Từ đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để thực hiện trong ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
TRẦN THỊ HOÀNG ANH
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
• • CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
• •
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
TRẦN THỊ HOÀNG ANH
•
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
• • CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301
Người hướng dẫn: PGS.TS Trần Thị Cẩm Thanh
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn” Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu
được sử dụng trong luận văn là trung thực và chưa công bố ở bất kỳ nghiêncứu nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bày trongluận văn này
Tác giả luận văn
Trần Thị Hoàng Anh
Trang 4Đầu tiên, tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn chân thành đếnPGS.TS Trần Thị Cẩm Thanh, người hướng dẫn khoa học của tác giả, đã tậntình định hướng nghiên cứu và hướng dẫn chi tiết giúp tác giả hoàn thành luậnvăn này Những lời chỉ bảo, nhận xét, đánh giá cùng với những lời động viênquý báu của Cô đã giúp cho tác giả vượt qua được nhiều khó khăn trong quátrình thực hiện luận văn.
Kế đến, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô trườngĐại học Quy Nhơn đã tận tình giảng dạy cho tác giả các môn học phần thạc sĩ.Những kiến thức quý báu thầy, cô đã truyền đạt sẽ góp phần rất lớn để tác giả
có thể đi tiếp con đường nghiên cứu sau này
Sau cùng, xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo công ty cổ phần Côngviên cây xanh & Chiếu sáng đô thị Quy Nhơn đã tạo điều kiện thuận lợi để tácgiả hoàn thành khóa học và luận văn này
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Tí nh cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan 4
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận 4
2.1.1 Quy mô hội đồng quản trị (boardsize) 4
2.1.2 Quy mô công ty (size) 5
2.1.3 Quy mô công ty kiểm toán (big 4) 6
2.1.4 Đòn bẩy tài chính (lev) 7
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị l ợi nhuận 8
2.3 Nhận xét về các nghiên cứu liên quan 10
3 Mục tiêu nghiên cứu 12
4 Phạm vi nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 13
7 Kết cấu của đề tài 14
CHƯƠNG 1 15
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN VÀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN 15
1.1 Lợi nhuận 15
1.2 Hành vi quản trị lợi nhuận 16
1.2.1 Khái niệm 16
1.2.2 Thủ thuật quản trị lợi nhuận lợi nhuận 18
1.2.2.1 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán
Trang 6phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán 18
1.2.2.3 Quản trị lợi nhuận thông qua các quyết định kinh doanh về thời điểm thực hiện nghiệp vụ kinh doanh 19
1.2.3 Động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận 22
1.2.3.1 Động cơ về thị trường chứng khoán 22
1.2.3.2 Động cơ về tiết lộ/che giấu các thông tin 23
1.2.3.3 Động cơ về pháp lý 24
1.2.3.4 Động cơ về tạo hình ảnh tốt của giám đốc điều hành 25
1.2.3.5 Những động cơ bên trong 25
1.2.4 Các mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận 25
1.2.4.1 Mô hình của Jones (1991) 26
1.2.4.2 Các cải tiến từ mô hình của Jones (1991) 27
1.2.4.3 Mô hình Roychowdhury (2006) 29
1.3 Lý thuyết nền tảng chi phối hành vi quản trị lợi nhuận 30
1.3.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory) 30
1.3.2 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực(Resource dependency theory) .
32 1.3.3 Lý thuyết các bên có liên quan (Stakeholder Theory) 33
1.3.4 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) 34
1.4 Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận 36
1.4.1 Quy mô hội đồng quản trị (Boardsize) 36
1.4.2 Quy mô công ty (Size) 38
1.4.3 Các chỉ số hoạt động tài chính (ROA, Rev-grow) 40
1.4.4 Chất lượng của kiểm toán báo cáo tài chính (Big 4) 42
Trang 7CHƯƠNG 2 46
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
2.1 Quy trình nghiên cứu 46
2.2 Giả thiết nghiên cứu 46
2.2.1 Nhân tố thành viên hội đồng quản trị (Boardsize) 48
2.2.2 Nhân tố quy mô công ty (Size) 49
2.2.3 Nhân tố hiệu quả hoạt động kinh doanh (ROA, Rev-grow) 51
2.2.4 Nhân tố chất lượng kiểm toán (Big4) 52
2.2.5 Nhân tố đòn bẩy tài chính (LEV) 55
2.3 Mô hình nghiên cứu và đo lường 57
2.4 Dữ liệu và phương pháp phân tích nghiên cứu 60
2.4.1 Dữ liệu 60
2.4.2 Phương pháp phân tích 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64
CHƯƠNG 3 65
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65
3.1 Hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 65
3.2 Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN 67
3.2.1 Thống kê mô tả 67
3.2.2 Phân tích tương quan 69
3.3 Phân tích hồi quy 70
3.3.1 Kết quả kiểm định 70
3.3.2 Kết quả ước lượng 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80
Trang 84.1 Đối với các công ty niêm yết 82
4.2 Đối với các đơn vị liên quan 85
4.3 Hạn chế của đề tài 91
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 92
KẾT LUẬN 93 DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9Số thứ tự Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
Trang 10Số thứ tự
bảng
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệpphải sản xuất kinh doanh có hiệu quả Một trong những tiêu chí quan trọngnhất để đánh giá hiệu quả hoạt động và triển vọng của một doanh nghiệp là lợinhuận kế toán Ngoài ý nghĩa quan trọng đối với nhà đầu tư (NĐT), lợi nhuậncòn đóng vai trò then chốt trong việc đo lường khả năng quản trị của nhà quản
lý (NQL) Dễ dàng nhận thấy điều này qua việc nhiều công ty, đặc biệt là cáccông ty niêm yết sử dụng chỉ tiêu này để tính toán mức thù lao, lợi ích màNQL được hưởng
Một trong những vấn đề được quan tâm bởi cả NĐT và NQL là độ đángtin cậy của chỉ tiêu lợi nhuận Trong khi NĐT là người sử dụng và chịu ảnhhưởng chủ yếu từ những thông tin trên báo cáo tài chính thì những thông tinnày lại được lập và trình bày bởi NQL Điều này đã dẫn đến một vấn đề kháphổ biến trong kinh tế học là quan hệ ông chủ và người đại điện (principal -agent relationship) Trong đó, người sử dụng thông tin BCTC, cụ thể là NĐTđóng vai trò ông chủ (principal) và theo nguyên tắc, NQL ở vị trí người đạidiện (agent) phải ra quyết định và hành động dựa trên lợi ích của ông chủ.Nhưng thực tế, ngoài lợi ích của NĐT, NQL còn quan tâm và tìm cách tối ưuhóa lợi ích bản thân Sự bất cân xứng thông tin (information asymmetry) trongmối quan hệ trên đã tạo điều kiện và cơ hội cho NQL hành động theo lợi ích cánhân, ví dụ như quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp để tăng mức thù lao đượchưởng
Với sự xuất hiện của nhiều khái niệm về “Quản trị lợi nhuận”, các nghiêncứu kế toán phân biệt ranh giới giữa việc thực hiện các thay đổi kế toán và ướctính kế toán trong phạm vi các quy định, chuẩn mực với việc nhà quản lý làmsai lệch thông tin, vi phạm nguyên tắc trung thực và hợp lý của kế toán
