Bằng việc tiếp nhận và thấm nhuần các tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh, cùng với những suy nghĩ, quan sát tinh tế của một nhà văn, tác giả đã cho ra đời nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết ph
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
NGUYỄN TIẾN THỦY
CON NGƯỜI HIỆN SINH TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN DANH LAM
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8220121
LUÂ ̣N VĂN THẠC SĨ
BÌNH DƯƠNG – 2021
Trang 2UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
NGUYỄN TIẾN THỦY
CON NGƯỜI HIỆN SINH TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN DANH LAM
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 8220121
LUÂ ̣N VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TẠ ANH THƯ
BÌNH DƯƠNG – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Tạ Anh Thư Những trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn chưa được công bố
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Bình Dương, ngày 20 tháng 5 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Tiến Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên chúng tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Thủ Dầu Một, Viện Đào tạo sau đại học, Khoa Sư phạm đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện luận văn này
Tiếp theo chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô trong trường đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tại Trường Đại học Thủ Dầu Một
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô công tác tại Thư viện Trường Đại học Thủ Dầu Một, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện tỉnh Bình Dương đã hết lòng phục vụ, cung cấp tài liệu để chúng tôi hoàn thành luận văn
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn nhà văn Nguyễn Danh Lam đã trả lời những thắc mắc và định hướng cho chúng tôi trong quá trình tiếp xúc và nghiên cứu các tác phẩm của ông
Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Tạ Anh Thư đã tận tình hướng dẫn chúng tôi xây dựng đề cương; chỉ dẫn cho chúng tôi những tư liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu; góp ý, điều chỉnh những sai sót để chúng tôi hoàn thiện luận văn và đặc biệt đã luôn động viên, chia sẻ những khó khăn với chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Và cuối cùng, chúng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, khuyến khích và cổ vũ tinh thần để chúng tôi có thể hoàn thành luận văn
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan …… i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Nghiên cứu về con người hiện sinh trong văn học Việt Nam 2
2.2 Nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Danh Lam và truyện ngắn của ông 5
2.3 Nghiên cứu về con người hiện sinh trong truyện ngắn Nguyễn Danh Lam 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
3.1 Đối tượng nghiên cứu 9
3.2 Phạm vi nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 10
4.1 Phương pháp cấu trúc - hệ thống 10
4.2 Phương pháp lịch sử 10
4.3 Phương pháp Thi pháp học 10
5 Đóng góp của đề tài 10
6 Cấu trúc luận văn 11
Chương 1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VÀ NHÀ VĂN NGUYỄN DANH LAM 13
1.1 Khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và con người hiện sinh trong văn học 13
1.1.1 Khái niệm 13
Trang 61.1.1.1 Khái niệm chủ nghĩa hiện sinh 13
1.1.1.2 Khái niệm con người hiện sinh 14
1.1.2 Sự biểu hiện của khuynh hướng hiện sinh, con người hiện sinh trong văn học Việt Nam 15
1.2 Nhà văn Nguyễn Danh Lam trong văn xuôi Việt Nam đương đại 24
1.2.1 Sự nghiệp sáng tác 24
1.2.1.1 Hành trình sáng tác 24
1.2.1.2 Dấu ấn của Nguyễn Danh Lam trong văn xuôi Việt Nam đương đại 25
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật 26
1.2.2.1 Quan niệm về con người 26
1.2.2.2 Quan niệm sáng tác 26
Tiểu kết 27
Chương 2 CON NGƯỜI HIỆN SINH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN DANH LAM NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 28
2.1 Những nỗi đau của con người trong cuộc sống 28
2.1.1 Cô đơn, lạc lõng giữa dòng chảy cuộc đời 28
2.1.2 Thống khổ trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc 33
2.1.3 Lưu lạc nơi đất khách quê người 45
2.1.4 Hoang tưởng giữa cuộc sống thực tại 47
2.1.5 Lạc lối, vô định, sa chân vào vũng bùn tội lỗi 50
2.2 Những giá trị nhân văn, nhân bản tốt đẹp 56
2.2.1 Sự thức tỉnh trở về sau những ngày dài trượt ngã 56
2.2.2 Sự giải thoát khỏi những đắng cay đau khổ của cuộc đời 58
2.2.3 Tình người vẫn còn hiện hữu trong cuộc sống 59
Trang 7Tiểu kết 63
Chương 3 CON NGƯỜI HIỆN SINH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN DANH LAM NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 64
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 64
3.1.1 Miêu tả nhân vật qua ngoại hình 64
3.1.2 Miêu tả nhân vật qua nội tâm 67
3.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 70
3.2.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện đồng nhất 70
3.2.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện phân mảnh 72
3.2.3 Nghệ thuật xây dựng truyện như không truyện 75
3.3 Giọng điệu 76
3.3.1 Giọng điệu triết lí 76
3.3.2 Giọng điệu vô âm sắc 78
3.4 Các mô - tip hiện sinh 80
3.4.1 Mô - tip cuộc đời phi lí 81
3.4.2 Mô - tip hành trình 82
3.5 Không gian, thời gian nghệ thuật 85
3.5.1 Không gian nghệ thuật 85
3.5.1.1 Không gian thực và mơ 85
3.5.1.2 Không gian không xác định 87
3.5.2 Thời gian nghệ thuật 89
3.6 Hệ thống các kí hiệu 91
3.6.1 Kí hiệu tên người 91
3.6.2 Kí hiệu tên địa điểm 92
Trang 83.7 Hệ thống các yếu tố kì ảo 94
Tiểu kết 95
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÁC PHẨM 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhận diện cuộc sống, khám phá con người là vấn đề mà văn học thời kì nào cũng quan tâm đến Tuy nhiên do bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử xã hội, các tư tưởng văn hóa và các trào lưu văn học mà sự phản ánh của các nhà văn có điểm khác nhau Nước Việt Nam ta sau năm 1986 có nhiều thay đổi về mọi mặt của đời sống xã hội Điều đó làm cho văn học cũng thay đổi mạnh mẽ theo Một trong những điểm đáng ghi nhận của các sáng tác thời kì này là sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn Bên cạnh những con người công dân, con người nhập cuộc luôn sống vì lí tưởng, vì mục tiêu chung của dân tộc, hăng say chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc và lao động để xây dựng đất nước trong niềm vui, niềm phấn khởi của cuộc sống mới thì văn học cũng đã có sự xuất hiện của những con người đời tư thực dụng, ích kỉ, có nguy cơ bị tha hóa; con người hoài nghi, âu lo về cuộc sống hay những con người tự nhiên với những khát vọng bản năng thầm kín Mọi ngóc ngách trong sâu thẳm tâm hồn con người đã được văn học khai phá Điều đó làm cho cuộc sống của họ có thêm nhiều nỗi đau, nỗi chán chường, tuyệt vọng không chỉ diễn ra ở mặt thể xác mà còn hiện hữu ở mặt tinh thần Cũng chính vì vậy mà vấn đề con người và thân phận con người trong cõi nhân sinh được các nhà văn đặc biệt quan tâm, khai thác và thể hiện phong phú
Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XX Trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt và bi thảm, triết học và văn học hiện sinh được giới thiệu, quảng bá qua hệ thống giáo dục, xuất bản và báo chí Sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh đến văn học thể hiện ở cả hai bình diện lí luận và sáng tác Nhiều tác phẩm mang khuynh hướng hiện sinh ra đời, tác động mạnh đến giới độc giả chuyên môn lẫn độc giả phổ thông, trở thành một hiện tượng văn học lúc bấy giờ Việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh cũng trở thành một hoạt động cần thiết trong nghiên cứu văn học Việc nghiên cứu chủ
Trang 10nghĩa hiện sinh góp phần khẳng định tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của nó đến nền văn học nước nhà
Nguyễn Danh Lam là một cây bút trẻ nhưng nhận được nhiều thiện cảm của các nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam đương đại Bằng việc tiếp nhận và thấm nhuần các tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh, cùng với những suy nghĩ, quan sát tinh tế của một nhà văn, tác giả đã cho ra đời nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết phản ánh sâu sắc chủ đề trên với nhiều hình, nhiều vẻ khác nhau gây hứng thú và chiêm nghiệm cho người đọc Chúng ta có thể kể một số tác phẩm
tiêu biểu của ông viết về đề tài này như Mưa tháng mười một (tập truyện ngắn – 2008), Giữa dòng chảy lạc (tiểu thuyết - 2010), Cuộc đời ngoài cửa (tiểu thuyết
