Khuynh hướng văn xuôisinh thái từ sau 1975 đã gặt hái được nhiều thành công và để lại những dấu ấnsâu đậm trong lộ trình đổi mới văn học từ sau 1975.Sương Nguyệt Minh với các sáng tác về
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nhà văn Sương Nguyệt Minh có mặt trên các lĩnh vực sáng tác:
truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký Ở thể loại nào Sương Nguyệt Minh cũng cónhững thành công và đóng góp đáng kể Ta có thể nhận thấy rất nhiều bài viết
về sáng tác của nhà văn Nhưng đa phần, các bài viết ấy đề cập đến nghệ thuật
thể hiện như: Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn, sự vận động trong truyện ngắn, thế giới nghệ thuật truyện ngắn, yếu tố kì ảo trong các sáng tác của Sương Nguyệt Minh mà ít người quan tâm đến mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên và xã hội trong sáng tác của ông Mối quan hệ này thể hiện rất rõ
cả trong văn xuôi của ông với những biểu hiện hết sức phong phú và đa dạng.Qua đó, ta có thể nhận thấy cách lí giải cuộc sống, những suy tư và trải nghiệmcủa nhà văn Điều này cũng góp phần thể hiện phong cách độc đáo của nhàvăn
1.2 Trong thời đại ngày nay, sự bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường,
suy giảm đa dạng sinh học, sa mạc hóa, ô nhiễm nước, biến đổi khí hậu đã ảnhhưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người Chính vì vậy, văn học cũng bámsát hiện thực, phản ánh những vấn đề của thời đại Vấn đề toàn cầu hóa vănhọc trở nên nóng hổi và cần thiết hơn bao giờ hết Song song đó, việc tìm hiểutác phẩm từ góc độ phê bình sinh thái cũng mang lại một cái nhìn mới, gópphần theo kịp xu hướng toàn cầu hóa ngày nay
1.3 Trong các dòng văn học Việt Nam từ sau 1975, có một khuynh
hướng văn xuôi sinh thái, tuy không ào ạt mạnh mẽ ngay từ đầu nhưng ngàycàng lớn dần và quy tụ được nhiều cây bút như: Nguyễn Minh Châu, NguyễnHuy Thiệp, Trần Duy Phiên, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Khắc Phê, Đoàn
Lê, Nguyễn Ngọc Tư, Sương Nguyệt Minh, Thiên Sơn Văn xuôi sinh thái sau
1975 đề cao tự nhiên, tự nhiên có một sinh mệnh độc lập, tồn tại bên ngoài mọi
1
Trang 2quan niệm, ý nghĩ cao quý của con người Đồng thời văn xuôi sinh thái phêphán những mặt trái văn minh, truy tìm nguồn gốc của nguy cơ sinh thái vàkêu gọi trách nhiệm của con người đối với tự nhiên Khuynh hướng văn xuôisinh thái từ sau 1975 đã gặt hái được nhiều thành công và để lại những dấu ấnsâu đậm trong lộ trình đổi mới văn học từ sau 1975.
Sương Nguyệt Minh với các sáng tác về chiến tranh, về sự tàn phá hủydiệt của chiến tranh với môi trường và cuộc sống con người, về nạn săn bắn,khai thác rừng tràn lan, về mặt trái của văn minh, sự xuống cấp của đạo đức,những bi kịch, số phận con người đã gióng lên hồi chuông cảnh báo mọingười về sự mất cân bằng sinh thái và kêu gọi mọi người chung tay bảo vệthiên nhiên, môi trường Sáng tác của nhà văn Sương Nguyệt Minh mang ýnghĩa cảnh báo rất rõ đối với những nguy cơ sinh thái và số phận con người
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Vấn đề sinh thái trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh Hướng nghiên cứu này sẽ góp phần đưa
văn xuôi Sương Nguyệt Minh đến gần với mọi người Đồng thời góp thêmtiếng nói giải mã những giá trị thẩm mĩ của tác phẩm, những quan niệm nghệthuật tiến bộ của tác giả Quan trọng hơn, luận văn sẽ đưa đến hướng tiếp cậntác phẩm rất mới mẻ trong xu hướng toàn cầu hóa văn học hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Nhà văn Sương Nguyệt Minh là một tác giả mới của nền văn học
đương đại, xuất hiện trên văn đàn với khoảng thời gian chưa thật dài Có rấtnhiều bài báo, tạp chí viết về sáng tác của Sương Nguyệt Minh, đặc biệt làtruyện ngắn của ông, điều ấy chứng tỏ một điều rằng bạn đọc đã dành sự quantâm đặc biệt đến nhà văn Sương Nguyệt Minh
2.2 Các luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ về nhà văn Sương Nguyệt
Minh chủ yếu khai thác về mặt nghệ thuật, thi pháp như: Sự chuyển đổi bút pháp trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh, luận văn Đại học của Nguyễn Thị
2
Trang 3Ngọc Huyền, Sự vận động trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh của thạc sĩ Trần Thị Hồng Gấm, Đại học Thái Nguyên, Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh của thạc sĩ Trần Thị Phương Loan, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội Gần đây là luận văn Dấu hiệu hậu hiện đại trong tiểu thuyết Miền Hoang của nhà văn Sương Nguyệt Minh của
thạc sĩ Phạm Thu Thảo, Trường Đại Học Quy Nhơn Các luận văn chủ yếukhai thác cảm hứng nghệ thuật, thế giới nhân vật, các phương diện nghệ thuậtnhư: cốt truyện, kết cấu, tình huống truyện, không gian - thời gian nghệ thuật,giọng điệu trần thuật Chúng tôi nhận thấy hầu như chưa có công trình nàonghiên cứu về tư tưởng sinh thái trong toàn bộ tác phẩm của Sương NguyệtMinh
Cũng có nhiều luận án, luận văn nghiên cứu các tác phẩm từ cảm quan
sinh thái Chẳng hạn: Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm
1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái của tiến sĩ Trần Thị Ánh Nguyệt, Trường Đại học sư phạm Hà Nội; Cảm quan sinh thái trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của thạc sĩ Ngô Thị Thu Giang, trường đại học Thái Nguyên Và một số bài viết trên các tạp chí khoa học như Thiên nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Trần Thị Ánh Nguyệt; Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa của Nguyễn Đăng Điệp, Văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn sinh thái của
Nguyễn Thùy Trang, Đại học Huế
2.3 Tất cả đã gợi cho chúng tôi hướng nghiên cứu rất mới mẻ, đó là tìm
hiểu vấn đề sinh thái trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh Việc tìm hiểu vấn đềsinh thái trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh rất có ý nghĩa, đặc biệt trong bốicảnh hiện nay
Đó là một hướng đi mới, hứa hẹn thu hoạch được những hạt giống tốt,góp phần làm đa dạng hoạt động dạy học, tìm hiểu và nghiên cứu tác phẩm.Nhất là khi gần đây vấn đề môi trường trở thành mối quan tâm hàng đầu của xã
3
Trang 4hội Trong chương trình ngữ văn ở THPT, bộ giáo dục có chủ trương tích hợpgiáo dục môi trường khi giảng dạy tác phẩm văn học Việc tìm hiểu tác phẩm
từ góc nhìn sinh thái sẽ có những đóng góp tích cực trong hoạt động dạy học ởnhà trường trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Sương Nguyệt Minh là một nhà văn luôn trăn trở, khao khát đổi mớinghệ thuật Ông luôn tìm tòi, dấn thân vào những lĩnh vực khác nhau để khônglặp lại chính mình Với quan niệm “văn chương phải chạm tới thân phận conngười'', nhà văn thành công ở cả ba thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký.Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi: Tác phẩm văn xuôi của nhà văn SươngNguyệt Minh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề sinh thái trong văn xuôi Sương NguyệtMinh Vì vậy, chúng tôi tập trung khảo sát các tác phẩm văn xuôi về vấn đềsinh thái được in trong các tập sau của nhà văn Sương Nguyệt Minh:
Tập truyện ngắn Chợ tình, NXB Hội Nhà Văn
Tập truyện ngắn Mười ba bến nước, NXB Thanh Niên
Tập truyện ngắn Dị hương, NXB Hội nhà văn
Tập truyện ngắn Đi qua đồng chiều, NXB Thanh Niên
Tập truyện ngắn Đêm làng Trọng Nhân, NXB Quân Đội Nhân Dân Tập truyện ngắn Người ở bến sông Châu, NXB Hội Nhà Văn
Tiểu thuyết Miền hoang, NXB Trẻ
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống: Đây là một trong những phương pháp cơ bảncủa thi pháp học Trong phạm vi luận văn, chúng tôi sử dụng phương pháp này
để hệ thống các yếu tố nghệ thuật trong các sáng tác của Sương Nguyệt Minh,qua đó góp phần lí giải các biểu hiện của vấn đề sinh thái trong văn xuôi của
4
Trang 5nhà văn, đồng thời tìm hiểu mối liên hệ giữa các yếu tố ấy Phương pháp nàygiúp chúng ta giải mã các giá trị thẩm mĩ trong tác phẩm của Sương NguyệtMinh.
- Phương pháp so sánh: Chúng tôi áp dụng phương pháp này để tìm hiểucách thức xây dựng cốt truyện, tình huống truyện của nhà văn Sương NguyệtMinh với cách xây dựng cốt truyện, tình huống truyện của các nhà văn kháctrong và ngoài nước để phát hiện những nét tương đồng cũng như những nétriêng trong việc định hình phong cách của nhà văn Sương Nguyệt Minh.Phương pháp này cho phép chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về nghệ thuậtcũng như nội dung trong các sáng tác của nhà văn
- Phương pháp phân tích: Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi
có trích dẫn nhiều đoạn, nhiều chi tiết, hình ảnh trong các tác phẩm của nhà
văn Sương Nguyệt Minh nhằm mục đích làm sáng rõ những luận điểm đượcđưa ra trong luận văn Vì vậy, phương pháp phân tích được chúng tôi sử dụngrất nhiều và xuyên suốt quá trình làm luận văn Chính nhờ phương pháp này
mà luận văn có thêm chiều sâu trong nghiên cứu tác phẩm
- Phương pháp liên ngành: Vấn đề sinh thái liên quan đến nhiều lĩnh vựckhác như: sinh học, địa lí, lịch sử Vì vậy, việc sử dụng phương pháp liênngành giúp ích rất nhiều trong việc xâu chuỗi vấn đề một cách logic, đồng thờigiúp chúng ta có cái nhìn bao quát về vấn đề sinh thái trong văn học Việt Nam
từ sau 1975
5 Đóng góp của luận văn
Bên cạnh các kết quả nghiên cứu khác, kết quả nghiên cứu của luận văn
sẽ góp phần hoàn chỉnh hơn bức tranh toàn cảnh về văn xuôi của SươngNguyệt Minh Luận văn đi vào khám phá nội dung và nghệ thuật trong vănxuôi Sương Nguyệt Minh để nhận thấy khuynh hướng sinh thái trong sáng táccủa nhà văn Chỉ ra vai trò của vấn đề sinh thái trong văn học đối với xã hộihiện nay Nhất là trong giai đoạn này, khi vấn đề toàn cầu hóa văn học rất có ý
5
Trang 6nghĩa nhân văn, góp phần thể hiện đặc trưng và chức năng của văn học hiệnnay.
