tham mưu chính cho UBND cấp huyện về ATTP có phòng Y tế, phòng Kinh tế và trung tâm Y tế

UBND TỈNH

UBND huyện

Trang 38

31

Nguồn: Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Đăk Nông

S ơ đồ 2.2 Bộ máy quản lý về an toàn thực phẩm ngành Y tế Đắk Nông

Qua sơ đồ 2.2 cho thấy bộ máy quản lý về an toàn thực phẩm của ngành y tế, chi cục vệ sinh ATTP của tỉnh đã chỉ đạo xuyên suốt hoạt động chuyên môn lĩnh vực ATTP thuộc ngành y tế quản lý thông qua đơn vị chuyên môn là trung tâm y tế, phòng y tế

Tuy nhiên, cần phải có một bộ máy quản lý từ TW đến địa phương đầy

đủ, thống nhất Chức năng về quản lý phải làm tốt được ba vấn đề: Lập kế hoạch - tổ chức phân công triển khai thực hiện – giám sát, kiểm tra, đánh giá Nguồn lực cho quản lý (nhân lực, tài lực, vật lực, thông tin) phải đáp ứng được yêu cầu thực tế Các văn bản pháp quy, các tiêu chuẩn, chế độ, chính sách cần được đầy đủ, thống nhất, phù hợp Song thực tế, ở Việt Nam quản lý chuỗi thực phẩm “từ trang trại đến bàn ăn” do nhiều Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào dẫn đến tình trạng để trôi nổi, bỏ ngỏ nhiều cơ sở, nhiều chỗ lại chồng chéo

Theo quy định cấp Bộ, Bộ Y tế là cơ quan đầu mối, chủ trì các vấn đề liên quan đến ATTP, cấp tỉnh Sở Y tế là cơ quan chủ trì, đầu mối nhưng kết quả thực hiện thì ngành nào chịu trách nhiệm trước Bộ, ngành đấy, các ngành liên quan không chịu trách nhiệm trước Bộ y tế, Sở Y tế, lợi ích bộ phận gắn

BCĐ liên ngành

Trang 39

2.2.2 Kiện toàn Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh – cơ quan chủ trì công tác tuyên truyền phổ biến về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh

Theo quyết định của Sở Y tế tỉnh Đắk Nông, Chi cục VSATTP tỉnh có

vị trí, chức năng: là tổ chức trực thuộc Sở Y tế, giúp Giám đốc Sở Y tế tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về

an toàn thực phẩm; thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về an toàn thực phẩm, thực hiện thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật

Chi cục VSATTP tỉnh (sau đây gọi tắt là Chi cục) có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Tham mưu giúp Giám đốc Sở Y tế trình cấp có thẩm quyền ban hành các quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, kế hoạch năm năm và quy chế phối hợp liên ngành trong lĩnh vực an toàn thực phẩm

- Trình Giám đốc Sở Y tế ban hành kế hoạch hằng năm, chương trình,

đề án, dự án về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh

- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các chương trình mục tiêu, chương trình hành động, đề án, dự án đã được phê duyệt về an toàn thực phẩm

Trang 40

ăn uống theo quy định của pháp luật

- Chủ trì hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm

- Chủ trì, hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm trên địa bàn tỉnh

- Tổ chức cấp, đình chỉ và thu hồi các giấy chứng nhận liên quan đến an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ Y tế

- Chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn an toàn thực phẩm trên địa bàn; tổ chức tập huấn, kiểm tra và cấp giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm cho Chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh;

- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế; thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm; xử lý, xử phạt vi phạm hành chính và kiến nghị về lĩnh vực an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật

- Phối hợp với các đơn vị liên quan ở địa phương hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm việc thực hiện các quy định của pháp luật về quản

lý an toàn thực phẩm theo chuỗi cung cấp thực phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng

Ngày đăng: 16/08/2021, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w