Phương pháp phân tích ngôn ngữ Sau khi thống kê và phân loại tên gọi các loài hải sản vùng biển BìnhĐịnh, chúng tôi tiến hành phân tích để lý giải các vấn đề liên quan như: đặcđiểm nguồn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sựhướng dẫn trực tiếp của Tiến sĩ Nguyễn Quý Thành Các số liệu, kết quả đượctrình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trongbất kỳ công trình nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luậnvăn
Người cam đoan
Nguyễn Thị Nữ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Quý Thành đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhlàm luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Đào tạo SĐH, Trường ĐH Quy Nhơn
đã có những hướng dẫn cụ thể và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn.Tôi xin cảm ơn người dân Bình Định, đặc biệt là ngư dân trên địa bànhuyện Phù Mỹ, huyện Phù Cát, huyện Hoài Nhơn và thành phố Quy Nhơn tỉnhBình Định đã có những góp ý, câu trả lời về những vấn đề liên quan đến luậnvăn
Cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ủng hộ, giúp đỡ tôi!
Trang 4MỤC LỤC
• •
LỜI CAM ĐOAN2
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1 Khái quát về định danh 7
1.1.1 Khái niệm định danh 7
1.1.2 Định danh từ vựng 8
1.1.3 Đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá qua định danh 11
1.2 Các đơn vị từ vựng 14
1.2.1 Từ 14
1.2.2 Ngữ định danh 17
1.3 Khái quát về vùng biển Bình Định 18
1.3.1 Thềm biển Bình Định 18
1.3.2 Dân cư ven biển Bình Định 20
1.4 Thống kê tên gọi hải sản vùng biển Bình Định 21
Tiểu kết chương 1 22
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGUỒN GỐC VÀ CẤU TẠO CỦA TÊN GỌI HẢI SẢN VÙNG BIỂN BÌNH ĐỊNH 24
2.1 Tên gọi hải sản vùng biển Bình Định xét về nguồn gốc ngôn ngữ 24
2.1.1 Tên gọi hải sản có đơn vị cấu tạo thuần Việt 25
2.1.2 Tên gọi hải sản có đơn vị cấu tạo vay mượn 26
2.2 Tên gọi hải sản vùng biển Bình Định xét về cấu tạo 31
2.2.1 Đơn vị cấu tạo tên gọi hải sản 31
2.2.2 Phương thức cấu tạo tên gọi hải sản 35
2.2.3 Sự phân bậc các thành tố cấu tạo trong tên gọi hải sản 40
Tiểu kết chương 2 47
Trang 5Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH VÀ SẮC THÁI ĐỊA PHƯƠNG CỦA
TÊN GỌI HẢI SẢN VÙNG BIỂN BÌNH ĐỊNH 49
3.1 Đặc điểm định danh của tên gọi hải sản vùng biển Bình Định 49
3.1.1 Phương thức định danh hải sản vùng biển Bình Định 49
3.1.2 Phương thức biểu đạt tên gọi hải sản vùng biển Bình Định 58
3.2 Sắc thái địa phương của tên gọi hải sản vùng biển Bình Định 62
3.2.1 Đặc điểm tri nhận hiện thực của ngư dân Bình Định qua phương thức định danh hải sản 62
3.2.2 Văn hóa tâm linh của ngư dân Bình Định qua phương thức định danh hải sản 68
3.2.3 Ngôn ngữ và văn nghệ dân gian Bình Định qua tên gọi hải sản 73
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 82
BÀI BÁO CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (Bản sao)
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê số lượng tên gọi hải sản vùng biển Bình Định 22
Bảng 2.1 Số lượng đơn vị cấu tạo tên gọi hải sản theo nguồn gốc 25
Bảng 2.2 Số lượng cấu trúc định danh tên gọi sản vùng biển Bình Định 31
Bảng 2.3 Số lượng yếu tố Y theo từ loại 33
Bảng 2.4 Số lượng tên gọi hải sản theo phương thức cấu tạo 35
Bảng 2.5 Số lượng từ ghép chính phụ theo bậc cấu tạo của tên gọi hải sản 44
Bảng 3.1 Số lượng phương thức định danh hải sản 49
Bảng 3.2 Số lượng phương thức biểu đạt tên gọi hải sản 62
Trang 71
Trang 8Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đặc điểm nguồn gốc và cấu tạo; đặcđiểm định danh và sắc thái địa phương của tên gọi hải sản vùng biển BìnhĐịnh; chủ yếu là tên gọi các loài cá, mực, tôm, cua, sò, ốc.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương phápnghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp điều tra điền dã
Phương pháp này được sử dụng để thống kê tên gọi các loài hải sản vùngbiển Bình Định Việc sưu tầm, thống kê được dựa trên cách gọi tên các loài hảisản của ngư dân các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát và thành phố QuyNhơn
5.2 Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Sau khi thống kê và phân loại tên gọi các loài hải sản vùng biển BìnhĐịnh, chúng tôi tiến hành phân tích để lý giải các vấn đề liên quan như: đặcđiểm nguồn gốc và cấu tạo, phương thức định danh, ngữ nghĩa từ đó rút racác nhận định, đánh giá và kết luận
5.3 Phương pháp so sánh
Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để thấy rõ tính đặc thù, điểmtương đồng và khác biệt trong tên gọi các loài hải sản ở các địa bàn khác nhautrong tỉnh Bình Định, làm rõ mối quan hệ định danh với văn hóa và ngôn ngữcủa người dân địa phương
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn cung cấp bức tranh về hệ thống tên gọi các loài hải sản vùngbiển Bình Định với đầy đủ các đặc trưng về cấu tạo, phương thức định danh.Bên cạnh đó, luận văn cũng khảo sát mối quan hệ giữa ngôn ngữ và các yếu tốvăn hoá bên trong ngôn ngữ gắn liền với việc nhận thức về thế giới khách quancủa người dân địa phương qua cách thức định danh Hệ thống định danh này đãgóp phần tạo nên những đặc trưng văn hóa - dân tộc, mang dấu ấn lịch sử của
2
Trang 9cư dân Bình Định.
Kết quả của luận văn góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu về hảisản của tỉnh nhà, đồng thời có thể phục vụ cho việc tìm hiểu lịch sử, văn hóa,ngôn ngữ của tỉnh Bình Định
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dungchính của Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề chung, trình bày những kiến thức lí luận và thực
tiễn cơ bản làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài, như: khái niệm định danh,phương thức định danh; các đơn vị từ vựng; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và vănhóa; khái quát về vùng biển Bình Định; số liệu thống kê về tên gọi hải sảnvùng biển Bình Định
Chương 2: Đặc điểm nguồn gốc và cấu tạo của tên gọi hải sản vùng biển Bình Định, trình bày kết quả miêu tả đặc điểm nguồn gốc; cấu tạo: đơn vị cấu
tạo, phương thức cấu tạo, tên hải sản vùng biển Bình Định
Chương 3: Đặc điểm định danh và sắc thái địa phương của tên gọi hải sản vùng biển Bình Định, trình bày kết quả khảo sát tên gọi hải sản vùng biển
Bình Định về phương thức định danh; sắc thái văn hóa địa phương qua tên gọihải sản
3
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái quát về định danh
1.1.1 Khái niệm định danh
Định danh (nomination) là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng La tinh vớinghĩa là tên gọi Thuật ngữ này biểu thị kết quả quá trình gọi tên của các đơn vịngôn ngữ Thuật ngữ định danh được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Ngay từ buổi sơ khai, con người đã có nhu cầu gọi tên cho sự vật hiệntượng Bởi vì muốn phân biệt các sự vật, hiện tượng thì mỗi sự vật, hiện
tượng cần có tên gọi Theo Đỗ Hữu Châu (1998), trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa
học từ vựng, “Con người cần đến tên gọi các đối tượng xung quanh như cần đến không khí” [6, tr.167] Vì thế định danh trở thành một trong những chức
năng quan trọng bậc nhất của ngôn ngữ
Trong Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy Nguyễn Đức Tồn định nghĩa: “Định danh chính là đặt tên gọi cho một sự vật, hiện tượng”
[39, tr.162] Qua quá trình nhận thức cảm tính, con người nhận biết được sự vật
và qua quá trình nhận thức lý tính, con người có thể đặt tên cho sự vật Định
danh là thể hiện tư duy của con người “Tri giác cảm tính cho ta sự vật, lý tính
cho ta tên gọi sự vật” [29, tr.88].