– 2014) Tiểu thuyết là thể loại có khả năng miêu tả cuộc sống bề bộn, phức tạp, tiểu thuyết cũng là nơi mà nhà văn có thể thỏa sức thể hiện các yếu tố kĩ thuật của mình Chính vì vậy khi nghiên cứu về Nguyễn Danh Lam, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm đến thể loại này hơn Điều đó khiến cho truyện ngắn của ông mặc dù rất đặc sắc nhưng ít được bàn luận và nghiên cứu một cách tổng quan, có hệ thống
Vì những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là Con người hiện sinh
trong truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam với mục đích làm rõ một khía cạnh
tiêu biểu về mặt nội dung và những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc trong các sáng tác ở thể loại truyện ngắn của ông Qua đó, đề tài cũng góp phần làm rõ tài năng
và sự đóng góp của một nhà văn trẻ với nền văn học nước nhà
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu về con người hiện sinh trong văn học Việt Nam
Trong công trình Vấn đề con người trong văn học, Lê Ngọc Trà đã nhấn
mạnh rằng cần chấm dứt quan niệm cho rằng viết về cái xấu, cái kém cỏi, nỗi đau, bi kịch của con người là tạp nham, nhỏ bé, thua kém các đề tài lớn về lao động sản xuất và chiến đấu Ông nói: “Văn học là sự thật Mà sự thật chủ yếu của văn học là sự thật và con người Nhiều năm qua văn học chúng ta còn mắc nợ
Trang 11cuộc đời về sự thật Sự thật về người nông dân Việt Nam trong bao cơn bão táp của cách mạng và chiến tranh, về người lính suốt ba thế hệ cầm súng đánh giặc trên đủ loại chiến trường với bao nhiêu vinh quang, hi sinh và mất mát, về anh cán bộ nghiêm túc, lương không đủ ăn, về người trí thức cách mạng với lòng yêu nước và những ngộ nhận ngây thơ, với niềm tâm huyết, say mê và bao điều dằn vặt Các nhà văn ngày nay phải trả món nợ ấy cho đời” (Lê Ngọc Trà, 1990) Tức
là văn học phải đi sâu khai thác những số phận đáng thương, những cảnh đời bất hạnh, những đau khổ, trái ngang mà con người phải gánh chịu trong cuộc đời; không che giấu, không bỏ mặc, không ngụy trang cho nó bằng một lớp áo đẹp đẽ bên ngoài khiến cho độc giả có những nhìn nhận sai lầm, ảo tưởng về cuộc đời (Lê Ngọc Trà, 1990)
Ở công trình Chủ nghĩa Hiện sinh ở Miền Nam Việt Nam 1954-1975 (trên
bình diện lý thuyết), Huỳnh Như Phương đã chỉ ra những ảnh hưởng chính yếu
có tác động to lớn đến nền văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 về quan niệm nghệ thuật về con người, thái độ sống của con người trong chiến tranh (bên cạnh những con người vì nghĩa quên thân lại có sự xuất hiện của những con người
“nổi loạn”, “tận hưởng cuộc đời”), những trăn trở, suy tư về thân phận con người, ý thức trách nhiệm của con người thời chiến với những kĩ thuật hết sức độc đáo một lần nữa khẳng định nhận định của Lê Ngọc Trà là chính xác (Huỳnh
Như Phương, 2009)
Dịch giả Đinh Hồng Phúc trong Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản
đã chuyển tải một cách trung thành quan niệm của Jean – Paul Sartre về vận mệnh của con người Học thuyết mà tác giả giới thiệu cho rằng vận mệnh của con người là do con người quyết định và họ có quyền hi vọng vào chính bản thân mình: “Thuyết hiện sinh không gì khác hơn là nổ lực rút ra tất cả các hệ quả từ một lập trường vô thần vững chắc Nó không hề tìm cách dìm con người vào tuyệt vọng Nhưng nếu ta gọi sự tuyệt vọng là toàn bộ vô tín ngưỡng như người Công giáo thì thuyết hiện sinh xuất phát từ tuyệt vọng nguyên thủy Thuyết hiện sinh thực sự không phải là một thuyết vô thần theo nghĩa nó tận lực chứng minh
Trang 12rằng Thượng đế không hiện hữu Đúng hơn, nó tuyên bố rằng: cho dù Thượng đế
có hiện hữu thì cũng chẳng có gì thay đổi cả; đấy là quan điểm của chúng tôi Không phải chúng tôi tin Thượng đế hiện hữu, mà chúng tôi cho rằng vấn đề không phải sự hiện hữu của ngài Con người cần tìm lại chính mình và tin chắc rằng không có gì có thể cứu nổi con người ra khỏi bản thân mình, đó có phải là một chứng cứ có hiệu lực về sự hiện hữu của Thượng đế? Theo nghĩa này, thuyết hiện sinh là một thuyết lạc quan, một thuyết hành động” (Jean – Paul Sartre,
Đinh Hồng Phúc dịch, 2016)
Theo xu hướng ấy nhiều bài báo, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ có liên quan đến lĩnh vực văn học tiếp tục ra đời và phát triển đề tài trên Chẳng hạn như:
Bài viết Cảm thức lạc loài trong sáng tác của Thuận (Trịnh Đặng Nguyên Hương, Tạp chí Văn học số 8/2010), Cảm thức lạc loài trong văn xuôi đương đại (Trần Hạnh Mai, Ngô Thị Thu Hiền, Tạp chí Văn học số 11/2011), Con người cô
độc trong tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954 - 1975 (Nguyễn Thị Việt Nga, Tạp
chí Văn học số 3/2012)… đã soi chiếu sự tồn tại của con người từ nhiều góc độ khác nhau để hướng đến lý giải nguyên nhân của sự lạc loài Các tác giả đã theo dấu hành trình của các nhân vật từ lạc loài trong tổ ấm, lạc loài giữa cộng đồng… đến những lối thoát khỏi sự lạc loài của họ để đi đến kết luận thân phận di dân, tha hương và lưu lạc là một căn cước cố hữu của con người
Luận văn thạc sĩ Văn học Các kiểu dạng nhân vật cô đơn trong văn xuôi
Việt Nam đương đại (qua một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Chu Lai và Nguyễn Danh Lam) (Mai Thị Bình, Trường Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2014) đã khái quát về cảm giác cô đơn và đi vào những kiểu con người cô đơn cụ thể trong văn xuôi Việt Nam sau 1975
Luận văn thạc sĩ Văn học Thân phận người Việt trong tiểu thuyết hải
ngoại đương đại (Nguyễn Thị Thu Trang, Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) đã trình bày tương đối đầy đủ về thân phận của người Việt di dân sau năm 1975 với những nỗi đau do “đột ngột bị
Trang 13bứng ra khỏi đất nước như cây non chưa đủ rễ đã bị nhổ bật khỏi đất mẹ” cùng với những cách tân về mặt nghệ thuật của các nhà văn hải ngoại đương đại trên
cơ sở phù hợp với sự thay đổi, phát triển của văn học trong nước lúc bấy giờ
Hai bài viết Con người hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam mười năm
đầu XXI và Khuynh hướng hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 (Thái
Phan Vàng Anh, 2015) đã tập trung vào việc miêu tả con người hiện sinh qua các biểu hiện nổi loạn, hành trình tìm kiếm tự do, nỗi cô đơn bản thể, kiểu nhân vật chấn thương, hiện sinh tính dục
Luận án tiến sĩ Văn học Cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam
từ 1986 đến 2010 (Trần Nhật Thu, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế,
2016) đã làm rõ những biểu hiện đặc thù của cảm thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam từ năm 1986 đến 2010 trên các bình diện chính yếu như: kiểu nhân vật; không gian, thời gian nghệ thuật tương ứng; hệ thống các motif, biểu tượng tương ứng
2.2 Nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Danh Lam và truyện ngắn của ông
Mặc dù là một cựu sinh viên của Trường Đại học Mĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh nhưng Nguyễn Danh Lam lại có duyên với nghiệp văn và có nhiều nỗ lực trong việc tìm kiếm một hướng đi riêng cho mình Đọc các tác phẩm của Nguyễn Danh Lam ta sẽ thấy một lối viết rất lạ, rất đặc sắc từ nội dung cho đến hình thức Điều đó thu hút sự tò mò, khám phá cho những ai yêu thích văn chương, thích sự trải nghiệm những cảm xúc khi thì được đẩy lên đến cao trào, khi thì hụt hẫng, thất vọng Cũng chính vì điều này mà tác phẩm của ông đã thu hút được sự quan tâm và gây nhiều thiện cảm với các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Khảo sát kho dữ liệu của một số thư viện và trang mạng internet, chúng tôi nhận thấy được một số bài sau đây:
Bài viết “Bến vô thường” - thế giới những người không mặt (Nguyễn
Vĩnh Nguyên, 2005) đã đưa ra những nhận xét sắc bén về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm: “Khó có thể đi tìm một tuyến nhân vật rõ ràng, một nhân vật chính
Trang 14hay một câu chuyện đầu xuôi đuôi lọt trong cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam Đọc lại lần nữa, lại thấy nó không có nhân vật, nói cách khác, nhân vật lại không có mặt người mà biểu hiện rõ nhất trong mớ hỗn độn, tù túng, ngổn ngang kia là một thế giới người không mặt, không tên” bởi “họ mang những cái tên chợ đời, mà tác giả như người chủ nợ, ghi chúng vào trang sách theo cách “bắt thần”: thằng câm, chị mặt rỗ, cô tóc tém, thằng mắt híp, thằng “chữ ký”, lão toét, lão cóc.” (Nguyễn Vĩnh Nguyên, 2005)
Bài viết “Giữa vòng vây trần gian” dệt bằng biểu tượng và huyền thoại (Hoài Nam, 2006) đã nhận xét: “Giữa vòng vây trần gian của Nguyễn Danh Lam