Trang 12“Quản trị lợi nhuận” là chủ đề có sức hút lớn trên phạm vi toàn cầu, từcác cường quốc như Mỹ, Pháp.cho tới các nước đang phát triển như Malaysia,Việt Nam Đầu thế kỷ 21, sự xuất hiện của một loạt các vụ bê bối và gian lậnnghiêm trọng liên quan tới việc điều chỉnh lợi nhuận và che giấu thông tin kếtoán của Enron, WorldCom, Tyco, Xerox, Global Crossing làm hâm nóng chủ
đề kiểm soát hành vi điều chỉnh lợi nhuận vốn từ lâu đã là sự quan tâm lớn củanhiều bên, từ các nhà đầu tư, các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu cho tới bảnthân các công ty
Trên thế giới, rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành liên quan tới cácnhân tố ảnh hưởng tới quản trị lợi nhuận, có những nghiên cứu tìm hiểu sự ảnhhưởng riêng lẻ của một vài nhân tố (Kim và cộng sự, 2003), nhưng cũng cónhiều nghiên cứu đề cập tới sự ảnh hưởng của một tổ hợp, một nhóm nhiều cácnhân tố tới quản trị lợi nhuận (Nassirzadeh và cộng sự, 2012; Charfeddine,Riahi và Omri, 2013; Fathi, 2013)
Ngay tại Việt Nam, một số lượng lớn các công ty cổ phần với tình trạngchênh lệch báo cáo tài chính hàng trăm tỷ đồng trước và sau kiểm toán cũngđem đến lo ngại về việc không minh bạch trong công bố thông tin và tồn tại sựcan thiệp mang chủ ý của các nhà quản lý tới thông tin kế toán được công bốtrên thị trường chứng khoán Điển hình là Vinaconex năm 2009, lợi nhuận sau
http://vneconomy.vn/chung-khoan/su-co-bao-cao-tai-chinh-vinaconex-
Công ty cổ phần thép Việt Ý năm 2011 phải cộng thêm 110 tỷ đồng dự phòngkhiến lợi nhuận sau kiểm toán rơi từ 145 tỷ xuống 35 tỷ đồng( https://www.vinaconex.com.vn/upload/100804- BCB%20VINACONEX%20-
%203000%20TY%20DONG.PDF) Tình trạng này ngày càng lan rộng và quy
mô tăng lên, ví dụ Công ty CP thiết bị y tế Việt Nhật (JVC) năm 2015, chênh
Trang 13lệch sau kiểm toán lên tới 622 tỷ đồng ( https jvc-bat-ngo-lo-hon-1335-ty-dong-nam- 2015-266.htm ) Trong số các đối tượng
://vietnambiz.vn/sau-kiem-toan-sử dụng thông tin kế toán thì nhà đầu tư có thể là đối tượng chịu áp lực caonhất về nhu cầu thông tin vì họ bỏ vốn đầu tư vào các công ty nhưng lại khôngtrực tiếp sử dụng vốn Vì vậy, trong bối cảnh các gian lận tài chính khiến lòngtin của công chúng đối với các thông tin kế toán được công bố bị giảm sút nhưvậy thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợinhuận sẽ rất có ý nghĩa cho các bên tham gia thị trường kể cả các nhà làm luật
và các nhà nghiên cứu (Beneish, 1999; Kothari và cộng sự, 2005)
Nhận thức được tầm ảnh hưởng quan trọng của hành vi quản trị lợi nhuậntới chất lượng báo cáo tài chính, luận văn muốn đi sâu phân tích những nhân tốảnh hưởng tới “Hành vi quản trị lợi nhuận” tại các doanh nghiệp có cổ phầnniêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên cơ sở của trường phái
Lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực,
lý thuyết tín hiệu
Việt Nam hiện nay là thành viên của nhiều hiệp ước kinh tế như WTO,AEC, đòi hỏi phải hội nhập nhanh các định chế quốc tế để tăng tính minhbạch thông tin công bố Liên quan đến CTNY, Nhà Nước Việt Nam đã khôngngừng nỗ lực để hoàn thiện dần hệ thống pháp lý cần thiết nhằm tăng cườnghiệu quả hoạt động của TTCK, thu hút vốn đầu tư thông qua TTCK, đồng thờicũng hướng đến mục tiêu gia tăng chất lượng thông tin BCTC của các CTNY
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng việc tìm hiểu, phát hiện, đo lườnghành vi QTLN và xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đếnhành vi QTLN là rất cần thiết xét về lý luận khoa học và ứng dụng thực tế Về
lý luận, luận văn mong muốn góp phần làm rõ lý thuyết liên quan đến hành viQTLN thông qua cơ sở dồn tích và QTLN thông qua việc ảnh hưởng vào cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh Về mặt ứng dụng, luận văn kỳ vọng đo lường mức
Trang 14độ QTLN của người quản lý tại CTNY và xác định các nhân tố tác động đếnhành vi QTLN tại các CTNY trên TTCK Việt Nam, đưa ra các kiến nghị chocác bên liên quan để kiểm soát hành vi QTLN, nâng cao chất lượng BCTC của
CTNY Từ đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để thực hiện trong nghiên cứu này 2
Tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận
Quản trị lợi nhuận làm cho số liệu trên báo cáo tài chính không trungthực, hợp lý từ đó ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của các bên liên quan.Nghiên cứu về quản trị lợi nhuận trên thế giới đã xác định được nhiều nhân tốthen chốt ảnh hưởng đến hành động quản trị lợi nhuận Nhóm nhân tố về đặcđiểm của công ty: quy mô công ty, cấu trúc vốn, khả năng sinh lời, tính thanhkhoản của tài sản; nhóm nhân tố về đặc điểm cơ chế quản trị công ty: hội đồngquản trị, ban kiểm soát, tỷ lệ sở hữu của ban giám đốc, tỷ lệ sở hữu của các cổđông tổ chức; nhóm nhân tố về kiểm toán độc lập
2.1.1 Quy mô hội đồng quản trị
Có nhiều nghiên cứu đã được công bố về ảnh hưởng của quy mô HĐQTđến hành vi QTLN Qui mô HĐQT được tính bằng số lượng thành viên HĐQTtại ngày kết thúc năm Một mặt, HĐQT gồm nhiều thành viên có thể có nhiềukinh nghiệm, nhiều kiến thức và nêu nhiều ý kiến đóng góp sẽ tăng cường khảnăng giám sát của HĐQT Lý luận này xuất phát từ lý thuyết sự phụ thuộcnguồn lực Mặt khác, HĐQT có nhiều thành viên nhưng các thiếu liên kết giữacác thành viên HĐQT sẽ tạo tăng thêm cơ hội cho người quản lý gia tăngQTLN
Ayemere và cộng sự (2015) sử dụng số liệu của 230 công ty niêm yết trên
Trang 15thị trường chứng khoán của Thổ Nhĩ Kỳ, giai đoạn 2009-2012 đã tìm thấy mốiquan hệ ngược chiều giữa số lượng thành viên thuộc HĐQT với mức độQTLN Rất nhiều nghiên cứu có kết quả tương tự như Suzan Abed và Cộng sự(2012), Abbadi và cộng sự (2016), Soliman và cộng sự (2013), Lakhal (2015).Ngược lại, Kao và Chen (2004) sử dụng dữ liệu của 1.097 công ty;Rahman và Ali (2006) sử dụng 97 công ty Malaysia; Jaggi và cộng sự (2009)
sử dụng dữ liệu của công ty Hong Kong trong giai đoạn 1998-2000 cùng pháthiện ra mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô của HĐQT và mức độ QTLN.Nekhili và cộng sự (2016) sử dụng số liệu 85 công ty niêm yết trên thị trườngchứng khoán Pháp, giai đoạn 2001- 2010, vận dụng mô hình của Kothari vàcộng sự (2005) đã chứng minh được mối quan hệ cùng chiều giữa số lượngthành viên HĐQT với mức độ QTLN
2.1.2 Quy mô công ty
Nghiên cứu của Roodposhti & Chashmin (2011) về tác động của cơ chếquản trị công ty đến quản trị lợi nhuận với mẫu nghiên cứu gồm 196 công tyniêm yết trên Sàn chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2004-2008 Kết quảnghiên cứu cho thấy quy mô công ty càng tăng thì hành vi quản trị lợi nhuậncàng tăng
Nghiên cứu của Soliman và Ragab (2013) sử dụng mô hình Jones (1991)
đã quan sát 40 công ty niêm yết tại Sàn chứng khoán Ai Cập trong giai đoạn2007-2010 để xem xét các ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận Kết quả nghiêncứu cho thấy quy mô công ty tác động thuận chiều đến hành vi quản trị lợinhuận
Swastika (2013) nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty, quy môdoanh nghiệp và quản trị lợi nhuận, kết quả cho thấy các biến về hội đồng quảntrị có mối quan hệ thuận chiều với hành vi quản trị lợi nhuận, các biến chấtlượng công ty kiểm toán và quy mô công ty có mối quan hệ nghịch chiều với
Trang 16hành vi quản trị lợi nhuận.