Có thể nói định danh là một nhu cầu của ngôn ngữ, đúng hơn là nhu cầu
của con người trước thế giới khách quan Theo Từ điển giải thích thuật ngữ
ngôn ngữ học do Nguyễn Như Ý (chủ biên) thì định danh có nghĩa là: “Sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu” [46, tr.89] Đối tượng của lý
thuyết định danh là nghiên cứu, miêu tả những quy luật về cách cấu tạo các
Trang 11đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ, về sự tương tác qua lại giữa tư duy ngôn ngữ hiện thực khách quan.
-Cơ sở định danh xuất phát từ mối quan hệ giữa hiện thực - khái niệm - têngọi Lí thuyết định danh nghiên cứu và miêu tả cấu trúc của đơn vị định danh,
từ đó xác định những tiêu chí hoặc những đặc trưng cần và đủ để phân biệt đơn
vị định danh này với đơn vị định danh khác
Hiện thực khách quan được hình dung như là cái biểu vật của tên gọi,còn tên gọi được nhận thức như là một dãy âm thanh được phân đoạn ứng vớimột cấu trúc cụ thể của ngôn ngữ đó Chính mối tương quan giữa cái biểu vật
và cái biểu nghĩa và xu hướng của mối quan hệ này trong những hành vi địnhdanh cụ thể sẽ tạo nên cấu trúc cơ sở của sự định danh
Nguyễn Đức Tồn đã xác định một phương thức định danh mà theo tác giả
là rất phổ biến trong tiếng Việt, đó là cách chuyển nghĩa (ẩn dụ, hoán dụ ), ví
dụ: ghẹ - tình nhân, cáo - ranh mãnh, Đây là phương thức định danh gián tiếp “Về thực chất, phương thức định danh gián tiếp gắn bó khăng khít với sự
chuyển nghĩa của các từ ” [39, tr.225].
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chủ yếu nghiên cứu theo phươngthức định danh trực tiếp (sử dụng tổ hợp ngữ âm biểu thị đặc trưng nào đótrong số các đặc trưng của sự vật, hiện tượng; mô phỏng âm thanh tức là tượngthanh; ghép từ; vay mượn)
1.1.2 Định danh từ vựng
Thuật ngữ từ vựng được dùng để chỉ đối tượng mà tiếng Anh gọi là (lexicon) Nếu chiết tự thì “vựng” là sưu tập, tập hợp Từ vựng là tập hợp các
từ và các đơn vị tương đương với từ trong một ngôn ngữ Các đơn vị từ vựng
bao gồm cả các từ lẫn những đơn vị tương đương với từ, tức là cụm từ cố định
Từ vựng của một ngôn ngữ là cái khách quan, là bộ phận cấu thành ngôn ngữ.Nhờ sự tri nhận của con người mà sự vật, hiện tượng mới có tên gọi Sự gọi tên
Trang 12này đã tạo ra các từ, các cụm từ cố định, từ đó hình thành nên hệ thống từvựng.
Định danh từ vựng có vai trò quan trọng đối với cuộc sống con người
Theo Đỗ Hữu Châu trong Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng: “Với khả năng đặt tên
sự vật, con người hoàn toàn chiếm lĩnh được thế giới tự nhiên cả trong tồn tại cảm tính và cả trong tồn tại lý tính của nó” [6, tr.194].
Tên gọi sự vật, hiện tượng có thể có tính lí do hay không lí do, phi võ
đoán hay võ đoán C Mác đã nói “Tên gọi của sự vật nào đó không có gì
chung với bản chất của nó, tôi hoàn toàn không biết gì về người này, nếu như tôi chỉ biết anh ta là Jakov” [39, tr.177] Theo F.de Saussure “Mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là võ đoán” hay “Tín hiệu ngôn ngữ
là võ đoán” [12, tr.141].
Các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học, cho rằng “Những khái niệm được biểu thị
hoàn toàn do qui ước, hay là do thói quen của tập thể qui định chứ không thể giải thích lí do” [14, tr.56].
Đỗ Hữu Châu khẳng định rằng “Nguyên tắc tạo thành các tên gọi là
nguyên tắc có lí do” nhưng “Nguyên tắc chi phối các tên gọi trong hoạt động bình thường của nó là nguyên tắc không có lí do” [6, tr.166].
Tác giả Nguyễn Đức Tồn thì nhận định các tên gọi đều có lí do “Tất cả
mọi kí hiệu ngôn ngữ đều có lí do, chứ không phải võ đoán” [39; tr.177] Tác
giả khẳng định: “Không có lí do thì có lẽ khó mà đặt được tên cho một sự vật
mới” [39, tr.178] Như vậy theo quan điểm của các tác giả, định danh có thể có
lí do hoặc không có lí do
Tham gia vào quá trình định danh gồm có hai thành tố là chủ thể địnhdanh và đối tượng được định danh Phụ thuộc vào chủ thể định danh và đối
tượng được định danh sẽ có hai loại lí do khác nhau: lí do chủ quan (phụ thuộc
Trang 13vào chủ thể định danh) và lí do khách quan (phụ thuộc vào đối tượng được
định danh)
Lí do khách quan - nghĩa là một đặc trưng, một thuộc tính nào đó của bản
thân sự vật được chọn để làm dấu hiệu khu biệt gọi tên - loại lí do dễ nhận thấy
nhất, ví dụ, tên gọi các loài cá được đặt dựa theo hình dáng: cá cờ, cá bánh
lái, mực ống, ốc móng tay, banh lông,
Lí do chủ quan thì không phải ai cũng nhận thấy được Chỉ có chủ thể
định danh mới biết được lí do tại sao dùng tên gọi này để gọi tên người hoặc sựvật Ví dụ, khi nhìn vào tên gọi một số loài hải sản, chúng ta không nhận thấy
được lý do: cá dóc, cá róc, cá cu, cá liệt, vẹm, nhum, so, chem chép,
Khi có một đối tượng cần định danh người ta sẽ tiến hành các thao tác sauđây:
Thứ nhất là quy loại đối tượng mới vào nhóm đối tượng nào đó đã có têntrong ngôn ngữ
Thứ hai là vạch ra những đặc trưng vốn có của đối tượng mới rồi chọnmột đặc trưng được coi là tiêu biểu mang tính khu biệt của đối tượng mới vớiđối tượng khác
Thứ ba là sử dụng biện pháp cấu tạo từ theo loại hình ngôn ngữ làmphương tiện định danh
Nguyễn Đức Tồn đã nêu ví dụ minh họa cho điều này: để đặt tên loài câycảnh cỡ nhỏ, thân có gai, lá kép có răng cưa, hoa màu hồng, có hương thơm, quá trình định danh diễn ra như sau: trước hết người Việt quy nó vào khái niệm
đã có tên gọi trong ngôn ngữ là hoa và chọn đặc trưng màu sắc đập vào mắt cũng đã có tên gọi là hồng Khi đó, loại cây này sẽ có tên gọi là hoa hồng.