không đem lại cho ta sự phản chiếu đời sống, có chăng, đó chỉ là sự phản chiếu cách nghĩ của tác giả về đời sống, nó đan dệt bằng những biểu tượng, những huyền thoại, nhưng cũng chính vì thế mà nó tạo ra sự ám ảnh và buộc ta phải
nghĩ về đời sống mà mình đang sống” (Hoài Nam, 2006) Tiểu thuyết đón nhận
hai luồng ý kiến khen chê trái chiều nhau Tuy nhiên, người đọc nhận ra ở đó những thể nghiệm mới về nghệ thuật của tác giả trong việc đi vào khám phá sâu hơn những góc khuất trong đời sống con người
Bài viết Viết văn, việc không chỉ của nhà văn (Hoài Nam, 2012) đã nhấn mạnh sự chuyển biến rất “khác” của Nguyễn Danh Lam trong tiểu thuyết Giữa
dòng chảy lạc Cuốn tiểu thuyết “đã trả người đọc lại với đời thường bằng những
chất liệu của đời thường, những câu chuyện của đời thường và cách kể chuyện
đời thường Thường đến hết mức có thể Thế giới nhân vật trong Giữa dòng chảy
lạc là thế giới của một thứ mẫu số chung tầm thường tạo thành xã hội Những
con người ấy, nếu không gánh chịu số phận bi kịch thì cũng là những cuộc đời thất bại theo một cách nào đấy” (Hoài Nam, 2012)
Bài phỏng vấn Nhà văn Nguyễn Danh Lam: Tiểu thuyết của tôi không có
nguyên mẫu (Trần Hoàng Thiên Kim, 2012) đã ít nhiều thể hiện được quan niệm
và phong cách sáng tác của nhà văn khi ông nói “Với một "cậu bé rừng xanh", cái gì cũng thiếu, cũng muốn tiếp thu, sự ảnh hưởng lại càng ào ạt, như kiểu đói quá, có thức ăn là ngấu nghiến Ngoài sách, tôi còn mê nghe và xem nhiều thứ:
Trang 15phim ảnh, hội họa, âm nhạc Tất cả đều có những ảnh hưởng đối với trang viết của tôi Nhưng có thể nói, văn xuôi của tôi không có nguyên mẫu ngoài đời, trừ cuốn tiểu thuyết đầu - mà như những người mới viết thường kể chuyện của mình Thêm nữa, lối viết của tôi khá huyền ảo Sự kiện, nhân vật đều do tôi tưởng tượng Bởi vậy, kỉ niệm gắn cuộc đời với trang viết tôi hầu như không có” (Trần Hoàng Thiên Kim, 2012)
Bài phỏng vấn Nguyễn Danh Lam mong viết được “chút gì để nghĩ”
(Dương Tử Thành, 2012) đã thể hiện được sự nghiêm túc, yêu nghề của nhà văn trong quá trình sáng tác Ông “mong ước viết được những trang, có “chút gì để nghĩ” Điều đó góp phần thể hiện quan niệm sáng tác của nhà văn và cùng nhờ quan niệm đó mà ông đã mang đến cho đời nhiều sản phẩm tinh thần giá trị
Luận văn thạc sĩ Văn học Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam (Trần
Thị Thúy, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013) đã thể hiện những đóng góp mới mẻ của Nguyễn Danh Lam về mặt nội dung và nghệ thuật cho thể loại tiểu thuyết Đặc biệt là cảm quan nghệ thuật
về con người và thân phận con người trong cõi nhân sinh
Bài viết Đứt gãy nhân sinh trong tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa của
Nguyễn Danh Lam (Lê Thị Kim Liên, Trường Đại học Thủ Dầu Một, 2018) dưới
góc nhìn của triết lí nhân sinh đã cho chúng ta thấy rõ những mảng đời đứt gãy, những con người cô đơn, lạc loài trong thế giới loài người mênh mông, vô tận
Họ sống chới với, lạc điệu nhau giữa cuộc đời Mọi sự hàn gắn đều trở nên vô nghĩa Họ có cái nhìn đầy chán chường, ngao ngán, tuyệt vọng về tương lai Tất
cả đều là do họ không có niềm tin và hi vọng vào cuộc sống, không vượt qua được sự nửa vời trong suy nghĩ và hành động của bản thân
Luận văn thạc sĩ Văn học Việt Nam Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết
Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam (Lê Thị Kim
Liên, Trường Đại học Thủ Dầu Một, 2018) đã đánh giá cao tài năng của nhà văn Nguyễn Danh Lam qua việc sử dụng nghệ thuật tự sự, việc tổ chức cốt truyện, thời gian, không gian trần thuật, việc lựa chọn phương thức trần thuật Luận văn
Trang 16góp phần khẳng định tài năng nghệ thuật của tác giả trong việc thể hiện hình thức tác phẩm
Qua việc khảo sát những nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Danh Lam, chúng tôi nhận thấy mặc dù có sự khác biệt trong việc đánh giá nhưng các nhà nghiên cứu đều cho rằng Nguyễn Danh Lam là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào và có sức viết rất tốt Các tác phẩm của anh sẽ là miền đất hứa chờ đợi những công trình nghiên cứu chuyên sâu của độc giả và các nhà phê bình
2.3.Nghiên cứu về con người hiện sinh trong truyện ngắn Nguyễn Danh Lam
Tuy không bằng tiểu thuyết nhưng truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam cũng nhận được sự quan tâm khá nhiều từ các nhà nghiên cứu Khi nghiên cứu về thể loại này của ông, các nhà nghiên cứu tập trung khai thác việc thể hiện đối tượng con người trong cõi nhân sinh của nhà văn
Khi nhận xét về nghệ thuật kết cấu truyện trong tập truyện ngắn Mưa
tháng mười một, Nguyễn Hoài Nam cho rằng: “Không cốt truyện lớp lang chặt
chẽ, không biến cố mang giá trị thắt nút mở nút, không nhân vật được khắc họa diện mạo và tính cách hoàn chỉnh, tác giả dẫn người đọc theo chiều dọc văn bản, tìm kiếm một cái gì đó, để rồi cuối cùng cái tìm được thấy dường như chỉ là những điều hết sức vặt vãnh, thậm chí trống rỗng, trong tồn tại nhân sinh” (Nguyễn Hoài Nam, 2009)
Bên cạnh đó, ở tập truyện ngắn Hợp đồng của quỷ, nhà văn Nguyễn Ngọc
Thuần còn đề cập đến sự phi lý: “Mô típ chủ đạo là những tình trạng phi lí trong đời sống Những địa danh mịt mờ, những con người không rõ tình thế, không rõ khát vọng, họ đều mang trong mình một biến cố cá nhân nào đó và tức tốc lên đường Gặp gỡ, trải nghiệm hoặc biến đổi; nhưng sau những biến đổi đó lòng hoài nghi không những không mất đi mà còn bành trướng hơn, rơi vào tình trạng phi lí hơn Song đó cũng là những trải nghiệm chung nhất, ở bất cứ đâu về cách thức mà con người tồn tại như một vật thể đính kèm với những phi lý trong đời sống hiện thực của tinh thần vậy” (Ngọc Lợi, 2016)
Trang 17Trần Thị Thanh Quang trong Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ, Văn học và Văn
hóa Việt Nam Dấu ấn hiện sinh trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Danh
Lam (Trần Thị Thanh Quang, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh, 2018) cũng hướng trọng tâm vào việc làm rõ các biểu hiện cơ bản trong cảm quan hiện thực và con người mang dấu ấn hiện sinh qua các tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam Đó là hiện thực mang màu sắc phi lí,
kì ảo, hiện thực tiềm ẩn nhiều bất trắc Các dạng thức cảm quan hiện thực này chính là môi trường cho con người với các kiểu con người cô đơn - bản thể, cô đơn – lạc loài, kiểu con người lo âu về cuộc sống, về cái chết, kiểu con người nổi loạn trong suy nghĩ, hành động, kiểu con người tha hóa trong suy nghĩ, trong hành động
Sau đó, Cao Quốc Sĩ trong Luận văn thạc sĩ Văn học Việt Nam Hình
tượng con người cô đơn trong sáng tác của Nguyễn Danh Lam (Cao Quốc Sĩ,
Trường Đại học Sài Gòn, 2019) tiếp tục khai thác và làm rõ những biểu hiện con người cô đơn trong sáng tác của Nguyễn Danh Lam và nghệ thuật thể hiện con người cô đơn của nhà văn
Từ những điều đã trình bày, chúng tôi nhận thấy rằng hình ảnh con người hiện sinh được thể hiện khá rõ nét trong các sáng tác của Nguyễn Danh Lam Đồng thời qua khảo sát chúng tôi cũng nhận thấy vấn đề đó chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống Các tác giả chỉ tập trung vào một khía cạnh hoặc có sự so sánh, đối chiếu trong quá trình phân tích tiểu thuyết Chính vì vậy việc có một đề tài đi vào khảo sát và nghiên cứu riêng về vấn đề này của ông là
vô cùng cần thiết Đó là lý do chúng tôi thực hiện đề tài Con người hiện sinh
trong truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam ở 21 truyện ngắn của nhà văn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thứ nhất là chúng tôi nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh và con người hiện sinh trong văn học để có những tri thức tương đối đầy đủ, có hệ thống về vấn đề nghiên cứu
Trang 18- Thứ hai, chúng tôi nghiên cứu con người hiện sinh trong truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam qua hai phương diện nội dung và nghệ thuật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu về con người hiện sinh trong truyện ngắn của
Nguyễn Danh Lam qua việc khảo sát 21 truyện ngắn trong tập truyện Mưa tháng
mười một, Nxb Lao động, 2008
Từ đó, chúng tôi làm rõ những nỗi đau của con người trong cõi nhân sinh được tác giả thể hiện (khi thì trực tiếp, khi thì gián tiếp) trong các truyện ngắn của mình Đồng thời đề tài cũng làm sáng tỏ những giá trị nhân văn, nhân bản tốt đẹp được thể hiện trong các tác phẩm
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp cấu trúc – hệ thống: được sử dụng để xây dựng hệ thống
luận điểm phù hợp làm sáng tỏ vấn đề con người hiện sinh trong truyện ngắn của
Nguyễn Danh Lam
