1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển đội ngũ giáo viên tiếng anh ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện tây sơn, tỉnh bình định

136 54 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 225,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh ở các trường phổ thôngnói chung và cấp tiểu học nói riêng, đội ngũ giáo viên tiếng Anh phải đạtchuẩn những yêu cầu gồm: chuẩn trình độ đào tạo GV

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

LÝ THANH BÌNH

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH

Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN

• • HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và đúng với khảo sát trên thực tế Kết quả của luận văn chưa từng được công bố trong công trình nào khác

rri < _ _ • ? 1 w Tác giả luận văn

Lý Thanh Bình

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Quý thầy, cô giảngviên trường Đại học Quy Nhơn và giảng viên của các trường Đại họckhác tham gia giảng dạy ngành quản lý giáo dục tại trường Đại họcQuy Nhơn đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôihoàn thành tốt việc học tập tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Sỹ Thư, người đã

nhiệt tình, tận tâm, ân cần chỉ dạy, động viên, hướng dẫn giúp tôinghiên cứu hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý thầy, cô, đồng nghiệp,

cơ quan Phòng Giáo dục và Đạo tạo huyện Tây Sơn và các Trường tiểuhọc trên địa bàn huyện Tây Sơn đã ủng hộ, giúp đỡ tôi học tập, nghiêncứu và hoàn thành luận văn

Bình Định, tháng 7 năm 2020

rri < _ _ • ? 1 w Tác giả luận văn

Lý Thanh Bình

Trang 4

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)

CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa

ĐNGVTA Đội ngũ giáo viên tiếng Anh

ĐNGVTATH Đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

GVTATH Giáo viên tiếng Anh tiểu học

Trang 5

GVTH Giáo viên tiểu học

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục đóng vị trí quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực Giáo dục

là con đường ngắn nhất và khoa học nhất để truyền thụ tri thức cho học sinhmột cách cơ bản có hệ thống và hiệu quả; là yếu tố cơ bản nhất để sản sinh ranguồn nhân lực chất lượng cao cho mỗi Quốc gia Nghị quyết Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sáchhàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướngchuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó,đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

là khâu then chốt” [19] Đây là đường lối của Đảng và Nhà nước mang tầmchiến lược thể hiện quan điểm khách quan, khoa học, toàn diện đối với việcphát triển nguồn nhân lực trong giáo dục

Hiện nay, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạonói chung, đổi mới dạy học tiếng Anh nói riêng, đặt ra những yêu cầu cao vềphẩm chất và năng lực đối với ĐNGVTA Môi trường giáo dục mới, chủtrương đổi mới dạy học tiếng Anh theo Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệthống giáo dục Quốc dân giai đoạn 2017-2025” cũng đang đặt ra choĐNGVTA những yêu cầu mới về phát triển tổ chức, xây dựng môi trường vănhóa, năng lực, tư duy, sáng tạo của mỗi GV Bên cạnh đó, nước ta đang trongquá trình hội nhập với thế giới trên nhiều lĩnh vực, ngoại ngữ nói chung vàtiếng Anh nói riêng đã thực sự là công cụ quan trọng để khai thác những trithức của nhân loại phục vụ cho sự phát triển của Đất nước Nhận thức được vaitrò của ngoại ngữ trong quá trình phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã có nhữngchủ trương, chiến lược để nâng cao khả năng ngoại ngữ nói chung và tiếngAnh nói riêng của người Việt Nam cụ thể: Quyết định số 1400/QĐ-TTg, ngày

7

Trang 8

30 tháng 8 năm 2008 về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệthống giáo dục Quốc dân giai đoạn 2008-2020”; Quyết định số 2080/QĐ-TTgngày 22 tháng 12 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điềuchỉnh, bổ sung Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục Quốcdân giai đoạn 2017-2025” (gọi tắt Đề án dạy và học Ngoại ngữ Quốc gia);Quyết định số 2658/QĐ-BGDĐT, ngày 23 tháng 7 năm 2018 của Bộ Giáo dục

và Đào tạo về Ban hành kế hoạch triển khai Đề án “Dạy và học ngoại ngữtrong hệ thống giáo dục Quốc dân giai đoạn 2017-2025”, đây là minh chứngcủa Đảng và Nhà nước cho việc tạo ra nguồn nhân lực có thể hội nhập với thếgiới Đề án đưa ra những vấn đề làm thay đổi nhận thức của xã hội, trong đó 2vấn đề được xem là hết sức quan trọng đó là:

Thứ nhất, môn tiếng Anh là một môn tự chọn sẽ trở thành một môn họcbắt buộc từ lớp 3 và chiếm vị trí quan trọng như Toán, Tiếng Việt và có thờigian học dài 10 năm

Thứ hai, dạy học tiếng Anh theo Đề án giúp cho lực lượng lao động ViệtNam trong tương lai có trình độ sử dụng tiếng Anh thành thạo, giao tiếp tốt vớimọi người trên toàn thế giới, giúp nâng cao thu nhập cho người lao động đảmbảo cuộc sống

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai Đề án “Dạy và học ngoại ngữquốc gia” Để nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh ở các trường phổ thôngnói chung và cấp tiểu học nói riêng, đội ngũ giáo viên tiếng Anh phải đạtchuẩn những yêu cầu gồm: chuẩn trình độ đào tạo GVTA ở tiểu học; chuẩnnghề nghiệp giáo viên; chuẩn năng lực giáo viên tiếng Anh phổ thông; chuẩnnăng lực ngoại ngữ (Khung chuẩn năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho ViệtNam); chuẩn kỹ năng Tin học để ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viêndạy tiếng Anh phổ thông Tuy nhiên, trước thực trạng ĐNGVTA và thực trạngphát triển ĐNGVTA ở các trường tiểu học còn nhiều hạn chế, bất cập như chất

88

Trang 9

lượng đầu vào nguồn GVTA tuyển dụng chưa đáp ứng được yêu cầu; bồidưỡng kiến thức, kỹ năng sư phạm cho GVTA còn hình thức, chưa chú trọngđến những vấn đề xuất phát từ thực tiễn; Việc tự đánh giá chất lượng củaGVTA và đánh giá GVTA của các cấp còn hình thức gặp nhiều khó khăn vìchưa có hệ thống tiêu chí đánh giá về phẩm chất, năng lực cụ thể choĐNGVTA ở cấp tiểu học Song song với chất lượng ĐNGVTA ở các trườngtiểu học thì số lượng ĐNGVTA ở các trường tiểu học chưa được đảm bảo còntình trạng thừa thiếu cục bộ thậm chí có nơi thiếu ĐNGVTA đến mức khôngthể tổ chức dạy tiếng Anh theo quy định của Đề án.

Giáo dục tiểu học là cấp học quan trọng, tạo cơ sở để học sinh bước quacác giai đoạn giáo dục tiếp theo Là giai đoạn giáo dục bắt buộc không nhữngxây dựng nền móng nhân cách và năng lực của những công dân mà còn tạo ranguồn nhân lực cho Đất nước trong tương lai Để phù hợp với xu thế phát triểnchung giáo dục của các nước trên thế giới Ngoài các môn học đã thực hiệnnhư trước đây, từ năm 2008 môn ngoại ngữ trở thành môn học bắt buộc trongchương trình tiểu học (khi Đề án Ngoại ngữ quốc gia ra đời) Đây là bướcngoặt lớn trong nhận thức cũng như hành động trong việc bắt kịp xu thế pháttriển chung giáo dục của các nước trên thế giới Vì vậy, đòi hỏi phát triểnĐNGVTA ở trường tiểu học là một trong những vấn đề hết sức quan trọng vàcấp thiết để tổ chức, thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả thực hiện thắng lợi

Đề án “Dạy và học ngoại ngữ quốc gia”

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển KT-XH của tỉnh BìnhĐịnh nói chung và huyện Tây Sơn nói riêng đã làm cho giáo dục huyện nhàtừng bước phát triển Cùng với sự phát triển đó là thách thức phát triển ĐNGVnói chung và ĐNGVTA ở các trường tiểu học nói riêng về việc hoạch địnhchiến lược lâu dài về nguồn nhân lực giáo dục trong đó có đội ngũ giáo viêntiếng Anh đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhằm thực hiện thắng lợi

9

Trang 10

Đề án “Dạy và học Ngoại ngữ quốc gia” và đáp ứng trước yêu cầu đổi mớichương trình và sách giáo khoa ở phổ thông trong thời gian tới Nghị quyết Đạihội đại biểu lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triểnnguồn nhân lực là nhiệm vụ hàng đầu và là khâu đột phá trong chiến lược pháttriển KT-XH và chiến lược phát triển GD&ĐT ở Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH [18].