Nhưng sau đó người ta thấy màu sắc hoa của loài cây ấy không chỉ là màu
hồng, mà còn có thể là trắng, đỏ thẫm nhung, nên đã có các tên gọi hoa hồng
bạch, hoa hồng nhung,
Trang 14Đối với tên gọi hải sản cũng vậy, để đặt tên cho loài cá sống ở rạn san hô,hình dáng giống con bướm, .quá trình diễn ra như sau: trước hết người dân
quy nó về khái niệm đã có tên gọi trong ngôn ngữ là cá và chọn đặc trưng hình dáng đập vào mắt cũng đã có tên gọi là bướm Khi đó, loài cá này sẽ có tên gọi
là cá bướm Nhưng sau đó người ta thấy màu sắc của loài cá ấy có rất nhiều màu ví như màu trắng, màu nâu nhạt, nên đã có các tên gọi cá bướm trắng, cá
bướm nâu nhạt,
Để định danh các sự vật, hiện tượng, người ta thường lựa chọn đặc trưngcủa sự vật, hiện tượng để làm cơ sở gọi tên nó Đặc trưng của sự vật, hiệntượng thường có đặc điểm nổi bật về hình thức, màu sắc Tên gọi có vai tròquan trọng đối với tư duy của con người Nhờ có tên gọi, con người phân biệtđược sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác Qua tên gọi của sựvật, hiện tượng, chúng ta có thể hiểu về đặc điểm văn hóa của từng dân tộc.Như vậy, định danh từ vựng giúp cho chúng ta thấy được lối tư duy củamột cộng đồng ngôn ngữ và tâm lí dân tộc hay nét độc đáo của một cộng đồngngôn ngữ
1.1.3 Đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá qua định danh
1.1.3.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một thuật ngữ có tính phổ biến và xuất hiện rất sớm Trong
lịch sử cổ đại Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức hành xử trong xãhội của tầng lớp thống trị Còn ở phương Tây, khái niệm văn hóa bắt nguồn từ
chữ Latinh cultus, có nghĩa là gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus
Agri (gieo trồng ruộng đất) và Cultus Animi (gieo trồng tinh thần) Về sau kháiniệm này phát triển với nhiều nghĩa khác nhau tạo ra sự phong phú về nội dungcho từ văn hóa Hiện nay đã có khoảng trên 500 định nghĩa khác nhau về vănhóa Mỗi định nghĩa có cách nhìn nhận và tiếp cận về văn hóa ở những phươngdiện khác nhau
Trang 15Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, nó đượcdùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau Tuy được dùngtheo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờcũng có thể quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiềurộng, theo không gian hoặc theo thời gian, Giới hạn theo chiều sâu, văn hóađược hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệthuật, ) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trịtrong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh, ) Giới hạn theokhông gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng(văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ, ) Giới hạn theo thời gian, văn hoáđược dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, vănhoá Đông Sơn, )
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì docon người sáng tạo ra
UNESCO đã định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đếnnhư là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúccảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội mà nó chứa đựng, ngoàivăn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị,truyền thống và đức tin” (Tuyên bố chung của Unesco về tính đa dạng của vănhóa)
Như vậy, văn hóa là sản phẩm của con người, được tạo ra và phát triểntrong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song chính văn hóa lại thamgia vào việc tạo ra thế giới quan và nhân cách của con người, giúp duy trì sựbền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khácthông qua quá trình xã hội hóa và được tái tạo, phát triển trong quá trình laođộng và tương tác xã hội của con người
Trang 161.1.3.2 Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa qua định danh
Có thể nói, ngôn ngữ là một thành tố cơ bản và quan trọng của văn hoá,chi phối và tác động đến sự phát triển của văn hoá Về mối quan hệ này, Cao
Xuân Hạo viết: “Những ảnh hưởng của các nhân tố văn hoá đối với cấu trúc
của một ngôn ngữ là điều khó có thể hồ nghi, tuy không phải bao giờ cũng dễ chứng minh Và do đó, ít ra cũng có thể tìm thấy những sự kiện ngôn ngữ nào
đó có thể cắt nghĩa được bằng những sự kiện thuộc bản sắc văn hoá của khối cộng đồng nói thứ tiếng hữu quan, và đến lượt nó, các sự kiện ngôn ngữ lại có thể gợi cho ta những điều hữu ích về cách cảm nghĩ của người bản ngữ và từ đấy về nền văn hoá của họ” [16, tr.289].
Để tìm hiểu về đặc trưng văn hóa của một dân tộc, trước tiên, chúng ta
phải tìm hiểu về ngôn ngữ của họ Bởi vì, ngôn ngữ đóng vai trò là “công cụ
giao tiếp cơ bản” [39, tr.44].
Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ đi liền với văn hóa của mỗi dântộc sử dụng ngôn ngữ đó Giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ biệnchứng với nhau Ngôn ngữ là phương tiện thúc đẩy sự hình thành văn hóa củamỗi dân tộc, là phương tiện lưu trữ văn hóa cũng như sự biểu hiện và truyềnđạt các giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc giữa các xã hội khácnhau hay từ người này sang người khác trong cộng đồng Sự biến đổi và pháttriển của ngôn ngữ đi đôi với sự biến đổi và phát triển của văn hóa
Điều này đã được F de Saussure khẳng định: “Phong tục của một dân tộc
có tác động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc [12, tr.47] Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan
hệ chặt chẽ Khi định danh sự vật, mỗi dân tộc có cách định danh khác nhau.Nguyên nhân là do ảnh hưởng của ngôn ngữ, đặc điểm tâm lí dân tộc, điềukiện tự nhiên - văn hóa xã hội
Trong Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nguyễn Đức
Trang 17Tồn đã khẳng định “Cùng một đối tượng có thể được gọi tên trong các ngôn
ngữ theo cách khác nhau phụ thuộc vào đối lập kiểu nào về tâm lí, lịch sử, dân tộc và xã hội đã làm cơ sở cho sự định danh” [39, tr.219].
Ví dụ loài cá có thân dài, hình trụ tròn, hơi dẹp bên, giữa thân hơi phình
to, đầu dài, nhiều xương, tuy hơi nhiều xương một chút nhưng có ưu điểm là
thịt cá rất trắng, thơm và ngọt, làm chả rất ngon, tiếng Việt toàn dân gọi là cá
mối thì người dân Bình Định gọi là cá mấu Hay ốc vú nàng (loài ốc hình chóp,
hình dạng hơi giống nhũ hoa người phụ nữ), người dân Bình Định gọi là ốc dú
nàng, hay con hải sâm vú thì được gọi là hải sâm dú Nguyên nhân là do có sự
biến đổi ngữ âm, đó là phát âm địa phương đọc âm “ôi” > “âu”, phụ âm đầu
“v” > “d”.
Tóm lại, đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa của định danh thể hiện ở tên gọicủa đối tượng được định danh Tên gọi của đối tượng được định danh phụthuộc vào chủ thể định danh (chủ quan) và việc lựa chọn đặc trưng của đốitượng được định danh (khách quan)
Như vậy, nghiên cứu việc tri nhận hiện thực qua định danh các loài hảisản vùng biển Bình Định là một việc làm cần thiết, một hướng nghiên cứuđúng khi tìm hiểu về văn hóa Bình Định
Việc nhận diện và định nghĩa từ lại rất khó Vì vậy, không có sự thốngnhất trong cách định nghĩa về từ Nói chung, không có định nghĩa nào về từ
Trang 18làm mọi người thoả mãn Hiện nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ.
Để tiện lợi cho việc nghiên cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một quan niệmnào đấy về từ tuy không bao quát toàn thể, nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoàiphạm vi của nó một số lượng không nhiều các trường hợp ngoại lệ
Theo F.de Saussure: “từ, mặc dù khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí
tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ” [12, tr.214] Cái khó nhất trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về
cách định hình, chức năng và các đặc điểm ý nghĩa trong các ngôn ngữ khácnhau, thậm chí trong cùng một ngôn ngữ
Trong tiếng Việt, vấn đề xác định ranh giới của từ vẫn còn nhiều ý kiến
khác nhau Theo các tác giả Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê, “Từ là âm
có nghĩa dùng trong ngôn ngữ để diễn tả ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được” [9, tr.61].
Tác giả Nguyễn Tài Cẩn định nghĩa: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận
dụng độc lập ở trong câu” [5, tr.326] Theo Nguyễn Kim Thản, “Từ là đơn vị
cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác lời nói để vận dụng độc lập
và là khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” [35, tr.64].
Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập
về mặt ý nghĩa và hình thức” [14, tr.61] Định nghĩa trên hàm chứa hai vấn đề
cơ bản: khả năng tách biệt của từ và tính hoàn chỉnh của từ
Khi nghiên cứu đối tượng là từ, trong Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa về từ của tiếng Việt như sau: “Từ của tiếng
Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [8,
tr.16] Đây là định nghĩa về từ được nhiều người chấp nhận, chỉ ra được đặc
Trang 19điểm khái quát cơ bản của từ là: khả năng tách biệt của từ (tính độc lập của từ);tính hoàn chỉnh của từ (từ có vỏ âm thanh hoàn chỉnh, có nội dung).
