Trên quan điểm đó,tác già đề nghị tổ chức lại bộ máy kế toán quản trị hợp lý và đưa ra những nộidung cơ bản của kế toán quản trị cần thực hiện cùng như đưa ra một số biệnpháp hỗ trợ về n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài “Hoàn thiện kế toán quản trị tạiCông ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương” là do tôi nghiên cứuthực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Văn Thị Thái Thu Cácthông tin trong luận văn là những thông tin thu thập thực tế tại đơn vị Luậnvăn này chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Bình Định, ngày tháng năm 2020
TI < _ _ • ? 1 W
Tác giả luận văn
Võ Lý Nguyên Bảo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS VănThị Thái Thu, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốtquá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này, cũng như đã giúp đỡ tôi hoànthiện kiến thức chuyên môn của bản thân
Tôi xin trân trọng cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, Khoa đàotạo sau đại học và toàn thể các Quý Thầy, Cô đã tham gia giảng dạy tạiTrường Đại học Quy Nhơn đã truyền đạt những kiến thức trân quý cho tôitrong thời gian tham gia khóa học tại Trường Đại học Quy Nhơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Bình Định, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Võ Lý Nguyên Bảo
Trang 4MỤC LỤC
• •
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 6
7 Bố cục của đề tài 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 7
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị 7
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị 7
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị 9
1.1.3 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị
10 1.1.4 Phân biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
26 1.2 Nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp
28 1.2.1 Kế toán quản trị chi phí
28 1.2.2 Hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh
30 1.2.3 Hệ thống đánh giá thành quả trong doanh nghiệp
31 1.2.4 Hệ thống hỗ trợ cho việc ra quyết định
32 1.3 Đặc điểm hoạt động doanh nghiệp thương mại ảnh hưởng đến kế toán quản trị 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ HOÀNG CHƯƠNG 37
2.1 Giới thiệu chung về Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ HoàngChương 372.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần thươngmại và dịch vụ Hoàng Chương 382.1.2 Tình hình hoạt động của Công ty trong những năm gần đây 392.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý Công ty 412.1.4 Tổ chức công tác kế toán và bộ máy kế toán tại Công ty 432.2 Thực trạng kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụHoàng Chương 492.2.1 Thực trạng kế toán quản trị các yếu tố sản xuất kinh doanh 492.2.2 Thực trạng kế toán quản trị về chi phí và giá thành sản phẩm 522.2.3 Thực trạng kế toán quản trị về doanh thu và kết quả kinh doanh.56
2.2.4 Nhận xét hệ thống kế toán và kế toán quản trị của Công ty 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ HOÀNG CHƯƠNG 70
3.1 Quan điểm hoàn thiện 703.1.1 Hoàn thiện những nội dung đã thực hiện 703.1.2 Quan điểm về xây dựng mới 703.2 Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị tại công ty cổ phần thương mạivà
dịch vụ Hoàng chương 703.2.1 Nội dung cần hoàn thiện 703.2.2 Về việc xây dựng những nội dung chưa có trong hệ thống kế toánquản trị tại công ty 72
Trang 63.2.3 Sử dụng phương pháp kế toán để thực hiện nội dung kế toán quản
trị tại Công ty 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 88
KẾT LUẬN CHUNG 89
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
• • 7
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Năm 2019 40
Bảng 2.2: Bảng Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Năm 2019 56
Bảng 2.3: Bảng tính biến phí năm 2009 57
Bảng 2.4: Bảng tính định phí năm 2009 57
Bảng 2.5: Báo Cáo Kết Quả Kinh Doanh Năm 2019 58
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
•
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng trong kế toán quản trị 10
Sơ đồ 1.2: Phân loại chi phí 11
Sơ đồ 1.3: Phương pháp chi phí thực tế kết hợp với ước tính 15
Sơ đồ 1.4: Mô hình thông tin từ trên xuống 19
Sơ đồ 1.5: Mô hình thông tin từ dưới lên 20