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi nhận thấy rằng phát triển ĐNGVTA ở cáctrường tiểu học là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết để ĐNGVTA ở cáctrường tiểu học không thừa, không thiếu cục bộ, đảm bảo chất lượng, cơ cấuphù hợp trong thời gian dài từ đó biến thách thức thành cơ hội để giáo dụchuyện nhà không ngừng phát triển trong tương lai

Trên cơ sở những lý do nêu trên, phát triển ĐNGVTA ở các trường tiểuhọc vừa mang tính chiến lược, vừa là đòi hỏi của thực tiễn Vì vậy, tôi chọn đề

tài: “Phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định” làm luận văn tốt nghiệp.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về phát triển ĐNGVTA tiểu học và khảosát phân tích, đánh giá thực trạng phát triển ĐNGVTA ở các trường tiểu họctrên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, luận văn đề xuất các biện phápphát triển ĐNGVTA ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnhBình Định

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1.Khách thể: Đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các

trường tiểu học trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, ĐNGVTA ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tây Sơn,

10

Trang 11

tỉnh Bình Định chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học tiếng Anh,công tác phát triển ĐNGVTA ở các trường tiểu học còn nhiều hạn chế, bất cập.Nếu xây dựng được hệ thống lý luận về phát triển ĐNGVTA tiểu học và đánhgiá khách quan được thực trạng phát triển ĐNGVTA ở các trường tiểu học trênđịa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định thì sẽ đề xuất được các biện pháp pháttriển ĐNGVTA ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh BìnhĐịnh một cách hợp lý, khả thi.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển ĐNGVTA tiểu học.

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng ĐNGVTA và phát triển ĐNGVTA ở

các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

5.3 Đề xuất các biện pháp phù hợp và có tính khả thi nhằm nâng cao

hiệu quả của công tác phát triển ĐNGVTA ở các trường tiểu học trênđịa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

Thời gian khảo sát: Từ năm học 2016-2017 đến 2018- 2019

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng 3 nhóm phương pháp nghiên cứu chính, đó là:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa lý luận cácquan điểm, các công trình nghiên cứu, các tài liệu khoa học có liên quan đến

11

Trang 12

đề tài nhằm xác lập cơ sở lý luận của công tác phát triển ĐNGVTA tiểu học.

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, bao gồm những phương phápnghiên cứu sau:

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Sử dụng hệ thống bảng câu hỏi dành cho CBQL và GVTA các trường tiểuhọc nhằm thu thập thông tin về thực trạng ĐNGVTA và phát triển ĐNGVTA ởcác trường tiểu học

Ngoài ra, còn dùng để khảo sát tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp

đề xuất

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn trực tiếp với một số CBQL, GVTA, các chuyên gia nhằm tìmhiểu sâu hơn về thực trạng phát triển ĐNGVTA ở các trường tiểu học trên địabàn huyện

7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Thông qua nghiên cứu các báo cáo về ĐNGVTA ở tiểu học, phát triểnĐNGVTA ở tiểu học, kế hoạch phát triển ĐNGVTA của Phòng GD&ĐT TâySơn, Sở GD&ĐT Bình Định, kế hoạch giảng dạy của GVTA ở các trường tiểuhọc, để hỗ trợ cho đánh giá thực trạng và góp phần xác định các biện phápphát triển ĐNGVTA ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu của phiếuhỏi, kết hợp các bảng số liệu nhằm thống kê, phân tích các thông tin liên quan

8 Đóng góp của đề tài

- Hệ thống hóa và xác lập lý luận về phát triển ĐNGVTA tiểu học

- Xác định thực trạng và đề xuất các biện pháp phát triển ĐNGVTA ở cáctrường tiểu học trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

12

Trang 13

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụlục, luận văn có cấu trúc nội dung gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu

học

Chương 2 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các

trường tiểu học trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

Chương 3 Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở

các trường tiểu học trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

13

Trang 14

.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về đội ngũ giáo viên và đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

Trong những thập niên gần đây có nhiều công trình nghiên cứu về ĐNGVnói chung và ĐNGVTA nói riêng Đa số những công trình nghiên cứu này chủyếu nghiên cứu về năng lực của GV Một số công trình nghiên cứu như:

Nguyễn Thị Bình (2013) trong đề tài nghiên cứu đề xuất các giải pháp cảicách công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên phổ thông Với đề tài này đã đặt ra

GV những năng lực gồm: năng lực tìm hiểu học sinh; năng lực giao tiếp; nănglực dạy học; năng lực đánh giá; năng lực hoạt động xã hội [22]

Đối với GVTA ở tiểu học đang đứng trước việc đổi mới dạy và học tiếngAnh Trước yêu cầu triển khai thực hiện Đề án dạy và học Ngoại ngữ Quốc gia,

đã có một số công trình nghiên cứu năng lực của GVTA như Lê Văn Canh(2012), Áp dụng khung tham chiếu Châu Âu: dạy, học, đánh giá vào điều kiệnViệt Nam - Những vấn đề cân nhắc; Hoàng Văn Hoạt (2012), Ứng dụng khungquy chiếu Châu Âu trong thực tiễn dạy và học ngoại ngữ hiện nay tại ViệtNam Các công trình nghiên cứu trên đều tập trung nghiên cứu tìm hiểuCEFR để từ đó rút ra các bài học áp dụng vào dạy và học Ngoại ngữ ở ViệtNam đạt hiệu quả tốt nhất

Như vậy, những công trình nghiên cứu trên đề cập đến năng lực GV nóichung và GVTA nói riêng để nâng cao chất lượng đội ngũ đáp ứng yêu cầu củamôn học

Trang 15

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

Khi xác định đội ngũ giáo viên là nguồn nhân lực của một lĩnh vực cụ thể,các nhà nghiên cứu đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến phát triển độingũ giáo viên (quản lý đội ngũ giáo viên) theo tiếp cận lý thuyết quản lý nguồnnhân lực cụ thể:

Nguyễn Phúc Châu (2010), phát triển đội ngũ trong một tổ chức là hoạtđộng nhằm tạo ra một lực lượng lao động đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng,đồng bộ về cơ cấu đáp ứng được nhiệm vụ và chức năng của tổ chức đó, đồngthời đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH Ông cho rằng: “Đội ngũ của một

tổ chức cũng chính là nguồn nhân lực của tổ chức đó, vì vậy việc phát triển độingũ cũng chính là phát triển nguồn nhân lực” [21]

Phan Văn Kha (2007), đội ngũ giáo viên là nguồn nhân lực của một cấphọc, ngành học, tác giả cho rằng: “quản lý đội ngũ giáo viên bao gồm các nộidung: (1) Lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên (về đào tạo, bồi dưỡnggiáo viên; tuyển dụng và sử dụng giáo viên; đầu tư trang thiết bị làm việc; cácchính sách đối với giáo viên ) (2) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện quy hoạch; (3)Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch pháttriển đội ngũ giáo viên” [25]

Trần Kiểm, nội dung quản lý đội ngũ giáo viên phải mang tính toàn diện,chú trọng trên cả ba mặt: nhận thức, hành vi, thái độ, cần phải chú ý đến vấn đềtuyển dụng và sử dụng và chú trọng công tác tập sự của giáo viên sau khi tuyểndụng [27]

Từ các nghiên cứu trên có thể khái quát, phát triển đội ngũ GVTA đượcnghiên cứu với các nội dung: Lập kế hoạch phát triển; Tuyển dụng, sử dụng;Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ; Tạo môi trường phát triển; Kiểm tra, đánh giácông tác phát triển đội ngũ