Sử dụng mô hình Modified Jones để đo lường điều chỉnh lợi nhuận, Lim
và cộng sự (2008) đặt ra câu hỏi nghiên cứu, liệu rằng quy mô và loại hìnhdoanh nghiệp có ảnh hưởng đến sự điều chỉnh lợi nhuận khi phát hành thêm cổphiếu hay không? Kết quả nghiên cứu cho thấy, mối tương quan thuận giữaquy mô và sự điều chỉnh lợi nhuận Nói cách khác, doanh nghiệp có quy môcàng lớn thì khả năng điều chỉnh lợi nhuận càng cao
2.1.3 Quy mô công ty kiểm toán
Becker và cộng sự (1998) sử dụng mô hình Jones (1991) quan sát cáccông ty do Big6 (hiện nay là Big4) kiểm toán và không do Big6 kiểm toán, kếtquả cho thấy các công ty không do Big 6 kiểm toán quản trị lợi nhuận cao hơncác công ty do Big 6 kiểm toán
Nghiên cứu của Ahmad-Zaluki và cộng sự (2011) về hành vi quản trị lợinhuận của các công ty niêm yết tại Malaysia với mẫu nghiên cứu gồm 250công ty trong giai đoạn 1990-2000 và sử dụng mô hình Jones (1991) để nhậndiện hành vi quản trị lợi nhuận, cho thấy chất lượng công ty kiểm toán và thờigian hoạt động của công ty có tác động nghịch biến với hành vi quản trị lợinhuận
Kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy nếu công ty niêm yết đượckiểm toán bởi Big 4 thì sẽ kiểm soát được hành vi QTLN Chen và cộng sự(2005) nghiên cứu trên mẫu dữ liệu công ty đại chúng của Đài Loan các năm1996-1998 cho rằng chất lượng kiểm toán đóng vai trò rất quan trọng trongviệc kiểm soát khả năng QTLN và các công ty kiểm toán Big 4 cung cấp chấtlượng kiểm toán cao, góp phần kiểm soát hành vi QTLN Tương tự, Charles vàcộng sự (2010), Lin và Hwang (2010), Gerayli và cộng sự (2011), Inaam vàcộng sự (2012), Soliman và cộng sự (2013), Al-Rassas và cộng sự (2015),Ahmad và cộng sự (2016), Abbadi và cộng sự (2016) cùng chứng minh được
Trang 17rằng doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big 4 thì mức độ QTLN sẽ giảm đi.
Có phần khác biệt với những kết quả nghiên cứu trên, một số nghiên cứukhông tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô công ty kiểm toán với hành viQTLN, điển hình như Chtourou (2001) với số liệu Mỹ, Moradi và cộng sự(2012) với số liệu của Iran, Bamahros và cộng sự (2015) với số liệu củaMalaysia, Zouari và cộng sự (2015) với số liệu của Pháp
Sự ảnh hưởng của đặc điểm công ty niêm yết (quy mô công ty, cấu trúcvốn, khả năng thanh toán ) đến hành động điều chỉnh lợi nhuận của cáccông ty này là hướng tiếp cận của vấn đề Tỷ lệ nợ phải trả trong tổng nguồnvốn có ảnh hưởng đến hành động quản trị lợi nhuận không? Ardison và cộng
sự (2013) đặt ra câu hỏi nghiên cứu như trên Để giải quyết vấn đề đặt ra, cáctác giả thực hiện nghiên cứu các công ty niêm yết ở Brazil trong khoảng thờigian từ 1994 đến 2010, sử dụng 3 mô hình nghiên cứu, thứ nhất của Jones(1991), mô hình thứ hai của Dechow và cộng sự (1995) và mô hình thứ ba củaKang và Sivaramakrishnan (1995) Sau khi tính toán biến kế toán dồn tích cóthể điều chỉnh được của cả 3 mô hình - đây là biến phụ thuộc, tiếp theo các tácgiả tính toán biến nợ phải trả chia nguồn vốn, nợ phải trả chia vốn chủ sở hữu -biến độc lập Áp dụng phương pháp hồi quy bội, các tác giả không tìm thấybằng chứng về mối quan hệ giữa biến nợ phải trả chia vốn chủ sở hữu, nợ phảitrả chia nguồn vốn và quản trị lợi nhuận ở cả 3 mô hình nghiên cứu
Trang 182.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về các nhân tố ảnh hưởng đến hành
vi quản trị lợi nhuận
Nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2017) về hành vi quản trị lợi nhuận
ở các công ty cổ phần khi phát hành thêm cổ phiếu trên TTCK Việt Nam vớimẫu nghiên cứu gồm 412 công ty niêm yết trong giai đoạn từ 2007 - 2015 (cócông ty phát hành 1 lần, có công ty phát hành 2 lần trở lên, tối đa là 4 lần) kếtquả cho thấy các công ty niêm yết có phát hành thêm cổ phiếu niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam có hiện tượng điều chỉnh tăng lợi nhuận trước
kỳ phát hành thêm cổ phiếu nhằm thu hút đầu tư và tăng giá trị thị trường của
cổ phiếu Đồng thời, nếu quy mô doanh nghiệp, khả năng sinh lời càng lớn thì
sự điều chỉnh lợi nhuận càng cao Ngược lại, đòn bẩy tài chính, quy mô hộiđồng quản trị, sự thanh khoản của tài sản càng nhỏ thì sự điều chỉnh lợi nhuậncàng lớn
Nguyễn Hà Linh (2017) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành viđiều chỉnh lợi nhuận tại các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK ViệtNam dựa trên dữ liệu ban đầu bao gồm 3.195 quan sát giai đoạn từ 2010 -
2014, kết quả cho thấy có 7 biến nghiên cứu là có mối quan hệ và có ý nghĩathống kê với giá trị dồn tích có thể điều chỉnh DA Đó là các biến: quy mô hộiđồng quản trị, tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, hệ số nợ, hiệuquả tài chính, quy mô công ty, kiểm toán độc lập
Nghiên cứu của Ngô Hoàng Điệp (2018) về các nhân tố ảnh hưởng đếnhành vi quản trị lợi nhuận của người quản lý tại các công ty niêm yết trênTTCK Việt Nam, cơ sở dữ liệu được thu thập thủ công thông qua công tyVietstock đã chọn ra mẫu nghiên cứu của luận án có 416 công ty đang giaodịch trên 2 sàn giao dịch Hà Nội và Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 20102016.Kết quả thống kê mô tả biến AEM và REM cho thấy người quản lý tại cáccông ty niêm yết có thực hiện hành vi QTLN theo cả hai hình thức với hai
Trang 19hướng là tăng lợi nhuận và giảm lợi nhuận Thông qua đó luận án đã xác địnhđược các nhân tố tác động và mức độ tác động của từng nhân tố đến hành viQTLN thông qua các khoản dồn tích và QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tếphát sinh, như sau:
Đối với QTLN thông qua các khoản dồn tích: CTNY tổ chức thường
xuyên các cuộc họp HĐQT, có tỷ lệ thành viên HĐQT có chuyên môn tàichính, có sự hiện diện nhiều thành viên nữ trong HĐQT và ban kiểm soát, bankiểm soát có quy mô lớn sẽ kiểm soát tốt mức độ QTLN CTNY được kiểmtoán bởi Big 4 thì chất lượng thông tin công bố sẽ cao hơn các CTNY đượckiểm toán bởi các công ty kiểm toán ngoài Big 4 Việc thay đổi công ty kiểmtoán làm chất lượng BCTC thấp đi Việc tập trung vốn vào người quản lý sẽlàm giảm mức độ QTLN CTNY có tỷ lệ nợ vay ngắn hạn trên tổng tài sảnngắn hạn, có quy mô công ty và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản càng lớn thìmức độ QTLN càng cao Trong các nhân tố ảnh hưởng đến AEM thì nhân tốkhả năng sinh lời, nhân tố tỷ lệ nữ thuộc HĐQT, nhân tố quy mô doanh nghiệp