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 41
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán 46
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ trách nhiệm 62
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán quản trị tại Công ty CP Hoàng Chương 81
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiệnnay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có hệ thống thông tinđầy đủ, kịp thời, chính xác phục vụ cho việc điều hành, quản lý và ra các quyếtđịnh sản xuất kinh doanh
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế tàichính của một đơn vị, một tổ chức ngày càng giữ vai trò tích cực trong việcquản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế của đơn vị và có ý nghĩaquan trọng cho mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin tuỳ theo mục đíchkhác nhau
Kế toán quản trị mới được phát triển trong giai đoạn gần đây nhưng đãthực sự trở thành một công cụ khoa học giúp nhà quản trị trong công tác quản
lý, điều hành hoạt động kinh doanh của đơn vị
Ở Việt Nam, kế toán quản trị còn khá mới mẻ, các doanh nghiệp mới chỉ
có hệ thống kế toán tài chính hoàn chỉnh, còn hệ thống kế toán quản trị phục
vụ cho công tác quản lý và ra quyết định hầu như chưa có Đồng thời, việctriển khai ứng dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vào hoạt độngquản lý chưa được quan tâm đúng mức Hơn nữa, về mặt luật pháp, Nhà nước
ta mới chỉ ban hành những văn bản pháp quy, chế độ hướng dẫn về hệ thống
kế toán tài chính áp dụng bắt buộc cho các doanh nghiệp, còn kế toán quản trịmới chỉ được đề cập và vận dụng không bắt buộc đối với các doanh nghiệptrong thời gian gần đây
Vì vậy, đối với các doanh nghiệp, bên cạnh hệ thống kế toán tài chính làcông cụ cần thiết để quản lý doanh nghiệp, còn phải tổ chức hệ thống kế toánquản trị để hỗ trợ các nhà quản lý trong việc hoạch định, tổ chức điều hành,kiểm soát và đưa ra quyết định đúng đắn và hiệu quả nhất Công ty cổ phần
Trang 11- Thông tin kế toán quản trị cung cấp đặt trọng tâm cho tương lai là thôngtin cần thiết và trực tiếp cho nhà lãnh đạo từ đó làm cơ sở để điều khiển mọihoạt động của doanh nghiệp luôn tồn tại và phát triển.
- Do nhận thức và hiểu biết về kế toán quản trị còn nhiều hạn chế và chưathống nhất nên việc tìm hiểu lý luận về kế toán quản trị và vận dụng kế toánquản trị tại Công ty là cấp bách và cần thiết
Như vậy, nếu Doanh nghiệp thực hiện được hệ thống kế toán quản trịsong hành cùng kế toán tài chính một cách đồng bộ, chặt chẽ thì sẽ tăng đượctính hiệu quả cũng như sức mạnh trong thời kỳ cạnh tranh
Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kế toán quản trị
trên phương diện lý luận và thực tiễn, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài " Hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương" nhằm góp phần vào việc nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của
Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương nói riêng và các doanhnghiệp thương mại dịch vụ nói chung
2
Tổng quan các đề tài đã nghiên cứu có liên quan
Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu thực tiễn, tác giả đã hệ thống hóa một số
đề tài luận văn cũng đã nghiên cứu về kế toán quản trị trong các doanh nghiệp
Tổ chức kế toán quản trị tại công ty TNHH Xây dựng - Thương mại Đình
Nguyễn, Phạm Thị Ngọc Yến, 2019 Luận văn thạc sỹ - Đại học Kinh tế thành
phố Hồ Chí Minh Mục tiêu của luận văn chính là tổ chức kế toán quản trị tại
Trang 12Công ty TNHH Xây dựng - Thương mại Đình Nguyễn, một công ty có quy môvừa và nhỏ nhưng hết sức năng động trong ngành nghề xây dựng Bằngphương pháp phỏng vấn sâu Ban Giám đốc cũng như Kế toán trưởng, tác giả
đã tìm hiểu tình hình tổ chức công tác kế toán nói chung cũng như công tác kếtoán quản trị nói riêng, từ đó đưa ra giải pháp, kế hoạch hành động phù hợp.Đây sẽ là giải pháp gia tăng năng lực cạnh tranh cho công ty, đồng thời có giátrị tham khảo cho những công ty có đặc điểm hoạt động kinh doanh tương tự
Hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại công ty TNHH Visual Merchangdising, Lê Thị Ngọc Hằng, luận văn thạc sỹ đại học Kinh tế TP Hồ