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về văn xuôi Sương NguyệtMinh từ góc nhìn sinh thái Ngoài ra, với hướng nghiên cứu tác phẩm từ gócnhìn sinh thái, luận văn sẽ là một tài liệu tốt trong hoạt động giảng dạy gắn liềnvới công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục, khi giáo dục ý thức bảo vệ môitrường trở thành mục tiêu hướng đến của nhiều tiết dạy
Kết quả nghiên cứu của luận văn mang đến một cách tiếp cận mới chocác tác phẩm văn học, mở ra hướng đánh giá, thẩm định giá trị nhân văn củavăn học từ góc nhìn sinh thái; đồng thời đánh thức cách ứng xử bình đẳng củacon người với môi trường trong xã hội hiện nay
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dungluận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận chung
Chương 2: Tư tưởng sinh thái trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện tư tưởng sinh thái trong văn xuôi SươngNguyệt Minh
6
Trang 7Chương 1 VĂN XUÔI SINH THÁI SAU NĂM 1975 VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG
TẠO CỦA NHÀ VĂN SƯƠNG NGUYỆT MINH 1.1 Các khái niệm tiền đề
1.1.1 Sinh thái học - ý thức sinh thái
Thuật ngữ Sinh thái học (Ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, baogồm hai phần, là "Oikos" chỉ nơi sinh sống, và "Logos" là học thuyết Như vậySinh thái học là học thuyết về nơi sinh sống của sinh vật, là môn học về quan
hệ tương hỗ sinh vật và môi sinh Vào những năm cuối thế kỉ XX, các nhànghiên cứu đã chỉ ra đối tượng của Sinh thái học là tất cả các mối tương tácgiữa cơ thể sinh vật sống với môi trường Rồi từ đó có cách tiếp cận khác, nhưSinh thái học là khoa học về môi sinh (Environmental Biology)
Những kiến thức của Sinh thái học đã và đang đóng góp to lớn cho nềnvăn minh của nhân loại trên cả hai khía cạnh, lí luận và thực tiễn Sinh thái họcgiúp chúng ta ngày càng hiểu biết sâu về bản chất của sự sống trong mối tươngtác với các yếu tố của môi trường, cả hiện tại và quá khứ, trong đó bao gồmcuộc sống và sự tiến hoá cua con người Sinh thái học còn tạo nên nhữngnguyên tắc và định hướng cho hoạt động của con người đối với tự nhiên đểphát triển nền văn minh ngày một hiện đại, không làm huỷ hoại đến đời sốngcủa sinh giới và chất lượng của môi trường
Con người là thành viên tích cực hay tiêu cực của mỗi hệ sinh thái nhấtđịnh Sự phồn vinh của loài người gắn liền với sự phồn vinh của các hệ sinhthái đó Con người cũng không thể tránh khỏi tai hoạ khi môi trường bị tàn phá
và suy kiệt, vì thế cần phải đấu tranh chống ô nhiễm môi trường và bảo vệ sinhquyển Sinh thái học hiện đại không chỉ là cơ sở khoa học mà còn là phươngthức tiếp cận chiến lược phát triển bền vững của xã hội con người và của hệthái dương bao la Sinh thái và môi trường còn là phương tiện giúp ta tối ưu
Trang 8hoá việc sử dụng các nguồn tài nguyên quy hoạch lãnh thổ tổng thể phát triểnlâu bền Nó giúp ta dự đoán những biến đổi môi trường trong tương lai, nhìnnhận lại những khả năng thực sự của con người, thấy được những tác động bấtlợi của con người lên môi trường Từ đó tìm mọi biện pháp hữu hiệu ngăn chặncuộc khủng hoảng môi trường, cứu lấy hành tinh của chúng ta.
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: “sinh thái” là khái niệm dùng
để chỉ quan hệ giữa sinh vật và môi trường Con người, xét về mặt tiến hóa cónguồn gốc từ tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên - một sinh vật có tổ chức caonhất của vật chất Theo đó, khái niệm sinh thái không chỉ nói đến các đốitượng: sinh vật và môi trường tự nhiên, mà chủ yếu nhấn mạnh đến quan hệcủa các đối tượng ấy trong chỉnh thể sinh thái Quan hệ đó có tính chất haichiều, tác động qua lại với nhau, phụ thuộc chặt chẽ vào nhau và có tính bìnhđẳng giữa sinh vật và môi trường Các sinh vật tồn tại trong tự nhiên bao gồm
cả động thực vật và con người Vì thế, để hệ sinh thái phát triển một cách hoànchỉnh và bền vững cần có sự tác động tích cực của bàn tay con người bởi conngười là động vật cao cấp nhất, có can thiệp sâu nhất vào môi trưởng tự nhiên.Nếu con người can thiệp vào tự nhiên một cách thô bạo sẽ dẫn đến những nguy
cơ sinh thái tiêu cực Sự xuống cấp của hệ sinh thái sẽ tác động ngược trở lạivào đời sống con người, điều này cũng khiến cho hệ sinh thái mất ổn định, nóicách khác, nó sẽ khiến cho mối quan hệ giữa các sinh vật nói chung và conngười nói riêng với môi trường mất cân bằng và bất ổn Khi mối quan hệ giữacon người và môi trường không được điều hòa tất yếu sẽ xảy ra những xungđột dẫn đến những hậu quả không mong muốn về mặt môi trường sống, ảnhhưởng xấu đến chất lượng sống của con người và các sinh vật khác trong hệsinh thái
Từ sinh thái và sinh thái học, các học giả đã triển khai thành một quanniệm giá trị mới, phản ánh sự phát triển hài hòa giữa con người với tự nhiên
Trang 9Đó là ý thức sinh thái (Ecological consciousness) Phạm Thị Ngọc Trầm đã chỉ
ra ý thức sinh thái là “sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên(các yếu tố của tự nhiên và quy luật hoạt động của chúng), về vị trí, vai trò củacon người trong mối quan hệ với tự nhiên và về trách nhiệm, nghĩa vụ của conngười trong việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ đó hướng đếnmục tiêu phát triển bền vững của xã hội và sự đồng tiến hóa giữa xã hội và tự
nhiên” (Tạp chí Triết học, số 3, 2002).
Trong Rừng khô, suối cạn, biển độc và văn chương, Nguyễn Thị Tịnh
Thy đã thể hiện ý thức sinh thái nhấn mạnh con người và tất cả các sinh mệnhkhác đều là những thành viên bình đẳng trong hệ thống đại tự nhiên, nhân loạikhông phải là chủ nhân của tự nhiên, tự nhiên cũng không phải là nô lệ hoặcđối tượng tiêu dùng của nhân loại Quan hệ giữa con người và tự nhiên là quan
hệ phát triển hài hòa,cộng sinh, cùng có lợi
Trước thực trạng môi trường sinh thái đang bị khủng hoảng, việc nângcao ý thức sinh thái vô cùng cần thiết Con người cần chung sống hài hòa với
tự nhiên, đề xướng văn minh sinh thái, những nhà khoa học nhân văn đãnghiên cứu khoa học nhân văn từ góc nhìn sinh thái, trong đó bao gồm cảnhững người nghiên cứu văn học Những nhà nghiên cứu này sẽ nhìn nhận lại
ý thức sinh thái trong tác phẩm văn học, nghiên cứu sự phát triển của việc sángtác lẫn nghiên cứu văn học dẫn đến sự ra đời của văn học sinh thái và phê bìnhsinh thái
1.1.2 Sinh thái nhân văn
Viện trưởng Viện Tài nguyên và môi trường Hoàng Văn Thắng cho biết:Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu quan hệ giữa con người và môitrường thiên nhiên ở mức độ hệ thống Bao gồm hệ xã hội và hệ tự nhiên (hệsinh thái) GS.TS Lê Trọng Cúc, người có đóng góp rất lớn và góp phần đưangành khoa học sinh thái nhân văn vào Việt Nam giải thích “Sinh thái nhân văn
Trang 10là khoa học dựa trên nguyên tắc quan hệ có hệ thống giữa xã hội loài người (hệ
xã hội) và môi trường thiên nhiên (hệ sinh thái) làm thành hệ thống sinh tháinhân văn Mục đích nghiên cứu của sinh thái nhân văn là tìm hiểu và nhận biếtcác đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống này với nhau và sựhình thành những hình thái đặc trưng trong hệ xã hội và hệ sinh thái Hệ sinhthái nhân văn tập hợp sự tác động của các nhân tố bao gồm dân số, kinh tế, vănhóa, khoa học kỹ thuật, chính trị và các đối tượng xã hội khác như giá trị,nguyện vọng, đạo đức, với các điều kiện môi trường tự nhiên làm nảy sinh racác quy luật động thái thống nhất tự nhiên - xã hội Tự nhiên và xã hội liên kếtchặt chẽ trong khuôn khổ của một hệ thống sinh thái nhân văn hoàn thiện, mà
hệ thống đó đã trải qua quá trình lịch sử tiến hóa của tự nhiên và sự phát triểncủa xã hội loài người Sinh thái nhân văn nghiên cứu ở mức độ hệ thống toànvẹn, trang bị cho nó vũ khí để có thể đương đầu với các vấn đề môi trườngngày càng tăng lên và các hệ thống tự nhiên - xã hội luôn luôn thay đổi” (theo
Nguyễn Thanh Hóa, Khai mở ngành sinh thái nhân văn ở Việt Nam).
Sinh thái học nhân văn là bộ môn khoa học liên ngành, nghiên cứu vềmối quan hệ tương tác giữa con người với các hình thái xã hội của loài người,với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo khác docon người tạo ra Sinh thái học nhân văn khảo sát xem các hệ thống xã hội củaloài người có liên quan và tác động tương hỗ như thế nào với hệ thống các hệsinh thái mà chúng phụ thuộc vào
Xây dựng ý thức sinh thái là cách tiếp cận mới giúp giải quyết các vấn
đề thuộc lĩnh vực quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa xã hội và tựnhiên Việc tìm hiểu sinh thái học nhân văn sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ vềcác vấn đề môi trường và nguy cơ sinh thái Từ đó, con người cần phải thay đổicách ứng xử với tự nhiên, phải lựa chọn cách ứng xử cho hợp lí để giải quyếtxung đột giữa nhu cầu sống, nhu cầu môi trường trong sạch và cố gắng đạt
Trang 11hiệu quả kinh tế cao nhất.
Quan tâm đến môi trường thực chất là quan tâm đến các giá trị nhân văn và sựphát triển bền vững Bảo vệ sinh thái chính là bảo vệ con người Chủ nghĩanhân văn sinh thái do phê bình sinh thái đề xuất không tách rời tự nhiên vớicon người mà hòa hợp con người với tự nhiên, con người là một phần cộngsinh của tạo hóa
1.2 Khuynh hướng văn xuôi sinh thái sau năm 1975
1.2.1 Khái lược văn xuôi sau năm 1975
Văn học từ sau năm 1975 đã tồn tại và phát triển trong điều kiện hoàncảnh lịch sử và xã hội khác biệt so với thời chiến tranh Điều này đã phát huy
cá tính sáng tạo mạnh mẽ của các nhà văn, nhà thơ Có thể nói rằng, so với thơthì văn xuôi giai đoạn này chiếm vị trí ưu trội
Khoảng 5 năm đầu, dư âm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vàtác động của hai cuộc chiến tranh biên giới khiến cho văn xuôi cơ bản “trượttheo quán tính cũ” (Nguyên Ngọc) Đề tài chiến tranh và những vấn đề thời sự
- chính trị vẫn là mối quan tâm hàng đầu của văn học giai đoạn này: Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Năm 75 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân),
Kí sự miền đất lửa (Nguyễn Sinh và Vũ Kì Lân), Đất trắng (Tập 1 - Nguyễn
Trọng Oanh) Một số tác phẩm dành sự quan tâm nhiều hơn cho thời hậuchiến như quá trình hòa hợp dân tộc, những vấn đề đạo đức mới nảy sinh trong
quan hệ thường nhật như: Tháng ba ở Tây Nguyên, Cha và con và của Nguyễn Khải, Lửa từ những ngôi nhà của Nguyễn Minh Châu; Những khoảng cách còn lại của Nguyễn Mạnh Tuấn, Hai người trở lại trung đoàn của Thái
Bá Lợi Đến nửa đầu thập kỉ 80, nhu cầu đổi mới của văn xuôi sau năm 1975
rõ dần Từ năm 1986, nhu cầu đổi mới bùng nổ trong văn xuôi thành cao tràosôi nổi với nhiều cây bút tiêu biểu như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma
Trang 12Văn Kháng, các tác giả trẻ hơn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, PhạmHoa, Hòa Vang
Văn xuôi sau năm 1975 nổi bật ba khuynh hướng chính: khuynh hướngnhận thức lại hiện thực, khuynh hướng đạo đức thế sự và khuynh hướng triếtluận Khuynh hướng nhận thức lại thường lấy quá khứ làm đối tượng phântích, không phải toàn bộ quá khứ mà là những phần khuất lấp, chưa được đềcập đến Theo tinh thần này, chiến tranh cũng được nhận thức lại Bên cạnhnhững chiến công vang dội thể hiện niềm kiêu hãnh và tự hào dân tộc, chiếntranh còn được đong đếm bằng những mất mát, hy sinh và những bi kịch của
người lính Đó chính là yếu tố làm nên chiều sâu cho những tác phẩm Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo, Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, Bến trần gian của Lưu Sơn Minh, Cỏ Lau của Nguyễn Minh Châu.