Chúng tôi dựa vào định nghĩa từ của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở cho nghiêncứu luận văn
1.2.1.2 Cấu tạo từ
Phương thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị đểcho ta từ
Tiếng Việt có các phương thức cấu tạo từ như sau:
Thứ nhất, phương thức từ hóa hình vị Từ hóa hình vị là phương thức tạo
từ bằng cách tác động vào bản thân một hình vị, làm cho nó có có những đặcđiểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì
cả vào hình thức của nó
Mô hình: Hình vị (A) từ đơn A
Phương thức từ hóa hình vị sẽ cho ta từ đơn Từ đơn “là những từ một
hình vị Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ”
[8, tr.40]
Từ đơn có thể có một âm tiết (cá, mực, tôm, cua, ốc, sò, ) hay nhiều âm tiết Những từ đơn nhiều âm tiết có thể gốc Việt như: bồ hóng, ễnh ương, mồ
hôi, bồ nông, gốc vay mượn tiếng nước ngoài như: cà phê, xà phòng, karaoke,
mì chính, sủi cảo, xì dầu,
Thứ hai, phương thức ghép: là phương thức ghép hai hoặc hơn hai hình vị
có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới mang đặc điểmngữ pháp và ngữ nghĩa như một từ
Mô hình: Hình vị (A) + (B) từ ghép AB
Phương thức ghép cho ta từ ghép Từ ghép “được sản sinh do sự kết hợp
Trang 20hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau” [8, tr.54] Ví dụ, phương thức ghép tác động vào các hình vị cá, mực tạo
thành từ ghép cá mực, tác động vào các hình vị ốc, nhảy để tạo thành từ ghép
ốc nhảy, vào hình vị mực, ống để tạo thành từ ghép mực ống,
Từ ghép có hai loại là từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ
Từ ghép đẳng lập (từ ghép hợp nghĩa): cá mực, tôm cua, ốc hến, hoa lá,
quần áo, sách vở,
Từ ghép chính phụ (từ ghép phân nghĩa): xe tải, hoa lan, cá chuồn, mực
lá, cua huỳnh đế, ốc lông, ốc giác, sò điệp, tôm hùm,
Thứ ba, phương thức láy: là phương thức tác động vào một hình vị cơ sởlàm xuất hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh Cảhình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một từ láy
Mô hình: Hình vị (A) từ láy AA'
Phương thức láy tạo ra từ láy Từ láy “là những từ được cấu tạo theo
phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm, gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình
vị hay đơn vị có nghĩa” [8, tr.41] Ví dụ, phương thức láy tác động vào hình vị vàng tạo thành từ láy vàng vàng, tác động vào hình vị đỏ tạo thành từ láy đo
đỏ, đỏ đỏ, tác động vào hình vị chang tạo thành từ láy chang chang,
1.2.2 Ngữ định danh
Ngữ định danh là những cụm từ cố định biểu thị các sự vật, hiện tượnghay khái niệm nào đó về thực tế Mỗi sự vật, hiện tượng hay khái niệm cónhiều thuộc tính khác nhau Khi đặt tên cho những sự vật, hiện tượng hay kháiniệm, người ta thường dựa vào một hoặc một số thuộc tính nào đó của chúnglàm căn cứ để hiểu toàn bộ sự vật, hiện tượng hay khái niệm
Trang 21Ranh giới giữa từ (cụm từ) và ngữ định danh rất khó phân biệt rạch ròi vìchúng đều có chức năng định danh, gọi tên sự vật, hiện tượng Chẳng hạn như:
cá đuôi gai xanh nhạt, cá đuôi gai trắng tím, cá đuối bồng mõm nhọn, cá đuối bồng chấm xanh, cá bướm cờ hai sọc đen, là từ hay là ngữ định danh Để
tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi sắp xếp chúng vào từ (cụm từ)
1.3 Khái quát về vùng biển Bình Định
1.3.1 Thềm biển Bình Định
Bình Định là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, nằm trong vùng kinh tế trọngđiểm miền Trung Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam,diện tích tự nhiên: 6.071,3 km2, diện tích vùng lãnh hải: 36.000 km2 Do sự lấnsát của các khối kiến tạo phía tây ra biển, nên ngoài dải hẹp ven bờ có độ dốcnhỏ, còn lại phần lớn có độ gấp lớn và có nhiều nếp gấp, từ Quy Nhơn đếnTam Quan các đường đẳng sâu 50m, 200m hầu như chạy song song với vạch
bờ Trong đó từ bờ ra đến độ sâu 500m độ dốc đáy biển nhỏ và biến đổi tươngđối chậm, từ độ sâu 500m ra đến 2000m là khu vực biển có độ dốc lớn nhấtcủa vùng biển này
Khí hậu biển Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa, chịu ảnhhưởng lớn của gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam và hệ thống dòng chảycũng như chế độ thủy triều trong biển đông Nhiệt độ trung bình năm là 27°C
Độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối 79% Tổng lượngmưa trung bình năm là 1.751mm, cực đại là 2.658mm, cực tiểu là 1.131mm.Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 - 12; mùa khô kéo dài từ tháng 1 - 8 Đây là điềukiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển đa dạng sinh học biển
Đường bờ biển dài 134 km dọc theo huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát
và Thành phố Quy Nhơn Do ảnh hưởng nhô ra của các dãy núi, cũng như khíhậu và tác động của các quá trình thủy văn tạo nên sự phức tạp của vạch bờ,đồng thời tạo nên nhiều đầm phá ven biển; tiêu biểu nhất là đầm Thị Nại Dạng
Trang 22địa hình đầm phá cùng với vị trí địa lý thuận lợi gần các ngư trường hải sản lớn
là Hoàng Sa và Trường Sa, hải sản vùng biển Bình Định khá đa dạng, phongphú với trữ lượng lớn Đặc biệt là cá thu, cá ngừ đại dương, cá mú, mực, tôm,cua, ốc, Đây nguồn lợi hết sức to lớn tạo điều kiện cho việc nuôi trồng, đánhbắt hải sản
Dọc ven bờ biển tỉnh Bình Định còn có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành
10 cụm đảo hoặc đảo đơn lẻ Có 3 cửa biển lớn tập trung nhiều tàu thuyền neođậu và hoạt động khai thác hải sản là: Quy Nhơn, Đề Gi và Tam Quan Ngoài
ra ven biển Bình Định còn có nhiều làng, xã nghề cá với các bến cá hình thànhtrên các bãi ngang, bãi nhỏ ven biển
Theo báo cáo tổng hợp của Sở Tài nguyên và Môi trường về quy hạch bảotồn đa dạng sinh học biển Bình Định giai đoạn 2015 - 2025 và định hướng đếnnăm 2030, Bình Định là tỉnh có tài nguyên biển đa dạng Vùng ven bờ biểnBình Định nằm trong khu vực miền Trung là nơi có điều kiện thuận lợi cho sựhình thành và phát triển của các rạn san hô bởi nhiệt độ nước thường xuyêncao và ít chịu ảnh hưởng của hệ thống sông ngòi Rạn san hô phân bố tập trungnằm trong tam giác Hòn Khô, Hòn Đất, Cù Lao Xanh với diện tích khoảng 62
ha, chiếm 54,7% tổng diện tích rạn Rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loàithủy hải sản có giá trị kinh tế, đặc biệt là bãi đẻ của loài rùa biển quý hiếm cónguy cơ tuyệt chủng
Nguồn lợi hải sản ở vùng biển Bình Định khá đa dạng và phong phú vớitrên 500 loài cá, trong đó có 38 loài có giá trị kinh tế Tỷ lệ cá nổi chiếm 65%với trữ lượng khoảng 38.000 tấn, khả năng khai thác 21.000 tấn Tỷ lệ cá đáychiếm 35% với trữ lượng khoảng 22.000 tấn, khả năng khai thác 11.000 tấn.Tôm biển có 20 loài với trữ lượng khoảng 1.000 - 1.500 tấn Mực có trữ lượngkhoảng 1.500 - 2.000 tấn
Vùng biển Bình Định có trữ lượng cao về nguồn lợi tôm hùm giống,
Trang 23phong phú về thành phần loài với các loài tôm hùm có giá trị kinh tế Về khaithác tôm hùm giống: toàn tỉnh có 1.369 tàu cá cở nhỏ chuyên khai thác tômhùm giống với sản lượng hàng năm khoảng 455.460 con (năm 2008).