Chí Minh (2019) Luận văn mong muốn tổ chức, hoàn thiện hệ thống kế toánquản trị, giúp công ty có thể vận dụng được lợi ích mà kế toán quản trị manglại trong điều hành và ra quyết định của nhà quản lý trong quá trình lãnh đạocông ty Qua nghiên cứu, trước hết luận văn trình bày các nội dung chính liênquan đến cơ sở lý luận về kế toán quản trị như quá trình hình thành, khái niệm,nội dung kế toán quản trị và nội dung tổ chức kế toán quản trị, Tiếp đó bằngphương pháp nghiên cứu định tính, luận văn mô tả và phân tích được thựctrạng tổ chức công tác kế toán hiện nay tại Visual Merchandising nói chung,cũng như nội dụng, tổ chức kế toán quản trị tại đơn vị này nói riêng Từ đó,xác định những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về kếtoán quản trị tại đơn vị Cuối cùng, nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoànthiện hệ thống kế toán quản trị tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn VisualMerchandising dựa trên các nguyên nhân về hạn chế của kế toán quản trị đãxác định sao cho phù hợp với mục tiêu phát triển, quan điểm hoàn thiện kếtoán quản trị của công ty, từ đó góp phần hoàn thiện kế toán quản trị tại VisualMerchandising trong thời gian tới
Hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị tại công ty cổ phần bao bì nhựa Tân Tiến, Trần Thị Thanh Tiến, luận văn thạc sỹ đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh
Trang 13(2019) Luận văn đã xác định việc hoàn thiện kế toán quản trị phải phù hợp vớiquan điểm của kế toán, phù hợp môi trường pháp lý của Việt Nam; bộ máy kếtoán quản trị đơn giản, phù hợp với quy mô, đặc điểm sản xuất kinh doanh,trình độ quản lý, đảm bảo hài hòa giữa chi phí và lợi ích; hoàn thiện kế toánquản trị trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thông tin của công ty Trên quan điểm đó,tác già đề nghị tổ chức lại bộ máy kế toán quản trị hợp lý và đưa ra những nộidung cơ bản của kế toán quản trị cần thực hiện cùng như đưa ra một số biệnpháp hỗ trợ về nguồn nhân lực và phần mềm kế toán để công tác hoàn thiện kếtoán quản trị có thể triển khai thành công, nhằm phục vụ hoạch định, điều hànhhoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát hoạt động và ra quyết định của nhàquản trị
“Kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH Một thành viên Cảng Quy Nhơn”, Đinh Mai Thảo, luận văn thạc sĩ đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (2013) Trong luận văn này đã đánh giá được thực trạng và đưa ra một số giải
pháp để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại doanh nghiệp Tuynhiên luận văn chủ yếu đi vào đặc trưng của doanh nghiệp trong lĩnh vực cungcấp dịch vụ hàng hải nên đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác KTQT chiphí sản xuất xuất phát từ đặc thù kinh doanh
Các tác giả thông qua các đề tài nghiện cứu của mình đã hệ thống các nộidung cơ bản của kế toán quản trị cũng như kế toán quản trị chi phí và vận dụngvào các ngành cụ thể như ngành du lịch, ngành viễn thông, ngành xây dựng,ngành hàng hải
Như vậy, về cơ bản các tác giả nghiên cứu về đề tài xoay quanh kế toánquản trị các năm trước đều hướng đến công tác kế toán quản trị qua thực trạngcủa các đơn vị cụ thể và thường gắn với một mốc thời gian xác định Tiếp tục
kế thừa những nội dung mà các đề tài trước đã thực hiện, tác giả muốn cụ thểhóa hơn, đi sâu hơn vào các giải pháp để hoàn thiện công tác kế toán quản trị
Trang 14cụ thể tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Trên cơ sở lý luận và thực trạng đã nghiên cứu để đề xuất những giảipháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch
vụ Hoàng Chương, góp phần phục vụ công tác quản lý công ty hiệu quả hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích đã xác định, đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận chung về kếtoán quản trị trong doanh nghiệp, đồng thời nghiên cứu thực trạng kế toánquản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ về mặt không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu đánh giá thực trạng kế toán
quản trị tại Công ty cổ phần phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương
+ về mặt thời gian: Luận văn được giới hạn nghiên cứu thực trạng kế toánquản trị tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương giai đoạn2015-2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp sau:
- Để tiến hành khảo sát thực trạng kế toán quản trị tại công ty cổ phần