Những tác phẩm thuộc khuynh hướng đạo đức thế sự thường lấy đề tàitrực tiếp từ đời sống hiện tại, những câu chuyện hằng ngày, những quan hệnhân sinh Qua đó, nhà văn săn tìm ý thức về nhân cách Có thể kể đến thành
công của những tác phẩm Hai người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi), Sống với thời gian hai chiều (Vũ Tú Nam), Trái cam trong lòng tay (Nguyễn Kiên), Bức tranh (Nguyễn Minh Châu), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Trương Chi
(Nguyễn Huy Thiệp) Khuynh hướng này đã thu hút nhiều người viết và tạonên những dấu ấn riêng của thế hệ nhà văn sau năm 1975
Văn xuôi sau năm 1975 với cảm hứng triết luận hướng mạnh vào các
vấn đề thế sự mong khám phá quy luật nhân sinh từ cái hằng ngày Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Một cõi nhân gian bé tí của Nguyễn Khải, Kẻ sát nhân lương thiện của Lại Văn Long Văn xuôi sau năm
1975 đang cố gắng tiến về phía trước bằng khát vọng đổi mới, sáng tạo củanhiều nhà văn, góp phần đưa văn học Việt Nam theo xu hướng toàn cầu hóa
Bên cạnh các khuynh hướng nhận thức lại hiện thực, khuynh hướng đạođức thế sự và khuynh hướng triết luận, văn học Việt Nam sau năm 1975 xuất
Trang 13hiện khuynh hướng văn xuôi sinh thái Khuynh hướng này thể hiện ở việc xuấthiện các chủ đề sinh thái, có lực lượng sáng tác riêng và có những thay đổiđáng kể trong những thể nghiệm nghệ thuật vận động về phía sinh thái Những
ý tưởng sinh thái của các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp,Trần Duy Phiên, Nguyễn Khắc Phê, Sương Nguyệt Minh đã rung lên hồichuông cảnh báo về nguy cơ sinh thái và hiểm họa môi trường trên toàn cầu
1.2.2 Những tiền đề hình thành khuynh hướng văn xuôi sinh thái sau 1975
Hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ đã đi qua nhưng nhữnghậu quả của chiến tranh vẫn còn hằn sâu vết thương lên môi trường và cuộcsống con người Chiến tranh đã hủy diệt môi trường thiên nhiên: bom đạn, chấtđộc da cam Những cánh rừng bị cháy trụi, những dòng sông mà đến nay bomđạn vẫn còn, nhiều nơi trở thành những vùng đất chết, hoang vu Không nhữngvậy, chất độc da cam vẫn đang hoành hoành, hủy hoại biết bao nhiêu hạnhphúc gia đình, hủy họa những thế hệ tương lai Nỗi đau do chiến tranh vẫn còndai dẳng, bám riết cuộc đời con người
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra cũng góp phần thúc đẩy
sự gia tăng ô nhiễm môi trường Các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp vàphương tiện giao thông hàng năm đã thải vào không khí hàng trăm loại khí thảilàm ô nhiễm không khí Không chỉ vậy, nguồn nước cũng bị ô nhiễm nghiêmtrọng khi việc xử lí chất thải không đạt, nước thải, khí thải và các chất rắn thảikhông qua xử lí trực tiếp đổ ra môi trường Diện tích rừng ngày càng thu hẹpkéo theo những hệ lụy nghiêm trọng như lũ quét, sạt lỡ đất Không chỉ vậy,việc lạm dụng và sử dụng không hợp lí các loại hóa chất trong sản xuất nôngnghiệp cũng dẫn đến tình trạng ô nhiễm đất Ô nhiễm môi trường thật sự là mộtvấn nạn cần được khắc phục để có thể trả lại màu xanh vốn có cho trái đất.Trách nhiệm ấy không thuộc về một ai mà thuộc về tất cả mọi người
Biến đổi khí hậu mà biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực
Trang 14nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trongthế kỷ 21 Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác đang gia tăng ởhầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển trung bình toàn cầutiếp tục tăng nhanh và đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới Nếucon người không nhận thức sâu sắc về biến đổi khí hậu và khắc phục hậu quả,trong tương lai chúng ta phải đối mặt với những thách thức lớn: mất đa dạngsinh học, chiến tranh lương thực và nước ngọt, dịch bệnh tràn lan, hạn hán, bãolụt, những đợt nắng nóng gay gắt, sẽ diễn ra thường xuyên hơn.
Trước những vấn đề mang tính toàn cầu và cấp thiết ấy, văn học khôngthể đứng ngoài cuộc Tác động đến con người dù chỉ là ý thức cũng góp phần
cải thiện tích cực những vấn đề môi trường hiện nay Trong Sáng tác và phê bình sinh thái - tiềm năng cần khai thác của văn học Việt Nam, Nguyễn Thị
Tịnh Thy đã viết rằng: Một tác phẩm văn học sinh thái không chỉ đơn thuầnmiêu tả tự nhiên hoặc hệ sinh thái, mà quan trọng hơn là phải có đầy đủ tưtưởng sinh thái và góc nhìn sinh thái Văn học sinh thái đặc biệt chú trọng đếntrách nhiệm và nghĩa vụ của con người đối với tự nhiên, khẩn thiết kêu gọi conngười bảo vệ vạn vật trong tự nhiên và duy trì cân bằng sinh thái, nhiệt tình cangợi sự hy sinh của con người vì lợi ích của chỉnh thể sinh thái Rất nhiều tácgiả tuyên chiến với chủ nghĩa nhân loại trung tâm, nhị nguyên luận, các quanđiểm chinh phục và thống trị tự nhiên, quan điểm sức mạnh của dục vọng, pháttriển là trên hết, chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa tiêu dùng, cải tạo tự nhiên, phá
vỡ cân bằng sinh thái Ngoài ra, bằng sức tưởng tượng và sự nhạy cảm của nhàvăn, những tác phẩm viễn tưởng còn có thể dự báo những thảm họa sinh thái,cảnh báo nhân loại về các nguy cơ sinh thái [59]
Giai đoạn văn học 1945 - 1975 đã bắt đầu hình thành ý thức sinh tháitrong văn học Trong giai đoạn văn học này, biểu hiện của ý thức sinh thái rõnhất qua tình yêu quê hương, đất nước Rất nhiều tác phẩm đã ca ngợi vẻ đẹp
Trang 15của thiên nhiên quê nhà (Vợ chồng A Phủ Tô Hoài, Người lái đò sông Đà Nguyễn Tuân, Hương cỏ mật - Đỗ Chu, Mùa hoa doi - Xuân Quỳnh, Đồng chí
Chính Hữu, Đất nước Nguyễn Đình Thi, Mẹ vắng nhà Nguyễn Thi, Hòn đất - Anh Đức, Vườn trong phố - Lưu Quang Vũ ) Văn xuôi giai đoạn này
cũng tập trung vào mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Tự nhiên vàcon người có cùng tiếng nói Thiên nhiên là nền cảnh, con người là trung tâm
(Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân, Mùa Lạc - Nguyễn Khải, Lặng lẽ Sa Pa
- Nguyễn Thành Long, Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi.) Văn
xuôi 1945 - 1975 cũng viết về chiến tranh, về sự tàn phá của bom đạn với môi
trường (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành, Cánh đồng hoang - Nguyễn Quang Sáng, Giấc mơ ông lão vườn chim - Anh Đức, Dấu chân người lính -
Nguyễn Minh Châu.) nhưng chủ yếu để tố cáo tội ác của kẻ thù
Sau 1975, theo quán tính cũ, rất nhiều tác phẩm viết về đề tài chiến tranh
như Miền cháy - Nguyễn Minh Châu, Lời hứa thời gian của Nguyễn Quang Thiều, Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Năm 75 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân, Thập giá giữa rừng sâu của Trần Duy Phiên.
Có thể nhận thấy ở giai đoạn văn học sau 1975, rất nhiều tác phẩm văn học viết
về sức tàn phá của chất độc da cam Tiêu biểu như Người còn sót lại của rừng cười - Võ Thị Hảo, Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh, Ngọa Sinh -
Võ Thị Xuân Hòa Chiến tranh đã lùi xa nhưng con người ngày càng nhận thức
rõ chiến tranh đã hủy hoại môi trường nặng nề đến thế nào
Nhiều sáng tác của Nguyễn Quang Thiều, Duy Khán xoay quanh biểuhiện hoài niệm về vẻ đẹp thôn quê Về sau, các tác phẩm quan tâm hơn đến cácvấn đề xã hội, hướng về đô thị, những vấn đề nảy sinh trong quá trình công
nghiệp hóa (Kí sự làng, Phố làng - Đỗ Nhật Minh, Khách đến Nha Trang, Ngọc Đất - Hoàng Minh Tường, Sâm cầm Hồ Tây - Sương Nguyệt Minh ); những bất công nảy sinh từ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên (Bãi vàng,
Trang 16Tiền rừng, Chuyện cũ từ rừng, Màu của bóng tối, Trầm hương - Nguyễn Trí, Biển và chim bói cá - Bùi Ngọc Tấn, Đá đỏ - Vũ Thi), sự liên hệ giữa bất công của phụ nữ và tự nhiên (Mùi cọp, Mùa săn - Qúy Thể, Trăm năm còn lại - Trần Duy Phiên, Lúa hát - Võ Thị Xuân Hà.) Bám sát hiện thực, văn học đã thể
hiện những vấn đề nổi cộm lúc bấy giờ như tàn phá thiên nhiên, đô thị hóa, cácgiá trị đạo đức truyền thống bị băng hoại, mặt trái của văn minh tác động đếncuộc sống con người
Văn xuôi sinh thái quy tụ nhiều cây bút tài năng, đi sâu khai thác hiệnthực ở góc nhìn mới phù hợp với xu thế toàn cầu hóa văn học của nhân loại
như: Nguyễn Minh Châu (Một lần đối chứng, Sống mãi với cây xanh),Trần Duy Phiên (Kiến và người, Mối và người, Nhện và người), Nguyễn Huy Thiệp (Sói trả thù, con sói lớn nhất, Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn.), Nguyễn Ngọc Tư (Cánh đồng bất tận, Sông) Có thể kể đến sự đóng góp của nhiều cây bút nữ như: Hà Thị Cẩm Anh (Giải vía, Đối thoại với bất tử.); Đoàn Lê (A touris xóm chùa, Giường đôi xóm chùa.), Quế Hương (Tre hoa nở, Tí bụi, Cội mai lưu lạc, Những chiếc lá hình giọt lệ.); Dạ Ngân (Con chó và vụ li hôn); Võ Thị Xuân Hà (Lúa hát, Đàn sẻ ri bay ngang trời.), Đỗ Bích Thủy (tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, tiểu thuyết Bóng của cây sồi); Trần Thanh Hà (Miền cỏ hoang, Sông ơi.), Hồ Thị Ngọc Hoài (Thung Lam) đã đi sâu hơn và đề cập đến nhiều vấn đề sinh thái.