4.2 Phương pháp lịch sử: được sử dụng để khảo sát sự hình thành, phát triển và
những biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam
4.3 Phương pháp Thi pháp học: được sử dụng để làm cơ sở lí luận chỉ ra
những kiểu con người hiện sinh trong truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Nó cũng giúp cho việc khảo sát và nghiên cứu của luận văn đầy đủ hơn, toàn diện hơn
5 Đóng góp của đề tài
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, chúng tôi nhận thấy đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về vấn đề con người hiện sinh trong truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam Từ đó, đề tài cũng chỉ
Trang 19ra được những giá trị về nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của ông ở thể loại truyện ngắn Vì vậy, khi hoàn thành, đề tài sẽ có những đóng góp sau đây:
- Chứng minh được sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh và con người hiện sinh đến truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam nói riêng
- Chỉ ra được một trong những nét đặc trưng của truyện ngắn Nguyễn Danh Lam mang đậm dấu ấn hậu hiện đại đó chính là quan niệm nghệ thuật về con người (có sự đổi mới so với thời kì trước)
- Khẳng định được những đóng góp của Nguyễn Danh Lam trong dòng chảy văn chương Việt Nam đương đại
6 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 3 chương sau:
Chương 1 Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học và nhà văn Nguyễn Danh Lam
Với việc dẫn ra những phạm trù lí thuyết cơ bản, chương này có ý nghĩa như một tiền đề lí luận cho đề tài Đây là cũng là cơ sở đáng tin cậy để đề tài định vị được sự tiếp biến chủ nghĩa hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam sau 1986
Cụ thể, trong phần “Khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và con người hiện sinh trong văn học”, chúng tôi trình bày: Khái niệm chủ nghĩa hiện sinh, Khái quát diễn trình của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học, Khái niệm con người hiện sinh, Khái quát diễn trình của con người hiện sinh trong văn học Trong phần
“Nhà văn Nguyễn Danh Lam trong văn xuôi Việt Nam đương đại”, chúng tôi trình bày: Sự nghiệp sáng tác (Hành trình sáng tác, Dấu ấn của Nguyễn Danh Lam trong văn xuôi Việt Nam đương đại), Quan niệm nghệ thuật (Quan niệm về con người, Quan niệm sáng tác) của ông
Chương 2 Con người hiện sinh trong truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam nhìn từ phương diện nội dung
Trang 20Chương này khảo sát và phân tích để làm rõ những nỗi đau của con người trong cuộc sống hiện sinh bao gồm: Con người lạc lõng giữa dòng chảy cuộc đời, Con người lẩn quẩn trong cuộc sống mưu sinh, Con người thống khổ trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc, Con người lưu lạc nơi đất khách quê người, Con người hoang tưởng giữa cuộc sống thực tại, Con người lạc lối, vô định, sa chân vào vũng bùn tội lỗi và Những giá trị nhân văn, nhân bản tốt đẹp được thể hiện trong các truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam
Chương 3 Con người hiện sinh trong truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam nhìn từ phương diện nghệ thuật
Chương này giải quyết các vấn đề về nghệ thuật thể hiện như: nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật xây dựng cốt truyện, giọng điệu, các mô – tip hiện sinh, không gian, thời gian nghệ thuật, hệ thống các kí hiệu, hệ thống các yếu tố
kì ảo
Trang 21Chương 1 CHỦ NGHĨA HIỆN SINH TRONG VĂN HỌC VÀ
NHÀ VĂN NGUYỄN DANH LAM 1.1 Khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và con người hiện sinh trong văn học
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm chủ nghĩa hiện sinh
Thuật ngữ “Existentialism” (chủ nghĩa hiện sinh), có gốc từ “Existence”
có nghĩa là sự tồn tại hay hiện hữu Nhưng sự tồn tại ở đây không phải là sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng vật lí, sinh học mà là sự tồn tại của con người
Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện đầu tiên ở Đức vào cuối những năm 20 - 30 của thế kỉ XX với các đại diện tiêu biểu như: M Heidegger (1889-1976), K Jaspers (1883-1969); sau đó được J.P Sartre, A Camus, G Marcel, M Merleau Ponty… đưa vào Pháp J.P Sartre được xem là một trong những đại diện tiêu biểu, nòng cốt nhất của hoạt động này Chủ nghĩa hiện sinh ra đời như là một kết quả tất yếu sau các cuộc chiến tranh đẫm máu ở Châu Âu Nó hướng mọi suy tư, mọi câu hỏi về thân phận con người
Xét về mặt khái niệm, chủ nghĩa hiện sinh được hình thành bởi triết gia người Pháp Gabriel Marcel vào giữa năm 1940 Sau đó được Jean Paul Sartre sử
dụng như một tuyên ngôn trong bài nói chuyện với nhan đề Thuyết hiện sinh là
một nhân bản thuyết (Existentialism is a Humanism) được xuất bản năm
1946 Kể từ đó, khái niệm hiện sinh trở nên phổ biến và tư tưởng hiện sinh trở thành một khuynh hướng nổi tiếng Chính vì vậy, một số học giả cho rằng thuật ngữ này chỉ nên được dùng để chỉ phong trào văn hóa ở Châu Âu trong những năm 1940 và 1950 liên quan đến tác phẩm của các triết gia Jean - Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Maurice Merleau - Ponty và Albert Camus Họ tuy khác nhau về học thuyết nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát
từ chủ thể cá nhân con người - không chỉ đơn thuần là chủ thể tư duy, mà còn là chủ thể hành động, cảm nhận, và sống, “bất cứ khuynh hướng nào trong triết hiện
Trang 22sinh đều là triết học về con người, trước khi là triết học về vũ trụ” (Trần Thái Đỉnh, 2015)
Trong cuốn Những chủ đề triết học hiện sinh, tác giả cho rằng “Nói một
cách khái quát thì trào lưu tư tưởng này (triết học hiện sinh) là một phản ứng của con người, chống lại sự thái quá của triết thuyết duy tâm và triết lý về vạn vật Trào lưu đó không lấy cuộc sống nói chung, nhưng lấy cuộc sống của con người nói riêng là vấn đề đầu tiên của triết học” (E.Mounier, 1970)
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả cho rằng chủ nghĩa hiện sinh
là “một trào lưu văn học xuất hiện ở châu Âu, trước hết là ở Pháp, vào những năm trước và sau Chiến tranh thế giới thứ hai và tiếp đó, lan rộng nhanh chóng sang một số nước trên thế giới ngay trong tư tưởng triết học của họ cũng không hoàn toàn đồng nhất Có người hữu thần, có người vô thần, song họ giống nhau ở
tư tưởng bi quan sâu sắc đối với con người và cuộc sống” (Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi, 2007)
Trong bài viết Chủ nghĩa hiện sinh và văn học, Huỳnh Như Phương lại
khẳng định “Thuật ngữ chủ nghĩa hiện sinh xuất phát từ tiếng La-tinh có nghĩa là
“tồn tại”, “hiện hữu”, từng được dịch sang tiếng Việt là “chủ nghĩa tồn tại” Hiện sinh ở đây được hiểu như đối lập với “yếu tính”, “bản tính” và do vậy chủ nghĩa hiện sinh hay triết học hiện sinh được xem như đối lập với yếu tính luận trong triết học truyền thống là triết học chủ yếu truy tìm yếu tính của con người, sự vật
và thế giới nên còn gọi là triết học yếu tính” (Huỳnh Như Phương, 2018)
Mỗi người có một quan điểm riêng về chủ nghĩa hiện sinh nhưng hầu hết đều cho rằng sự hiện sinh của cá nhân chính là nội dung cơ bản của học thuyết này Chính vì vậy, trong các tác phẩm của mình, họ đều tập trung khai thác và làm nổi bật nội dung cơ bản đó
1.1.1.2 Khái niệm con người hiện sinh
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, “con người” là khái niệm chỉ những cá thể người như một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội
Trang 23của nó Con người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh
vật Do vậy nhiều quy luật sinh vật học cùng tồn tại và tác động đến con người
Con người hiện sinh là “con người không là gì khác ngoài những gì mà nó
tự làm ra” (Đỗ Ngọc Thạch, 2011) Con người như những cá nhân mang tính chủ thể chứ không phải là con người phổ quát Mỗi con người là một cá thể hướng
đến xác lập sự tồn tại của bản thân chứ không nhân danh hay đại diện một ai cả
Chủ nghĩa hiện sinh lấy con người làm trung tâm, làm đối tượng và mục tiêu để hướng tới Mỗi con người mang một bộ mặt riêng, khác với mọi tính cách mang tính phổ quát Con người được tự do lựa chọn cách sống, thái độ sống của mình, con người có ý thức để trở thành hiện sinh Cũng chính vì điều đó mà con
người luôn đau khổ, dằn vặt, lo âu trong cuộc kiếm tìm và lựa chọn tự do
1.1.2 Sự biểu hiện của khuynh hướng hiện sinh, con người hiện sinh trong văn học Việt Nam
Sau khi ra đời, chủ nghĩa hiện sinh lan nhanh và ảnh hưởng sâu rộng đến