Trang 16

Trong thời gian gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý nguồnnhân lực của những tác giả như: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, NguyễnThị Mỹ Lộc, Phan Văn Kha, Trần Kiểm , Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu

về quản lý ĐNGVTA ở tiểu học của tác giả Lê Thị Thanh Thuỷ đã khái quát cụthể hơn về quản lý nguồn nhân lực ở lĩnh vực cụ thể

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.2.1 Quản lý

Trần Kiểm (2004) cho rằng: “Quản lý là những tác động có định hướng,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vậnhành tổ chức nhằm đạt mục đích nhất định” Ông cũng cho rằng: “Có nhiềuquan điểm khác nhau về khái niệm quản lý, song có chung những dấu hiệu chủyếu: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hộiđược tác động có tính hướng đích và có sự phối hợp của các cá nhân nhằmthực hiện mục tiêu của tổ chức” [27]

1.2.2 Quản lý giáo dục

* Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tựgiác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật)của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp caonhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng

và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hộiđặt ra cho ngành giáo dục

* Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tácđộng tự giác (có ý thức, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủthể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha

mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằmthực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

Từ những khái niệm trên, dù là cấp vĩ mô hay vi mô, ta có thể thấy rõ bốn

Trang 17

yếu tố quản lý giáo dục đó là: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý (đối tượngquản lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:[27]

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ khái niệm quản lý giáo dục

1.2.3 Quản lý nhà trường

Phạm Viết Vượng (2000), có nêu “Quản lý trường học là hoạt động củacác cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, họcsinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lựcgiáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [24]

1.2.4 Đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

Luật Giáo dục (2005) quy định “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảngdạy, giáo dục trong các nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác” Nhà giáodạy các cơ sở giáo dục phổ thông gọi là giáo viên [16]

Điều lệ trường tiểu học (2010) đã nêu “Giáo viên làm nhiệm vụ giảngdạy, giáo dục học sinh trong trường tiểu học và cơ sở giáo dục khác thực hiệnchương trình giáo dục tiểu học” [2] Như vậy, giáo viên tiếng Anh tiểu học làgiáo viên dạy môn tiếng Anh tại các trường tiểu học

Từ điển Giáo dục học (2001) định nghĩa, “đội ngũ giáo viên là tập thểnhững người đảm nhiệm công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạođức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định; là lực lượng quyết định hoạt độnggiáo dục của nhà trường” [12]

Như vậy, có thể hiểu ĐNGVTA ở tiểu học là lực lượng giáo viên (tập hợpgiáo viên trong một trường tiểu học hoặc trong một huyện ) thực hiện dạychương trình tiếng Anh tại các trường tiểu học theo quy định của Bộ GD&ĐT

Trang 18

1.2.5 Phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

Lê Thị Thanh Thuỷ (2016) cho rằng: “phát triển đội ngũ” về cơ bản điềumang các thành tố như: Lập kế hoạch quy hoạch phát triển đội ngũ; Tuyểndụng, sử dụng đội ngũ; Sắp xếp, bố trí công việc một cách hợp lý, phù hợp với

số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ; Thực hiện các chính sách chế độ đểđảm bảo sức khoẻ và dinh dưỡng cho giáo vên, tăng cường cơ chế dân chủ hoátrong nhà trường, giải phóng giáo viên khỏi những việc làm không cần thiếtgiúp họ tự phát triển bản thân, tạo ra môi trường làm việc tốt nhất, đảm bảotính hợp lý, tính xã hội hoá và tính đồng thuận trong tổ chức [20]

Như vậy, phát triển ĐNGV trong giáo dục là sự phát triển của đội ngũnhững người làm nghề dạy học hoặc tham gia vào quá trình tổ chức các hoạtđộng giáo dục ở các cơ sở giáo dục Phát triển đội ngũ giáo viên là làm cho độingũ không ngừng biến đổi, trở thành những con người có năng lực và phẩmchất cao hơn, tốt hơn, thỏa mãn nhu cầu phát triển của thời đại Phát triển độingũ giáo viên là tạo ra một đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đảm bảo về chấtlượng, đồng bộ về cơ cấu chuyên môn, độ tuổi, giới tính, đáp ứng yêu cầu nhânlực giảng dạy và giáo dục của nhà trường, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáodục của nhà trường

1.3 Đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

1.3.1 Vai trò của giáo viên tiếng Anh tiểu học

Trong Luật Giáo dục (2019), quy định: “Nhà giáo có vai trò quyết địnhtrong việc bảo đảm chất lượng giáo dục, có vị thế quan trọng trong xã hội,được xã hội tôn vinh” [17]

Giáo dục tiểu học là cấp học cơ sở của giai đoạn giáo dục bắt buộc.Nhiệm vụ của giáo dục ở giai đoạn này là xây dựng nền móng về phẩm chất vànăng lực của những công dân tương lai Khi Đề án dạy học Ngoại ngữ Quốcgia ra đời (2008) môn tiếng Anh trở thành môn học bắt buộc trong chương

Trang 19

trình tiểu học (từ lớp 3), từ đó làm thay đổi nhận thức cũng như hành động củadạy học tiếng Anh ở tiểu học.

Mục tiêu của Đề án tạo ra nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập có nănglực cạnh tranh trên toàn cầu, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triểnĐất nước; tạo nền tảng đến năm 2025 phổ cập ngoại ngữ cho giáo dục phổthông [26] Trước mục tiêu trên và Chương trình GDPT môn tiếng Anh (2018),ĐNGV sử dụng phương pháp giáo dục chủ đạo là đường hướng dạy ngôn ngữgiao tiếp, cho phép sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau, nhấn mạnhvào việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp của HS thông qua các kỹnăng: nghe, nói, đọc, viết Vì vậy, GV đảm nhiệm nhiều vai trò, trong đó bốnvai trò nổi bật: (1) Vai trò là người dạy học và nhà giáo dục, GV giúp HS họckiến thức và phát triển kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh, giáo dục các em trởthành những công dân tốt, có trách nhiệm; (2) Với vai trò là người cố vấn, GV

là người tạo điều kiện cho quá trình giao tiếp giữa HS với nhau trong lớp học,giữa HS với sách giáo khoa và với các nguồn học liệu khác, hướng sự tham giatích cực của HS vào những hoạt động thực tế nhất trong khi học tiếng Anh đểđạt hiệu quả cao trong học tập; (3) Trong vai trò là người tham gia vào quátrình học tập, GV như là một thành viên tham gia vào quá trình học tập ở trênlớp của các nhóm HS Hơn nữa, GV là nguồn tham khảo cho HS, hướng dẫn,giải đáp thắc mắc, giúp HS tháo gỡ những khó khăn trong quá trình học tập,trong thực hành giao tiếp ở trong và ngoài lớp học; (4) Vai trò là người học vàngười nghiên cứu, GV hiểu và chia sẻ những khó khăn cũng như những tráchnhiệm học tập với HS Bên cạnh đó, có thể đóng góp khả năng và kiến thứccủa mình vào quá trình dạy - học tiếng Anh [7]

Như vậy, GVTA ở tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện

Đề án dạy học Ngoại ngữ Quốc gia, là yếu tố then chốt nâng cao chất lượngdạy học tiếng Anh cấp tiểu học, là những người đặt nền móng cơ sở cho việc

Trang 20

hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp tiếng Anh của HS.