Văn xuôi sinh thái từ chỗ có những nhà văn viết về nhiều chủ đề trong
đó có chủ đề sinh thái thì hiện nay đã có nhiều nhà văn chuyên sâu hơn vềmảng này Về lực lượng sáng tác, từ chỗ chỉ có vài tác phẩm lẻ tẻ văn xuôi đã
có một loạt các tác giả chuyên sâu về vấn đề sinh thái Như vậy, sau 1975 đãhình thành khuynh hướng văn xuôi sinh thái, lúc đầu còn tản mác chìm lấptrong nhiều chủ đề khác nhưng càng về sau, các tác phẩm càng thể hiện cáctriết lí sâu sắc và đề cập đến nhiều khía cạnh của môi trường và con người
Trang 17Sáng tác của các nhà văn đã đưa nền văn xuôi nước ta hòa nhập xu thế toàn cầuhóa, phản ánh những vấn đề bức thiết của nhân loại và kêu gọi sự thay đổi củacon người trong cách đối xử với tự nhiên
1.3 Phê bình sinh thái
1.3.1 Khái niệm phê bình sinh thái
Có nhiều thuật ngữ khác được dùng cùng với phê bình sinh thái(Ecocricism): Nghiên cứu văn học và môi trường (Studies of literature andenvironment), sinh thái học văn học (Literary ecology), Thi pháp sinh thái(Ecopoetics), phê bình văn học môi trường (Environmental litrerary critism),phê bình xanh (green studies) hay phê bình văn hóa xanh (Green culturalstudies) Hai thuật ngữ phê bình sinh thái (Ecocricism) và nghiên cứu văn học
và môi trường được sử dụng rộng rãi nhất (Studies of literature andenvironment)
Các học giả trên thế giới đã đưa ra khá nhiều khái niệm về phê bình sinh
thái Joseph Meeker định nghĩa thuật ngữ sinh thái học văn học như sau “Sinh
thái học văn học là nghiên cứu về chủ đề và mối quan hệ của sinh vật học xuất
hiện trong tác phẩm văn học” William Rueckert lại định nghĩa sinh thái học văn học là “kết hợp văn học và sinh thái học”, “cung cấp khái niệm sinh thái và
sinh thái học cho nghiên cứu văn học”, “cung cấp khái niệm sinh thái học choviệc đọc, giảng dạy và sáng tác văn học để từ đó phát triển thành môn thi phápsinh thái” [63]
Karl Kroeber nêu rõ hơn: “Phê bình sinh thái không lấy phương phápnghiên cứu của sinh thái học, sinh hóa học, toán học hay phương pháp nghiêncứu của bất kỳ môn khoa học tự nhiên nào để phân tích văn học Nó chỉ lấykhái niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái đưa vào phê bình văn học” [63,tr.140] Có nghĩa rằng, phê bình sinh thái không xuất phát từ sinh thái học màxuất phát từ triết học sinh thái, dưới sự dẫn dắt của tư tưởng triết học sinh thái
Trang 18Năm 1990, trong công trình (Những) giá trị của văn học (The Value(s)
of Literature), James S Hans đưa ra định nghĩa: “Phê bình sinh thái là nghiêncứu văn học (và các ngành nghệ thuật khác) từ bối cảnh xã hội và địa cầu Vănhọc không phải là một lĩnh vực tồn tại riêng và cách biệt với thế giới bênngoài Vì vậy, nếu chúng ta nghiên cứu văn học giới hạn trong bản thân nó thì
sẽ làm cản trở mối liên hệ rất quan trọng của văn học với các hệ thống khác,
mà chính những mối liên hệ đó đã kết hợp sự biểu đạt quan niệm giá trị củachúng ta” [63, tr.140] Định nghĩa này xác định diện khảo sát của phê bình sinhthái không giới hạn ở lĩnh vực xã hội và mối quan hệ giữa con người và tựnhiên mà còn mở rộng ra mối quan hệ giữa sinh thái trên trái đất này với conngười Định nghĩa thể hiện rõ sự nhận thức của James S.Hans về tính quyếtđịnh của văn hóa xã hội đối với mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
Năm 1994, tại hội thảo khoa học về phê bình sinh thái ở thành phố SaltLake (Mỹ), Scott Slovic đã đưa ra một định nghĩa về phê bình sinh thái vàđược đánh giá cao “Phê bình sinh thái là chỉ hai phương diện nghiên cứu: Vừa
có thể sử dụng bất kỳ một phương pháp nghệ thuật nào để nghiên cứu lối viết
tự nhiên, vừa có thể khảo sát cặn kẽ hàm nghĩa sinh thái và mối quan hệ giữacon người với tự nhiên trong bất cứ văn bản văn học nào, cho dù những vănbản ấy thoạt nhìn có vẻ như rõ ràng miêu tả thế giới phi nhân loại Điểm nóngcủa nghiên cứu mới này phản ánh nhận thức ngày càng lớn của xã hội đươngđại về tầm quan trọng và tính dễ bị tổn thương của thế giới phi nhân loại” [63,tr142] Từ sự khởi xướng của Scott Slovic và những học giả khác, giữa thậpniên 1990 đến nay, phê bình sinh thái đã gặt hái được nhiều thành tựu trênphương diện nghiên cứu các tác phẩm kinh điển từ góc nhìn sinh thái
Năm 1996, trong lời giới thiệu cho Tuyển tập phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong sinh thái học văn học (The Ecocriticism Reader: Landmarks in Literary Ecology), giáo sư Cheryll Glotfelty - nhà phê bình sinh
Trang 19thái đầu tiên của Mỹ đưa ra định nghĩa về phê bình sinh thái như sau: “Phêbình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường
tự nhiên” [63, tr.142] Có thể nhận thấy, định nghĩa của giáo sư CheryllGlotfelty thể hiện rất rõ sứ mệnh của phê bình sinh thái là thông qua văn họcthẩm định lại văn hóa nhân loại và truy tìm nguy cơ sinh thái
Trong tiểu luận Một số nguyên tắc của phê bình sinh thái (Some
Principles of Ecocriticism), từ góc độ của từ nguyên, William Howarth đã địnhnghĩa phê bình sinh thái thành “phán quyết việc nhà” “Eco (sinh thái) và Critic(nhà phê bình) đều có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, xuất phát từ oikos và kritis
Ý nghĩa của hai từ này ghép lại chính là “phán quyết việc nhà” (house judge).Điều này sẽ khiến rất nhiều người yêu thích lối viết xanh và đề tài hướng vềthế giới bên ngoài lấy làm kinh ngạc Cụm từ “phán quyết việc nhà” có thểđược giải thích dài dòng và quanh co như sau: Nhà phê bình sinh thái là “ngườiđánh giá những ưu nhược tốt xấu trong các tác phẩm miêu tả ảnh hưởng củavăn hóa đến tự nhiên, chủ trương ca ngợi tự nhiên, lên án kẻ tàn phá tự nhiên
và thông qua hành động chính trị để làm giảm bớt sự thương tổn của tự nhiên”[63, tr.147] Định nghĩa của William Howarth nhấn mạnh mục đích của phêbình sinh thái và nhấn mạnh việc tuân thủ theo các quy luật tự nhiên
Giáo sư Lawrence Buell của đại học Harvard trong chuyên luận Tưởng tượng môi trường: Thoreau, sáng tác tự nhiên và sự hình thành văn hóa Mỹ (The Environmental Imagination: Thoreau, Nature Writing and the Formation
of American Culture) đã đưa ra định nghĩa sau: “Từ tinh thần thực tiễn của chủ
nghĩa bảo vệ môi trường, tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học vàmôi trường” Theo ông, đây là “một lĩnh vực học thuật lớn và còn tiếp tục pháttriển”, “một nghiên cứu đa hình thức”, “lấy vấn đề môi trường làm tiêu điểm”[63, tr.149]
Từ việc phân tích những định nghĩa của các học giả Âu Mỹ, Vương Nặc
Trang 20cho rằng phê bình sinh thái cần có một định nghĩa mới, đó là “Phê bình sinhthái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từđịnh hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thểsinh thái Nó phải phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh tháiđược phản ánh trong tác phẩm văn học, đồng thời khám phá thẫm mĩ sinh thái
và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm”
Tổng hợp các định nghĩa nêu trên và trên cơ sở phân tích định nghĩa của
Vương Nặc, Nguyễn Thị Tịnh Thy, trong Rừng khô, suối cạn, biển độc và văn chương đã đề xuất định nghĩa phê bình sinh thái như sau: “Phê bình sinh
thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từđịnh hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thểsinh thái thông qua việc khám phá thẫm mĩ sinh thái và biểu hiện nghệ thuậtcủa nó trong tác phẩm” [63, tr.153]
1.3.2 Những khởi đầu mới mẻ ở Việt Nam
Hiện nay, lý thuyết, khuynh hướng phê bình sinh thái đã bắt đầu đượcdịch thuật và giới thiệu ở Việt Nam Tháng 3 năm 2011, Karen Thronber sang
Việt Nam trong khuôn khổ Hội thảo quốc tế 2011 Tiếp cận văn học châu Á từ
lý thuyết phương Tây hiện đại: vận dụng, tương thích, thách thức và cơ hội.
Bài giảng Ecocriticism của bà tại Viện Văn học giới thiệu một cách tổng quát
về bản chất, ý nghĩa và tiến trình của nghiên cứu văn chương môi trường vàsau đó phân tích những điểm cơ bản mà phê bình sinh thái quan tâm
Bản dịch của Trần Ngọc Hiếu Những tương lai của phê bình sinh thái
và văn học của Karen Thornber trong tập Phê bình sinh thái Đông Á: Tuyển tập phê bình (Các nền văn học, văn hóa và môi trường (East Asian
Ecocriticisms A Critical Reader (Literatures, Cultures, and he Enviroment,2013) đã cung cấp cho chúng ta những triển vọng của phong trào này KarenThornber đã sáng tạo ra khái niệm - ecoambiguity (mơ hồ sinh thái) - như một
Trang 21khái niệm phản ánh đặc trưng phổ biến của diễn ngôn về môi trường, thiênnhiên trong các nền văn hóa Đông Á, không phải Đông Á có một truyền thốnggắn bó với tự nhiên, chỉ đến thế kỉ XIX bắt đầu xảy ra tình trạng suy thoái mà
“thực chất, các xã hội Đông Á đã kế thừa cả hàng ngàn năm môi trường bịthoái hóa nghiêm trọng” từ đó dẫn đến những ngộ nhận không nhỏ trong ý thức
và cách ứng xử đối với môi trường của con người trong khu vực [45, trang173]
Bản dịch của Trần Thị Ánh Nguyệt lấy từ lời giới thiệu của Cheryll
Glotfelty trong Tuyển tập phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong sinh thái học văn học do Cheryll Glotfelty và Harold Fronm chủ biên giúp chúng ta
hiểu hơn về nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường.Cheryll Glotfelty đã chỉ ra “chúng ta chỉ có duy nhất một trái đất mà thôi” Và
“bạn sẽ nhanh chóng nhận ra rằng chủng tộc, giai cấp, và giới tính trở thànhnhững vấn đề nóng bỏng vào những năm cuối thế kỷ XX Thế nhưng, bạn sẽkhông bao giờ biết được rằng sự sống của trái đất - cái nền tảng đang làmnhiệm vụ chống đỡ tất cả những hệ thống ấy - là cái đang nằm sâu bên dưới tất
cả những giao tranh căng thẳng đó” Cheryll Glotfelty cho rằng “Phê bình sinhthái đặt ra vấn đề quan hệ nối kết giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là sự tạotác văn hóa của ngôn ngữ và văn học Như là một quan điểm phê bình, phêbình sinh thái đặt một chân ở văn học và chân kia trên mặt đất; như là một diễnngôn lý thuyết, phê bình sinh thái dàn xếp giữa con người và thế giới phinhân” Bà cũng kêu gọi hành động vì môi trường, bởi chúng ta “đã đi tới thờiđại môi trường cạn kiệt, một thời đại mà hậu quả hành động của con ngườiđang tàn phá hành tinh Chúng ta đã tới thời đại đó Hoặc là chúng ta phải thayđổi chính mình hoặc sẽ phải đối mặt với thảm họa toàn cầu”
Bài Phê bình sinh thái - cội nguồn của sự phát triển (2012) của Đỗ Văn Hiểu đã tổng hợp phong trào phê bình sinh thái trên thế giới Bài Phê bình sinh
Trang 22thái - Khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân (2012) cũng của
Đỗ Văn Hiểu chỉ ra một số cách tân bản chất của phê bình sinh thái trênphương diện tư tưởng nòng cốt, sứ mệnh, nguyên tắc thẫm mĩ, đối tượng,phạm vi nghiên cứu Theo Đỗ Văn Hiểu, “phê bình sinh thái đề xuất lấy trungtâm luận làm nền tảng tư tưởng” Và “tư tưởng hạt nhân của chủ nghĩa chỉnhthể sinh thái là coi lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái là giá trị cao nhất;lấy sự có ích hay không có ích đối với việc bảo vệ, duy trì hoàn chỉnh, hài hòa,
ổn định, cân bằng hệ thống sinh thái làm thước đo, tiêu chuẩn cao nhất để đánhgiá sự phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ khoa học kĩ thuật cũngnhư phương thức sống của nhân loại” Phê bình sinh thái mang một sứ mệnhmới là nhìn nhận lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán văn hóa, chỉ ra cănnguyên văn hóa tư tưởng dẫn đến nguy cơ sinh thái Phê bình sinh thái xâydựng trên nguyên tắc mĩ học riêng Thẩm mĩ sinh thái mang tính tự nhiên.Trong thẩm mĩ sinh thái, không tồn tại quan hệ chủ thể - khách thể, con ngườicảm nhận tự nhiên, thiết lập quan hệ chủ thể tương giao với đối tượng thẫm mĩ.Thẩm mĩ sinh thái đề cao tính chỉnh thể “cái gì có lợi cho sự ổn định, hài hòacủa hệ thống sinh thái mới là đẹp; phá hoại chỉnh thể, phá hoại sự ổn định sinhthái sẽ bị coi là xấu” Thẩm mỹ sinh thái “còn đề cao nguyên tắc dung nhập”.Thẩm mỹ sinh thái yêu cầu tinh thần và thể xác thấu nhập vào tự nhiên, hòa với
tự nhiên làm một Theo Đỗ Văn Hiểu, phê bình sinh thái ra đời đã mang đếncho nghiên cứu văn học, mỹ học một góc nhìn mới, khai mở một không gianmới, mang đến một động lực phát triển mới, bổ sung cho những khoảng trốngtrong nghiên cứu văn học từ trước đến nay
Nguyễn Thị Tịnh Thy trong bài Phê bình sinh thái - nhìn từ lý thuyết giải cấu trúc (2013) đã chỉ ra phê bình sinh thái mang cảm quan hậu hiện đại.