nhiều mặt của đời sống nhân dân trên toàn thế giới, lúc đầu là ở các nước phương Tây, sau đó đến các nước phương Đông Văn học cũng là một lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều của trào lưu ấy Các tác giả đã dùng tác phẩm văn học để làm
phương tiện chuyển tải tư tưởng hiện sinh Chính vì vậy mở đầu bài viết Khuynh
hướng hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, tác giả Thái Phan Vàng
Anh đã khẳng định vai trò của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học: “Cùng với sự khẳng định nhân vị, chủ nghĩa hiện sinh khẳng định được đời sống của nó trong văn học toàn cầu, kể cả các nền văn học phương Đông Nhận diện cuộc sống, khám phá con người, văn học bất kì thời đại nào cũng ít nhiều thám hiểm, thăm
dò thế giới “hiện sinh” Ám ảnh về sự hiện tồn của bản thể cũng là căn nguyên cho những chiều sâu văn học” (Thái Phan Vàng Anh, 2015)
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cho rằng chủ nghĩa hiện sinh đã có mầm
mống nảy sinh trong các tác phẩm văn học thời kì trung đại Đầu tiên là Cung
oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều:
Trang 24“Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu Trắng răng đến thuở bạc đầu
Trăm năm còn có gì đâu, Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì”
(Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc)
Qua việc miêu tả thân phận của những thiếu nữ được tuyển vào cung vua phủ chúa chờ ngày ân ái, tác giả đã nói lên thân phận “bèo dạt mây trôi” của kiếp làm thê thiếp nói riêng và kiếp làm người nói chung Đây cũng là một vấn đề mà các nhà văn, nhà thơ sau này quan tâm khai thác và thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của mình
Sau Cung oán ngâm khúc, Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng là một tác
phẩm xuất sắc phản ánh đời sống “hồng nhan bạc phận” của nàng Kiều nói riêng
và những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh trong xã hội phong kiến nói chung Nhà thơ mở đầu tác phẩm bằng những tiếng kêu xé lòng, đứt ruột:
“Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Rồi sau đó là:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Trang 25Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Mười lăm năm sống lưu lạc của nàng Kiều với bao khổ ải nhân gian
“thanh lâu hai lượt thanh y hai lần” (Nguyễn Du, Truyện Kiều) đã trở thành một
bản cáo trạng lên án chế độ phong kiến đương thời, một chế độ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, coi thường vẻ đẹp và thân phận của người phụ nữ
Nhưng sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam được xem là chính thức khi Pháp sang xâm lược nước ta vào những năm đầu của thế kỷ XX Chính nhờ có sự tương đồng về hoàn cảnh, về tâm lý của nhân dân so với thời hậu chiến của Châu Âu nên hạt giống hiện sinh có nhiều cơ hội để phát triển
Chủ nghĩa hiện sinh hiện diện trên các thi đàn như thơ say của Vũ Hoàng Chương, thơ mới của Xuân Diệu Tiếp đó, tư tưởng hiện sinh được phản ánh trong hàng loạt các tác phẩm văn học ở miền Nam, tiêu biểu là các tác phẩm của Duyên Anh, Nguyễn Thị Hoàng, Thanh Tâm Tuyền, Một đoạn thơ tiêu biểu mang cảm thức hiện sinh của Thanh Tâm Tuyền là:
“Tôi buồn khóc như buồn nôn ngoài phố
nắng thủy tinh tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ thanh tâm tuyền
buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường tôi xin một chỗ quỳ thầm kín
cho đứa nhỏ linh hồn
sợ chó dữ con chó đói không màu”
(Thanh Tâm Tuyền, Phục sinh)
Trang 26Đối với Thanh Tâm Tuyền, cuộc đời con người chán lắm, buồn nôn lắm Thi sĩ đi trên hè phố với một đứa nhỏ tội nghiệp, đứa nhỏ ấy có thể là nhược điểm của con người (một mặc cảm, một sự thất vọng, một sự tổn thương, một sự chán chường…) Đứa nhỏ ấy đi theo Thanh Tâm Tuyền hay một thanh niên nào
đó trên hè phố với “buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường” Đứa nhỏ ấy thật khổ sở Chính vì vậy Thanh Tâm Tuyền muốn xin cho nó một chỗ quỳ để tuôn ra ngoài nỗi xót thương Đó phải là một chỗ thật thầm kín bởi đứa nhỏ ấy muốn yên nghỉ, muốn xa lánh và trốn tránh sự giáp mặt với những buồn nôn của cuộc đời
Đó cũng có thể là cái chết Cái chết như một chỗ ẩn thân, một sự trở về quê hương hay một ân sủng duy nhất của con người Sự bí ẩn của cái chết sẽ kết thúc tất cả, kết thúc sự buồn tênh lại cười hay khi vui muốn khóc
Các tác phẩm ấy dù rất hay nhưng do những đặc thù về văn hóa, lịch sử
mà xã hội Việt Nam lúc bấy giờ vẫn còn dè dặt, khắt khe với các tác phẩm viết
về hiện sinh Thậm chí có nhiều người còn cho rằng “hiện sinh thường gợi đến lối sống hưởng thụ, trụy lạc, chỉ biết hôm nay và thờ ơ với tất thảy” (Thái Phan Vàng Anh, 2015)
Từ sau năm 1986, với sự thay đổi về đường lối, chính sách của Đảng và
sự du nhập của triết- mĩ hiện sinh, văn học đã có những sắc thái thẩm mĩ mới, khẳng định được phong cách riêng của nhà văn Sự chuyển đổi đời sống xã hội sau chiến tranh, sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật, sự chuyển đổi trong nhận thức về con người, về bản thể là những điều kiện hình thành cảm thức hiện sinh trong văn học
Trong nền văn xuôi Việt Nam thời kì sau đổi mới, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều tác giả nổi lên với những ám ảnh hiện sinh như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… (thế hệ đi trước); Nguyễn Việt Hà, Đoàn Minh Phượng, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Ngyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Vũ Đình Giang, Nguyễn Danh Lam (thế hệ nối tiếp)
Trang 27Cảm thức hiện sinh trong văn học thời kì này chủ yếu gắn liền với những
bi kịch cá nhân của con người Mọi phương diện trong đời sống cá nhân của con người đã được chạm tới “Những ưu tư, trăn trở về bản thể, về thân phận con người Mối quan hệ giữa con người với đời sống trở nên ít tương thích, thiếu hòa hợp Không gian, thời gian hiện hữu không còn chỉ là môi trường, hoàn cảnh vốn mang tính chất nguyên nhân - kết quả hay hỗ trợ - cản trở mà trở thành “bầu khí quyển” của hữu thể, can dự trực tiếp vào thế giới hiện sinh của con người” (Thái Phan Vàng Anh, 2015) trở thành những biểu hiện chủ yếu của cảm thức hiện sinh thời kì này Điều đó làm cho nội dung và hình thức tác phẩm có nhiều đổi mới, có khả năng hội nhập vào dòng chảy của văn học thế giới
Sau gần ba mươi năm phát triển, văn học Việt Nam đã có một khuynh hướng hiện sinh trong bức tranh đa khuynh hướng chung của văn học những năm đầu thế kỉ XXI Sau những bước thăng trầm, văn học hiện sinh đã có một sự trở lại đầy ấn tượng “từ việc “e dè” xuất hiện trở lại văn đàn vào cuối thế kỉ XX và
“nở rộ” những năm đầu thế kỉ XXI” (Thái Phan Vàng Anh, 2015) Sự xuất hiện của tiểu thuyết, truyện ngắn hiện sinh những năm đầu thế kỉ này là điều tất yếu bởi đã từng có một dòng văn học hiện sinh ở miền Nam những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỉ trước, bởi các trăn trở hiện sinh chẳng bao giờ xa lạ đối với con người và các tác phẩm văn xuôi của những năm chín mươi đã ít nhiều chạm đến Tuy vậy, tiểu thuyết, truyện ngắn theo khuynh hướng hiện sinh những năm đầu thế kỉ XXI ít nhiều đã đem lại cảm giác “mới” do không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tác giả nước ngoài, do nó vừa mang cảm quan hậu hiện đại vừa là biểu hiện của cảm quan hậu hiện đại
Thời đại thay đổi, tinh thần hiện sinh cũng thay đổi theo Văn học Việt Nam đầu thế kỉ đã phát triển một bước mới trong việc “chăm chú vào cái tôi bí ẩn” Trên hành trình không ngừng khám phá cái tôi, các nhà văn Việt Nam đã
gặp gỡ, tiếp nhận từ triết – mĩ học hiện sinh nhiều vấn đề cơ bản như khẳng định
nhân vị, thân xác và tính dục Tuy nhiên cùng với việc chú trọng đến phương diện hiện sinh nhân vị và hiện sinh tính dục, văn học đầu thế kỉ XXI cũng phải
Trang 28đối mặt với các xu thế tiếp nhận khác nhau Sẽ có những tác phẩm bị đào thải, nhưng cũng sẽ có những tác phẩm trở thành dấu mốc của quá trình chuyển đổi từ ngoại vi đến trung tâm Đây cũng là bằng chứng cho thấy cảm thức hiện sinh trong văn học đầu thế kỉ XXI thống nhất, gặp gỡ với cảm quan hiện đại, hậu hiện đại
Hiện sinh là triết học về con người Chính vì vậy, khi nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam, chúng ta cần chú ý đến hình tượng con người Ở mỗi thời kì khác nhau, dưới sự tác động của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội khác nhau, việc xây dựng hình tượng con người cũng có sự thay đổi Nếu con người lí tưởng của văn học trung đại là những kẻ sĩ, những tài
tử giai nhân; con người lí tưởng của văn học giai đoạn 1930 – 1945 là những thanh niên trí thức hoặc những con người bé mọn thì trong giai đoạn 1945 –
1975, thực tế cách mạng đã mang lại cho người cầm bút những định hướng mới