Có thể nói tất cả những yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sốngcủa ngư dân Hoạt động khai thác, nuôi trồng hải sản diễn ra sôi động, nhộnnhịp tạo nên đặc trưng vùng biển Bình Định Đó cũng là cơ sở của sự phongphú, đa dạng tên gọi hải sản; của tín ngưỡng văn hóa biển, phản ánh đời sốngtinh thần của ngư dân
1.3.2 Dân cư ven biển Bình Định
Dọc đường bờ biển dài 134 km của Bình Định gồm các huyện Hoài Nhơn(các xã ven biển Hoài Hương, Tam Quan, Hoài Thanh, Hoài Hải, Hoài Mỹ),huyện Phù Mỹ (các xã ven biển: Mỹ Đức, Mỹ Thắng, Mỹ An, Mỹ Thọ, MỹThành), huyện Phù Cát (các xã ven biển: Cát Tiến, Cát Hải, Cát Khánh, CátMinh) và thành phố Quy Nhơn (các xã Nhơn Lý, Nhơn Hải, Nhơn Hội, NhơnChâu; phường Ghềnh Ráng ) Ngoài ra, hoạt động đánh bắt, nuôi trồng hảisản cũng diễn ra sôi nổi quanh đầm Thị Nại ở các địa bàn dân cư: phườngNhơn Bình, Đống Đa, Hải Cảng, Thị Nại và xã Nhơn Hội (thành phố QuyNhơn), xã Phước Thuận, Phước Sơn, Phước Hòa, Phước Thắng (huyện TuyPhước) và xã Cát Chánh (huyện Phù Cát) Đầm trải dài theo hướng Bắc Namvới chiều dài khoảng 12 km, rộng 4 km, thông ra cửa biển Quy Nhơn
Dân cư sinh sống ven biển Bình Định đã hình thành từ rất lâu đời
Ngược dòng lịch sử trở về trước, qua các công trình nghiên cứu cổ sử cònlại, có thể thấy người Chăm đã sinh sống ở Bình Định mà trước người Chăm làngười cổ Sa Huỳnh Cuộc sống của người Sa Huỳnh cũng như của ngườiChăm gắn bó với biển, biển giữ vị trí chính yếu trong đời sống vật chất và vănhóa tinh thần của họ Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh mở rộng bờcõi về phía Nam, đánh dấu thời điểm người Việt bắt đầu chuyển cư mạnh mẽ
Trang 24vào vùng đất duyên hải này Người Việt nơi đây quen dần với biển Với khảnăng chinh phục thiên nhiên, con người trở nên mạnh mẽ trong cuộc mưu sinh,hơn nữa sự đa dạng của nguồn tài nguyên biển còn là động lực để con ngườichinh phục biển cả Một lý do quan trọng hơn để người Việt ở Bình Định nóiriêng và Nam Trung Bộ nói chung có khả năng hướng ra biển là nhờ cuộc sốngcộng cư với người Chăm Cuộc sống cộng cư với người Chăm giúp bộ phậnngười Việt di cư hiểu hơn về biển.
Ngày nay, có thể nói, phần lớn dân cư ven biển nói chung và dân cư venbiển Bình Định nói riêng dân trí còn thấp, đa phần quan niệm của người dânsống phụ thuộc vào biển là phải sinh con trai, càng nhiều con trai càng tốt để
có nhân lực đi biển Hầu hết các em trai thường học hết cấp 2, hoặc nhiều emchưa xong lớp 9 đã bỏ học Vì nhà nghèo, vì các em phải mưu sinh quá sớm
Có những đứa trẻ mới 9, 10 tuổi đã phải theo ba, chú, bác, bà con của mình đibiển, làm quen dần với cuộc sống lênh đênh nơi biển cả
Dấu ấn về một vùng đất mà cuộc sống của con người gắn liền với contôm, con cá còn in đậm trong ca dao với bao tâm tình ngọt ngọt tha thiết
Anh về qua cửa Đề GiNghe mùi chả cá chân đi không đànhHay
Gò Bồi có nước mắm cơm
Ai đi cũng nhớ cá tôm Gò Bồi
1.4 Thống kê tên gọi hải sản vùng biển Bình Định
Để tìm hiểu tên gọi các loài hải sản vùng biển Bình Định, chúng tôi đãtiến hành điều tra điền dã tại các huyện giáp biển của tỉnh Bình Định: huyệnHoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát và thành phố Quy Nhơn Cùng với điều tra điền
dã là sưu tầm thêm trên các loại văn bản, chúng tôi thu thập được 610 tên gọicác loài hải sản, thể hiện trong bảng sau:
Trang 25Bảng 1.1 Thống kê số lượng tên gọi hải sản vùng biển Bình Định
Tiểu kết chương 1
Bình Định có nguồn tài nguyên biển phong phú với nhiều loài hải sản cógiá trị Người Bình Định đã biết cách tận dụng nguồn tài nguyên có sẵn ấy đểphục vụ nhu cầu sống của mình, tăng thu nhập, ổn định kinh tế, cuộc sống vìthế dần dần ấm no hơn Nét đẹp, văn hóa của biển Bình Định còn được thểhiện trong tên gọi các loài hải sản Vì vậy, tên gọi các loài hải sản vùng biểnBình Định là nguồn ngữ liệu đáng được nghiên cứu
Khi tìm hiểu tên gọi các loài hải sản vùng biển Bình Định, cần có nhữngtri thức lí luận về định danh, các đơn vị từ vựng làm cơ sở cho việc khảo sátđặc điểm nguồn gốc, cấu tạo và đặc điểm định danh của tên gọi hải sản trongcác chương tiếp theo Vấn đề đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa qua cách định
Trang 26danh cũng cần đặc biệt chú ý Bởi vì đặc điểm định danh mang yếu tố tâm lí vàvăn hoá Việc nghiên cứu tên gọi các loài hải sản vùng biển Bình Định cho tamột cái nhìn tổng thể về cách tri nhận hiện thực của người dân vùng biển, gópphần vào việc nghiên cứu định danh dưới góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa.
Trang 27Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGUỒN GỐC VÀ CẤU TẠO
.1 Tên gọi hải sản vùng biển Bình Định xét về nguồn gốc ngôn ngữ
Căn cứ vào nguồn gốc của các từ, các nhà nghiên cứu chia từ vựng tiếngViệt thành hai lớp: từ thuần Việt và từ mượn hay còn gọi là từ ngoại lai Nội
dung của hai khái niệm từ thuần Việt và từ mượn không có ranh giới rõ ràng vì
từ vựng có xu hướng biến đổi, phát triển qua nhiều giai đoạn, cho nên người tachỉ có thể xác định ranh giới một cách tương đối chắc chắn nếu xét chúngtrong những giai đoạn lịch sử cụ thể Những từ mượn trong giai đoạn này cóthể được coi là từ thuần Việt trong giai đoạn tiếp
Xét về phương diện nguồn gốc, các tên gọi hải sản có thể được tạo rabằng một trong ba cách sau đây:
- Sử dụng đơn vị từ vựng có sẵn trong ngôn ngữ, thường là các phươngngữ trong một ngôn ngữ
- Sáng tạo mới hoàn toàn bằng những yếu tố đã có sẵn
- Vay mượn ngôn ngữ khác
Hai trường hợp đầu là từ thuần Việt và trường hợp thứ ba là các tên gọiđược vay mượn Với nhu cầu toàn cầu hóa như hiện nay thì vấn đề vay mượnngôn ngữ nước ngoài là tất yếu Do vậy tên gọi các loài hải sản vùng biển BìnhĐịnh có sự tiếp thu, vay mượn ngôn ngữ nước ngoài là hoàn toàn phù hợp với
xu thế chung của tiếng Việt
Khảo sát vốn từ ngữ chỉ tên gọi hải sản vùng biển Bình Định, chúng tôinhận thấy, những từ mượn, chúng được cấu tạo từ yếu tố có nguồn gốc thuần
Trang 28Việt, Hán và Ấn Âu Nhiều từ ngữ có sự kết hợp giữa các yếu tố không cùngnguồn gốc: Việt kết hợp với Hán, Việt kết hợp với Ấn Âu Những tổ hợp từtrong đó có yếu tố kết hợp tạo từ không phải nguồn gốc thuần Việt thì chúngtôi xem là từ vay mượn.