Nội hàm căn bản của phê bình sinh thái là tính giải cấu trúc mạnh mẽ, biểuhiện ở các đặc điểm lệch tâm, tản quyền, cái chết của chủ thể, lật đổ và tái
Trang 23thiết, tính đối thoại Từ sự hoài nghi và phản đối “chủ nghĩa nhân loại trungtâm”, các nhà phê bình sinh thái đã dịch chuyển trung tâm bằng sự đề cao “sinhvật trung tâm”, “trái đất trung tâm”, “sinh thái trung tâm” Sinh thái học hiệnđại xem thế giới là một hệ thống sinh thái phức hợp của con người - xã hội - tựnhiên Ngoài việc chỉ ra những hậu quả của văn minh công nghiệp, của chủnghĩa nhân loại trung tâm cực đoan, chủ nghĩa chinh phục tự nhiên, chủ nghĩa
bá quyền, hưởng lạc là tài nguyên cạn kiệt, môi trường bị phá hoại, giàu nghèocách biệt , phê bình sinh thái còn chủ trương tái thiết môi trường Phê bìnhsinh thái cũng phản đối tính độc đoán, nhấn mạnh tính chất đa điểm nhìn, đachủ thể, đa thanh Trong phê bình sinh thái, tự nhiên không chỉ là đối tượng thểhiện của văn học mà còn là chủ thể sáng tạo nguyên thủy của văn học Vì vậy,vận dụng lý luận đối thoại vào văn học sinh thái nói riêng và sáng tác nghệthuật nói chung sẽ giúp chúng ta tìm hiểu mối quan hệ giữa con người với tựnhiên Giải cấu trúc trong phê bình sinh thái là những tín hiệu nhận biết sựcách tân, sự phản tư của một trào lưu văn học gắn với những vấn đề thiết thựctrong đời sống nhân loại mang tính toàn cầu
Việc ứng dụng phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học ở Việt Namthể hiện sự khởi đầu mới mẻ của khuynh hướng văn học này Có thể kể đến
những bài viết như sau: Mùa xuân, sinh thái và văn chương (Huỳnh Như Phương); Thơ mới từ góc nhìn sinh thái học văn hóa (Nguyễn Đăng Điệp); Nghiên cứu phê bình sinh thái hiện đại và di sản văn hóa: nhìn từ cách Sinh thái học tìm về Tam giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo) của Trần Hải Yến; Sáng tác và phê bình sinh thái - tiềm năng cần khai thác của văn học Việt Nam (Nguyễn Thị Tịnh Thy); Cái tự nhiên trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn phê bình sinh thái (Đặng Thị Thái Hà); Hình tượng loài vật trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái (Trần Thị Ánh Nguyệt); Luận văn thạc sĩ Cái tự nhiên từ điểm nhìn phê bình sinh thái (Qua
Trang 24tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư) của
Đặng Thị Thái Hà; Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ lí thuyết phê bình sinh thái (Vũ Minh Đức); Tôtem sói của Khương Nhung nhìn
từ lí thuyết phê bình sinh thái (Nguyễn Thị Tịnh Thy)
1.4 Văn xuôi Sương Nguyệt Minh
1.4.1 Đề tài sáng tác phong phú
Nhà văn Sương Nguyệt Minh, sinh ngày 15-9-1958, tên thật là NguyễnNgọc Sơn, quê ở Yên Mỹ, Yên Mô, Ninh Bình Lúc đầu, nhà văn lấy bút danh
là Sơn Nguyệt Minh (Lấy tên Sơn của nhà văn, tên vợ là Nguyệt và tên con trai
là Minh, ghép lại thành Sơn Nguyệt Minh) Dạo mới viết, nhà văn hay in ở báoQuân đội nhân dân, bài gửi đi đến khi báo ra cứ thành Sương Nguyệt Minh Từ
đó, nhà văn đành lấy bút danh là Sương Nguyệt Minh, và bút danh ấy tồn tạiđến bây giờ
Ông là nhà văn quân đội, đến với nghiệp văn chương khá muộn màng,
năm 1992, lần đầu tiên có truyện ngắn (Nỗi đau dòng họ) đăng trên Tạp chí
văn nghệ quân đội Nhưng Sương Nguyệt Minh đã chứng tỏ khả năng củamình sau đó, góp mặt vào đội ngũ những nhà văn tiêu biểu sau năm 1975 vớinhững đổi mới, sáng tạo
Các nhà phê bình văn học tìm ra con đường vận động trong văn chươngcủa Sương Nguyệt Minh đi từ “hiện thực - lãng mạn” đến “hiện thực - lãngmạn và kỳ ảo” gắn với nhiều mảng đề tài sinh động: chiến tranh, lịch sử, thiênnhiên, thế sự Ở mảng đề tài nào, chúng ta cũng nhận thấy sự lao động côngphu của một nhà văn luôn trăn trở với những vấn đề của xã hội, con người.Những trang văn chính là sự trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời, về những gì mànhà văn đã chứng kiến Khuất Quang Thụy trong lời mở đầu tập truyện ngắn
Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh đã viết rằng “Vì có may mắn được
cùng làm việc với anh nhiều năm nên tôi cũng được chứng kiến và can dự vào
Trang 25những trăn trở, những cuộc vật lộn chống chọi để thoát ra khỏi những cái thôngthường mòn nhẵn trong quá trình sáng tác của Sương Nguyệt Minh”.
Đó là khi nhà văn viết và cho in truyện ngắn Người ở bến sông Châu.
Ông cứ trăn trở bởi đây là một hiện thực rất lạ ở chiến tranh Việt Nam mà ítngười chú ý đến: người trở về từ chiến trường lại là một người con gái chứkhông phải một anh lính, và người kết hôn không phải là một người phụ nữchờ đợi quá lâu mà không thấy người ra đi trở về Người kết hôn lại là ngườiđàn ông - “chú San”: đi lấy vợ vào “Ngày dì Mây khoác ba lô trở về làng.” Đó
là trăn trở khi in truyện ngắn Mười ba bến nước Không phải là mười hai bến
nước thông thường trong cách nói dân gian Cái đau khổ của con người là khi
cứ lênh đênh mãi, không biết đâu là bờ bến, không biết đâu là điểm dừng Điều
ấy mới thật là bất hạnh
Nhiều truyện ngắn của ông đã được dựng thành phim như: Người ở bến sông Châu, Mười ba bến nước và đã tạo được tiếng vang lớn Có thể nói rằng, truyện ngắn là bước khởi đầu đầy thành công của nhà văn Sương Nguyệt Minh Để sau đó, tiểu thuyết Miền hoang như một bước ngoặt trong sự nghiệp
sáng tác của ông, dẫn dắt người đọc vào thế giới nghệ thuật phong phú
Trong giai đoạn đầu sáng tác, nhà văn Sương Nguyệt Minh hay viết vềkhông gian làng quê yên bình, mộc mạc với những con người giàu tình nghĩa
Ở đó, cuộc sống còn nghèo khó, con người phải lam lũ một nắng hai sương màvẫn không đủ ăn Đó còn là cuộc sống thăng trầm với những biến động trongthời buổi kinh tế thị trường Những câu chuyện về cuộc sống nông thôn củanhà văn Sương Nguyệt Minh vì vậy rất cuốn hút người đọc Dường như tanhận ra chính mình hay cảm thấy thật thân quen, gần gũi với các nhân vật bởi
những nỗi niềm lắng đọng (Mây bay cuối đường, Hoàng hôn màu cỏ biếc, Ngày về ).
Ta cũng nhận thấy tấm lòng yêu thương trân trọng của Sương Nguyệt
Trang 26Minh dành cho các nhân vật nữ Họ là hiện thân của những người mẹ, ngườichị tảo tần, chịu thương, chịu khó, sẵn sàng nhận phần thiệt thòi về mình Đó là
bi kịch không được làm mẹ của cô Sao trong truyện ngắn Mười ba bến nước,
bởi chồng cô bị nhiễm chất độc da cam Bi kịch bị lãng quên của cô gái Mây
vốn dĩ là người đẹp nhất làng trong Người ở bến sông Châu khiến người đọc
cứ xót xa, tiếc nuối Khi miêu tả bi kịch của họ, nhà văn đã đi sâu vào nội tâmphong phú từ những rung động, bồng bột tuổi trẻ đến những trải nghiệm sâusắc đến rơi nước mắt Có thể là nhân vật chính hay nhân vật phụ thoáng quatrong tác phẩm, nhưng tất cả họ đều mang vẻ đẹp của những bông hoa cỏ đồngnội: dịu dàng, giản dị mà vô cùng quyến rũ
Bên cạnh những câu chuyện về cuộc đời, nhà văn Sương Nguyệt Minhdành nhiều trang viết về thiên nhiên Khung cảnh thiên nhiên của quê hương làbối cảnh cho những sáng tác của ông Thiên nhiên hiện lên thật nhẹ nhàng,giản dị, đậm đà phong vị quê hương trên khắp mọi miền quê của đất nước Ta
bắt gặp sự đồng cảm của nhà văn với thiên nhiên trong nhiều tác phẩm: Hoàng hôn màu cỏ biếc, Đi qua đồng chiều, Chợ tình, Ngày xưa nơi đây là cửa rừng.
Có lẽ vì vậy, Sương Nguyệt Minh được nhà phê bình văn học Nguyễn HoàngĐức mệnh danh là “nhà văn của những cảnh sắc đồng quê lung linh”
Với những tập truyện đầu tay, nhà văn Sương Nguyệt Minh được đánhgiá là “mang đến cho người đọc một khuôn mặt văn chương theo lối truyềnthống, nhuần nhụy từ giọng văn cho đến tên nhân vật trong tác phẩm” Đếngiai đoạn sau, truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh đã bắt đầu xuất hiện yếu tố
kì ảo và tính dục gắn liền với đề tài lịch sử dân tộc Tâp truyện ngắn Dị Hương
của nhà văn ngay từ khi phát hành đã tạo được sự chú ý đối với bạn đọc Mộtcuộc tranh luận sôi nổi trên các tờ báo, các website với các ý kiến khen, chêkhác nhau Điều ấy chứng tỏ tác phẩm được sự quan tâm của dư luận Đến với
Dị Hương, nhà phê bình Ngô Văn Gía đã tặng cho nhà văn ba chữ “Hoạt
Trang 27-Phiêu - Thõa” (Hoạt là sự linh hoạt trong trần thuật, -Phiêu là sự chuyển đổi bútpháp từ tâm linh đến siêu thực, Thõa là “chất liệu sex được viết một cách rấtcao tay”).