Trang 15thương mại và dịch vụ Hoàng Chương tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu từnguồn dữ liệu thứ cấp bằng cách thu thập thông tin qua các báo cáo tài chính,báo cáo thường niên, các số liệu kế toán, dữ kiện hoạt động trên các phươngtiện truyền thông, ấn phẩm, các cơ quan quản lý nhà nước
- Để thực hiện đề tài, luận văn đã sử dụng tổng hợp nhiều phương phápnghiên cứu khác nhau như: Phương pháp phân tích, hệ thống hóa; phươngpháp tổng hợp, so sánh; phương pháp thực chứng để đối chiếu, trình bày, đánhgiá các vấn đề có liên quan đến kế toán quản trị
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Phân tích, đánh giá thực trạng kế toán quản trị tại Công ty cổ phầnthương mại và dịch vụ Hoàng Chương
- Đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị tại Công
ty cổ phần thương mại và dịch vụ Hoàng Chương, góp phần tích cực phục vụcho nhà quản trị công ty đưa ra các quyết định đúng đắn và hiệu quả trong sảnxuất kinh doanh
7 Bố cục của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng về kế toán quản trị tại Công ty cổ phần thương mại
và dịch vụ Hoàng Chương
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị tại Công ty cổ phầnthương mại và dịch vụ Hoàng Chương
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG
DOANH NGHIỆP
•
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị
Hai chức năng của hoạt động kế toán là kiểm tra thông tin và cung cấpthông tin cho nhiều đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như: Bangiám đốc, nhà đầu tư, người lao động, cơ quan thuế, Các đối tượng này có mụcđích và yêu cầu khác nhau khi sử dụng thông tin kế toán của doanh nghiệp khi cơquan thuế khi thực hiện thu ngân sách về thuế TNDN thì cần các thông tin về cácchỉ tiêu tổng doanh thu, chi phí, thu nhập khác, lợi nhuận trong kỳ, Còn đối vớicác nhà quản trị doanh nghiệp điều hành hoạt động của doanh nghiệp thì cần cácthông tin cụ thể, chi tiết của các yếu tố cấu thành thông tin tổng quát, trên cơ sởphân tích và xử lý dữ liệu, tổng hợp thông tin cần thiết và dự toán đề đưa ra đểquyết định để doanh nghiệp hoạt động tối ưu trong tương lai Từ đó hình thànhnên hai bộ phận kế toán tài chính và kế toán quản trị vững mạnh trong hệ thống
kế toán của doanh nghiệp
Cho đến nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị Thôngqua một số quan điểm để hiểu rõ về vấn đề kế toán quản trị như sau:
Theo định nghĩa của Hiệp hội Kế toán Quốc gia Hoa Kỳ (NAA) cho biết:
“Kế toán quản trị là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý về việc lập, thực hiện kế hoạch, kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp Quy trình kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, thu thập, tích lũy, phân tích, giải thích để các nhà quản trị xử lý các thông tin theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp”.
Theo định Hiệp hội Kế toán Quản trị Hoa Kỳ - IMA:“KTQT là một quá trình xác định, đo lường, tổng hợp, phân tích, chuẩn bị, diễn giải và truyền đạt
Trang 17các thông tin tài chính bởi các nhà quản lý nhằm mục đích hoạch định, đo lường
và kiểm soát một chức và đảm bảo rằng nguồn lực của tổ chức đó được sử dụng một cách phù hợp và có trách nhiệm KTQT cũng bao gồm việc chuẩn bị các báo cáo tài chính cho các nhóm đối tượng không thuộc nhà quản lý như cổ đông, chủ
nợ, cơ quan thuế, ”
(IMA, 1981, 1) Theo đó, KTQT là một nhân tố giúp doanh nghiệp quản trịchi phí và rủi ro, từ đó lập kế hoạch và kiểm soát doanh nghiệp trong nền kinh tếthị trường cạnh tranh Bên cạnh đó, KTQT còn cung cấp báo cáo tài chính, báocáo phân tích những chỉ số cần thiết, giúp nhà quản trị xem xét đề ra quyết định,vạch định chiến lược cho doanh nghiệp (IMA, 2008)
Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế - IFAC cho biết: “KTQT hướng về các quá trình xử lý và kỹ thuật, tập trung vào việc sử dụng một cách có hiệu quả và hiệu suất những nguồn lực của tổ chức, giúp hỗ trợ các nhà quản lý hoàn thành nhiệm vụ gia tăng giá trị cho khách hàng cũng như cổ đông” (Langfield-Smith et
Theo Luật kế toán Việt Nam: “KTQT được định nghĩa là việc thu thập, xử
lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu của quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật kế toán, điều 4).