và nhân tố tỷ lệ nợ vay ngắn hạn có ảnh hưởng mạnh nhất
Đối với QTLN thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: Quy mô HĐQT
càng lớn, công ty niêm yết được kiểm toán bởi Big 4 thì chất lượng thông tincông bố sẽ cao hơn các công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toánngoài Big 4 Việc thay đổi công ty kiểm toán làm chất lượng BCTC thấp đi.CTNY có tỷ lệ nợ phải trả, tỷ lệ nợ vay ngắn hạn trên tổng tài sản ngắn hạn vàquy mô công ty càng lớn thì mức độ QTLN càng cao
Nghiên cứu của Ngô Nhật Phương Diễm (2019) về nhân tố tổng hợp đạidiện quản trị công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công tysản xuất niêm yết ở Việt Nam với dự kiến ban đầu là 1.115 quan sát của mẫu
223 công ty, nhưng sau khi loại bỏ các quan sát không đủ điều kiện cỡ mẫucòn lại 122 mẫu, với 290 quan sát trên năm, kết quả cho thấy: luận án đã chứng
Trang 20minh được rằng tại các công ty sản xuất niêm yết trên TTCK Việt Nam có tồntại hành vi QTLN ở cả hai hình thức: QTLN theo cơ sở dồn tích (DA) vàQTLN thông qua các hoạt động kinh tế (REM) Trong đó đối với mô hình hồiquy QTLN theo cơ sở dồn tích thì xu hướng quản trị tăng hay quản trị giảmcủa các NQL trong mẫu quan sát là tương đối như nhau, trong khi đó đối vớitrường hợp QTLN thông qua các hoạt động kinh tế hơn 90% các NQL quản trịtăng lợi nhuận (263 trường hợp), quản trị giảm lợi nhuận chỉ chiếm khoảng10%, chiếm 27 trường hợp Đối với hành vi QTLN dựa trên cơ sở dồn tích cóđiều chỉnh: Các biến nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty - (số lượngthành viên, tính độc lập, chuyên môn, số lần họp và sự không kiêm nhiệm),quy mô công ty, dòng tiền hoạt động, thu nhập bình quân trên cổ phiếu, sở hữunhà nước có mối tương quan ngược chiều với biến QTLN dồn tích có điềuchỉnh Bên cạnh đó, một số biến không có ảnh hưởng đến QTLN như kỳ vọngcủa tác giả như: biến ban kiểm soát và biến công ty kiểm toán Riêng QTLNthông qua hoạt động kinh tế REM thì kết quả hồi quy thể hiện bốn biến có mốitương quan và có ý nghĩa thống kê với QTLN thông qua các hoạt động kinh tếnhư biến nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty, quy mô công ty, dòng tiềnhoạt động, công ty kiểm toán Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của luận án cũngphát hiện 5 biến không có tác động đến REM Điển hình như biến ban kiểmsoát, đòn bẩy tài chính, thu nhập bình quân trên 1 cổ phiếu, giá trị vốn hóa thịtrường, sở hữu nhà nước.
2.3 Nhận xét về các nghiên cứu liên quan
Tóm lại, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành liênquan tới các nhân tố ảnh hưởng tới điều chỉnh lợi nhuận, có những nghiên cứutìm hiểu sự ảnh hưởng riêng lẻ của một vài nhân tố nhưng cũng có nhiềunghiên cứu đề cập tới sự ảnh hưởng của một tổ hợp, một nhóm nhiều các nhân
tố tới quản trị lợi nhuận
Trang 21Tại Việt Nam, những nghiên cứu thực chứng liên quan tới việc tìm kiếm,phát hiện các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị lợi nhuận là rất hạn chế, vì vậyluận văn kỳ vọng đem lại những đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn Mộtmặt, tác giả mong muốn có thể làm phong phú thêm nguồn cơ sở dữ liệu chotrường phái thực chứng trong kế toán về quản trị lợi nhuận Mặt khác, sự hiểubiết đầy đủ về những nhân tố có thể ảnh hưởng tích cực hoặc không tích cựctới điều chỉnh lợi nhuận sẽ giúp những người sử dụng thông tin kế toán đưa ranhững quyết định hợp lý trong bối cảnh thị trường chứng khoán (TTCK) ViệtNam mới hình thành còn nhiều bất cập.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam như: Ngô NhậtPhương Diễm (2020), Ngô Hoàng Điệp (2019), Nguyễn Hà Linh (2017 vàPhạm Thị Bích Vân (2017) chỉ dừng lại ở việc đưa ra mô hình dữ liệu bảngtĩnh Theo đó, mô hình nghiên cứu thường chấp nhận sự hiện diện của vấn đềnội sinh chưa được giải quyết Vì vậy, điểm mới ở luận văn này tác giả sửdụng mô hình bảng động tuyến tính được ước lượng bằng phương pháp GMM(Generalized Method of Moments) Các phương pháp ước lượng dữ liệu bảngnhư Fixed effect hay Random effect được sử dụng chủ yếu để ước lượng các
mô hình dữ liệu bảng tĩnh tuyến tính Với mô hình này, sự tồn tại của các vấn
đề như tự tương quan của các sai số, cũng như tính chất động của các mô hìnhđược thể hiện qua các biến trễ phụ thuộc (vấn đề biến nội sinh) sẽ làm thiênchệch kết quả ước lượng Mô hình dữ liệu bảng tồn tại các vấn đề này gọi là
mô hình bảng động tuyến tính
Một cách tổng quan, GMM là phương pháp tổng quát của rất nhiềuphương pháp ước lượng phổ biến như OLS, MLE, FE, RE, GLS, IV,2SLS Ngay cả trong điều kiện giả thiết nội sinh bị vi phạm, phương phápGMM cho ra các hệ số ước lượng vững, không chệch và hiệu quả Có thể nóiOLS hay Maximum Likelihood chỉ đơn thuần là dạng phương trình đặc biệt
Trang 22của GMM vì GMM thực hiện với rất ít giả định và nhiều nhà nghiên cứu chorằng GMM là ánh sáng trong đường hầm đối với các nhà nghiên cứu tài chínhthực nghiệm.
3 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêm yếttrên thị trường chứng khoán Việt Nam
Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trênBCTC tại các công ty niêm yết trên trên thị trường chứng khoán Việt NamXây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa các nhân
tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên BCTC tại các công ty niêmyết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trong khoa học kếtoán thực chứng Luận văn đi từ những quan sát về thực tế kế toán, thu thậpthông tin, số liệu được cung cấp từ dữ liệu của Trung tâm nghiên cứu Kinh tế
và Tài Chính trường đại học Kinh tế Luật thuộc đại học Quốc Gia thành phố
Hồ Chí Minh, từ BCTC đã được kiểm toán của các công ty niêm yết trên thịtrường Chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 - 2019 để kiểm chứng các giả
Trang 23thuyết liên quan tới sự ảnh hưởng của các nhân tố tới quản trị lợi nhuận Cácphương trình hồi quy được xây dựng và thông qua phần mềm thống kêSTATA, dữ liệu sẽ được kiểm chứng với mô hình hồi quy bảng động tuyếntính được ước lượng bằng phương pháp GMM Kết quả thu được sẽ phục vụviệc đánh giá các giả thuyết mà luận văn đặt ra.