Là một nhà văn quân đội, Sương Nguyệt Minh đặc biệt dành sự quantâm của mình cho đề tài chiến tranh và hình tượng người lính Bởi SươngNguyệt Minh từng là người lính cầm súng chiến đấu trên chiến trườngCampuchia từ năm 1975 Bởi vậy, những tác phẩm về chiến tranh, về ngườilính như một tất yếu, một nhu cầu tự thân trong sự nghiệp văn chương củaSương Nguyệt Minh Với quan niệm “nhà văn ngừng sáng tạo là nhà văn rơivào lãng quên trong lòng bạn đọc”, Sương Nguyệt Minh luôn tìm tòi, đổi mới
để xóa bỏ cái nhìn đơn giản, một chiều về chiến tranh Tính chất khốc liệt củachiến tranh được tái hiện và tạo sự ám ảnh mạnh đến người đọc trong các tác
phẩm như: Mười ba bến nước, Đêm làng Hạ, Nanh sấu, Người ở bến sông Châu Đặc biệt, tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh đã đạt giải Sách hay năm 2015 Với tiểu thuyết Miền hoang, Sương Nguyệt Minh đã thể
hiện sự đổi mới chính mình trong việc tái tạo lại một đề tài đã qua nhưng tínhthời sự của nó không bao giờ xưa cũ
1.4.2 Những trang viết thể hiện ý thức trách nhiệm về các vấn đề sinh thái
Trong bài báo Mùa xuân sinh thái và văn chương, tác giả Huỳnh Như
Phương đã thể hiện ý thức trách nhiệm của nhà văn đối với các vấn đề sinhthái: “Trong cuộc đấu tranh vì một môi trường sống hòa hợp với con người,văn học đã làm được gì? Phải chăng văn học vẫn còn bàng quan với chuyệnsống còn này? Hình như văn học cho đây là một đề tài tầm thường hay ít rachưa phải là ưu tiên số một so với những vấn đề cao siêu đáng để tâm hơnnhiều?” [64, tr.318] Có một khoảng cách khá lớn giữa văn học và thực tiễntrong bối cảnh khủng hoảng môi trường hiện nay Dòng văn học sinh thái cũngđang còn những khoảng trống, cần sự có mặt của nhiều cây bút về các vấn đề
Trang 28và nguy cơ sinh thái Trong bối cảnh đó, bên cạnh Trần Duy Phiên, Hoàng PhủNgọc Tường, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khắc Phê Sương Nguyệt Minh cũng đã có sự chuyển hướng đề tài để thể hiện ý thứctrách nhiệm của nhà văn đối với môi trường Điều này được thể hiện trongsáng tác của nhà văn.
Nỗi đau da cam dai dẳng được thể hiện trong nhiều tác phẩm của nhà
văn Sương Nguyệt Minh (Tiếng lục lạc trong đêm, Mười ba bến nước ).
Chiến tranh không chỉ hủy diệt sự sống của con người, phá hủy môi trường lúcđang diễn ra mà theo bước chân những người lính ngay cả ở thời bình Cuộckháng chiến của dân tộc ngày hôm qua không chỉ được nhìn ở góc độ ngợi calãng mạn, mà cả những mất mát đau thương của hiện thực chiến tranh cũngđược phơi bày lên những trang giấy Nhiều tác phẩm của nhà văn thể hiện bi
kịch của người lính khi trở về từ chiến trường (Người ở bến sông Châu, Đêm làng Trọng Nhân, Cha tôi, Tháng ngày đã qua.) Dưới góc nhìn sinh thái, nhà
văn Sương Nguyệt Minh giúp người đọc nhận ra rằng, chính chiến tranh đãlàm ô nhiễm nguồn nước, đất đai khi kẻ thù gieo rắc chất độc hóa học lênnhững dòng sông, con suối, làm những cánh rừng trụi lá Bom mìn - nỗi ámảnh của những người lính vẫn còn nằm sâu trong lòng đất có thể phát nổ bất cứlúc nào, cướp đi sinh mệnh con người ngay cả trong thời bình Vì vậy, vấn đềsinh thái trong tác phẩm của nhà văn Sương Nguyệt Minh mang tính hiện thực
cuộc đời vẫn ẩn hiện trên những trang văn của nhà văn Sương Nguyệt Minh
Trang 29mà càng đọc ta càng thấy nhói buốt trong lòng Không có nỗi đau nào giốngnỗi đau nào, chỉ có những dư vị đắng chát, những đổ vỡ trong hành trình đi tìmhạnh phúc là giống nhau.
Trong tác phẩm của Sương Nguyệt Minh còn có những con người chạytrốn khỏi nông thôn để thoát khỏi nghèo đói, cơ cực Mỗi người với hoàn cảnhkhác nhau đều gặp nhau ở ước mơ về cuộc sống hào nhoáng chốn thành thị
(Mây bay cuối đường, Cái nón mê thủng chóp, Giếng cạn ) Trên hành trình
chạy trốn khỏi nông thôn, có người phủ nhận hết gốc tích của mình, hòa nhậpđến hòa tan vào những lối sống ở thành thị Có người ra đi không hẹn ngày vềhay có về cũng chỉ thoáng qua rồi lại cuốn vào nhịp sống hối hả ấy Có người
lại quay về trong tình huống dở khóc dở cười như vợ anh Sang trong Mây bay cuối đường Đọc những tác phẩm này, người đọc thường có nỗi niềm xót xa
đến cay đắng, và nhận ra tấm lòng của nhà văn Đó là nỗi niềm trăn trở trướcnhững vấn đề xã hội và ý thức về trách nhiệm nghề văn của mình Bởi vậy,những thông điệp mà nhà văn gửi gắm qua tác phẩm đi vào lòng độc giả mộtcách tự nhiên không gượng ép Đây cũng là một nội dung quan trọng của vănhọc sinh thái, cái nhìn phản lãng mạn về nông thôn Nông thôn không còn yênbình mà chứa đựng nhiều điều bất ổn: nghèo đói, thất học, còn nhiều hủ tục lạchậu, những tư tưởng bảo thủ chưa vượt thoát ra được
Những thảm họa thiên nhiên khiến cuộc sống con người điêu linh, khốn
khổ trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn (Khi chúng tôi là lính, Chuyến tàu đêm, Khi cơn lũ đi qua, Người trong mưa lũ ) Nguyên nhân của
những thảm họa này chính là những hành vi phá hoại môi trường của conngười Những trang viết về cơn đại hồng thủy này đã chuyển tải vấn đề liênquan đến thời sự về môi trường đang diễn ra hằng ngày ở nước ta Biến đổi khíhậu, lũ lụt, hạn hán, động đất đang diễn ra khắp nơi trên trái đất Sáng tác củaSương Nguyệt Minh truyền tải những thông điệp ý nghĩa: Hãy giữ lấy màuxanh của trái đất, hãy cứu những cánh rừng xanh đang ngày càng bị thu hẹp!
Trang 30Sương Nguyệt Minh cũng chú trọng đến ứng xử với tự nhiên và đạo đứccon người Khi nói đến đạo đức, chúng ta thường chỉ chú trọng quan hệ giữacon người với con người mà ít chú trọng mối quan hệ giữa con người với tựnhiên Con người cần phải giao tiếp với cái phi nhân (nonhuman) để làm phongphú và tươi mát tâm hồn mình Nếu con người chỉ coi tự nhiên là giới vô tri,bóc lột tự nhiên phục vụ cho lợi ích thực dụng của mình thì tâm hồn con người
sẽ trở nên khô cằn, con người sẽ cảm thấy cô đơn Nhìn từ góc độ lý luận, cácnhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra quan niệm về đạo đức môi trường như sau:
“Đạo đức môi trường là một phương diện đạo đức nói chung, là sự thể hiện vàthực hiện đạo đức xã hội trong lĩnh vực mối quan hệ giữa con người với tựnhiên” Trong sáng tác của Sương Nguyệt Minh, có những nhân vật sẵn sàng
lợi dụng, giết chết, hủy hoại tự nhiên như ông chủ lò mổ heo trong Ánh trăng trong lò mổ, bố Chương trong Chim sâm cầm lại về, Hoan trong Một trò đời.
Những nhân vật tàn phá tự nhiên đều nhận lấy những “quả báo” nhất định Khiđối xử với tự nhiên, con người đã giữ địa vị thống trị, tự coi mình là chúa tểnên khai thác tự nhiên một cách ồ ạt, đối xử bất công đối với tự nhiên Khi conngười phá hủy tự nhiên cũng có nghĩa là con người phá hoại chính ngôi nhàchung của mình Điều đó trước hết thể hiện qua các thảm họa của tự nhiên Chỉcần cái lắc đầu nhẹ của bà mẹ thiên nhiên, con người cũng trở nên nhỏ bé,mong manh Vì vậy, con người cần ý thức về thân phận “con người nạn nhân”trong mối quan hệ với tự nhiên
Trước áp lực của toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, văn xuôi sinh thái cầnnhận thức sâu sắc về sự tổn thương của tự nhiên mà nguyện nhân chính là docon người gây ra Do vậy, cảm quan đạo đức sinh thái mới của thế kỉ XXI hìnhthành những mẫu nhân cách mới, những người biết cúi xuống những số phận
tự nhiên bị thương tổn, biết chia sẻ cảm giác bị đau của muôn loài, biết lắngnghe tiếng nói từ vạn vật, biết chia sẻ và tôn trọng thế giới tự nhiên [44, trang237] Trong sáng tác của nhà văn Sương Nguyệt Minh, ta có thể bắt gặp nhiều
Trang 31nhân vật biết yêu quý, bảo vệ tự nhiên như người cha trong Chim sâm cầm lại
về, Lài trong Nơi hoang dã đồng vọng, cô bé Sẻ Núi trong Hoàng hôn màu cỏ biếc, Trang trong Một trò đời Chủ nghĩa nhân văn sinh thái đề xuất không
phải là ca ngợi con người như chúa tể chinh phục tự nhiên, như những “kiểumẫu của muôn loài” mà là một thái độ sống mà con người biết tự thu nhỏ mìnhlại Do vậy, trở về với tự nhiên là học cách tôn trọng vạn vật, tôn trọng tựnhiên, điều chỉnh chính thái độ, hành vi của con người để hướng tới một cuộcsống bền vững, yên ổn, hạnh phúc [44, trang 237] Những thay đổi về tư tưởng,hành vi của con người đối với tự nhiên là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa trongthời đại con người đang đối mặt với các vấn đề về cạn kiệt tự nhiên, mất cânbằng sinh thái Đó là nguyên tắc đạo đức tất nhiên, phổ biến, tuyệt đối Sángtác của nhà văn Sương Nguyệt Minh không chỉ gióng lên những hồi chuôngcảnh báo mà còn chứa đựng những thông điệp sinh thái đầy ý nghĩa Đó cũngchính là ý thức trách nhiệm của nhà văn trước những vấn đề diễn ra hằng ngày
và mang tính toàn cầu
Tiểu kết chương 1
Phê bình sinh thái với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn họcmới, ra đời trong bối cảnh giới học thuật phản ứng trước nguy cơ môi sinh bịhủy hoại do chính con người, với mục đích thông qua văn học để thẩm định lạitoàn bộ văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán tư tưởng, chính sách, mô hình xãhội đã ảnh hưởng như thế nào đến thái độ đối với tự nhiên, khiến cho môitrường lâm vào tình trạng suy thoái như hiện nay [44, trang 26] Ở Việt Nam,hoạt động nghiên cứu văn học theo khuynh hướng phê bình sinh thái cũngđang đi vào chiều sâu với nhiều công trình nghiên cứu có nhiều đóng góp.Điều này thể hiện sự phát triển, vận động của văn học trong xu thế toàn cầuhóa Đặc biệt, sau 1975 đã hình thành khuynh hướng văn xuôi sinh thái, lúcđầu còn tản mác chìm lấp trong nhiều chủ đề khác nhưng càng về sau, các tácphẩm càng thể hiện các triết lí sâu sắc và đề cập đến nhiều khía cạnh của môi
Trang 32trường và con người.