1.3.2 Đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên tiếng Anh tiểu học

Công việc GVTA tiểu học là nghề sư phạm dạy tiếng Anh tại các trườngtiểu học Người học là HS ở lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi Theo quy định của BộGD&ĐT, môn tiếng Anh là môn học bắt buộc trong chương trình GDPT bắtđầu từ lớp 3 và được khuyến khích làm quen với tư cách là môn học tự chọn ởlớp 1, lớp 2 Học sinh ở cấp học này có những đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổikhi các em chuyển từ môi trường học tập ở mẫu giáo với đặc điểm “học màchơi, chơi mà học” với hoạt động “chơi” là chủ yếu sang môi trường tiểu họcvới hoạt động “học” là chủ yếu HS cấp tiểu học được học môn tiếng Anhkhông tránh được các em còn bỡ ngỡ, lạ lẫm điều đó đòi hỏi người GVTATHphải thực sự có những phẩm chất, năng lực riêng biệt phù hợp với đặc điểmtâm sinh lý của HS và yêu cầu của môn học cụ thể:

- Có khả năng tổ chức quá trình dạy học, sử dụng các phương pháp và kỹthuật dạy học phù hợp với cấp tiểu học; có khả năng xây dựng môi trường họctập tiếng Anh và tổ chức các hoạt động với nhiều hình thức khác nhau để tăngcường giao tiếp bằng tiếng Anh

- Có khả năng lựa chọn và khai thác các nguồn tài liệu phù hợp và có tácdụng cho việc học tiếng Anh của HS tiểu học; điều chỉnh nội dung các tài liệu

có sẵn cho phù hợp với mục tiêu bài học và phù hợp với HS

- Giáo viên tiếng Anh tiểu học phải là một nhà tâm lý: luôn có tráchnhiệm với công việc, hiểu và phát triển nhận thức, tình cảm và cảm xúc, thái

độ học tập của HS để điều chỉnh các hoạt động dạy học cho phù hợp [4]

Để giáo viên có được những khả năng trên cần phải hiểu được sở trường,

sở đoản, mục đích học tập, những khó khăn trong học tập của HS Bên cạnh

đó, giáo viên phải hiểu được HS mong đợi gì ở giáo viên để từ đó tạo nên niềmtin dạy gì, học gì để đạt kết quả cao nhất

Trang 21

Ở bậc tiểu học, hoạt động sư phạm của giáo viên dạy tiếng Anh có nét rấtriêng Số lượng GVTA ở trường tiểu học khoảng 1-3 GV tùy vào số lượng lớp,không đủ để thành lập một tổ chuyên môn Vì vậy, sinh hoạt chuyên môn củaGVTATH được ghép vào với các tổ chuyên môn khác trong trường để sinhhoạt dẫn đến việc học hỏi lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy bộ môntiếng Anh còn hạn chế Để khắc phục được hạn chế này GVTA tạo ra các mốiquan hệ về các hoạt động sư phạm bên ngoài nhà trường như thành lập các tổchuyên môn tiếng Anh theo cụm, liên trường, liên huyện, liên tỉnh để sinhhoạt chuyên môn.

Với những đặc điểm trên có thể thấy đặc điểm lao động GVTA ở tiểu họckhác với các cấp học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân cụ thể: người học

là trẻ nhỏ, còn rất non nớt, nhạy cảm với mọi tác động bên ngoài; Là giai đoạnkhởi đầu trong quá trình hình thành thái độ, kỹ năng cho việc học tiếng Anh.Bên cạnh đó, tạo môi trường phát triển tiếng Anh để phát hiện, phát triển tiềmnăng của HS và giúp HS định hướng cho tương lai

1 'ì 'ì TT'4 _ _ -Ổ -t-Ạ • rí z> • • Z' J* Ạ _ A f J* Ạ _ f.

1.3.3 Yêu cầu đối với đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

- Về số lượng:

Theo Thông tư số 16/2017/TT-BGDĐT, ngày 12 tháng 7 năm 2017 của

Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức sốlượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập [6] MỗiGVTH là 23 tiết/tuần bao gồm cả GV dạy môn văn hoá cơ bản và GV dạy mônchuyên (thể dục, tin học, ngoại ngữ.) Như vậy, số lượng GVTH được xác địnhtrên cơ sở số lớp và định mức biên chế theo quy định của nhà nước được tínhtheo công thức:

Đối với trường dạy học 2 buổi/ngày: Số GV cần có = Số lớp học x 1.5Đối với trường dạy học 1 buổi/ngày: Số GV cần có = Số lớp học x 1.2Hiện nay, chương trình thí điểm tiếng Anh cấp tiểu học theo Quyết định

Trang 22

số 3321/QĐ-BGDĐT ngày 12 tháng 8 năm 2010 có quy định thời lượng giảngdạy ở các trường tiểu học là 4 tiết/tuần/lớp từ khối 3,4,5 [1] Như vậy, bìnhquân cứ 6 lớp gồm: 02 lớp 3; 02 lớp 4; 02 lớp 5 cần 01 giáo viên tiếng Anh.Hằng năm, căn cứ vào kế hoạch phát triển số lớp, số học sinh sẽ xác định sốGVTA cần cho 01 trường, 01 huyện Trong Chương trình GDPT năm 2018,môn tiếng Anh là môn học bắt buộc đối với lớp 3,4,5 với 4 tiết/tuần; lớp 1,2 làmôn học tự chọn với 2 tiết/tuần [7] Đây là cơ sở để xác định số lượng giáoviên tiếng Anh cần bổ sung theo hằng năm nhằm đảm bảo số lượng GVTAtránh tình trạng “không thừa, không thiếu cục bộ”.

kế thừa giữa các thế hệ GV Là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đàotạo, bồi dưỡng, tuyển dụng bổ sung

Việc phân bổ GV theo độ tuổi được xác định theo từng nhóm tuổi của GV

có thể phân chia theo các nhóm tuổi sau: từ dưới 29 tuổi (từ 1-5 năm công tác);30-39 tuổi (6-15 năm công tác); 40-49 tuổi (16-25 năm công tác); từ 50 tuổi trởlên (26-35 năm công tác trở lên)

(2) Cơ cấu giới tính: ĐNGVTA ở các trường tiểu học có đặc điểm về cơ cấu

Trang 23

giới tính khác với ĐNGV các môn học khác Tỷ lệ giáo viên có giới tính

nữ chiếm đại đa số trong cơ cấu đội ngũ Là cơ sở để các nhà quản lýxác lập các biện pháp sát với thực trạng cơ cấu giới tính đảm bảo côngviệc của nhà trường Bên cạnh đó, là cơ sở để các nhà quản lý chú ý đếnđiều kiện về đào tạo nâng cao, bồi dưỡng thường xuyên, thời gian họctập của GV, thời gian nghỉ dạy theo chế độ (nghỉ sinh, con ốm vì cácyếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của GV

- Về chất lượng:

Tác giả luận văn tiếp cận trên 2 khía cạnh: (i) Phẩm chất đạo đức nghềnghiệp; (ii) Năng lực về chuyên môn - nghiệp vụ

(i) Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp: Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT, ngày

22 tháng 8 năm 2018 của Bộ GD&ĐT đã ban hành quy định về chuẩnnghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông có Tiêu chuẩn 1: Phẩmchất nhà giáo trong đó quy định GV tuân thủ các quy định và rèn luyện

về đạo đức nhà giáo; chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ đồng nghiệp trong rènluyện đạo đức và tạo dựng phong cách nhà giáo Trong tiêu chuẩn 1 có 2tiêu chí gồm: tiêu chí 1 Đạo đức nhà giáo (GV thực hiện nghiêm cácquy định về đạo đức nhà giáo; Có tinh thần tự học, tự rèn luyện, phấnđấu nâng cao phẩm chất nhà giáo; chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ đồngnghiệp trong rèn luyện đạo đức nhà giáo); tiêu chí 2 Phong cách nhàgiáo (GV phải có tác phong, cách thức thức làm việc phù hợp với côngviệc của GV phổ thông; Có ý thức rèn luyện, tạo phong cách nhà giáomẫu mực, ảnh hưởng tốt đến HS; Là tấm gương mẫu mực về phong cáchnhà giáo, ảnh hưởng tốt và hỗ trợ đồng nghiệp hình thành phong cáchnhà giáo [8] Như vậy, để đánh giá phẩm chất GVTH nói chung vàGVTATH nói riêng, phải căn cứ vào các tiêu chí trên để đánh giá phẩmchất của GV

Trang 24

(ii) Năng lực chuyên môn - nghiệp vụ

* Văn bằng, chứng chỉ: Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số BGDĐT, ngày 12 tháng 8 năm 2010 về Chương trình thí điểm tiếng Anh tiểuhọc có quy định điều kiện thực hiện chương trình đối với GVTATH như sau:

3321/QĐ-GV phải có trình độ từ cao đẳng chuyên ngành sư phạm tiếng Anh trở lên vớitrình độ năng lực Ngoại ngữ đạt từ Bậc 4 trở lên (theo Khung năng lực Ngoạingữ 6 bậc dùng cho Việt Nam) tương đương ở trình độ từ B2 trở lên theoKhung tham chiếu Châu Âu (CEFR) [1], [5] Tuy nhiên, khi Luật Giáo dục

2019 có hiệu lực từ ngày 01/7/2020 thì GV phải có trình độ từ đại học trở lên[17] Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số 6042/QĐ-BGDĐT,ngày 29 tháng 11 năm 2011 về ban hành chương trình tạm thời bồi dưỡngnghiệp vụ sư phạm cho giáo viên dạy tiếng Anh ở cấp tiểu học, theo quy địnhnày đối tượng bồi dưỡng là giáo viên tiếng Anh hiện đang giảng dạy tại cáctrường tiểu học; giáo viên tiếng Anh đang giảng dạy ở cấp học khác và có nhucầu giảng dạy tiếng Anh ở cấp tiểu học; cử nhân tiếng Anh đã có chứng chỉnghiệp vụ sư phạm và muốn trở thành giáo viên dạy tiếng Anh ở cấp tiểu học[3] Như vậy, GVTA ở các trường tiểu học dù ở đối tượng nào cũng đềutham gia bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm tiếng Anh tiểu học Vì hiện tại,chưa có ngành đào tạo GVTA giảng dạy ở cấp tiểu học mà GVTA hiệnnay đào tạo phù hợp giảng dạy ở cấp THCS, THPT, vì vậy việc bồidưỡng nghiệp vụ sư phạm tiếng Anh tiểu học theo Quyết định số6042/QĐ-BGDĐT là rất cần thiết để GVTA có sự hiểu biết, kỹ năng tổchức các hoạt động dạy học và giáo dục môn tiếng Anh ở cấp tiểu học

* Năng lực chuyên môn - nghiệp vụ: căn cứ vào công văn số792/BGDĐT-NGCBQLGD, ngày 25 tháng 02 năm 2014 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo về ban hành yêu cầu cơ bản về năng lực giáo viên tiếng Anh phổ thông[4] Để đánh giá năng lực chuyên môn - nghiệp vụ của GVTA nói chung và

Trang 25

GVTA bậc tiểu học nói riêng được cụ thể hóa 5 lĩnh vực như sau:

(1) Năng lực về môn học và chương trình: GVTATH phải đáp ứng cácyêu cầu cơ bản như sau: Đạt bậc 4/6 trở lên theo Khung năng lực ngoại ngữ 6bậc dùng cho Việt Nam; Nắm vững những đặc tả về bậc 1, nắm vững hệ thốngngữ âm, từ vựng, ngữ pháp để vận dụng vào việc giảng dạy cho cấp tiểu học;Hiểu và có khả năng áp dụng kiến thức về việc học tiếng Anh trong giảng dạy

và tự học, tự bồi dưỡng; Hiểu biết những nét cơ bản về văn hóa của các nướcnói tiếng Anh, có khả năng so sánh, đối chiếu với văn hóa Việt Nam và đưa cáckiến thức văn hóa vào việc giảng dạy; Có khả năng sử dụng các tài liệu vănhọc, văn hóa và học thuật viết bằng tiếng Anh phù hợp với cấp tiểu học để dạytiếng Anh; Nắm được Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Anh ở cấptiểu học và có khả năng sử dụng sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy phù hợp vớimục tiêu chương trình trong thiết kế bài giảng

(2) Năng lực về dạy học tiếng Anh: Có khả năng tổ chức được quá trình dạyhọc, sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau để dạybốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) cho HS phù hợp với cấp tiểu học; Cókhả năng thiết kế bài giảng cho từng bài học đảm bảo nội dung chươngtrình và phát triển bốn kỹ năng: nghe - nói - đọc - viết, giúp HS nắmvững dạng thức và chức năng ngôn ngữ; Có khả năng xây dựng môitrường học tập tiếng Anh và tổ chức các hoạt động với nhiều hình thứckhác nhau để tăng cường giao tiếp bằng tiếng Anh phù hợp với đặc điểm

HS và điều kiện dạy học cụ thể; Hiểu và có khả năng lựa chọn các hìnhthức đánh giá, xây dựng các đề kiểm tra và tổ chức thực hiện việc đánhgiá thường xuyên, định kì kết quả học tập và năng lực tiếng Anh của HS,biết sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy

và học; Có khả năng lựa chọn và khai thác các nguồn tài liệu, học liệuphù hợp và có tác dụng bổ trợ cho việc học tiếng Anh của học sinh, điều

Trang 26

chỉnh nội dung các học liệu có sẵn cho phù hợp với mục tiêu bài học;Biết khai thác và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗtrợ cho việc dạy và học tiếng Anh.

(3) Năng lực về giáo dục học sinh: Hiểu được sự phát triển về nhận thức,tình cảm và cảm xúc, thái độ học tập của HS để điều chỉnh các hoạtđộng dạy học cho phù hợp; Hiểu biết về phát triển ngôn ngữ của họcsinh theo từng giai đoạn; Vận dụng các hiểu biết về giá trị văn hoá, kinhnghiệm học tập của bản thân và HS vào quá trình giảng dạy nhằm pháthuy tiềm năng và khơi dậy hứng thú học tập tiếng Anh cho HS; Thựchành tư duy sáng tạo và tư duy phê phán để tự nâng cao trình độ và ápdụng vào giảng dạy để giúp HS phát triển các kỹ năng sáng tạo và tư duyphê phán phù hợp với cấp học của mình

(4) Giá trị và thái độ nghề nghiệp: Hiểu và truyền đạt được các giá trị củaviệc học tiếng Anh cho HS, thể hiện rõ tính chuyên nghiệp trong giảngdạy; Thể hiện được khả năng làm việc hợp tác, làm việc theo nhóm đểthực hiện tốt hơn công việc của mình và nâng cao hiệu quả giảng dạy,hướng dẫn HS thực hành các kỹ năng này trong các giờ học tiếng Anh;

Có khả năng xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng, biếtkhai thác các nguồn thông tin, tài liệu, học liệu phát triển kĩ năng; Tíchcực tham gia các chương trình tập huấn, bồi dưỡng; đóng góp, chia sẽkinh nghiệm với đồng nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạytiếng Anh ở trường tiểu học

(5) Kết nối và rút kinh nghiệm về dạy học tiếng Anh: Hiểu được tầm quantrọng và biết kết nối quá trình tự học của mình với đồng nghiệp, HS lớpmình với những HS lớp khác, trường khác; Thường xuyên rút kinhnghiệm, đánh giá quá trình giảng dạy, tự học, tự bồi dưỡng để tìm ranguyên nhân và giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng dạy và

Trang 27

học tiếng Anh.

Như vậy, chất lượng GVTATH dựa trên phẩm chất và năng lực được quyđịnh tại Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của BộGD&ĐT; Năng lực GVTA quy định tại văn bản số 792/BGDĐT-

NGCBQLGD ngày 25 tháng 02 năm 2014 của Bộ GD&ĐT; Quyết định số3321/QĐ-BGDĐT, ngày 12 tháng 8 năm 2010 của Bộ GD&ĐT và Quyết định

số 6041/QĐ-BGDĐT ngày 29 tháng 11 năm 2011 của Bộ GD&ĐT Trên cơ sở

đó tác giả luận văn nghiên cứu, thu thập số liệu, xây dựng các tiêu chí đánh giáchất lượng GVTATH nhằm khảo sát lấy ý kiến Mỗi tiêu chí được đánh giátheo mức độ: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu tương ứng với thang điểm: 4, 3, 2, 1.Như vậy, dạy và học tiếng Anh đặt ra yêu cầu đối với ĐNGVTATH phảichuẩn hoá, hiện đại hoá, đảm bảo được tính chất tổng thể của một tổ chức nhàtrường đó là đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng bộ, hợp lý về cơ cấu

1.4 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

Vận dụng lý thuyết phát triển nguồn nhân lực của Leonar Nadle 1980) vào việc phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học Các nội dungphát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học như sau:

(Mỹ-1.4.1 Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

Trong phát triển ĐNGVTATH, việc xây dựng kế hoạch phát triển ĐNGV

là cơ sở để xác định số lượng GV thiếu, thừa hay đã hợp lý, đáp ứng nhữngnhu cầu GV trong lai của nhà trường

Theo Trần Kiểm, xây dựng kế hoạch phát triển nhân sự phải thõa mãn bayêu cầu quan trọng: có tính tương lai; có tính hành động; có chủ thể thực hiện[28]

Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012) xây dựng kế hoạch phát triển nhân lực

có 4 mặt cơ bản sau: (i) dự báo nhu cầu tương lai về nhân lực; (ii) lập kế hoạch

Trang 28

cân đối nhân lực trong tương lai bằng cách so sánh nhân lực cần thiết trongtương lai và nhân lực hiện có mà tổ chức muốn lưu lại; (iii) lập kế hoạch tuyểnnhân lực mới và kế hoạch nhân lực; (iv) lập kế hoạch phát triển nhân lực nhằmđảm bảo nhân lực có năng lực và kinh nghiệm cho tổ chức [23].