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Nghiên cứu về quản trị lợi nhuận là chủ đề còn mới ở Việt Nam bởi vì thịtrường chứng khoán Việt Nam là thị trường mới nổi nên hành lang luật pháp,chính sách vĩ mô của nhà nước đến cả pháp luật về kế toán, kiểm toán chưachặt chẽ Do đó, có ít nghiên cứu về chủ đề này ở thị trường chứng khoán ViệtNam, nội dung đề tài đã đóng góp vào cơ sở lý thuyết nghiên cứu về quản trịlợi nhuận trên thế giới nói chung, thông qua nghiên cứu trong bối cảnh thịtrường chứng khoán mới nổi ở Việt Nam
Đóng góp các hàm ý chính sách xây dựng khuôn khổ quản trị công tyhiệu quả nhằm hạn chế hành vi QTLN Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấytồn tại hành động quản trị lợi nhuận ở các công ty niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam Đây là tài liệu tham khảo để các bên liên quan (nhàđầu tư, cổ đông, chủ nợ, nhà cung cấp ) đưa ra các quyết định đầu tư với mức
độ thận trọng và chấp nhận rủi ro khi số liệu về lợi nhuận được cung cấp trongbáo cáo tài chính chưa trung thực Mặt khác, kết quả nghiên cứu cũng cung cấpthông tin cho các cơ quan quản lý nhà nước để nhìn nhận, đánh giá thực trạng
về chất lượng của chỉ tiêu lợi nhuận của các công ty Từ đó, đưa ra các chínhsách quản lý vĩ mô thích hợp nhằm tăng cường chất lượng chỉ tiêu lợi nhuậncủa các công ty đại chúng nói chung và các công ty niêm yết nói riêng
Nghiên cứu này đã xây dựng và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đếnhành động quản trị lợi nhuận như: quy mô doanh nghiệp; đòn bẩy tài chính(Nợ phải trả/tài sản); khả năng sinh lời; tỷ lệ tăng trưởng doanh thu; quy mô
Trang 24hội đồng quản trị, quy mô công ty kiểm toán Kết quả nghiên cứu của đề tài là
cơ sở cho các nhà nghiên cứu tham khảo khi thực hiện nghiên cứu chủ đềtương tự, là tài liệu tham khảo cung cấp thông tin cho kiểm toán viên phải giữthái độ hoài nghi để lập kế hoạch kiểm toán hiệu quả khi thực hiện kiểm toánbáo cáo tài chính của các công ty niêm yết
Đồng thời với việc sử dụng mô hình dữ liệu bảng động theo phương phápGMM mở ra hướng nghiên cứu với phương pháp mới trong lĩnh vực kế toánthực chứng tại Việt Nam
7 Kết cấu của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận và hành vi QTLN Chương này
trình bày các khái niệm về QTLN, phân loại hành vi QTLN Đồng thời trìnhbày các lý thuyết nền tảng cơ bản làm cơ sở biện luận cho các kết quả trongnghiên cứu, trình bày các cơ sở lý thuyết của các yếu tố ảnh hưởng đến hành viQTLN
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu, chương này đề cập đến quy trình
thực hiện phương pháp nghiên cứu định lượng, mô hình nghiên cứu dự kiến vàluận văn cũng đề cập đến đo lường biến phụ thuộc và các biến độc lập
Chương 3: Kết quả nghiên cứu, chương này đề cập các kết quả thu thập
được trong giai đoạn nghiên cứu định lượng Từ đó luận văn cũng bàn luận kếtquả nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý - Chính sách Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở chương
3, chương này trình bày kết quả đạt được của nghiên cứu và hàm ý các chínhsách liên quan
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỢI NHUẬN VÀ HÀNH VI QUẢN
TRỊ LỢI NHUẬN
• • •
Trang 251.1 Lợi nhuận
Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thunhập khác và chi phí Doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận là các chỉtiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
Mục tiêu cuối cùng và quan trọng của một công ty theo lý thuyết là đạt tối
đa lợi nhuận Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận:
Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson và cộng sự (1958) định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đãchi” hoặc cụ thể hơn là “lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệchgiữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”
- Theo VAS 17 thì: “lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ,trước khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định củachuẩn mực kế toán và chế độ kế toán” Lợi nhuận đối với kế toán tài chínhthường được công bố rộng rãi ra bên ngoài, đặc biệt là đối với công ty cổ phầnniêm yết, các công bố này là tài liệu nghiên cứu cho cơ quan thuế, nhà đầu tư
và một số ngân hàng thương mại Lợi nhuận đối với kế toán quản trị chủ yếuphục vụ cho ban lãnh đạo, hội đồng quản trị và nội bộ doanh nghiệp
- Từ các quan điểm trên, theo góc độ của nhà quản trị tài chính doanhnghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệchgiữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ cáchoạt động đưa lại, là kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh
và là chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanhnghiệp
Tóm lại, theo đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi quản trị lợinhuận (cụ thể là của nhà quản trị) trên BCTC tại các công ty niêm yết trên thịtrường chứng khoán Việt Nam, vì thế, đề tài hướng đến nghiên cứu lợi nhuận
Trang 26thuộc phạm vi kế toán tài chính, nghĩa là lợi nhuận của công ty đã được kiểmtoán và công bố rộng rãi trên trang mạng thông tin đại chúng Vì có như vậy,
đề tài mới có căn cứ để xác định có hay không hành vi điều chỉnh lợi nhuậncủa nhà quản trị
1.2 Hành vi quản trị lợi nhuận
Davidson và các cộng sự (1987) định nghĩa, quản trị lợi nhuận là quytrình bao gồm các bước có cân nhắc kỹ lưỡng trong khuôn khổ của các nguyêntắc kế toán chung được chấp nhận, nhằm mang lại mức lợi nhuận mong muốn.Theo Schipper (1989) cho rằng, quản trị lợi nhuận là sự can thiệp có tính toán
kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được nhữngmục đích cá nhân
Theo Levitt (1998) thì điều chỉnh lợi nhuận là hành động nhằm làm chobáo cáo tài chính phản ánh mong muốn của nhà quản trị chứ không phải làhoạt động tài chính cơ bản của công ty
Tương đồng với các quan điểm trên, Parfet (2000) cũng cho rằng điềuchỉnh lợi nhuận được thực hiện nhằm che giấu hoạt động tài chính thực bằngcách tạo ra các nghiệp vụ kế toán không có thực hoặc làm các dự toán khônghợp lý
Tuy nhiên, ngược lại những quan điểm trên, Beneish (2001) lại cho rằngmục đích điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý là nhằm công bố thông tin vớichất lượng tốt hơn đến người sử dụng, giúp các nhà đầu tư khám phá ra các
Trang 27mong đợi của họ về các dòng tiền mà doanh nghiệp sẽ mang đến trong tươnglai.