về quan niệm con người Đối tượng thẩm mĩ chính của văn học giai đoạn này là những con người quần chúng cách mạng Vai trò của quần chúng nhân dân trong các cuộc cách mạng, trong thực tiễn đấu tranh dựng nước và giữ nước đã trở thành nền tảng, cơ sở nảy sinh ý thức về quan niệm con người của nền văn học mới Trong suy nghĩ của người cầm bút, quần chúng nhân dân như một tập thể ngày càng phát triển phong phú và toàn diện hơn, trở thành nhân vật chính của văn nghệ Từ đây, con người cao đẹp mà văn học hướng tới là con người quần chúng cách mạng, là con người của cộng đồng trong nhiệm vụ đấu tranh giải phòng dân tộc Con người ấy mang trên mình những phẩm chất, đạo đức cách mạng Nền văn học mới tìm tòi, phát hiện, xây dựng, cổ vũ những vẻ đẹp của con người xuất hiện, trưởng thành trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH của toàn dân ta
Vẻ đẹp của con người trong giai đoạn này được nhìn nhận và thể hiện qua những ý thức và hành động hướng về cách mạng, về nhiệm vụ chung của họ Vẻ đẹp ấy được biểu hiện trước hết ở sự giác ngộ, tự nguyện gánh lấy sứ mạng cách mạng, ở những nỗ lực, cố gắng cải biến thiên nhiên, xã hội và bản thân vì hạnh
Trang 29phúc của nhân dân Vẻ đẹp của nhân vật văn học phải gắn liền với lòng yêu nước, sự căm thù giặc, ý chí, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hi sinh vì độc lập dân
tộc Đó là ông Hai trong Làng (Kim Lân) từ con người của làng quê, ông trở
thành con người của kháng chiến, của sự nghiệp chung; là anh hùng Núp
trong Ðất nước đứng lên (Nguyên Ngọc); chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi); chị Sứ trong Hòn Ðất (Anh Ðức); những con người từ trẻ đến già trong Mẹ vắng nhà, Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi); Khuê, Lữ trong Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu) Họ đều là những con người
có lòng yêu nước nồng nàn, tự nguyện, náo nức tham gia kháng chiến, vui mừng,
lo lắng theo từng diễn biến của cuộc chiến, xem việc tham gia cách mạng, cầm súng đánh giặc giải phóng quê hương, thống nhất đất nước là niềm vui sướng nhất trên đời
Không chỉ xuất hiện ở thể loại văn xuôi, lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca Việt Nam, các nhà thơ giai đoạn 1945 – 1975 đã mang tới một hình tượng nghệ thuật về con người xã hội với một số đông, tạo thành một lực lượng xã hội hùng hậu Số đông ở đây là “vạn nhà”, “vạn kiếp” “vạn đầu”, là “bao hồn khổ”, “khối
đời” trong Từ ấy (Tố Hữu); là “Tây tiến đoàn binh không mọc tóc/Quân xanh màu lá dữ oai hùm” trong Tây Tiến (Quang Dũng); là “Lũ chúng tôi, bọn người
tứ xứ” trong Nhớ (Hồng Nguyên); là “người người, lớp lớp” trong Đất nước
(Nguyễn Khoa Điềm) rất bình dị, thân quen nhưng làm nên những điều kì diệu…
Các nhà thơ đã xây dựng nên những hình tượng tập thể vô cùng kì vĩ, đầy sức
mạnh chưa từng có trong thơ ca cách mạng Số đông ở đây không chỉ thể hiện ở mặt số lượng (huy động nhiều người) mà còn thể hiện ở mặt chất lượng Đó chính là sự giàu có, phong phú, bền vững về tâm hồn, về ý chí, về tình cảm Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã từng gọi họ với cái tên mang tính khái quát là
“nhân dân” Còn Tố Hữu thì gọi họ với những tên gọi trìu mến, thân thương hơn như “bạn đời, bạn lòng, bạn muôn đời”…
Vậy là so với thời kì trước cách mạng, quan niệm về vẻ đẹp của con người trong giai đoạn này đã có sự thay đổi và trở thành biểu hiện mới của ý thức nghệ
Trang 30thuật 1945 – 1975 Nhìn nhận con người trong sự gắn bó với lí tưởng xã hội tốt đẹp, với cộng đồng, với ý thức tự giác thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, các nhà văn, nhà thơ đã xây dựng được các nhân vật khỏe khoắn, phơi phới, rất giản
dị, đời thường, có sức mạnh lao động, có lòng yêu nước chống ngoại xâm, có lòng yêu tự do, chống áp bức bóc lột Bên cạnh kế thừa những vẻ đẹp của con người trong nền văn học truyền thống, văn học giai đoạn này còn mở rộng và khơi sâu vẻ đẹp của con người đến những tầm cao mới của dân tộc và thời đại, mang lại sức hấp dẫn và có tác dụng giáo dục, kêu gọi mạnh mẽ cho văn học
Như vậy, với quan niệm vẻ đẹp con người gắn với sứ mạng lịch sử, lí tưởng cách mạng, với hành động cải tạo và xây dựng cuộc sống mới, văn học giai đoạn 1945 – 1975 thực sự đã có sự đổi mới trong ý thức nghệ thuật về quan niệm con người Từ quan niệm đó, bằng tài năng của mình các nhà văn, nhà thơ
đã sáng tạo và xây dựng nên những hình tượng điển hình, tiêu biểu cho con người Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử vẻ vang của dân tộc với những chiến công sáng ngời Tất cả những điều đó đã được minh chứng rõ nét qua các tác phẩm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết tạo nên những thành tựu to lớn cho văn học Việt Nam giai đoạn này
Chiến tranh đi vào dĩ vãng, cuộc sống của con người Việt Nam bước vào giai đoạn mới Văn học đương đại Việt Nam lại có sự thay đổi lớn trong quan niệm nghệ thuật về con người Văn học giai đoạn này nhìn nhận con người là một thực thể hiện hữu, chấp nhận đời sống của con người là một thực tại sinh tồn Triết lí nhân sinh tự vấn con người sống để làm gì? Cuộc sống của con người
có giá trị và ý nghĩa không? Tiếp tục sống hay dừng lại? Tự giải thoát ra khỏi cuộc đời hay dấn thân vào cuộc đời? Đó là hai thái độ căn bản của con người trước đời sống mà nhiều khi hoặc khó khăn lắm con người mới tìm ra câu trả lời
Từ những quan niệm trên, nhiều kiểu con người trong văn học ra đời Đó
là con người tự ý thức (con người tự thú hay sám hối) được khá nhiều tác giả
quan tâm Sự quan tâm ấy được biểu hiện qua nhân vật Khiêm trong Ngược dòng
nước lũ (Ma Văn Kháng), Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), lão Khổ
Trang 31trong Lão Khổ (Tạ Duy Anh), Khoái trong Tiễn biệt những ngày buồn (Trung Trung Đỉnh) Họ là những con người đang đứng trước sự lựa chọn giữa các cực
đối lập để nhận về mình thành công hay thất bại Hay con người với cảm thức cô
đơn, lạc loài như Thuấn trong Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Lực trong Cỏ
Lau của Nguyễn Minh Châu, T trong T mất tích (Thuận), đã gieo vào lòng độc
giả những ám ảnh khôn nguôi về sự nhỏ bé, bơ vơ và cô đơn của con người trong một thế giới thiếu vắng điểm tựa.… Từ đó, con người ấy nặng trĩu mối u hoài khi cảm thấy mình như lạc loài ngay trong những nơi gần gũi, thân quen với mình
Hay con người tha hóa như Huấn trong Vòng tròn bội bạc (Chu Lai), các nhân vật trong Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), tay đại đội trưởng trong Góc tăm tối cuối
cùng (Khuất Quang Thụy), Đông trong Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh
Thái), thằng chết trôi trong Bến vô thường (Nguyễn Danh Lam), các nhân vật trong các tập truyện ngắn Màu xanh man trá (Lê Minh Khuê), Hậu thiên đường
(Nguyễn Thị Thu Huệ)… đang bị những cám dỗ, tiêu cực của xã hội ngày đêm lôi kéo, khiến họ dần trở thành những con người xấu xa của xã hội
Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người sau chiến tranh đã được các nhà văn thể hiện nhiều chiều, nhiều vẻ góp phần làm nổi bật những góc khuất trong tâm hồn con người mà bấy lâu nay văn học ít hoặc chưa khai phá Việc thay đổi ấy cũng góp phần làm cho người đọc có cái nhìn đầy đủ, chính xác hơn
về bản chất của con người trong cõi hiện sinh Từ đó họ sẽ có những nhìn nhận, suy nghĩ, hành động phù hợp hơn
Nói tóm lại hình tượng con người trong văn học đã có sự hình thành, phát triển và không ngừng thay đổi qua từng thời kì tùy thuộc vào sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội Trên cơ sở quan niệm nghệ thuật về con người, các nhà văn, nhà thơ sẽ xây dựng những hình tượng nghệ thuật về con người phù hợp, phản ánh chính xác tư tưởng, nhận thức, tình cảm của tầng lớp văn nghệ sĩ nói riêng và nhân dân thời kì ấy nói chung Văn học Việt Nam theo khuynh hướng hiện sinh quan tâm khai thác hình tượng con người sau thời kì đổi mới với nhiều nỗi đau trong cuộc hiện sinh
Trang 321.2 Nhà văn Nguyễn Danh Lam trong văn xuôi Việt Nam đương đại
1.2.1 Sự nghiệp sáng tác
1.2.1.1 Hành trình sáng tác
Nguyễn Danh Lam sinh ngày 04 tháng 6 năm 1972, nguyên quán Bắc Ninh Ông từng tốt nghiệp Đại học Mĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, từng làm biên tập viên cho báo Mực tím – Khăn quàng đỏ - Nhi đồng Thành phố Hồ Chí Minh, là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh; Ủy viên Ban Nhà văn trẻ Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam khoá 8