Chúng tôi phân loại tên gọi hải sản vùng biển Bình Định theo nguồn gốcthu thập được trong bảng sau đây:
Bảng 2.1 Số lượng đơn vị cấu tạo tên gọi hải sản theo nguồn gốc
mượn
Vay mượn tiếng Hán 17 2,8
Từ thuần Việt là cái cốt lõi, là cái bản chất, là cái gốc của từ vựng tiếngViệt Từ thuần Việt còn mang đậm nét bản sắc văn hóa của con người Việt, nókhông chỉ đơn thuần là phương tiện để ghi chép, là phương tiện để giao tiếp màcòn là tinh hoa văn hóa của người Việt trong quá trình tạo dựng lịch sử, bảo vệđất nước Từ thuần Việt thường mang sắc thái cụ thể, sinh động
Việc sử dụng phần lớn từ thuần Việt để đặt tên hải sản chứng tỏ nhữngđiều sau đây:
Thứ nhất là vùng biển Bình Định đa phần là dân tộc Kinh, người Việt sinhsống
Thứ hai là sự tri nhận về hải sản của người dân vùng biển Bình Định đã
Trang 29có từ thời xa xưa, quá trình đó được đúc kết và lưu truyền qua nhiều thế hệ.Thứ ba là việc gọi tên hải sản bằng từ thuần Việt giúp cho đối tượng đượcgọi tên dễ nhớ, dễ hiểu, dễ phân biệt, tạo điều kiện thuận lợi cho nhu cầu traođổi buôn bán.
Ví dụ các tên gọi hải sản có nguồn gốc thuần Việt: cá móm, cá mó gù, cá
mó xanh, cá nhồng lớn, cá nục suôn, cá nục sồ, cá nóc dài đốm, cá nóc sừng đuôi dài, cá chìa vôi nâu đen, cá chim trắng, cá chim đen, cá chuồn đen; cua
bể, cua mặt trăng; ốc đá, ốc tỏi, ốc vôi, ốc lông, ốc vú nàng; mực nang, mực ống;
Theo tài liệu đã dẫn ở chương 1, để tạo ra tên gọi mới, con người dùngngay những đơn vị có sẵn của tiếng Việt hoặc tạo ra những đơn vị từ vựng mới
trên cơ sở những từ có sẵn, yếu tố đã có sẵn Việc tạo ra tên gọi cá chìa vôi rồi đến cá chìa vôi nâu đen, cá chìa vôi đỏ; cá chình > cá chình bông, cá chình
đen, cá chình điện; cá chim > cá chim trắng > cá chim đen; đều trên cơ sở đó.
Hầu hết các từ chỉ tên gọi hải sản đều là từ thuần Việt cho thấy, cách nhìn,nếp nghĩ người Việt của chúng ta rất trọng truyền thống, mang đậm dấu ấn của
kinh tế nông nghiệp, luôn gắn với thiên nhiên Cách gọi tên các loài hải sản: cá
chai, cá cơm, cá mặt trời, cua lột, ốc dú, ốc tỏi, ốc gạo, ốc nhảy, cá cào, cá đục, ngao vàng, sò mía, ốc nhảy đỏ, tôm hùm tre, tôm hùm sen, tất cả đều vô
cùng mộc mạc, cụ thể, gần gũi, sinh động, Có thể nói những từ ngữ chỉ têngọi hải sản được người dân gán cho nó những tên gọi của sự vật thân thuộc,những hoạt động, trạng thái, như chính con người trong đời thường
2.1.2 Tên gọi hải sản có đơn vị cấu tạo vay mượn
Gần như tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có từ mượn, vì một ngônngữ vốn dĩ không có đủ vốn từ để định danh cho tất cả các khái niệm và việcchuyển từ vựng từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác là xu thế tất yếu trongquá trình hội nhập văn hóa
Trang 30Vùng ven biển Bình Định chủ yếu là người Kinh sinh sống, nhưng vẫn có
bộ phận gốc Chăm, Hoa Qua quá trình phát triển lâu dài cùng với việc giaolưu kinh tế với các nước đã xảy ra hiện tượng giao thoa và vay mượn ngôn
ngữ Quá trình vay mượn được biểu hiện qua một số tên gọi hải sản 2.1.2.1.
Tên gọi hải sản có đơn vị cấu tạo gốc Hán
Trong quá trình tiếp xúc với tiếng Hán, tiếng Việt đã tiếp nhận một khốilượng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của mình Tuynhiên kết quả khảo sát cho thấy yếu tố mượn tiếng Hán trong tên gọi hải sản ởvùng biển Bình Định không nhiều Nguyên nhân là do tên gọi hải sản nằmtrong vốn từ ngữ chỉ nghề làm biển, là một nghề thủ công truyền thống, ít chịuảnh hưởng nhiều từ yếu tố ngôn ngữ bên ngoài Kết quả khảo sát cho thấy lớp
từ ngữ chỉ tên gọi hải sản vùng biển Bình Định có yếu tố Hán Việt là 17/610đơn vị (2,8%) Về cấu tạo, tên gọi hải sản được tạo bởi yếu tố Hán Việt kết hợpvới yếu tố thuần Việt, hoặc sử dụng tất cả các yếu tố Hán Việt
Ví dụ: sò điệp, sò dương, sò huyết, cá xà, cá đao, cá Ông Nam Hải, ốc
bạch ngọc, ốc nữ hoàng, ốc hoàng hậu, cá cơm huyết, hải mã, dã tràng, bào ngư, hải sâm, hải sâm vú, hải long, sam.
Ta có thể hiểu nghĩa của một số từ vay mượn như sau:
+ Sò điệp: điệp có nghĩa là bướm.
Sò điệp là loài động vật nhuyễn thể thuộc lớp hai mảnh vỏ, họ Pectinidae
sống ở vùng nước mặn Sò điệp còn có tên gọi là sò quạt do ngoại hình bên
ngoài của chúng gần giống cái quạt
+ Sò dương: dương có nghĩa là biển
Sò dương là một loại sò biển sống trong tự nhiên ở khu vực có rạn san hô,
sò dương có hình dáng khá giống sò lông, tuy nhiên, sò dương ít lông hơn và
có kích thước lớn hơn, có con có kích thước lớn hơn cả lòng bàn tay Thịt sòdương có vị ngọt đậm, dai giòn Nó cũng chứa rất nhiều chất dinh dưỡng như
Trang 31chất đạm, canxi, sắt, kẽm,
+ Sò huyết: huyết là máu, chỉ màu đỏ
Sò huyết: trong sò có chứa phần nước màu đỏ, khi dùng vật nhọn đâmvào phần thịt, sò huyết phun ra dịch đỏ như máu
+ Cá xà: xà có nghĩa là rắn.
Cá xà là loài cá to, hung dữ như rắn; được người dân cho là cá thiêng theotín ngưỡng
+ Cá đao: đao có nghĩa là dao.
Cá đao là một loài cá đuối có mỏ dài như hình răng cưa
+ Cá Ông Nam Hải: dịch ra là cá Ông biển phía Nam (cá voi)
Cá Ông Nam Hải là cá voi, được tôn trọng, thờ cúng vì không phá phách câulưới, không bao giờ bị vướng phải câu mà chết Cá Ông thường xuất hiện khitrời giông tố, bão để cứu giúp ghe thuyền, người bị gió đánh đắm, đưa ngườisắp chết đuối nhiều ngày vào tận bờ để được cứu sống
+ Ốc bạch ngọc: bạch ngọc tức là ngọc màu trắng.
Ốc bạch ngọc là loại ốc đặc sản của vùng biển miền Trung, trong đó cóBình Định Ốc bạch ngọc có kích thước tối đa chỉ cỡ ngón chân cái, thân hìnhtròn, có thịt dai ngon, thơm ngọt, trong đó phần ruột ốc được xem là ngon nhất
Tên gọi ốc bạch ngọc xuất phát từ hình dáng sáng như viên ngọc trắng lấp lánh
rất bắt mắt của nó
+ Ốc nữ hoàng: nữ hoàng có nghĩa vua là phụ nữ.
Ốc nữ hoàng còn được biết đến với tên gọi ốc tù và, ốc hoàng hậu Loại
ốc này thường có nhiều ở vùng biển miền Trung của nước ta Ốc nữ hoàngthường sống ở những rạn san hô hoặc đá ngầm ở độ sâu từ 20m - 30m dướiđáy biển, vỏ dày với màu sắc đẹp mắt, miệng to và kích thước lớn, trung bìnhnặng từ 1kg - 2kg/con; có con nặng tới 4kg - 5kg
+ Ốc hoàng hậu: hoàng hậu nghĩa là vợ chính thức của vua.