Như vậy, đây là hoạt động mang tính chiến lược của nhà trường để pháttriển ĐNGVTATH nhằm thực hiện mục tiêu của nhà trường trong tương lai

* Nội dung xây dựng kế hoạch phát triển ĐNGVTATH

Về mặt số lượng: Mục tiêu để đảm bảo duy trì đủ, ổn định số lượng giáoviên; đảm bảo tỷ lệ GV/Lớp theo quy định; đảm bảo cho đội ngũ giáo viênhoàn thành được nhiệm vụ dạy học, tạo điều kiện cho GV có thời gian tự bồidưỡng, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Về mặt chất lượng: đảm bảo ĐNGVTA có trình độ, năng lực, phẩm chấttheo quy định bậc tiểu học và tạo ra được sự chuyển giao, sự kế thừa giữa cácthế hệ giáo viên

Về mặt cơ cấu: Mục tiêu đặt ra là để tạo sự đồng bộ và cân đốiĐNGVTATH về độ tuổi và giới tính

* Các bước xây kế hoạch phát triển ĐNGVTATH

- Thu thập và phân tích thông tin về tình hình GVTA hiện có của nhàtrường thông qua các hoạt động kiểm tra, đánh giá dựa trên chuẩn nghề nghiệp,trình độ đào tạo và năng lực ngoại ngữ

- Dự báo ĐNGVTA: Xác định nhu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấudựa vào vị trí việc làm, tiêu chuẩn nghề nghiệp, yêu cầu môn học và quy mô sốlớp

- Xây dựng kế hoạch phát triển ĐNGV: xác định mục tiêu, nội dung, biệnpháp, các điều kiện hỗ trợ và lộ trình thực hiện kế hoạch

- Thông qua kế hoạch phát triển ĐNGVTATH

- Phê duyệt kế hoạch và triển khai thực hiện

Trang 29

1.4.2 Tuyển dụng, sử dụng đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

1.4.2.1 Tuyển dụng đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

Tuyển dụng GV là một khâu trong quy trình phát triển ĐNGV Để đảmbảo chất lượng đầu vào của đội ngũ cần dựa trên những yêu cầu về phẩm chất

và năng lực để tuyển dụng GVTATH

Hiện nay, việc tuyển dụng GVTATH được thực hiện theo những quy địnhchung của pháp luật cụ thể: Nghị định 29/2012/NĐ-CP, ngày 12 tháng 04 năm

2012 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức; Nghịđịnh 161/2018/NĐ-CP, ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ về việc sửađổi, bổ sung một số quy định tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạchcông chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loạicông việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập;Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ trưởng BộNội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phíđào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; Thông tư 16/2012/TT-BNV ngày 28tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ ban hành Quy chế thi tuyển, xét tuyển viênchức; Quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và Nộiquy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức;Thông tư liên tịch số 21/2015/TTLT-BGDĐT- BNV của Bộ GD&ĐT và BộNội vụ, ngày 16 tháng 09 năm 2015 quy định về mã số tiêu chuẩn, chức danhnghề nghiệp giáo viên Tiểu học công lập [14], [15], [10], [11], [9] Tuy nhiên,cần tuyển dụng GVTA theo những quy định đặc thù của môn học được quyđịnh tại Quyết định số 3321/QĐ-BGDĐT ngày 12 tháng 8 năm 2010 của BộGD&ĐT [1]

Quy trình tuyển dụng phải tuân thủ đúng pháp luật, cơ chế chính sáchhiện hành; phải giải quyết những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tuyển dụng vàđảm bảo các nguyên tắc về số lượng (tuyển dụng đúng theo chỉ tiêu); về chất

Trang 30

lượng (đáp ứng được yêu cầu công việc; chức danh phải ứng với phẩm chất,năng lực); về cơ cấu (có sự kế thừa giữa giáo viên có thâm niên, mới tuyểndụng, già, trẻ, tạo được sự đồng thuận trong HĐSP nhà trường).

Tuyển dụng ĐNGVTA gồm các nội dung:

- Thông báo tuyển dụng và tiếp nhận hồ sơ dự tuyển (Thông báo chỉ tiêutuyển dụng và các yêu cầu đối với người dự tuyển; lập danh sách, hồ sơ dựtuyển tương ứng với kế hoạch);

- Tổ chức tuyển dụng (xem xét hồ sơ, khảo sát, thẩm định, đánh giá người

dự tuyển);

- Thông báo kết quả tuyển dụng, ra các quyết định tuyển dụng đúng quyđịnh, kịp thời

1.4.2.2 Sử dụng đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

Nội dung của hoạt động này là việc sắp xếp, bố trí, bổ nhiệm GV vàochức danh, nhiệm vụ cụ thể nhằm phát huy tối đa khả năng thực hiện nhiệm vụcủa GV Việc sử dụng GV phải mang tính chiến lược bao gồm cả việc sử dụngtrong hiện tại và định hướng tương lai (điều động, thăng chức ); phát huyquyền tự chủ của các trường tiểu học trong việc bố trí, sắp xếp, giao nhiệm vụtrực tiếp cho từng giáo viên theo năng lực, sở trường của từng người để manglại hiệu quả cao nhất

Sử dụng ĐNGVTATH gồm các nội dung:

- Thực hiện chế độ tập sự và đánh giá hết hạn tập sự với GV mới tuyểndụng đúng theo quy định

- Bố trí, sắp xếp GV cân đối, phù hợp giữa các khối lớp trong trường đảmbảo được tính kế thừa và phát triển giữa các GV

- Thực hiện định mức giờ dạy đối với GV theo quy định của môn tiếngAnh ở bậc tiểu học

- Bố trí, sắp xếp GV phù hợp với năng lực, sở trường, giới tính, điều kiện

Trang 31

công tác của từng GV.

- Nghĩa vụ và quyền lợi của GV được đảm bảo

1.4.3 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

Đào tạo, bồi dưỡng là quá trình tác động đến giáo viên nhằm lĩnh hội vànắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống từ đó làm thay đổinhận thức, hành vi, kỹ năng, thái độ của giáo viên đáp ứng nhu cầu nâng caochất lượng giáo viên Tác giả luận văn nghiên cứu quá trình đào tạo, bồi dưỡngkhi giáo viên đã hành nghề “Đào tạo, bồi dưỡng làm tăng thêm trình độ hiện

có của giáo viên (kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ ) với nhiều hình thức, mức độkhác nhau” [13]

Nội dung quản lý đào tạo, bồi dưỡng ĐNGVTATH gồm:

(1) Xác định đối tượng: xác định đối tượng GV đào tạo, bồi dưỡng dựa trênkết quả đánh giá thực hiện công việc hàng năm của GV (chuẩn nghềnghiệp GV; xếp loại viên chức của GV); quy định trình độ đào tạo;những yêu cầu về năng lực GVTATH

(2) Xác định mục tiêu: Phải bám sát các mục tiêu đổi mới dạy học theo Đề

án dạy học Ngoại ngữ; Mục tiêu phải cụ thể và có thể đo lường được;Mục tiêu được thực hiện trong mối tương quan giữa khung kế hoạch,chương trình và các nguồn lực (nhân lực, cơ sở vật chất, thời gian, tàilực )

(3) Xác định nhu cầu: Việc xác định nhu cầu bồi dưỡng gắn với nội dungđào tạo, bồi dưỡng, vì vậy vấn đề đặt ra phải xác định được mỗi giáoviên có những mặt mạnh, mặt yếu dựa trên kết quả chuẩn nghề nghiệpGV; quy định trình độ đào tạo, xếp loại viên chức, những yêu cầu vềnăng lực của GVTATH để xây dựng nội dung phù hợp

(4) Xây dựng Chương trình: chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo,cập nhật kịp thời những đổi mới trong dạy và học tiếng Anh ở tiểu học;

Trang 32

bám sát yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay và phải đảm bảo tính phùhợp với nội dung, đối tượng bồi dưỡng.