Kế toán quản trị gồm các bước công việc thu thập, xử lý phân tích và cung cấpthông tin để nhà quản trị ra quyết định cho doanh nghiệp
Như vậy, có rất nhiều khái niệm khác nhau về kế toán quản trị nhưng nhìnchung những quan điểm này có những điểm thống nhất về kế toán quản trị như:
Trang 18- Là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp Kết hợp với kế toán tài chính
để cung cấp thông tin cho nhà quản trị
- Là cung cụ để nhà quản trị phân tích, đánh giá tình hình hoạt động củadoanh nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầu quản trị ngày càng được nâng cao và đadạng của doanh nghiệp
- Kế toán quản trị không chỉ cung cấp thông tin hoạt động tài chính và phitài chính đã phát sinh, mà còn có tính dự báo, định hướng và giúp nhà quản trị raquyết định để doanh nghiệp phát triển theo chiều hướng tốt nhất trong tương lai
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị
Quản trị là một phương thức làm cho những hoạt động tiến tới mục tiêu của
tổ chức được hoàn thành với hiệu quả cao KTQT bao gồm 4 vai trò chính:
Vai trò của KTQT phục vụ chức năng hoạch định (planning): Theo Bamber
et al (2008) thì vai trò phục vụ chức năng hoạch định là thiết lập mục tiêu cho tổchức và xác định con đường để thực hiện chúng, bằng việc chọn cách triển khaihành động cụ thể
Vai trò của KTQT phục vụ chức năng tổ chức điều hành (organizing directing): Theo Bamber et al (2008) thì vai trò phục vụ chức năng tổ chức - điềuhành là “triển khai và giám sát các hoạt động của tổ chức hằng ngày - overseeingthe company's day-to-day operations”, theo dõi việc thực hiện các kế hoạch đểđạt được các mục tiêu của tổ chức Ngoài ra, sau khi lên kế hoạch, tổ chức cầnphải hướng dẫn cụ thể cách thức thực hiện mục tiêu đó
-Vai trò của KTQT phục vụ chức năng kiểm soát (controlling) là “Đánh giácác kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức, so sánh và điều chỉnh giữa kếhoạch và thực hiển để luôn hướng đúng với mục tiêu của tổ chức - evaluating theresults of business operations against the plans and making adjustment to keepthe company pressing towards its goals” (Bamber et al, 2008) Nói cách khác,giữa việc lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện cần phải được kiểm soát để đảm bảohiệu quả đề ra (Mohammad, A and Ayuba, A., 2012)
Trang 19Vai trò của KTQT phục vụ chức năng ra quyết định (decision making):KTQT liên quan đến việc hoạch định, tổ chức - điều hành và kiểm soát, điều này
có nghĩa là chúng đang tham gia vào quá trình ra quyết định, đây chính là vai tròcòn lại của KTQT (Mohammad, A and Ayuba, A., 2012)
Theo Mohammad Ahid & Ayuba Augustine, bốn chức năng này phụ thuộc
và liên kết chặt chẽ với nhau Mối liên kết này được thể hiện qua sơ đồ 1.1 nhưsau:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng trong kế toán quản trị
Nguồn: Mohammad Ahid & Ayuba Augustine, (2012) The Roles and
Responsibilities of Management Accountants in the Era of Globalization, Global Journal of Management and Business Research, Vol 12(15), pp 47.