Trang 32+ Hải mã: tức là ngựa biển Tiếng Việt gọi là cá ngựa.
Hải mã là tên gọi chung của một chi động vật sống ở đại dương các vùng
biển nhiệt đới Hải mã có chiều dài 16cm, có loài dài đến 35cm Hải mã đượcxem là một loài hải sản làm thuốc quý ở khu vực Đông Á, đặc biệt là ở TrungQuốc và Việt Nam
+ Dã tràng: là một từ gốc Hán Âm Hán Việt hiện đại của “dã tràng” là
“dã trường” “Dã tràng” là do đọc chệch “dã trường” mà thành Vì như đã biết,
hiện tượng biến âm /ương/ - /ang/ khá phổ biến trong tiếng Việt, như lên
đường - lên đàng, đường hoàng - đàng hoàng, cầu Trường Tiền - cầu Tràng Tiền,
+ Bào ngư: bào trong tiếng Hán gọi là bọt biển, ngư là cá.
Bào ngư là tên gọi chung cho các loài thân mềm, chân bụng trong chi
Haliotis Chúng thường sống ở ven biển và các vùng hải đảo, lúc còn nhỏ bámgần bờ nhưng càng lớn chúng càng di chuyển ra xa và sâu hơn ở đá ngầm dướibiển Để bắt được bào ngư to, phải lặn sâu xuống biển, tách chúng ra khỏinhững tảng đá ngầm Thịt bào ngư là một khối cứng, giòn, có mùi vị thơm vàrất bổ dưỡng Ở Bình Định, bào ngư có nhiều ở vùng biển Quy Nhơn
+ Hải sâm: tức là sâm biển
Hải sâm có tên gọi dân gian là đỉa biển hay còn gọi là con rum, là tên gọi
chung của một nhóm động vật biển thuộc lớp Holothuroidea với thân hình dài
và da có lông, có xương trong nằm ngay dưới da, sống trong lòng biển trênkhắp thế giới Từ lâu, hải sâm là một đặc sản quý, có giá trị như sâm nhưng ởdưới biển nên gọi là hải sâm, là sơn hào hải vị dùng cho quý tộc thời phongkiến Trên thị trường hải sâm bán dưới dạng khô và đã bỏ hết ruột
+ Hải long: tức là rồng biển
Hải long còn gọi là hải long lá hay cá rồng biển thân lá (danh pháp khoa học: Phycodurus eques) là một loài cá thuộc họ cá chìa vôi Nó là loài duy nhất
Trang 33trong chi Phycodurus Hải long là dược liệu quý mà thiên nhiên ban tặng chocon người, một trong những loài cá quý hiếm nhất dưới đáy biển có hình dạnggiống như con rồng Hải long khô dùng điều chế thuốc bổ thận, tráng dương,đau lưng, nhức xương, mỏi mệt và xuất khẩu Có thể nuôi làm cá cảnh.
2.1.2.2 Tên gọi hải sản có đơn vị cấu tạo gốc Ấn Âu
Bên cạnh những từ có nguồn gốc Hán Việt, một số lượng nhỏ tên gọi hảisản vùng biển Bình Định có nguồn gốc vay mượn Ấn Âu: số lượng 8/610(1,3%) gồm các tên gọi sau:
Ví dụ: cá bè to-li, cua flodia, cá ninja, tôm hùm baby, cá hè ca-lốp, cá hè
ma-xe-na, cá hè re-ti, cá hè va-ri.
Qua quá trình Việt hóa về mặt ngữ âm và chữ viết thì từ mượn ngôn ngữ
Ấn Âu có các biến đổi như sau:
Cá hè ca-lốp mượn từ Lethrinus kallopterus.
Cá hè ma-xe-na mượn từ Lethrinus mahsena.
Cá hè re-ti mượn từ Lethrinus reticulatus.
Cá hè va-ri mượn từ Lethrinus variegatus.
Số lượng tên gọi vay mượn ngôn ngữ Ấn Âu rất hạn chế, ít hơn so vớimượn tiếng Hán, điều đó chứng tỏ sự tiếp xúc, văn hóa của ta với văn hóa Hánnhiều hơn
Có thể thấy rằng, những từ mượn đa phần chỉ mang tính chất sử dụngthêm, bên cạnh từ ngữ đã có sẵn (thuần Việt) chỉ loài hải sản đó để làm tăngtính độc đáo, ấn tượng, hấp dẫn người mua
Ví như tôm hùm baby: là loại tôm hùm nhỏ, mượn từ baby, tạo cho ngôn ngữ sắc thái ấn tượng, dễ thương Hay các tên gọi mượn tiếng Hán như hải
long, hải mã thì người dân vẫn có thói quen dùng từ thuần Việt gọi là rồng biển, cá ngựa hơn.
2.2 Tên gọi hải sản vùng biển Bình Định xét về cấu tạo
Trang 342.2.1 Đơn vị cấu tạo tên gọi hải sản
Xét trong 610 tên gọi hải sản chúng tôi thu thập được bao gồm tên gọi cá,mực, tôm, cua, sò, ốc và một số loài hải sản khác Có thể nói tất cả tên gọi cácloài hải sản đều là danh từ, cụm danh từ
Từ ngữ chỉ tên gọi hải sản vùng biển Bình Định được định danh theo cấutrúc một yếu tố (X - đơn vị định danh gốc) hoặc hai yếu tố (XY - đơn vị địnhdanh phái sinh) Trong đó, yếu tố X là yếu tố chỉ loại, Y là yếu tố phân loại.Khảo sát tên gọi hải sản vùng biển Bình Định, chúng tôi thống kê đượccấu trúc định danh được thể hiện cụ thể qua bảng sau:
Bảng 2.2 Số lượng cấu trúc định danh tên gọi sản vùng biển Bình Định
Định danh theo kết cấu một yếu tố X thường là những từ chỉ tên gọi khái
quát: cá, mực, tôm, ruốc, cua, ốc, chíp chíp, vẹm, chem chép, chép chép, chang
chang, đẻn, rum, hầm lô, nhum, sam, so, sứa, vích Tuy số lượng không nhiều
và chiếm tỉ lệ thấp: 21/610 đơn vị (3,4%), nhưng chúng hết sức quan trọng, vì
là những từ chỉ tên gọi chung, khái quát, có mặt phổ biến trong ngôn ngữ toàndân
Tên gọi hải sản vùng biển Bình Định chủ yếu được định danh theo cấutrúc XY Trong đó X là yếu tố chỉ loại và Y là yếu tố phân loại, khu biệt đối
Trang 35tượng Có thể hình dung điều này trong bảng sau:
Tên gọi hải sản theo cấu trúc XY
từ (DT); động từ/cụm động từ (ĐT); tính từ/cụm tính từ (TT); không xác địnhđược từ loại (KXĐ)
Trong số liệu phân tích của mình, chúng tôi xem các cụm từ như là từ
Ví dụ phân tích một vài tên gọi sau đây:
Trang 36Dựa vào cách phân loại từ loại như trên, chúng tôi tổng hợp được 967 đơn
vị từ loại Cụ thể trong bảng sau:
Bảng 2.3 Số lượng yếu tố Y theo từ loại
Qua bảng thống kê, chúng tôi nhận thấy:
Yếu tố phân loại Y là danh từ chiếm số lượng lớn: 763/967 đơn vị
(78,9%) Điều đó thể hiện sự phong phú của lớp từ chỉ tên gọi hải sản vùngbiển Bình Định, phản ánh sự đa dạng của môi trường sinh tồn đồng thời cho
Trang 37thấy khả năng quan sát tỉ mỉ, tri nhận hiện thực, phân cắt đối tượng cụ thể củangư dân Bình Định Hơn nữa còn thể hiện cách tri nhận của người dân thiên về
sự vật, chứng tỏ rằng khi định danh nói chung và định danh hải sản nói riêng,con người ở đây thích liên hệ với sự vật nhiều hơn
Một số ví dụ cho yếu tố phân loại Y là danh từ: cá bánh đường, cá bánh
đường hai gai, cá cơm, cá lưỡi trâu, cá bánh lái, cá bò đuôi dài, cá bò mõm nhọn, cá bùng binh, cá bướm, cá bướm lưng đen, cá bướm gai, cá đàn lia, cá đàn lia vây đen, cá cóc, cá bàn chân, cá cờ, cá kiếm, cá cơm, cá cơm huyết, cá cơm sữa, cá chai, cá chai trứng, cá chỉ vàng, cá chìa vôi, cá chim, cá chim gai; mực ống, mực cơm, mực thước, mực lá, mực lửa, mực nang; cua bể, còng bột, còng gió, ghẹ chữ thập, cua mặt trăng; ốc tỏi, ốc mặt trăng, ốc vú nàng,
ốc gạo, ốc nữ hoàng, ốc cối, ốc cối bông; sò lông, sò tai tượng, sò tộ; sứa sen, đỉa biển, rùa biển, bọ biển,
Có thể thấy khi đặt tên các loài hải sản, người dân chủ yếu liên hệ đếndanh từ là những sự vật có sẵn, thân thuộc, gần gũi với đời sống hằng ngày:
bò, bướm, cơm, ống, lá, lửa, gai, gạo, tỏi, đá, mè, cối, giấy, bông, nón, quạt, sen, cóc, cờ, biển,
Yếu tố phân loại Y là động từ chiếm số lượng nhỏ: 19/967 đơn vị (2%).