Từ nhỏ Nguyễn Danh Lam đã mê đọc sách Ngoài những quyển sách bố ông để lại, ông còn tìm đọc và bổ sung thêm cho kệ sách nhà mình nhiều đầu sách khác trong nước và ngoài nước Ngoài sách, ông còn mê nghe và xem nhiều thứ khác như: phim ảnh, hội họa, âm nhạc Tất cả những thứ đó đã có tác động
to lớn đến các sáng tác của ông
Lúc đầu khi mới sáng tác, Nguyễn Danh Lam viết thơ, suốt mười năm làm
thơ ông mới cho ra đời tập thơ đầu tay Tìm (1998, Nxb Trẻ) Đến năm 2003, ông
bắt đầu chuyển sang viết văn xuôi và cho xuất bản liên tục hai quyển tiểu thuyết
trong vòng hai năm là Bến vô thường (2004, Nxb Hội Nhà văn) và Giữa vòng
vây trần gian (2005, Nxb Hội Nhà văn) Ở thời điểm ấy, đề cương cho quyển tiểu
thuyết thứ ba cũng đã hoàn thành nhưng ông sợ bị lặp lại chính mình nên ông tạm ngưng viết tiểu thuyết và chuyển sang viết truyện ngắn Trong khoảng thời gian ba năm, ông cho ra đời hơn 30 truyện ngắn Trong đó có 21 truyện được
chọn lọc và in thành tập thơ Mưa tháng mười một (2008, Nxb Lao động)
Đến năm 2010, ông tiếp tục cho xuất bản quyển tiểu thuyết thứ ba Giữa
dòng chảy lạc (2010, Nxb Văn nghệ) nhận được sự đánh giá cao của Hội Nhà
văn Việt Nam Không ngừng lại ở đó, bốn năm sau, tiểu thuyết thứ tư Cuộc đời
ngoài cửa (2014, Nxb Hội Nhà văn) được xuất bản và nhận được những phản hồi
tích cực từ phía độc giả
Trang 33Nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn của ông đã được dịch sang các ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung
1.2.1.2 Dấu ấn của nhà văn Nguyễn Danh Lam trong văn xuôi Việt Nam đương đại
Là người thích đọc sách và đọc sách rất nhiều trong đó có nhiều tác phẩm văn học phương Tây, Nguyễn Danh Lam đã có sự tiếp xúc và am hiểu nhất định
về những xu hướng của nền văn học thế giới Ông mạnh dạn thử nghiệm những điều đó vào trong các tác phẩm của mình Cùng với tài năng và cá tính riêng của bản thân, tác giả đã cho ra đời nhiều tác phẩm đặc sắc có sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật
Vấn đề nhân sinh là một trong những vấn đề được quan tâm nhiều trong
xã hội hiện nay Lựa chọn nhân sinh làm đề tài chính cho các tác phẩm văn xuôi của mình, Nguyễn Danh Lam đã có cái nhìn và cách thể hiện đa dạng về con người và cuộc sống của họ trong thời kì hiện đại, mang lại cho nền văn học nước nhà những tác phẩm xuất sắc ở mảng đề tài này
Không thích sự trùng lắp (ngay cả với chính bản thân mình) nên ông chỉ viết khi thấy mình có những cái mới Chính vì vậy mỗi tác phẩm ra đời là kết quả của một sự trải nghiệm, một khám phá, một cái nhìn mới của nhà văn, đem lại cho người đọc những hứng thú nhất định
Tác phẩm của Nguyễn Danh Lam không phải là dễ đọc, có những truyện tưởng là truyện nhưng không phải là truyện, tưởng là thường nhưng không phải
là thường Bởi cuộc sống nó vốn dĩ là như thế Chính vì vậy có khi đọc xong các tác phẩm của ông, người đọc phải suy nghĩ, phải chiêm nghiệm lại mình đã thu nhận được gì qua tác phẩm, từ đó nhìn lại cuộc sống và con người của chính mình Đó cũng là một trong những cách tiếp nhận mới trong các xu hướng tiếp nhận mới hiện nay
Các giải thưởng mà ông đã đạt được trong thời gian qua một lần nữa
khẳng định tài năng và sự đóng góp của nhà văn đối với nền văn học đương đại:
Trang 34- Giải khuyến khích cuộc thi thơ Bút mới của báo Tuổi trẻ (1996)
- Giải nhì cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ 2006-2007
- Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 cho tiểu thuyết Giữa
dòng chảy lạc
- Giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 4 (2011 – 2015) của Hội Nhà
Văn Việt Nam cho tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật
1.2.2.1 Quan niệm về con người
Cũng giống như những nhà văn khác ở thời kỳ này cùng với việc tiếp nhận tư duy triết mĩ học hiện sinh, quan niệm về con người của nhà văn Nguyễn Danh Lam cũng có sự thay đổi Không còn là những con người cộng đồng, sử thi, nhập cuộc mà là những con người cá thể, hòa nhập hoặc không hòa nhập Họ được đặt trong các mối quan hệ xã hội nhỏ hơn với những suy nghĩ, hành động
cụ thể, nhỏ nhặt hơn được khai thác, nhìn nhận dưới nhiều góc độ, có khi len lỏi,
đi sâu vào trong từng ngõ ngách của tâm hồn con người Chính vì vậy, con người trong truyện ngắn của Nguyễn Danh Lam không phải là con người lý tưởng, đại diện cho thời đại mà là những con người âu lo về bản thể, thân phận con người; những con người thèm khát tự do; những con người có đầy rẫy sự phi lí, dấn thân, nổi loạn Tác giả sẽ lấy cái tôi của con người cá thể ấy làm tâm điểm luận giải về cuộc đời
1.2.2.2 Quan niệm sáng tác
Về quan niệm sáng tác, Nguyễn Danh Lam cho rằng:
- Tác phẩm nghệ thuật phải phản án hiện thực một cách chân thực, nhiều chiều kích khác nhau với cách phản ánh mới mẻ, sáng tạo (Nguyễn Hoài Nam, 2012)
- Tác phẩm nghệ thuật phải thể hiện sự yêu thương con người, là phương tiện để tác giả trình bày những suy nghĩ, khắc khoải về con người (Nguyễn Hoài
Trang 35Nam, 2012) Chính vì vậy dù bên ngoài là một người vui vẻ, hóm hỉnh nhưng khi đọc các tác phẩm của ông chúng ta sẽ thấy ông luôn nặng trĩu những trăn trở ưu
tư về thời cuộc và thân phận con người trong xã hội bây giờ
- Khi sáng tác các tác phẩm nghệ thuật, nhà văn phải thể hiện được cá tính của bản thân, phải chịu khó trải nghiệm, thử thách để cho ra đời những tác phẩm độc đáo mang bản sắc riêng của nhà văn (Nguyễn Hoài Nam, 2012) Đọc truyện ngắn hay tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam người đọc sẽ thấy mỗi truyện ngắn, mỗi tiểu thuyết là một nét riêng, tạo hứng thú cho người đọc nhưng vẫn có sự nhất quán trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình
Những quan niệm trên thể hiện cái tâm của người nghệ sĩ chân chính, lao động nghệ thuật với tinh thần tự giác và nghiêm túc Mặc dù mỗi khi nói đến các tác phẩm và sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Danh Lam rất khiêm tốn nhưng qua những giải thưởng mà ông đạt được cùng với sự đánh giá của độc giả
và giới chuyên môn về các tác phẩm của ông chúng ta có thể khẳng định được rằng Nguyễn Danh Lam có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam đương đại
Tiểu kết chương 1
Chủ nghĩa hiện sinh là một học thuyết vì con người mà trong đó chủ thể của tri thức chính là con người đang tồn tại như một cá thể Điều kiện lịch sử xã hội của đất nước từ sau năm 1975, đặc biệt là sau 1986 cũng đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện trở lại trong văn xuôi Việt Nam đương đại, được đông đảo nhà văn đón nhận và trở thành một quan điểm, xu hướng sáng tác mang tính thời đại Trong đó các nhà văn tập trung vào kiểu con người có những nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần do cuộc sống phi lí, mưu sinh, cô đơn, lạc lõng giữa dòng đời; lo âu, sợ hãi, ám ảnh về cái chết để rồi sau đó nổi loạn, tha hóa hay từ bỏ, mơ hồ về chính mình và cuộc đời mình trên hành trình tìm kiếm bản thể Đây là những tiền đề quan trọng góp phần định hướng và làm
nên những sáng tác văn xuôi mang tính hiện sinh của Nguyễn Danh Lam
Trang 36Chương 2 CON NGƯỜI HIỆN SINH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN DANH LAM NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
2.1 Những nỗi đau của con người trong cuộc sống
Cuộc sống của con người muôn màu, muôn vẻ, chứa đựng nhiều hương vị ngọt, đắng, chua, cay Văn học hiện sinh tập trung khai thác những đắng cay – những nỗi đau mà con người phải chịu đựng Đó là những nỗi đau về mặt thể xác hoặc tinh thần Trong những nỗi đau ấy, nỗi đau tinh thần (nỗi đau tâm lí, nỗi đau
cảm xúc) vẫn được chú ý nhiều hơn Mưa tháng mười một của Nguyễn Danh
Lam đã thể hiện được điều đó Mỗi truyện ngắn trong tập truyện là một “lát cắt hiện sinh" Đọc tác phẩm người đọc có thể thấy được cuộc sống của con người
đầy ắp những bi ai Đó có thể là sự lạc lõng giữa dòng chảy cuộc đời, sự lẩn quẩn
trong cuộc sống mưu sinh, sự thống khổ trong hành trình tìm kiếm hạnh phúc, sự lưu lạc nơi đất khách quê người, sự hoang tưởng giữa cuộc sống thực tại và sự sa chân vào vũng bùn tội lỗi
2.1.1 Cô đơn, lạc lõng giữa dòng chảy cuộc đời
Cô đơn là “chỉ có một mình, không có người thân, không nơi nương tựa” (Hoàng Phê, 2002) Còn lạc lõng là bơ vơ, lẻ loi trong một hoàn cảnh vô cùng xa
lạ, ở nơi đó chúng ta không có sự ăn nhập, hòa hợp với mọi thứ xung quanh Và chính vì không có sự ăn nhập và hòa hợp đó mà con người thường có xu hướng thoát ra, tìm đến một nơi khác phù hợp với mình hơn
Chủ nghĩa hiện sinh biểu hiện sự suy tư, trăn trở của mình về sự hiện hữu của con người trong vũ trụ Theo đó, học thuyết này cho rằng con người như những thực thể bơ vơ, thiếu vắng điểm tựa do “Chúa đã chết!” (Nietzsche, 1882)