(5) Xác định loại hình bồi dưỡng gồm 03 loại hình

- Bồi dưỡng theo chương trình quy định chung (bồi dưỡng thườngxuyên): giúp giáo viên cập nhật kiến thức mới, hỗ trợ giáo viên phát triểnnghiệp vụ sư phạm của mình để nâng cao năng lực giảng dạy tiếng Anh ở tiểuhọc hiệu quả

- Tự học, tự bồi dưỡng: là con đường thuận lợi nhất, có hiệu quả nhất đểnâng cao trình độ tay nghề và hoàn thiện nhân cách giáo viên Việc tự học vàbồi dưỡng chuyên môn của giáo viên tiếng Anh có thể được thực hiện: Tự họcqua thực hành trải nghiệm, qua thực tế giảng dạy như: tham gia các hoạt độnggiáo dục để cùng chia sẻ với đồng nghiệp; Tham gia các chương trình bồidưỡng: tập huấn chuyên đề; tập huấn về đổi mới chương trình dạy học tiếngAnh ở tiểu học; học tập chương trình bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳhoặc các lớp tập huấn chuyên môn

- Đào tạo nối tiếp (đào tạo nâng cao trình độ): Việc đào tạo nâng cao trình

độ đang là mối quan tâm hàng đầu để nâng cao chất lượng đội ngũ Hiện nay,

có các loại hình đào tạo như: học các khoá đào tạo liên thông tại các trườngĐại học (có thể tập trung tại trường hoặc mở lớp tập trung tại địa phương domột trường Đại học tổ chức) Học tại chức, học từ xa, chương trình đào tạo liênthông tạo điều kiện để giáo viên có thể theo học được thuận lợi vì phương thứcnày kết hợp với một phần học trên lớp và một phần tự học; Tham gia các khoáhọc lấy chứng chỉ như: C1, C2 để nâng cao năng lực ngoại ngữ

(6) Kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng: Mục đích để đánh giáchất lượng đầu ra của một quá trình đào tạo, bồi dưỡng nhưng đồng thờicũng xác định thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Anh Việcđánh giá phải đảm bảo thực chất, khách quan và phải rút ra được ưu,

Trang 33

nhược điểm của quá trình bồi dưỡng để làm cơ sở cho việc xây dựng kếhoạch bồi dưỡng tiếp theo.

Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng ĐNGVTATH cập nhật kiến thức, duy trì,ngăn chặn sự mai một đã được đào tạo trước đó, đồng thời bổ sung nhữngkhiếm khuyết mang tính thực tiễn để từng bước phát triển ĐNGVTATH nhàtrường theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá

1.4.4 Thực hiện chế độ chính sách đãi ngộ, xây dựng môi trường thuận lợi

(3) Thực hiện các chính sách đào tạo, phát triển nghề nghiệp và cơ hội thăngtiến cho giáo viên nhằm thu hút được giáo viên có phẩm chất năng lực,tạo niềm tin, sự gắn bó, sự tận tâm, tận lực của đội ngũ cho công việc.Hiệu quả cuối cùng là nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh ở tiểuhọc

Trang 34

1.4.4.2 Xây dựng môi trường thuận lợi cho ĐNGVTATH

Xây dựng “tập thể sư phạm nhà trường đồng thuận” là yếu tố quan trọng

có ý nghĩa then chốt “Tính đồng thuận của đội ngũ giáo viên theo nghĩa hẹp làxây dựng được tình đoàn kết của giáo viên trong tập thể sư phạm nhà trường.Song, nghĩa rộng hơn và ý nghĩa sâu sắc hơn là xây dựng ĐNGV trong nhàtrường thành tổ chức biết học hỏi” [13] Để tập trung xây dựng sự đồng thuậntrong tập thể nhà trường cần xây dựng các yếu tố để đảm bảo được quan điểmtrên đó là: Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực; Xây dựng đạođức nhà giáo tự học và sáng tạo; Xây dựng văn hoá nhà trường; Ý thức thi đuatrong nhà trường; Dân chủ, trật tự, kỷ cương trong nhà trường; Cơ hội pháttriển trong từng giáo viên trong nhà trường Các yếu tố trên là biểu hiện củavăn hoá nhà trường và đó chính là môi trường để mọi giáo viên thi đua học tập

và rèn luyện

Tổ chức xây dựng trường học thân thiện và học sinh tích cực: môi trườnglàm việc tích cực được coi là tiêu chí đầu tiên của sự đảm bảo đồng thuận trongnhà trường Môi trường làm việc tích cực trước hết thể hiện ở không khí dạy vàhọc sôi nổi, có tính chất khoa học cao, tinh thần thi đua vì sự tiến bộ và hướngđến mục tiêu chung của nhà trường (thể hiện ở tầm nhìn, sứ mạng và các giá trịcủa nhà trường ) Mỗi thành viên trong nhà trường cảm thấy thực sự vui vẻ,hài hoà trong môi trường sư phạm thân thiện giữa các mối quan hệ: mối quan

hệ giữa bạn bè đồng nghiệp, mối quan hệ với đồng nghiệp, mối quan hệ vớingười học Từ những yếu tố đó các giáo viên trong nhà trường có trách nhiệmhơn, quan tâm hơn đến tình hình hoạt động của nhà trường, mục tiêu, nhiệm

vụ, chiến lược của nhà trường và cảm nhận được vai trò của mình trong tập thểđó

Xây dựng môi trường văn hoá nhà trường: đây cũng là tiêu chí phát triểnmôi trường bên trong bền vững giúp giáo viên thấy rõ mục tiêu, định hướng và

Trang 35

bản chất công việc của mình Văn hoá nhà trường phù hợp, tích cực tạo ra cácmối quan hệ tốt đẹp giữa cán bộ, giáo viên và nhân viên trong nhà trường vàgiữa giáo viên và học sinh; đồng thời tạo ra môi trường làm việc thoải mái, vui

vẻ và lành mạnh mà đó là nền tảng tinh thần cho sự sáng tạo Mặt khác, vănhoá nhà trường tích cực giúp cho người dạy, người học và mỗi người trong lựclượng xã hội xung quanh có cảm giác tự hào, hãnh diện vì được là thành viêncủa tổ chức nhà trường, được làm việc vì sứ mệnh của nhà trường

Thiết lập các mối liên kết bên ngoài nhà trường như: thành lập các cụmtrường trong một huyện, các câu lạc bộ tiếng Anh, tổ chức các hoạt động giaolưu học tập kinh nghiệm giữa các các trường để mở rộng môi trường pháttriển ĐNGVTATH

Tạo môi trường làm việc như các điều kiện về cơ sở vật chất (phòng họcngoại ngữ, ) và thiết bị dạy học ngoại ngữ (thiết bị nghe nhìn, bảng tương tác,đài, đầu, đĩa, ) và các tài liệu như sách, báo, tạp chí bằng tiếng Anh

1.4.5 Kiểm tra và đánh giá công tác phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

Đánh giá phát triển ĐNGVTA của hiệu trưởng ở các trường tiểu họcthông qua sử dụng các công cụ đánh giá theo yêu cầu đối với ĐNGVTA ở tiểuhọc nhằm kiểm tra, đánh giá phẩm chất, năng lực của giáo viên trong thực hiệnnhiệm vụ của nhà trường Mặt khác, đánh giá quá trình phát triển đội ngũ vớicác nội dung xây dựng kế hoạch phát triển, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồidưỡng, thực hiện chế độ chính sách đãi ngộ, tạo môi trường phát triển cho GV.Các khâu kiểm tra, giám sát đến đánh giá là quy trình khép kín, được thực hiệnthường xuyên, liên tục trong quá trình phát triển ĐNGVTA ở tiểu học