Ví dụ: cá bóp, cá đục, cá dũa, cá gáy, cá chẽm, cá hồi, cá rọc, cá róc, cá
cháy, cá trích, cá un trăng, mực trùm, mực mút, mực tuột, mực nháy, tôm vỗ cua lột, ốc nhảy, tôm rảo.
Các động từ thường dùng để gọi tên như: bóp, đục, dũa, gáy, cào, mút,
nháy, vỗ, nhảy,
Yếu tố phân loại Y là tính từ có số lượng tương đối nhiều: 154/967 đơn
vị (15,9%)
Ví dụ: cá cam, cá đù, cá lù đù, cá đù đỏ dạ, cá đù bạc, cá hồng, cá hồng
gù, cá hồng đỏ, cá hồng bạc, cá liệt lớn, cá liệt xanh, cá liệt ngang, cá liệt lợ,
cá nâu, cá móm, cá đỏ, cá dìa đen, cá trao tráo, cá thiêng; ghẹ đỏ, ghẹ xanh,
Trang 38ghẹ đen; ốc bạch ngọc, ốc đỏ, ngao vàng, ngao trắng, ngao đen, sò quéo; sứa ngứa, sứa trắng,
Những tính từ mà ngư dân thường sử dụng để gọi tên các loài hải sản rất
đa dạng Có thể là tính từ chỉ màu sắc như: bạc, nâu, cam, hồng, đỏ, xanh, đen,
trắng, thâm, Hay những tính từ chỉ hình dáng như: móm, gù, mập, nhỏ, quéo,
Yếu tố phân loại Y chưa xác định được từ loại chiếm số lượng ít:
31/967 đơn vị (3,2%) Ví dụ: cá thửng, cá đổng, cá nhồng, cá sủ, cá buôi, cá
kì hà, cá thiều, ốc bù chằn, cá cơm ba lài, cá bàn xa, cá bàn dựng, cá lăng tiêu, cá căng, cá dìa chấm, cá dìa công, cá bơn cát,
Như vậy có thể thấy rằng, yếu tố phân loại Y chiếm số lượng nhiều nhất
là danh từ, sau đó là tính từ Không xác định được từ loại và động từ chiếm sốlượng ít
2.2.2 Phương thức cấu tạo tên gọi hải sản
Về phương thức cấu tạo, tên hải sản vùng biển Bình Định được tạo bởi baphương thức là: phương thức từ hóa hình vị, phương thức ghép và phương thứcláy; thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.4 Số lượng tên gọi hải sản theo phương thức cấu tạo
Trang 39Bình Định, chúng tôi lần lượt phân tích từng kiểu phương thức này.
2.2.2.1 Phương thức từ hóa hình vị
Với phương thức tác động vào hình vị, từ đơn được hình thành Từ đơn
có thể có một hay hơn một âm tiết Trong danh sách tên hải sản thu thập được
có 14 từ đơn: cá, mực, tôm, ruốc, cua, ốc, vẹm, đẻn, rum, nhum, sam, so, sứa,
vích Nhìn chung số lượng từ đơn rất hạn chế, chỉ chiếm 2,3%.
Tuy số lượng và tỉ lệ không cao, nhưng từ đơn là bộ phận cơ bản trongvốn từ vựng chỉ tên các loài hải sản, ra đời sớm và đóng vai trò quan trọngtrong giao tiếp của ngư dân trong nghề Hơn nữa lớp từ này còn đóng vai trò làhạt nhân trong cấu tạo từ phái sinh Bởi vì các loài hải sản tồn tại trong lòngbiển là vô cùng phong phú, đa dạng Để phân biệt được các loài hải sản người
ta phải định danh, mà cơ sở ban đầu là dựa vào các yếu tố cơ sở Chẳng hạn
như: cá bống, cá bống cát, cá bống đá, cá bống rạn, cá bống đen, cá bống sao,
cá bống biển, cá bống kèo biển, cá bống lửa, (yếu tố cơ sở là cá).
Mực: mực ống, mực nháy, mực lá, mực trùm, mực xà, mực lửa, mực cơm,
mực tuột, mực thướt, mực nang, mực sim, mực dái, mực trứng,
Tôm: tôm tít, tôm càng biển, tôm he, tôm hùm, tôm hùm sao, tôm hùm
baby, tôm hùm xanh, tôm hùm sen, tôm hùm tre, tôm mũ ni, tôm mũ ni đỏ, tôm
mũ ni đen,
Cua: cua đá biển, cua hạt, cua mặt trăng, cua càng đỏ, cua càng sen, cua
y, cua yếm vuông, cua cái ốp, cua gạch son, cua lột, cua cốm,
Ốc: ốc giác, ốc đá, ốc tỏi, ốc vôi, ốc mặt trăng, ốc nhảy, ốc nhảy đuôi dài
trắng, ốc nhảy đốm ngắn, ốc nhảy đuôi dài, ốc nhảy da vàng, ốc nhảy môi vàng đen, ốc nhung, ốc lông, ốc vú nàng, ốc dú, ốc mỡ, ốc gai, ốc gạo,
Các từ đơn chỉ tên gọi các loài hải sản không chỉ là từ ngữ thuộc lớp từnghề nghiệp mà còn rất thông dụng, quen thuộc, mọi người đều biết Do vậymột số từ đơn ấy đã đã gia nhập vào ngôn ngữ toàn dân, trở thành vốn từ
Trang 40chung (cá, mực, tôm, cua, ốc, ) Điều này dẫn đến một thực tế là, một số nhà
ngôn ngữ học không xem những từ trên là từ nghề nghiệp, xét về mặt đồng đại.Tuy nhiên, xét về mặt lịch đại, những từ trên vốn là từ nghề nghiệp Nhưng dotính chất quen dùng, phổ biến trong cộng đồng, trở nên thông dụng với tất cảmọi người
Về mặt ngữ nghĩa, các từ chỉ tên gọi hải sản đa phần đều là những đơn vịgốc nên nội dung của chúng mang tính võ đoán, khó giải thích lý do, khôngtìm được lý do định danh của lớp từ này
Như vậy xét về góc độ hình thái cũng như ngữ nghĩa, từ đơn là đơn vịgốc, đóng vai trò cơ bản, nền tảng trong vốn từ tiếng Việt Từ đơn chỉ tên gọicác loài hải sản vùng biển Bình Định cũng không nằm ngoài đặc điểm chungấy
2.2.2.2 Phương thức ghép
Đặc điểm loại hình tiếng Việt là đơn lập, không biến hình Để tạo ra nhiều
từ ngữ phong phú, tiếng Việt thường dùng cách ghép các hình vị (tiếng), để tạo
từ và ghép các từ để tạo ngữ định danh
Các đặc điểm trên đã chi phối đến cách cấu tạo từ ngữ chỉ tên gọi hải sảnvùng biển Bình Định Có thể thấy, để chỉ cụ thể từng loại hải sản, người BìnhĐịnh dùng phương thức ghép để tạo tên gọi Số lượng từ ngữ ghép mà chúngtôi thu thập được là 592 đơn vị, chiếm 97% Như vậy, so với từ đơn, số lượng