Sương Nguyệt Minh là một nhà văn quân đội Với quan niệm “nhà vănngừng sáng tạo là nhà văn rơi vào lãng quên trong lòng bạn đọc”, SươngNguyệt Minh không ngừng đổi mới chính mình Đề tài sáng tác của nhà vănkhá phong phú Đặc biệt, văn xuôi Sương Nguyệt Minh thể hiện ý thức tráchnhiệm về các vấn đề sinh thái Trong thời đại môi trường sống của nhân loạingày càng ô nhiễm, sáng tác của nhà văn đã rung lên những hồi chuông cảnhbáo về hành vi của con người với tự nhiên Quan trọng hơn, nhà văn đã đemđến một quan niệm sống hài hòa với tự nhiên, biết lắng nghe tiếng nói của tựnhiên, tôn trọng sinh mệnh Sáng tác của nhà văn góp phần khỏa lấp nhữngkhoảng trống của văn học sinh thái, tạo nên diện mạo mới của văn xuôi ViệtNam sau năm 1975
Chương 2
TƯ TƯỞNG SINH THÁI TRONG VĂN XUÔI
SƯƠNG NGUYỆT MINH 2.1 Mối quan hệ giữa tự nhiên và con người
2.1.1 Sự hủy diệt tự nhiên của con người
Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, sự bùng nổ dân số thì cácnhu cầu của cuộc sống phàm tục ở con người càng gia tăng Con người vừa cảitạo tự nhiên theo hướng tích cực vừa tàn phá tự nhiên một cách vô tội vạ Hẳnmỗi người chúng ta phải giật mình trước những con số thống kê về diện tíchđất rừng bị phá, lũ lụt, sạt lỡ, hạn hán hằng năm? Phải chăng mẹ thiên nhiêncũng đang phẫn nộ với những hành vi ngang ngược, cố chấp của con người?Thế nhưng con người dường như vẫn chưa nhận thức hết hành vi hủy hoại môitrường sống của mình Đây đó trong cuộc sống vẫn có những người bất chấptất cả vì lợi ích riêng của cá nhân Cùng với các ngành khoa học khác, văn họccũng góp phần thay đổi nhận thức của con người về cách ứng xử đối với thiên
Trang 33nhiên - người bạn đồng hành không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển củacon người Văn xuôi Sương Nguyệt Minh, bên cạnh những bức tranh cuộcsống với muôn nẻo số phận con người còn thể hiện nỗi niềm của thiên nhiên bịtàn phá và những bi kịch phía sau ấy.
Có thể thấy rất rõ hành động săn bắn theo kiểu tận diệt được đề cập đếntrong rất nhiều tác phẩm của Sương Nguyệt Minh Tiêu biểu là truyện ngắn
Chim sâm cầm lại về Chim sâm cầm vốn rất quen thuộc với cuộc sống của
những người dân làng Cứ đến mùa chim sâm cầm lại bay về đậu trên cành cây,ngọn tre, mặt hồ Chim sâm cầm chắc khỏe, bơi lội, kiếm ăn, ngụp lặn khôngbiết mệt, người và chim sống thân tình, gần gũi Nhưng rồi làng mọc lên nhiềunhà hàng đặc sản, người trong làng đổ xô tìm chim sâm cầm để bán lấy tiền,người nơi khác tập trung về để thưởng thức đặc sản “Người giàu thường hay
sợ chết Người giàu tuổi còn trẻ chết thì tiếc lắm, chết để vợ đẹp cho ai, tiềnbạc của nả cho ai và chơi bời chưa được là bao Người giàu càng nhiều tuổichết lại càng tiếc hơn, tiếc vì thời gian hưởng thụ quá ngắn Vậy nên bồi bổ vàkéo dài tuổi thọ là mục tiêu hàng đầu của các ông chủ mới phất Chim sâmcầm quý nhất ở đôi chân, đôi chân màu lục ánh chì Chân sâm cầm cắt rời rarửa sạch, sấy khô rồi ngâm rượu đủ một trăm ngày hoặc càng lâu càng tốt” (tập
Đi qua đồng chiều, tr.142) Ta có thể nhận thấy giọng triết lí của nhà văn
Sương Nguyệt Minh trong đoạn văn trên, đời sống càng khá giả, nhu cầu conngười càng tăng cao, con người càng sợ chết và tìm mọi cách để kéo dài tuổithọ của mình Vậy là người dân làng đổ xô đi bắt sâm cầm Bản thân nhân vậtchính đã có sự thay đổi lớn, từ những cuộc đi săn chỉ để giải trí trở thànhnhững cuộc đi săn để kiếm tiền với quan niệm “Con người là chúa tể của muônloài Voi, báo, hổ gấu, trăn rắn rồi chim chóc đến cỏ cây cũng chỉ để phục vụ
con người Với lại mình không bắn, người khác cũng bắn” (tập Đi qua đồng chiều, tr.140) Con người càng săn bắt, chim sâm cầm càng sợ hãi không quay
Trang 34về, các nhà hàng đặc sản thì sốt ruột nên tăng giá mạnh khi thu mua vào Nhânvật chính bất chấp tất cả, hắn xách súng săn đi tìm chim sâm cầm, quyết tâmtruy đuổi, bắt sống để có giá cao Dường như lúc này, đồng tiền có giá trị hơn
cả tình cảm gắn bó giữa con vật hiền lành với con người, hơn cả môi trườngsinh thái đang ngày càng xuống cấp Việc mọi người kéo đến bắt chim sâmcầm đã phá hủy môi trường sống, tận diệt loài vật này
Nơi hoang dã đồng vọng cũng lên án hành vi săn bắn dã man, tách động
vật khỏi môi trường sống của chúng Cuộc sống càng hiện đại, con người càng
có cách tận hưởng cuộc sống về đủ mọi mặt Đôi khi, chính cách tận hưởngcủa họ khiến ta nghi ngờ về lối sống hiện đại ấy “Chát Dùi đục phang mạnh.Miếng chỏm đầu con mèo trắng bay khỏi lưỡi tràng bạt sáng loáng Eo Mèotrắng vẫn kịp gào lên một tiếng Rồi nước đái nó tức thì bắn vọt vào mặt ôngchủ Thân mèo co rút, giật giật Bốn vị cầm bốn thìa múc Mỗi lần thìa thọc
vào óc con mèo, chân nó lại co lên” (tập Mười ba bến nước, tr.196) Dường
như việc hưởng thụ miếng ăn đặc sản có sức hấp dẫn đến nỗi họ xem hành vi
ấy là bình thường mà không có chút ghê tay Và chính con Miêu cũng cảm thấyghê rợn với hành vi con người đối xử với đồng loại “Dường như nó sợ quá vãiđái hoặc phản ứng bản năng tức thì với sự dã man của con người với đồng loại
nó” (tập Mười ba bến nước, tr.196) Họ săn bắt mèo và chế biến đủ mọi kiểu để
phục vụ nhu cầu của con người Đặc biệt trong truyện có chi tiết khi nhân vậtLài cầu xin tha cho con Miêu “Miêu và con mèo hoang quay đầu lại nhìn haingười ở trong lều Mắt chúng rực lên như có lửa rồi lại dịu dần, trong veo Ánhmắt như mách bảo: Dù đồng loại hay khác loại, đừng làm ác với nhau thì sẽ
chung sống được” (tập Mười ba bến nước, tr.210) Theo bản năng, những con
vật ấy đã nhận rõ những hành vi xâm hại đến sự sống của chúng Rõ ràng ánhmắt rực lửa là ánh mắt phản ứng lại hành vi của con người Thế giới của chúng
là thế giới hoang dã, con người cần phải tôn trọng điều đó
Trang 35Nhà văn còn đem đến một khía cạnh rất nhân văn khi lên án hành vi táchđộng vật khỏi cuộc sống hoang dã và kiếm lợi nhuận từ chúng Trong truyện
ngắn Một trò đời, Trang gặp lại người yêu cũ, bây giờ đã là một nghệ sĩ xiếc
thú Anh dẫn ra sân khấu một đàn khỉ mười con Những con khỉ với trang phụcsặc sỡ trông rất ngộ Điều bất ngờ là con Lục Lạc, một con khỉ đực lông đennhánh đeo lục lạc đã quá già rồi, khụ khị như một ông cụ vẫn còn biểu diễn
Nó bị tách khỏi môi trường hoang dã để làm nhiệm vụ xiếc khỉ Cái roi mềm
và những chiếc kẹo là vũ khí để sai khiến những chú khỉ ấy Hồi ức của Trangnhư một cuốn phim quay chậm Con Lục Lạc vốn có cuộc sống riêng tư, nó đãtừng phải lòng con khỉ cái của ông thầy mo Hôm nào nó cũng trốn thoát đểđến với khỉ cái Hình phạt đối với nó là bị nhốt trong lồng sắt Thế nhưng,động vật có tiếng nói rất riêng, khi Lục Lạc bị nhốt, con khỉ của thầy mo đếntìm bạn tình Trước tình cảnh đó, Lục Lạc chỉ biết phản ứng bằng cách đập đầuvào lồng sắt, đầu be bét máu, hai bàn tay xước sát Khỉ cái của thầy mo thì nhai
lá đắp vào các vết thương của con Lục Lạc Cuối cùng, khi Hoan ôm con LụcLạc rời khỏi đảo khỉ, con khỉ cái của thầy mo mất bạn tình Hằng ngày, chúngphải biểu diễn theo ý của người nghệ sĩ Sau khi biểu diễn, chúng cầm mũ đếntừng người xem Để rồi cuối buổi, nghệ sĩ Hoan lại móc từng đồng tiền trongtay Lục Lạc, bực dọc, cáu kỉnh khi dân tỉnh lẻ nghèo, chỉ cho những đồng tiền
lẻ Chứng kiến cảnh đó, Trang ngậm ngùi, những hình ảnh của Lục Lạc, củaHoan mờ nhòe trong mắt
Trong hai truyện ngắn Mùa trâu ăn sương và Ánh trăng trong lò mổ, ta
cảm giác như con người đang trở thành những người hành quyết động vật.Người đọc không khỏi rùng mình khi đọc đến những dòng văn này: “Bốn contrâu đã ăn sương, vừa hạ thủ một con Đầu trâu cắt rời ra, mõm chổng lên trời,
hai mắt mở thao láo đầy uất ức Đám đồ tể đang phanh da róc thịt” (tập Dị Hương, tr.129) Bản thân chị chủ của lò mổ thích làm thơ, thích in thơ ở Tạp
Trang 36chí văn nghệ tỉnh nhà nhưng thơ chị cũng đậm màu giết mổ súc vật Cái haytrong tác phẩm của nhà văn Sương Nguyệt Minh còn thể hiện ở sự cảnh báo:cảnh giết mổ ấy theo cả vào trong những sinh hoạt hằng ngày của nhân vật:
Chị chủ trong Mùa trâu ăn sương thích làm thơ nhưng thơ ngập mùi xẻ trâu; nhân vật ông chủ trong Ánh trăng trong lò mổ lại mang cả tiếng thở hô ộc
hô ộc như trong lò mổ heo vào trong giường ngủ với vợ Đặc biệt, ông chủ lò
mổ đó muốn biến lò mổ heo thành một môi trường văn hóa nghệ thuật “Sẽ có
cả cải lương, bài chòi, chèo, quan họ, nhưng cũng có nhạc cổ điển Tiếng nhạc
sẽ đầy ắp từ trang trại nuôi heo vào trong phòng ngủ của tôi đến tận lò sát sinh”
(tập Dị hương, tr.228) Đó chính là bi kịch của những nhân vật này, họ cố chạy
theo sự hào nhoáng, cố gắng đánh bóng mình nhưng cuối cùng cũng chỉ nhậnlại những ê chề mà thôi
Không chỉ vậy, sáng tác của nhà văn còn thể hiện thái độ đau xót trước