Ngoài ra, tùy thuộc vào mục tiêu công bố thông tin, Ronen và Yaari(2008) đã phân loại khái niệm về hành vi điều chỉnh lợi nhuận thành ba nhómnhư sau:
- Nhóm điều chỉnh lợi nhuận trắng (White Earnings Management): cácnhà quản lý dựa trên lợi thế về quyền lực để lựa chọn các chính sách kế toánmột cách linh hoạt nhằm thông báo tín hiệu cá nhân của họ về dòng tiền củadoanh nghiệp trong tương lai Đây được xem là nhóm có lợi và gia tăng chấtlượng báo cáo tài chính
- Nhóm điều chỉnh lợi nhuận xám (Grey Earnings Management): Các nhàquản lý lựa chọn các chính sách kế toán trong và ngoài giới hạn cho phépnhằm làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp hoặc vì lợi ích của họ
- Nhóm điều chỉnh lợi nhuận đen (Black Earnings Management): là hành
vi sử dụng các thủ thuật của quản lý để làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạchcủa báo cáo tài chính
Trên quan điểm của tác giả, “Quản trị lợi nhuận” là hành vi có thể đượcthực hiện trong hoặc ngoài phạm vi cho phép của các quy định, chuẩn mực,chế độ kế toán nhằm giúp nhà quản trị đạt được các mục tiêu về lợi nhuậnthông qua các công cụ, phương pháp kế toán
Tuy có sự đa dạng trong cách nhìn nhận về “quản trị lợi nhuận”, nhưng vềnguyên tắc, việc nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận trong phạm vi cácnguyên tắc kế toán, vận dụng linh hoạt các chính sách kế toán hay ước tính kếtoán là hoàn toàn hợp pháp Tuy nhiên, nhiều khi việc quản trị này đi quá giớihạn và làm thông tin bị bóp méo
1.2.2 Thủ thuật quản trị lợi nhuận lợi nhuận
Trang 281.2.2.1 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn phương pháp kế toán
doanhnghiệp ghi nhận doanh thu, giá vốn theo tiến độ hoàn thành thì phương pháp
thông qua các ước tính mức độ hoàn thành công việc
Lựa chọn phương pháp khấu hao tài sản cố định: Lựa chọn phương phápkhấu hao sẽ cho phép dịch chuyển lợi nhuận giữa các niên độ
Lựa chọn chính sách về ghi nhận chi phí sửa chữa tài sản cố định: Doanhnghiệp có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc lựa chọn chính sách về ghinhận chi phí sửa chữa tài sản cố định Ngoài ra, doanh nghiệp có thể ước tính
doanh trong kỳ tại thời điểm chưa phát sinh chi phí và mức trích này sẽ giatăng chi phí từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ
Lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp xácđịnh giá trị hàng xuất kho: Doanh nghiệp có thể lựa chọn các phương phápđánh giá sản phẩm dở dang khác nhau từ đó ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán
và lợi nhuận trong kỳ
Lựa chọn phương pháp kế toán chi phí lãi vay: Đối với khoản chi phí lãivay tùy trường hợp có thể được vốn hóa vào nguyên giá TSCĐ hoặc ghi nhậnnhư là chi phí phát sinh Việc phân biệt này ảnh hưởng đến lợi nhuận kế toán,
do đó trong trường hợp này doanh nghiệp có thể lợi dụng kế toán chi phí lãivay để điều chỉnh lợi nhuận
1.2.2.2 Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn thời điểm vận dụng các • •
phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán
Ước tính kế toán một lần được áp dụng một lần khi nghiệp vụ phát sinh:Ước tính thời gian khấu hao TSCĐ, ước tính số lần phân bổ hay mức phân bổ
Trang 29của chi phí trả trước, ước tính chi phí bảo hành công trình xây lắp
Ước tính kế toán mỗi kỳ được thực hiện vào cuối mỗi kỳ kế toán: Ướctính chi phí bảo hành sản phẩm, ước tính tỷ lệ hoàn thành công trình xây lắp vàcung cấp dịch vụ, ước tính giá trị sản phẩm dở dang, ước tính khoản phải thukhó đòi để lập dự phòng, ước tính khoản giá trị hàng tồn kho bị giảm giá để lập
Quyết định về việc thực hiện các khoản chi phí nghiên cứu và triển khai:Doanh nghiệp có thể cắt giảm các chi phí này hoặc quyết định thời điểm ghinhận để tăng lợi nhuận hoặc ngược lại
Quyết định về các khoản đầu tư: Doanh nghiệp có thể bán các khoản đầu
tư đang sinh lời hoặc thực hiện nghiệp vụ mua bán cổ phần để biến các doanhnghiệp khác trở thành công ty con, công ty liên doanh, liên kết từ đó thay đổilợi nhuận
Phần lớn các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào việc nhận diện bacách thức quản trị lợi nhuận thực tế sau (1) cắt giảm chi phí tùy ý(discretionary expenses reduction) như chi phí R&D hay chi phí bán hàng,quản lý doanh nghiệp; (2) thực hiện sản xuất thái quá (overproduction); hoặc(3) thúc đẩy doanh thu bằng cách cung cấp các khoản chiết khấu hoặc nới lỏng
Trang 30thời hạn thanh toán (boost sales through negative discount offers or morelenient credit terms) (Roychowdhury, 2006) Graham và cộng sự (2005) thựchiện khảo sát 401 giám đốc tài chính (CFOs) và cho thấy một con số kinh ngạc
là 78% trong số họ thừa nhận rằng “họ sẽ từ bỏ một phần giá trị kinh tế củadoanh nghiệp để đạt được mục tiêu lợi nhuận mong muốn miễn là giá trị hysinh không quá lớn”
Các nghiên cứu ban đầu về REM tập trung vào việc NQL cắt giảm chi phíR&D để tăng lợi nhuận trong kỳ Dechow và Sloan (1991) tiến hành thựcnghiệm và chỉ ra rằng các tổng giám đốc cắt giảm chi phí R&D vào nhữngnăm cuối họ ở công ty để tăng lợi nhuận trong ngắn hạn Việc cắt giảm này sẽ
bị hạn chế nếu họ sở hữu cổ phiếu của công ty Nghiên cứu của Baber và cộng
sự (1991); Bushee (1998) cho thấy các công ty Mỹ sẳn sàng cắt giảm chi phínghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp để đạt được ngưỡng lợi nhuậnmong muốn Các nghiên cứu sau này của Roychowdhury (2006) và Gunny(2010) cũng cho ra kết quả tương tự
Cách thức phổ biến thứ hai để thực hiện REM là tiến hành sản xuất mộtcách thái quá (overproduction) Bằng cách này, giá vốn mỗi đơn vị hàng bán sẽgiảm xuống bởi vì chi phí sản xuất cố định sẽ được phân bổ cho nhiều đơn vịhơn Miễn là chi phí lưu kho hàng hóa trong kỳ không lớn hơn phần chi phí giávốn được cắt giảm, lợi nhuận kế toán sẽ tăng lên (Gunny, 2005) Nghiên cứucủa Thomas và Zhang (2002) cho thấy các doanh nghiệp tăng mức hàng tồnkho sẽ có mức lợi nhuận cao hơn trong năm và sẽ giảm đột ngột vào nhữngnăm sau đó Tuy nhiên, nghiên cứu không loại bỏ được ảnh hưởng của điềukiện kinh tế suy thoái, là một trong những nguyên nhân giải thích hiện tượngtrên Nghiên cứu khác của Roychowdhury (2006) chỉ ra việc các doanh nghiệp
áp dụng sản xuất một cách thái quá như một cách thức để tránh lỗ
Điều chỉnh doanh thu bằng các chính sách giảm giá hoặc cung cấp tín
Trang 31dụng cũng được thực nghiệm bởi các nghiên cứu liên quan đến REM Cácchính sách này sẽ tạo ra phần tăng doanh thu không bền vững cho doanhnghiệp trong năm nay nhưng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trongnhững năm sau đó Burgstahler và Dichev (1997) nhận thấy dấu hiệu của hành
vi này qua việc giảm đột ngột của dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh.Nghiên cứu của Gunny (2010) cho thấy các doanh nghiệp thực hiện điều chỉnhdoanh thu để đạt được ngưỡng lợi nhuận mong muốn hoặc tránh bị lỗ trong kỳ.Một số cách thức khác được sử dụng để quản trị lợi nhuận thực tế nhưđiều chỉnh thời gian thực hiện bán tài sản cố định, thông qua các hợp đồngquyền chọn, mua lại cổ phiếu hay cấu trúc các hợp đồng thuê cũng được thựcnghiệm trong các nghiên cứu liên quan (Sellami, 2015)
Mặc dù thuật ngữ “quản trị lợi nhuận thực tế” đã được chấp nhận và sửdụng một cách rộng rãi nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một cách đolường chuẩn nào được công nhận để nhận diện hành vi này Các nghiên cứuchủ yếu áp dụng một trong hai mô hình được đề xuất trong nghiên cứu củaGunny (2005) và Roychowdhury (2006)
Cách tiếp cận để nhận diện hành vi QTLN nói chung và REM nói riêng làthông qua các mô hình ước tính (estimation models) Các mô hình ước tính làcác mô hình hồi quy được xây dựng để đo lường mức thông thường (“normal”level) trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Jr, 2014).Phần còn lại của các phép hồi quy trên (regression residual) sẽ được xem là
“bất thường” (abnormal) và là các biến đại diện cho REM Nói cách khác,chênh lệch giữa giá trị quan sát và giá trị ước tính sẽ phản ánh mức độ thựchiện hành vi REM của NQL
1.2.3 Động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận
Hành vi quản trị lợi nhuận không phải là hoạt động không có tính rủi ro.Những rủi ro của các giám đốc là ảnh hưởng xấu đến danh tiếng của họ và
Trang 32thậm chí có thể liên quan đến vấn đề pháp lý Do đó, các nhà quản trị chỉ thựchiện hành vi quản trị lợi nhuận khi lợi ích mang lại sẽ cao hơn những rủi ro vàcác chi phí có liên quan Theo Verbruggen và cộng sự (2008), có 5 động cơcho hành vi quản trị lợi nhuận: thị trường chứng khoán, tiết lộ/che giấu cácthông tin, động cơ về pháp lý, tạo hình ảnh tốt của giám đốc điều hành, vànhững động cơ bên trong.