Các nội dung kiểm tra, đánh giá công tác phát triển ĐNGVTA ở tiểu họcgồm:

- Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá hằng năm

Trang 36

- Triển khai, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá theo kếhoạch

- Chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá đúng theo quy định

- Nhận định, kết luận công tác phát triển ĐNGVTA dựa trên kết quả vàcác minh chứng cụ thể trong quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá

Kết quả đánh giá phát triển ĐNGVTA là cơ sở cho việc điều chỉnh kếhoạch phát triển ĐNGVTA cho những năm tiếp theo phù hợp hơn nhằm xâydựng ĐNGVTA của nhà trường đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và đồng

bộ cơ cấu để thực hiện tốt nhất mục tiêu dạy và học tiếng Anh của nhà trường

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh tiểu học

1.5.1 Yếu tố khách quan

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác phát triểnĐNGVTA ở tiểu học

Các chủ trương của ngành GD&ĐT về tổ chức dạy học ngoại ngữ theo Đề

án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2025”

2017-Việc triển khai thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các quy định chế độ chínhsách đãi ngộ cho ĐNGV cũng như việc xây dựng các chính sách nội bộ nhàtrường cho giáo viên tiếng Anh sẽ tạo động lực cho giáo viên cống hiến hơnnữa; Việc thực hiện đầy đủ các quy định tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồidưỡng GVTA sẽ tạo ra nguồn nhân lực đủ số lượng, đảm bảo chất lượng và cơcấu đồng bộ nhằm thực hiện hiệu quả kế hoạch phát triển nhà trường

Yếu tố môi trường: môi trường sư phạm đồng thuận, thân thiện sẽ tácđộng trực tiếp đến giáo viên về đời sống văn hoá tinh thần, niềm tin nghềnghiệp; Điều kiện về cơ sở vật chất làm việc đảm bảo phát huy hết năng lựccủa giáo viên, tạo động lực thúc đẩy phát triển ĐNGV Mở rộng môi trường

Trang 37

phát triển cho giáo viên tiếng Anh sẽ tạo điều kiện cho giáo viên học hỏi, tựbồi dưỡng và chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau.

1.5.2 Yếu tố chủ quan

Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường Vìthế, mỗi GV phải có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức sư phạm nghề nghiệpvững chắc, có kỹ năng tự học thành thạo Hơn nữa, GV phải nắm vững kiếnthức chuyên môn - nghiệp vụ, chương trình giảng dạy, các kiến thức liên quan

và đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh

Năng lực của chủ thể quản lý (hiệu trưởng nhà trường): Yếu tố này ảnhhưởng đến công tác xây dựng kế hoạch, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồidưỡng ĐNGV; Việc triển khai thực hiện các chính sách đãi ngộ, xây dựng cácđiều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học; Mở rộng và tạo môi trường cho giáoviên tiếng Anh phát triển Bên cạnh đó, ảnh hưởng trực tiếp đến đánh giá, sànglọc, phân loại giáo viên tiếng Anh hằng năm

Vai trò, năng lực của lực lượng tổ chuyên môn trong nhà trường trongviệc tác nghiệp cho Hiệu trưởng thực hiện có hiệu quả phát triển ĐNGVTA

Tiểu kết chương 1

Trong Chương 1 của luận văn, tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề về cơ sở

lý luận của phát triển ĐNGVTATH theo tiếp cận lý thuyết phát triển nguồnnhân lực

Phân tích đặc điểm lao động sư phạm của GVTA tiểu học, yêu cầu đối vớiĐNGVTATH trên cơ sở đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và đồng bộ, hợp

lý về cơ cấu

Phát triển ĐNGVTATH dựa trên lý thuyết phát triển nguồn nhân lực Trên

cơ sở đó phát triển ĐNGVTATH gồm 05 nội dung: (1) Xây dựng kế hoạch pháttriển đội ngũ giáo viên tiếng Anh; (2) Tuyển dụng, sử dụng đội ngũ giáo viên

Trang 38

tiếng Anh; (3) Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiếng Anh;

(4) Thực hiện chế độ chính sách đãi ngộ, xây dựng môi trường thuận lợi chođội ngũ giáo viên tiếng Anh phát triển; (5) Kiểm tra và đánh giá công tácphát triển đội ngũ giáo viên tiếng Anh

Phần cơ sở lý luận ở Chương 1 giúp định hướng cho việc khảo sát, điềutra, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp phát triểnĐNGVTATH Đó là những nội dung được giải quyết trong Chương 2 vàChương 3

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

2.1.2 Nội dung khảo sát

Luận văn có 02 phiếu trưng cầu ý kiến chính gồm: (1) Phiếu trưng cầu ýkiến dành cho CBQL tại các trường tiểu học; (2) Phiếu trưng cầu ý kiến dànhcho GVTA tại các trường tiểu học Nội dung Phiếu trưng cầu ý kiến gồm: (i)Một số thông tin chung (thâm niên công tác giáo dục; trình đào tạo; Trình độnăng lực Ngoại ngữ; Trình độ Tin học; Trình độ lý luận chính trị; độ tuổi, giớitính; kết quả xếp loại viên chức và chuẩn nghề nghiệp GV ); (ii) Phần nội

Trang 39

dung gồm: Mức độ về tầm quan trọng đối với dạy học tiếng Anh ở tiểu học;Mức độ về tầm quan trọng đối với công tác phát triển ĐNGVTA ở tiểu học;thực trạng ĐNGVTA ở các trường tiểu học (phẩm chất, năng lực); thực trạngphát triển ĐNGVTA ở các trường tiểu học (xây dựng kế hoạch phát triển độingũ; tuyển dụng, sử dụng đội ngũ; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ; thực hiện chế

độ chính sách đãi ngộ, xây dựng môi trường thuận lợi cho đội ngũ giáo viêntiếng Anh phát triển; kiểm tra, đánh giá công tác phát triển ĐNGVTA); các yếu

tố ảnh hưởng tới phát triển ĐNGVTA ở các trường tiểu học (Phiếu số 1 vàphiếu số 2 ở phụ lục 3)

2.1.3 Đối tượng khảo sát và địa bàn khảo sát

Để có thông tin xác thực về thực trạng phát triển ĐNGVTA tại các trườngtiểu học, luận văn tiến hành khảo sát tại 19 trường tiểu học công lập trên địahuyện Tây Sơn, bao gồm: trường tiểu học Tây Thuận, tiểu học số 1 Tây Giang,tiểu học số 2 Tây Giang, tiểu học Bình Tường, tiểu học Vĩnh An, tiểu học TâyPhú, tiểu học Tây Xuân, tiểu học số 1 Bình Nghi, tiểu học số 2 Bình Nghi, tiểuhọc số 1 Võ Xán, tiểu học số 2 Võ xán, tiểu học Trần Quang Diệu, tiểu họcBình Thành, tiểu học Bình Hòa, tiểu học Tây An, tiểu học Tây Bình, tiểu họcTây Vinh, tiểu học Bình Tân, tiểu học Bình Thuận

Tổng số CBQL và GVTA tham gia trả lời phiếu khảo sát: 73 Trong đó:

34 CBQL là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường tiểu học; 39 GVTA của

19 trường tiểu học trên địa bàn huyện Tây Sơn Cụ thể:

Bảng 2.1 Tổng hợp số phiếu 02 đối tượng (CBQL và GVTA các trường tiểu học)

Số phiếu phát ra Số phiếu thu vào

CBQL GVTA CBQL GVTA

2.1.4 Thời gian khảo sát: Từ ngày 20 tháng 1 năm 2020 đến ngày 5 tháng 5

năm 2020

Trang 40

2.1.5 Phương pháp khảo sát và xử lý kết quả khảo sát

Ngày đăng: 16/08/2021, 11:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w