lễ hội đâm trâu của người đồng bào Tác giả miêu tả khung cảnh lễ hội đâmtrâu thật chi tiết Đó là cảnh những chàng trai lưng trần, đóng khố, buộc khănche trán, vai sát bên vai Tay họ cầm dùi đánh cồng, chiêng Các cô gái mặc sắcphục dân tộc thêu hình lá cây, nhà rông cách điệu Họ múa, hát, ngợi ca conngười Cứ xong một điệu hát, lại thấy một mũi lao phóng vút vào con trâu “Nólồng lên rồi lại đứng xuống, toãi chân ra Mình mẩy con trâu đẫm máu Hai mắt
đỏ đòng đọc và nước mắt nó cứ trào ra Nó không biết nó đang là vật tế hiến
thần linh” (tập Người ở bến sông Châu, tr.211) Và có một điều đáng lo ngại
rằng, theo ông Trưởng bản, ngày xưa chỉ làm lễ khi mùa đi săn đã kết thúc màphải bắn được nhiều thú hoặc khi lúa thóc đã vào níp lúc ăn tết xong ra giêng,hai Còn bây giờ “những nhà khá giả ốm đau khỏi bệnh hay được mùa mía bán
cho chính phủ cũng mời bản làm lễ đâm trâu” (tập Người ở bến sông Châu,
tr.212)
Nhà văn cũng chỉ ra rằng, tách động vật ra khỏi môi trường hoang dã
Trang 37bằng hành vi săn bắn chính là tội ác Trong truyện ngắn Chuyến đi săn cuối cùng, Mại là con của thợ săn chuyên nghiệp, tường nhà anh treo nhiều loại
móng vuốt, sừng, da thú Mỗi lưu vật là cuộc đời một con thú Anh được thừahưởng cái nỏ săn cha để lại và chỉ khi truy đuổi đến cùng những con khỉ phárẫy ngô của mình, Mại đã nhận ra hành vi ấy là vô nhân đạo Khi anh bắn vàokhỉ đực, khỉ cái đã rút mũi tên và nhai lá thuốc đắp vào bả vai khỉ đực, nó biếtnặn sữa cho khỉ đực uống Khi nhìn thấy Mại cầm nỏ săn săm săm bước đến,khỉ cái đứng hẳn lên che chắn cho khỉ đực bị thương và tay phải quơ vội khỉcon quặt về phía sau Dù là động vật hoang dã, chúng vẫn có cuộc sống củamình, có tình cảm, có tiếng nói riêng Đó cũng là một gia đình nhỏ trong bầykhỉ rừng Chúng biết tổ chức và bảo vệ cuộc sống của mình Đối với khỉ cái,khỉ đực và khỉ con chính là sự sống Bởi vậy, nó sẵn sàng hy sinh mình để bảo
vệ chồng con Hành vi săn bắt của con người đã phá hủy cuộc sống của độngvật Hành vi đó cần được lên án và con người cần thay đổi cách mình đối xửvới thiên nhiên
Ngoài săn bắn thì quá trình đô thị hóa kéo theo hệ quả đào núi, lấpsông cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của các loài độngvật Điều này được thể hiện rất tinh tế trong sáng tác của nhà văn SươngNguyệt Minh Cách viết cuả Sương Nguyệt Minh độc đáo ở điểm: ta càng đọc
kĩ, càng nhận thấy nhiều lớp ý nghĩa ẩn giấu bên trong những trang chữ Sự tácđộng tiêu cực của con người được thể hiện khéo léo trong tâm trạng các nhânvật Đó có thể là sự tiếc nuối vì làng quê không còn những cảnh yên bình,không còn những điều quen thuộc gần gũi với thiên nhiên, là nỗi bồi hồi lẫn cả
sự cô đơn của con người Truyện ngắn Động làng đã miêu tả được những tác
động tiêu cực ấy Vốn lớn lên đã quen với đất làng nâu sậm, đồng Cỏ lẫn đầmVạc mênh mông, núi Tam Điệp im lìm mặc mây bay gió thổi ngàn năm Vậy
mà ngày trở về, Tâm ngỡ ngàng đến mức không nhận ra ngôi nhà của chính
Trang 38mình “ngỡ ngàng không nhận ra ngôi nhà của mình in đẫm kỉ niệm tuổi ấu thơ.Đâu rồi cây sung nằm vươn mình che một góc ao sâu Đâu rồi bè lục bình nởhoa tím ngắt nhởn nhơ trên mặt nước in bóng trời xanh cùng với các tảng mâytrôi Mãi mãi chẳng còn đêm đêm không ngủ ngồi trên bờ nhìn cá mè ngóngtrăng và giật mình nghe sung chín rụng dưới góc ao Người ta lấp ao, nhà tôi ra
mặt đường” (tập Đi qua đồng chiều, tr.89) Nếu ngày trước, muôn thú còn đa
dạng, con người dễ dàng bắt gặp những hình ảnh chúng băng qua đường hayxuất hiện trên những thân cây thì bây giờ, hình ảnh ấy rất khó để tìm lại “Từngày bạt núi mở rộng dốc Sây, công trường nổ mìn xay đá, thú rừng lánh sang
mạng tây nam dãy Tam Điệp hết.” (tập Đi qua đồng chiều, tr.7) Điều đó có
nghĩa như con người đang đánh rơi những kí ức tốt đẹp, những hình ảnh nênthơ và sẽ đối mặt với những khoảng trống trong tâm hồn mình
Ta thường thấy, văn học truyền thống thường đề cao những con ngườivới khát vọng chinh phục, cải tạo tự nhiên Thế nhưng, nhà văn Sương NguyệtMinh đã chỉ ra rằng con người chính là những tội đồ hủy hoại, tàn phá tựnhiên, chỉ quan tâm đến lợi ích vật chất, con người tham vọng trở thành bá chủ
tự nhiên, kéo theo đó là những hệ lụy sinh thái kéo dài Trong bài viết Ngày tháng tốt đẹp của nhân loại không còn nhiều nữa, nhà văn Mạc Ngôn đã chỉ ra
dục vọng của con người là cái động không đáy, không sao lấp đầy được, conngười đang điên cuồng cướp đoạt mọi thứ từ trái đất “Nhưng đến tận hôm nay,tôi cảm thấy nhân loại đang đứng trước nguy hiểm lớn nhất, bởi vì khoa học kỹthuật của nhân loại ngày càng tiên tiến thì dục vọng của con người ta ngàycàng bành trướng thêm Sáng tác của Sương Nguyệt Minh vì vậy mang tínhcảnh báo về sự xâm lấn các bối cảnh cư ngụ mà con người làm nên; phá hủy sựcân bằng sinh thái đồng thời cảnh báo về những hiểm họa môi trường
2.1.2 Con người nạn nhân trong mối quan hệ với tự nhiên
Phê bình sinh thái đã thể hiện rằng tự nhiên cũng có địa vị của nó: “Mặc
Trang 39dù con người đã bỏ ra bao nhiêu nỗ lực để giữ cho mình cái địa vị thống trị, thì
có phải tự nhiên chỉ mang một thân phận lệ thuộc hay không khi thực sự chúng
ta đã và đang tiếp tục được nó nhắc nhở lại về một thứ địa vị thực sự thông quamỗi trận động đất, mỗi lần núi lửa phun trào, những ngôi sao chổi vụt qua,cũng như việc không ai có thể dự đoán được một cách chính xác sự thay đổithất thường của thời tiết” [48]
Trong văn học thế giới, từng có rất nhiều nhà văn viết về những trảinghiệm trước sự khắc nghiệt của tự nhiên Có thể kể đến nhà văn tiêu biểu là
Jack London với những tác phẩm như: Tiếng gọi nơi hoang dã, Tình yêu cuộc sống, Nhóm lửa Văn học thời kì sau cũng thể hiện sự khắc nghiệt của tự
nhiên nhưng lại mang tính thời sự rất rõ khi vấn đề biến đổi khí hậu, hiệu ứngnhà kính, động đất, sóng thần ngày một gia tăng Các nhà văn với trách nhiệmnghề nghiệp và thiên chức của mình đã không rời xa các vấn đề mang tính toàncầu này
Lũ lụt vẫn là thảm họa kinh hoàng của con người ở khắp nơi trên thếgiới Điều này đã được thể hiện trong các tác phẩm văn học từ xưa đến nay.Thần thoại Sơn Tinh, Thủy Tinh trong kho tàng văn học dân tộc không chỉ làmột câu chuyện về tình yêu mà còn phản ánh quy luật dâng nước lũ hằng năm.Ngay từ thời xưa, con người đã ý thức được sức mạnh và nỗi vất vả của conngười khi đối mặt với sự khắc nghiệt của tự nhiên Về sau này, truyện ngắn
Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn cũng thể hiện nỗi khốn khổ của con
người trước hiện tượng lũ lụt, đê vỡ
Truyện ngắn Khi chúng tôi là lính của nhà văn Sương Nguyệt Minh
cũng thể hiện được sự khắc nghiệt của tự nhiên và những tổn thất đi kèm.Nước lũ dâng cao, bộ đội, dân quân đứng giăng hàng trên mặt đập chống lũ
“Vỡ đập Có tiếng thét thất thanh Mọi người nhốn nháo Nước xoáy ùng ục rítghê người Chúng tôi theo trung đoàn phó rẽ người chạy lại chỗ đập vỡ Dòng
Trang 40chảy xiết quá Nước vọt qua kẽ những bó tre bịt chỗ vỡ réo ồ ồ” (tập Đêm làng Trọng Nhân, tr.132) Truyện ngắn Tiếng lục lạc trong đêm cũng vẽ ra khung
cảnh hỗn loạn của con người trong cơn lũ “Nước ngập mênh mông, củi khô,cành cây tươi, rều rác, gà chết trôi lều bều trên sông Đáy Rồi vỡ đê nước tràn
vào làng Yên Hạ, làng chìm sâu dưới nước” (tập Mười ba bến nước, tr.45) Sau
khi cơn lũ đi qua, mọi người vẫn chưa thể khắc phục ngay hậu quả, họ kể chonhau nghe những câu chuyện kinh hoàng trong cơn lũ “Nhà nọ ở xóm trên,nước lụt mấp mép mái bằng, phải đưa cả người cả con trâu nái lên sân thượng.Bây giờ, nước rút không tài nào đưa trâu xuống được, suốt ngày nó đóng móngcồng cộc, ỉa đái trên mái bằng Người lại nói: Buổi sáng hôm bão tan, ở xã
dưới, ông lão kéo vó bè kéo phải một người đàn bà chết ngồi” (tập Mười ba bến nước, tr.49).
Tự nhiên thể hiện sức mạnh của mình qua cơn lũ, lũ cuốn trôi tất cả, conngười dường như bé nhỏ và bất lực trước sức mạnh của tự nhiên “Bãi sôngmênh mông nước phù sa, mọi ngày cói, lác mọc xanh rờn nay chỉ còn biển
nước đỏ đục, cuồn cuộn chảy” (tập Người ở bến sông Châu, tr.168) Tất cả
đang bị nước lũ cuốn băng đi, gặm dần, khoét mòn sự sống Con người thì đóikhát trong lũ lụt, có nhiều nơi, con người phải trèo lên các nóc nhà, dùng nón
mê ra hiệu để trực thăng thả thức ăn xuống, vì không có chỗ đậu nên việc bắtthức ăn từ trực thăng rất khó, bụng thì đói mà nhìn những gói mì tôm lập lờ trôi
đi chỗ khác Sau khi cơn lũ đi qua, ngôi làng chỉ còn trơ nền đất cũ được phủ
lớp đất đỏ mới (Khi cơn lũ đi qua) Ta có thể bắt gặp sự đồng điệu này trong tác phẩm Thập giá giữa rừng sâu của Nguyễn Khắc Phê, nước lũ hung dữ nhấn
chìm tất cả, gây ra bi kịch cho con người Có thể nói sáng tác của SươngNguyệt Minh, Nguyễn Khắc Phê đã cảnh tỉnh con người về những thảm họa tựnhiên đang diễn ra ngày một hung bạo hơn
Những gì đang diễn ra khiến tự nhiên bị tổn thương và tự nhiên cũng