Và khi khẳng định Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản, Sartre cũng cho rằng: “Con người không chỉ như nó được quan niệm, mà còn tồn tại như nó
muốn thể hiện; và vì nó được quan niệm sau khi có sự hiện hữu, và vì nó muốn
tỏ ra sau khi có cái đà ấy hướng tới sự hiện hữu, nên con người không là gì khác ngoài những gì mà nó tự tạo nên Đó là nguyên tắc đầu tiên của thuyết hiện sinh
Trang 37Đó cũng là điều mà người ta gọi là tính chủ thể” (Jean – Paul Sartre, Đinh Hồng
Phúc dịch, 2016) Chính vì vậy, trên hành trình thể hiện tính chủ thể của mình,
con người là thực thể cô đơn, bé nhỏ, bơ vơ giữa cuộc đời Nhưng đó là tình trạng mà con người lựa chọn và chấp nhận để khẳng định giá trị của bản thân
Văn học theo khuynh hướng hiện sinh sau năm 1975 vẫn trung thành với những đề tài chính của thuyết hiện sinh như phi lí, cô đơn, lẻ loi, lạc loài, lo âu, nổi loạn, dấn thân… Nhiều nhà văn như Dạ Ngân, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư… đã đề cập đến sự cô đơn, lẻ loi của con người như một trạng thái mang bản chất người Họ đã gieo vào lòng độc giả những ám ảnh khôn nguôi về sự nhỏ bé, bơ vơ và cô đơn của con người trong một thế giới thiếu vắng điểm tựa Điều đó như thể khẳng định cô đơn, lẻ loi là định mệnh không thể tránh được
Khảo sát các truyện ngắn trong tập truyện Mưa tháng mười một của
Nguyễn Danh Lam, chúng tôi thấy cũng có sự xuất hiện của nhiều nhân vật như
vậy Đó là “hắn” trong Mưa tháng mười một - một anh chàng còn rất trẻ nhưng
lại thích đến chùa vào những lúc rảnh rỗi để đọc sách, để tịnh tâm Điều này hoàn toàn trái ngược với bản tính năng động, thích ồn ào, náo nhiệt của giới trẻ Mở đầu câu chuyện là cảnh “hắn” cùng “tôi” đến chùa trong một ngày buồn chán, không có gì để làm và khi kết thúc câu chuyện cũng là cảnh “hắn” và “tôi” (sau khi trải qua những nỗi đau đớn của cuộc đời) quay trở lại chùa Điều đó cho thấy
cứ mỗi lần xuất hiện, “hắn” lại được gắn với hình ảnh của ngôi chùa Trong quan niệm của người Châu Á, chùa là nơi thờ tự, là nơi tu hành, là nơi an trí Người thường xuyên vào chùa sẽ rèn luyện được cho mình một tâm tính hiền lành, tốt bụng Việc “hắn” thường xuyên đến chùa, xa rời những cuộc vui của bạn bè đã khiến “hắn” bị đẩy ra khỏi guồng quay của xã hội, ra khỏi nhịp sống hối hả, năng động, nhiệt huyết của thanh niên trở thành một kẻ mờ nhạt, lạc lõng, cô đơn giữa cuộc sống đời thường “Hắn” lạc lõng vì “hắn” không tìm được sự đồng điệu, không hòa nhập, không thích nghi được với cuộc sống phát triển nhưng cũng đầy
xô bồ và cạm bẫy của thanh niên hiện nay
Trang 38Người đàn ông trong Núi lở lại lạc lõng, cô đơn ngay chính trong ngôi nhà
của mình Ông bỏ nhà lên núi sống một mình, không muốn trở về nhà vì một điều gì đó không rõ ràng Đường từ nhà ông đến đó có rất nhiều khó khăn “Bầu trời sũng nặng, mây quết qua những tán cây lướt thướt chỉ cách anh vài bước chân Nước bắt đầu ngấm qua gáy Gió lại quá mạnh”, “những triền đất đỏ ối vừa lở xuống” (Nguyễn Danh Lam, 2008), đường trơn, thung lũng nối tiếp nhau, cầu bắc qua suối bị hư hỏng nặng, không có bóng người Ông ở trong một “căn lều ẩm thấp, tối đen”, “mùng chưa cuốn lại”, “mền rách loang lổ” (Nguyễn Danh Lam, 2008), đống củi làm giường Ngày ngày ông cần mẫn trồng đậu, nhưng trồng bao nhiêu đất lại lở hết, lâu ngày chuyện ấy trở thành chuyện một chuyện rất bình thường, bình thường đến nỗi khiến cho người đàn ông ấy khi nói về tin xấu (đất lở đi hết hai sào đậu) mà “giọng không thấy nhuốm một chút phiền muộn” (Nguyễn Danh Lam, 2008) Cách nói chuyện của ông với người con trai cũng có nhiều điều kì lạ Những câu nói bỏ dở, những câu chuyện không đi đến đâu:
- Con cứ về đi Con chưa hiểu
- Con hiểu rồi mà ba
- Vậy ba nên về ” (Nguyễn Danh Lam, 2008)
Câu nói của ông về việc ở hay về, con có còn gặp ba hay không cũng rất
mơ hồ khiến cho độc giả có nhiều thắc mắc không được giải đáp Vì sao ông lại
bỏ nhà lên núi ở một mình? Vì sao ông lại không muốn trở lại ngôi nhà của mình
mà lại sống cô đơn nơi núi cao không một bóng người? Vì sao ông xem chuyện
Trang 39có hay không vật chất, có hay không các mối quan hệ cũng không có ý nghĩa gì?
Có phải chăng ông đang cảm thấy cô đơn, lạc lõng trong cuộc đời, cảm thấy không có sự hòa hợp, không thể chấp nhận với những con người, với những gì đang diễn ra ở dưới núi mà tìm một nơi khác để “lánh mặt”, để “chạy trốn”, dù nơi đó là nơi núi cao hoang vắng, nhiều trắc trở và không có một ai Người con trai của ông trở về vào lúc núi lở Đó cũng là một dấu hiệu báo trước cho sự không thể quay trở lại như lời nói của ông “Hết mùa này, con không phải đem lên cho ba nữa ”, “Mà không gặp hay gặp cũng chẳng khác gì ” (Nguyễn Danh Lam, 2008) khiến cho người con ứa nước mắt, người đọc không khỏi rợn người
về những chuyện sắp xảy ra với ông Câu chuyện kết thúc bằng một “tiếng nổ khủng khiếp phía sau Có lẽ một vạt núi mới vừa lở xuống đâu đó” (Nguyễn Danh Lam, 2008) Phải chăng đó cũng là tiếng nổ kết thúc cho sự liên kết, cho các mối quan hệ giữa con người ấy với cuộc đời hay một điều gì đó mà tác giả còn bỏ lửng cho người đọc tự suy nghĩ
Trước tình cảnh cô đơn, lạc lõng, con người luôn có xu hướng chạy trốn khỏi nơi mình đang sống, tìm kiếm một chỗ ở mới mà ở đó họ thấy được sự hòa hợp, yêu thương Nhưng thực tế không phải lúc nào mong muốn cũng thành hiện
thực Người con trai trong Những cơn mưa dài mãi sau 9 tháng dài học tập ở
trường, anh háo hức trở về quê phụ mẹ bán quán cùng mong ước tận hưởng một chút không khí yên bình ở làng quê Nhưng không, trong một không gian nhỏ hẹp của một quán nước ven đường vào một đêm ngắn ngủi anh đã kịp nhìn thấy biết bao sự chán ngán của cuộc đời Đó là cái nghèo, cái khó ở một vùng quê; là
sự vất vả, gian lao khi kiếm được đồng tiền; là cách sống của những con người trẻ như cô gái xinh đẹp làm ở nhà hàng dưới phố và tên “ma cô” hành nghề sửa
xe có quá khứ không tốt; là sự cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh dù chỉ là những quán nhỏ ven đường; là sự xao xuyến của một thằng con trai như
anh trước một cô gái xinh đẹp dù cô ta đã là hoa có chủ; là niềm mơ ước của một
cậu trai nghèo về một tình yêu với cô gái đẹp; là người mẹ tần tảo buôn bán, dành dụm từng đồng từng cắc cho con ăn học; là sự lừa lọc của con người dành cho nhau; là sự chán nản của thằng sinh viên hằng ngày bỏ lớp, ngồi quán cho
Trang 40qua ngày; là cuộc đánh ghen kinh hoàng của người phụ nữ giang hồ Để rồi câu chuyện kết thúc bằng những vết máu đỏ đẫm, dính bệt lại trên nền quán, bằng những vệt máu loang dài trên người cô gái xinh đẹp mà anh thầm ao ước, Tất
cả khiến anh ngán ngẩm, mong cho mùa hè qua mau để rời khỏi nơi đây, rời khỏi cái nơi mà anh muốn bỏ học, bỏ tất cả ở thành phố để về sống một cuộc sống thanh bình Sự xuất hiện lần lượt của những vị khách: đầu tiên là cặp tình nhân,
kế đến là người đàn ông muốn ăn mì nhưng đứng dậy bỏ đi vì không có trứng, tiếp theo là hai tên choai choai đổ xăng không trả tiền, rồi hai gã thanh niên cùng
với cô gái là người sống như vợ chồng với tên “ma cô” khiến anh quá chán nản
về cuộc sống ở quê Trường đại học - nơi anh từng ao ước một thời giờ đây không đủ sức để giữ niềm đam mê, khát vọng của anh; chốn thị thành – nơi mà những con người ở quê như anh luôn hướng tới không đủ sức để giữ tâm hồn và thể xác anh và bây giờ ngay cả nơi anh sinh ra cũng khiến anh muốn bỏ đi Vậy nơi nào trên cuộc đời này đủ sức làm điều đó Có nhiều lúc trong cuộc đời này, con người tự nhận thấy mình không thuộc về nơi đâu, không có nơi thích hợp để
ra đi, không có nơi thích hợp để trở về để rồi nỗi cô đơn, lạc lõng, chán chường không xác định ấy cứ kéo dài mãi như những cơn mưa lê thê, như chính cuộc đời vốn có của nó
Như vậy, trong cuộc đời của con người, cô đơn, lạc lõng trở thành một nỗi đau mà họ phải gánh chịu Sự cô đơn, lạc lõng ấy xuất phát từ việc họ bị đẩy vào tình trạng không tìm thấy mối tương giao với những người xung quanh, không tìm được tiếng nói chung cũng như sự đồng cảm, sẻ chia từ đồng loại Để rồi khi nhận ra được điều ấy, con người thường có xu hướng thoát li, tìm đến một chốn mới, tự cô lập bản thân Và trên con đường ấy, có người tự chấp nhận cô đơn, lạc lõng như một định mệnh của cuộc đời nhưng lại có người tìm đến cái chết để kết thúc cuộc đời Bởi nỗi cô đơn, lạc lõng này không bao giờ chấm dứt Nó sẽ trở thành nỗi ám ảnh, dằn vặt con người đến suốt cuộc đời Bằng cái nhìn đầy thấu đáo, cùng với những thông hiểu về triết học hiện sinh, Nguyễn Danh Lam đã thể hiện rõ nỗi đau ấy của con người qua những trang văn đầy ám ảnh