1.2.3.1 Động cơ về thị trường chứng khoán
Đầu tư chứng khoán là một hoạt động chứa đựng rủi ro do đó các nhà đầu
tư thường phụ thuộc vào quan điểm và dự báo của các chuyên viên phân tíchchứng khoán Vì vậy, việc đón đầu các dự đoán của các chuyên viên phân tích
để công bố các thông tin về doanh nghiệp theo như dự đoán của các chuyênviên này là lý do thúc đẩy doanh nghiệp và các nhà quản lý sử dụng điều chỉnhthu nhập nhằm gia tăng các lợi ích mang lại từ việc cổ phiếu lên giá
Việc đón đầu các dự đoán từ các chuyên viên phân tích cũng quan trọngtrên góc độ gia tăng giá trị thị trường của công ty niêm yết hoặc làm gia tăngthu nhập cho các nhà quản lý do việc điều hành công ty đáp ứng được các yêucầu trong kế hoạch đã đặt ra nhất là trường hợp các nhà quản lý có nắm giữ các
cổ phiếu của công ty
Động cơ tối đa hóa lợi ích mang lại từ cổ phiếu được thực hiện trong cáctrường hợp phổ biến như sau:
- Sử dụng điều chỉnh thu nhập theo hướng để giảm các khoản lỗ nhỏ hoặctránh cho các trường hợp sút giảm về thu nhập so với năm trước, so với kếhoạch
- Liên quan đến thu nhập của nhà quản lý phụ thuộc vào kết quả kinhdoanh, giá trị thị trường của công ty hoặc việc nắm giữ cổ phiếu của các nhàquản lý
- Liên quan đến các giao dịch nội bộ
Trang 33- Trong trường hợp phát hành cổ phiếu
Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy rằng hành vi quản trị lợi nhuậnđược thực hiện trong một số tình huống trong thị trường chứng khoán Cụ thể,chẳng hạn như khi bán cổ phiếu ra công chúng (DuCharme và cộng sự, 2001),
và khi phát hành thêm cổ phiếu (Shivakumar, 2000) Ngược lại với hành viphát hành cổ phiếu, thì hành vi mua lại cổ phiếu cũng là cách để quản trị lợinhuận Vafeas và cộng sự (2003) tìm thấy bằng chứng cho rằng các nhà quản
lý làm cho lợi nhuận giảm thông qua các khoản trích trước trước khi mua lại cổphiếu Bens và cộng sự (2003), cho rằng giám đốc điều hành của công ty sửdụng mua lại cổ phiếu như một công cụ quản trị lợi nhuận khi lợi nhuận dướimức cần thiết để đạt được sự tăng trưởng mong muốn trên mỗi cổ phiếu
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Nguyễn Đình Tuấn và Trần Thị BíchDuyên (2020); Phạm Thị Bích Vân (2017) cung cấp bằng chứng cho thấy phầnlớn các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam điềuchỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát hành thêm cổ phiếu
1.2.3.2 Động cơ về tiết lộ/che giấu các thông tin
Điều chỉnh thu nhập đồng nghĩa với việc điều chỉnh các thông tin tàichính để đạt được các mục tiêu Rất khó để các công ty và và nhà quản lýthông tin đến các đối tượng của mình một cách trực tiếp Do đó, họ có thểdùng điều chỉnh thu nhập như là một tín hiệu để thông báo đến các đối tượngnày chủ ý của họ Bên cạnh đó việc che dấu thông tin liên quan đến lợi ích cánhân, che dấu các điểm yếu, các khoản thua lỗ cũng là các động cơ khiến chocác công ty, nhà quản lý sử dụng điều chỉnh thu nhập
Trong nghiên cứu của Rosner (2003) đã cho thấy sự tồn tại của quản trịlợi nhuận có thể chỉ đơn giản là che giấu thông tin Đôi khi thật sự khó khăncho các doanh nghiệp để đưa ra những mục tiêu trong hoạt động kế toán củamình để tham gia thị trường
Trang 341.2.3.3 Động cơ về pháp lý
Các công ty có tầm ảnh hưởng thị trường hoặc các công ty trực tiếp bịđiều chỉnh bởi một luật định thường sử dụng điều chỉnh thu nhập nhằm tạo racác ảnh hưởng đến chính sách hoặc đối phó lại các chính sách Ví dụ, khi chínhphủ dự tính các điều chỉnh giảm về thuế suất các công ty thường điều chỉnh thunhập để cho thấy sự khó khăn của doanh nghiệp để mức thuế mới sẽ điều chỉnhgiảm nhiều hơn dự tính Hoặc đối với các điều kiện niêm yết, phát hành thêmchứng khoán cũng dẫn đến việc các công ty sẽ sử dụng điều chỉnh thu nhập
để đáp ứng các tiêu chuẩn này
Các nghiên cứu chỉ ra rằng các quy định về pháp lý cũng là động cơ làmxuất hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận Haw và cộng sự (2005) đã nghiên cứuquản trị lợi nhuận ngày càng tăng ở Trung Quốc như là một phản ứng với quyđịnh của chính phủ yêu cầu tối thiểu là 10% lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu chocác công ty muốn phát hành trái phiếu hay chào bán cổ phiếu Johnston vàRock (2005) đã nghiên cứu hành vi quản trị làm giảm lợi nhuận ở các doanhnghiệp bị đe dọa bởi các luật Superfund
Như là quy định các ngân hàng phải có một khoản tồn quỹ nhất định, haycác công ty bảo hiểm phải có một tình hình tài chính tốt, hay các doanh nghiệpcung cấp các mặt hàng thiết bị thì phải đạt một số chỉ tiêu về tỷsuất sinh lờinhất định (Nguyễn Trí Tri, 2012) Với quy định khắt khe đó có thể dẫn tới cácdoanh nghiệp trong ngành này khi gặp khó khăn, họ có thể sẽ thao tác để đápứng quy định Tương tự, Nguyễn Thị Minh Trang (2012) cũng cho thấy cácdoanh nghiệp không niêm yết tại Việt Nam có xu hướng điều chỉnh giảm lợinhuận để tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2.3.4 Động cơ về tạo hình ảnh tốt của giám đốc điều hành
Một giám đốc điều hành mới sẽ có khuynh hướng làm cho thu nhập năm
họ tiếp quản giảm so với những năm liền kề sau đó để chứng tỏ khả năng điều
Trang 35hành của mình Bên cạnh đó việc các giám đốc điều hành trước khi nghỉ cũng
có thể sử dụng điều chỉnh thu nhập nhằm đạt được những lợi ích từ các cổphiếu nắm giữ hoặc có được vị trí trong Hội đồng quản trị Hoặc là một nhàquản trị của một công ty đang làm ăn thua lỗ sẽ cố gắng điều chỉnh theo xuhướng tăng lợi nhuận để tránh bị sa thải
Có 2 bài nghiên cứu đưa ra bằng chứng về hành vi quản trị lợi nhuận: khi
có sự thay đổi của giám đốc điều hành (Godfrey và cộng sự, 2003) và khi cácgiám đốc điều hành về nghỉ hưu (Reitenga và cộng sự, 2002)
1.2.3.5 Những động cơ bên trong
Trong một công ty, quản trị lợi nhuận giúp thay đổi báo cáo tài chính,hoặc để cấu trúc lại các giao dịch nhằm tránh được những giới hạn tạo ra bởicác dự toán hoặc để đáp ứng được các chỉ tiêu đánh giá thành quả thực hiện.Động cơ này có thể xuất phát từ phía nhà quản lý cấp cao để đối phó với các cổđông bên ngoài nhưng chủ yếu sẽ rơi vào trường hợp các nhà quản lý cấp trung