Như vậy, KTQT còn đóng góp vai trò rất lớn trong việc nghiên cứu và cung cấp các bảng phân tích nhằm tạo ra một sự cải thiện hiệu quả, từ đó đưa ra những quyết định hợp lý và chính xác hơn
1.1.3 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị
1.1.3.1 Hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí
a) Phân loại chi phí
Sau khi tham khảo báo cáo của IFAC (1998) với tên gọi “management acounting concepts: International Management Accounting Practice Statement”
và nghiên cứu của Ashish Lodha (2013) về “Cost - Methods, Techniques of Cost Accounting anh Classification of Cost”, tác giả khái quát lại cách phân loại chi phí theo các tiêu thức phân loại cơ bản sau:
Trang 20(1) Theo chức năng hoạt động
(2) Theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả hoạt động kinh doanh(3) Theo phương pháp quy nạp
(4) Sử dụng đánh giá thành quả quản lý
(5) Theo cách ứng xử của chi phí
Cách phân loại này được khái quát qua sơ đồ 1.2 như sau:
Sơ đồ 1.2: Phân loại chi phí
- Phân loại theo chi phí chức năng hoạt động
Chi phí sản xuất (production cost): là toàn bộ chi phí liên quan đến việc sảnxuất sản phẩm trong một thời ký nhất định Hoạt động của một DN sản xuất gắnliền với sự chuyển biến của nguyên liệu thành thành phẩm thông qua sự nổ lựccủa công nhân và việc sử dụng thiết bị sản xuất, do đó CPSX của một sản phẩm
Trang 21trong các doanh nghiệp sản xuất được tạo thành từ 3 yếu tố cơ bản: Chi phí NVLtrực tiếp, chi phí NC trực tiếp và chi phí SXC.
Chi phí ngoài sản xuất (non-production cost): là những loại chi phí phát sinhngoài quá trình sản xuất liên quan đến việc quản lý chung toàn DN và tiêu thụsản phẩm hàng hóa, chi phí ngoài sản xuất bao gồm chi phí BH và chi phíQLDN
- Phân loại theo chi phí mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả hoạt độngkinh doanh
Chi phí sản xuất (product cost) là toàn bộ những chi phí liên quan đến việcsản xuất hoặc mua bán sản phẩm Đối với các sản phẩm sản xuất công nghiệp thìcác chi phí này bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp và chi phíSXC Các chi phí sản phẩm được gắn liền với sản phẩm và chúng được sang kỳsau khi sản phẩm đang tồn kho chờ bán và khi sản phẩm đã được tiêu thụ thìchúng được xem là phí tổn thời kỳ và được tính trừ vào kết quả hoạt động kinhdoanh trong kỳ
Chi phí thời kỳ (period cost) là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ vàđược tính hết thành phí tổn trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanhcủa đơn vị Chi phí BH và chi phí QLDN là những chi phí thời kỳ Chi phí thời
kỳ sẽ được tính đầy đủ trên các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị.Chi phí thời kỳ ngay khi phát sinh đã được coi là phí tổn trong kỳ
- Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp
Chi phí trực tiếp (direct cost) là những chi phí khi phát sinh được tính trựctiếp vào các đối tượng sử dụng như: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp,
nó được tính thẳng vào từng đơn hàng, từng nhóm sản phẩm, từng sản phẩm, Chi phí gián tiếp (indirect cost) là những chi phí khi phát sinh không thểtính trực tiếp vào các đối tượng sử dụng, mà cần phải tiến hành phân bổ theo mộttiêu thức phù hợp Ví dụ như chi phí SXC sẽ được phân bổ cho các đối tượng sử
Trang 22dụng theo giờ lao động trực tiếp, số giờ máy, số lượng sản phẩm sản xuất,.
- Phân loại chi phí sử dụng trong đánh giá thành quả quản lý
Chi phí kiểm soát được (controllable cost) đối với một cấp quản lý là nhữngchi phí mà nhà quản trị cấp đó quyền ra quyết định
Chi phí không kiểm soát (non-controllable cost) là chi phí mà nhà quản trịcấp đó không được quyền ra quyết định
- Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Việc xem xét chi phí sẽ thay đổi như thế nào khi mức độ hoạt động thay đổigọi là sự ứng xử của chi phí Dựa trene cách ứng xử của chi phí đối với sự thayđổi của mức độ hoạt động có thể chi toàn bộ chi phí thành 3 loại: Biến phí, địnhphí, chi phí hỗn hợp
Biến phí (variable cost) là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng, giảm theo
sự tăng giảm về mức độ hoạt động Tổng số của biến phí sẽ tăng khi mức độ hoạtđộng tăng và ngược lại Tuy nhiên, nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạtđộng thì biến phí lại không đổi trong phạm vi phù hợp Biến phí chỉ phát sinh khi
có hoạt động Biến phí được phân tích thành các loại sau: Biến phí tuyến tính,biến phí cấp bậc và biến phí phi tuyến
Định phí (fixed cost) là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khimức độ hoạt động thay đổi Nên khi mức độ hoạt động tăng thì phần định phí tínhtrên một đơn vị hoạt động sẽ giảm đi và ngược lại Định phí có thể chia làmthành 2 loại như sau: Định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc
Chi phí hỗn hợp (semi-variable cost or semi-fixed cost) là chi phí mà thànhphần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến và khả biến Ở mức độ hoạt động cănbản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí, ở mức hoạt độngvượt quá mức căn bản nó thể hiện đặc điểm của biến phí Sự pha trộn giữa địnhphí và biến phí có thể theo những tỉ lệ nhất định Để xác định thành phần biến phí
và định phí trong chi phí hỗn hợp, có 3 phương pháp cơ bản thường được sử
Trang 23dụng là phương pháp cực đại - cực tiểu, phương pháp đồ thị phân tán và phươngpháp bình phương bé nhất.