để tạo ra hiệu quả quản lý như mong đợi từ các cấp trên, để thăng tiến hoặc đạtđược các mục tiêu kế hoạch đã đề ra
1.2.4 Các mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận
Cơ sở của hành vi quản trị lợi nhuận là kế toán theo cơ sở dồn tích Kếtoán cơ sở dồn tích là một trong các nguyên tắc kế toán cơ bản nhất chi phốicác phương pháp kế toán cụ thể trong kế toán doanh nghiệp
Nếu lợi nhuận được xác định theo cơ sở tiền, lợi nhuận và dòng tiền từhoạt động kinh doanh trong một kỳ sẽ bằng nhau Tuy nhiên, kế toán theo cơ
sở tiền hiện nay được sử dụng để lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Từ đó, lợinhuận trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền trìnhbày trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ có một độ vênh Các nhà nghiên cứu kếtoán gọi độ vênh đó là tổng biến kế toán dồn tích (Total accruals-TA) và đượctính bằng công thức:
Trang 36Tổng biến kế toán dồn tích kỳ t Lợi nhuận sau thuế Lưu chuyển tiền thuần từ
Suy ra:
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh được lập trên cơ sở tiềnnên không thể điều chỉnh được, muốn quản trị lợi nhuận thì nhà quản lý phảiđiều chỉnh tổng biến kế toán dồn tích (TA) Trong tổng biến kế toán dồn tíchlại gồm biến kế toán dồn tích không điều chỉnh (Nondiscretionary accruals -NDA) và dồn tích có điều chỉnh (Discrectionary accruals -DA) Biến NDAphản ánh điều kiện kinh doanh cụ thể của từng đơn vị do đó không bị điềuchỉnh bởi nhà quản lý, ví dụ như độ dài của chu kì kinh doanh, chu kì sống củasản phẩm Ngược lại, đối với biến DA thì nhà quản lý có thể điều chỉnh thôngqua việc lựa chọn chính sách kế toán hay tác động vào nghiệp vụ kinh tế phátsinh
Các nhà nghiên cứu cho rằng biến DA đại diện cho hành vi điều chỉnh lợinhuận nhưng các nhà nghiên cứu không thể quan sát một cách trực tiếp Vìvậy, các nhà nghiên cứu phải thông qua hai cách: một là xem xét sự lựa chọnchính sách kế toán và hai là tính toán biến NDA
1.2.4.1 Mô hình của Jones (1991)
Theo Jones (1991), phần NDA phụ thuộc vào doanh thu, quy mô của tàisản cố định (nguyên giá) Vì vậy Jones (1991) sử dụng mức biến động vềdoanh thu thuần và nguyên giá tài sản cố định để dự đoán phần NDA Mô hìnhtrình bày như sau:
Phần biến kế toán không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện đượcxác định theo phương trình sau:
Trang 37- = a i - + a 2 - + a 3 - + £ it
Trong đó:
AREV: Doanh thu thuần kỳ t - Doanh thu thuần kỳ t-1
PPEt: Nguyên giá TSCĐ hữu hình
Ait-1: Tổng tài sản cuối kỳ t-1
Các tham số a1, a2, a3 ở mô hình trên được tính bằng ước lượng OLS củaa1, a2, a3 trong mô hình sau:
- = a i - + a 2 - + a 3 - + £ it
1.2.4.2 Các cải tiến từ mô hình của Jones (1991)
Mô hình của Dechow và cộng sự (1995)
Dechow và cộng sự (1995) đã cải tiến mô hình của Jones (i99i) bằng cáchđiều chỉnh sự thay đổi của doanh thu bằng sự thay đổi của tài khoản nợ phảithu Mô hình được phát triển nhằm giảm sự sai số của mô hình trong việc xácđịnh biến dồn tích bất thường khi nhà quản lý chi phối doanh thu Mô hìnhJones (i99i) được cải tiến như sau:
Phần biến kế toán không thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiện đượcxác định theo phương trình sau:
- = a i - + a 2 - + a 3 - + £ it
Trong đó: ARECit = Phải thu khách hàng cuối kỳ t - Phải thu khách hàngcuối kỳ t -1; Các tham số a1, a2, a3 ở mô hình trên được tính bằng ước lượngOLS của a1, a2, a3 trong mô hình sau:
- = a i - + a 2 - + a 3 - + £ it
Trang 38A it-1 A it-1 A it-1 A it-1
Suy ra phần biến kế toán có thể điều chỉnh của công ty i năm sự kiệnđược xác định theo phương trình sau:
A it-i A it-i A it-i
Dechow và cộng sự (1995) đã chỉ ra rằng mô hình modified Jones đã pháthiện ra hành vi quản trị lợi nhuận tốt hơn so với mô hình Jones (i99i) và các
mô hình trước đây như mô hình của DeAngelo (i986); Healy (i985) Nhiềunghiên cứu đã kết luận rằng hai mô hình Jones và Modified Jones đã cho kếtquả đáng tin cậy về biến dồn tích có thể điều chỉnh (Guay và cộng sự, i996)
Mô hình của Kothari và cộng sự (2005)
Kothari và cộng sự (2005) đã tiếp tục phát triển mô hình của Dechow vàcộng sự (1995); Jones (i99i) trên cơ sở xem xét biến về kết quả hoạt động Mụcđích của tác giả là nghiên cứu mối quan hệ tuyến tính giữa biến dồn tích và kếtquả hoạt động Mô hình tuyến tính có xem xét kết quả hoạt động của Kothari
Trang 39Trong đó: ROAt-1: Tỷsuất lợi nhuận trên tài sản của kỳ t-1
1.2.4.3 Mô hình của Roychowdhury (2006)
Dựa vào nghiên cứu về quan hệ giữa lợi nhuận và dòng tiền của Dechow
và cộng sự (1998), nghiên cứu của Roychowdhury (2006) đã xây dựng môhình nhận diện ba hành vi REM phổ biến thông qua các mô hình ước tính vềdòng tiền hoạt động, chi phí sản xuất và chi phí tùy ý
- = a o +a i - + P i - + P 2 - + S it
Trong đó, CFOit là dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinhcủa doanh nghiệp i năm t, ASalesit là chênh lệch doanh thu của doanh nghiệp Igiữa năm t và năm t-1
Trang 40- = a o + a i - + P i - +P 2 - + P 3
-A it-1 A it-1 A it-1 A it-1 A it-1
Trong đó, PRODit là chi phí sản xuất phát sinh trong năm doanh nghiệp inăm t; COGSit là giá vốn hàng bán trong kỳ doanh nghiệp i năm t; INVit làbiến động giá trị hàng tồn kho của doanh nghiệp i năm t (Roychowdhury,2oo6)
-= a o +a i - + p - + £ it
-= a o +a i - + p - + £ it
Trong đó, DISEXPit là chi phí tùy ý (bao gồm chi phí nghiên cứu và pháttriển và chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp) của doanh nghiệp i phát sinhtrong năm t
Ait-1 là tổng tài sản năm của doanh nghiệp i năm t-i; Salesit-i là doanhthu phát sinh trong năm doanh nghiệp i năm t-i (Roychowdhury, 2oo6)
Sau khi tính toán các hệ số của mô hình này, phần giá trị sai số ngẫunhiên (chênh lệch giữa giá trị quan sát và giá trị ước tính trung bình thu được
+ S it