b) Phân tích biến động chi phí
Để kiểm soát được chi phí, các nhà quản trị cần phải phân tích biến độngcủa chi phí, xem các loại CPTT đã phát sinh tăng giảm như thế nào so với dựtoán, đồng thời tìm hiểu được nguyên nhân của sự tăng giảm đó để có thể đề ranhững giải pháp kịp thời Theo Huỳnh Lợi (2012), phân tích sự biến động chi phítrong DN gồm 4 bước sau:
Bước 1: Xác lập chỉ tiêu phân tích
Xác định rõ nội dung chi phí cần phân tích và biểu diễn chi phí thành mộtbiểu thức toán học trong mối liên hệ với nhiều nhân tố cần xem xét đánh giá.Bước 2: Xác định đối tượng phân tích
Đối tượng phân tích là những biến động của chỉ tiêu cần phân tích, ở đâychính là chênh lệch của chỉ tiêu chi phí cần phân tích giữa thực tế so với dự án
Bước 3: Tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến độngcủa CPSX kinh doanh
Tiến hành dùng phương pháp kỹ thuật tính toán để lượng hóa mức độ ảnhhưởng của từng nhân tố đến sự biến động của CPSX kinh doanh
Bước 4: Xác định nguyên nhân, xu hướng và giải pháp
Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chi phítheo chiều hướng thuận lợi hay bất lợi, chỉ ra được nguyên nhân chủ quan vàkhách quan tác động làm tiết kiệm hay lãng phí chi phí Đồng thời chỉ rõ đượcnhững người có trách nhiệm liên quan và đề ra các giải pháp thích hợp để quản lýchi phí
c) Các mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Theo Huỳnh Lợi (2012), có ba mô hình kế toán CPSX và tính giá thành sản
phẩm thường gặp: (1) theo chi phí thực tế, (2) theo chi phí thực tế kết hợp với
Trang 24ước tính và (3) theo chi phí định mức.
(1) Mô hình kế toán và tính giá thành theo CPTT
Theo mô hình này, chi phí của sản phẩm sản xuất bao gồm chi phí NVL trựctiếp thực tế, chi phí NC trực tiếp thực tế và chi phí SXC thực tế phát sinh trongquá trình quản xuất sản phẩm
Mô hình này đảm bảo tính chính xác của CPSX thực tế phát sinh trong kỳ,giá thành thực tế trong kỳ Tuy nhiên, thông tin về giá sản phẩm không đượccung cấp kịp thời cho yêu cầu quản lý, định hướng sản xuất và kiểm soát CPtrong kỳ
(2) Mô hình kế toán CPSX và tính giá theo CPTT kết hợp với ước tínhTheo mô hình này, chi phí của sản phẩm sản xuất được tính toán bằng cáchcộng các chi phí NVL trực tiếp thực tế, chi phí NC trực tiếp thực tế và chi phíSXC ước tính phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm
Sơ đồ 1.3: Phương pháp chi phí thực tế kết hợp với ước tính
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Như vậy, phương pháp CPTT kết hợp với ước tính và phương pháp CPTTchỉ khác nhau ở phần chi phí SXC Trong phương pháp CPTT kết hợp vớiước tính, chi phí SXC được ước tính cho các sản phẩm sản xuất bằng việc
áp dụng một tỷ lệ xác định trước Tỷ lệ này được tính toán trên cơ sở cáchoạt động sản xuất hoặc chi phí của hoạt động sản xuất, thí dụ số giờ laođộng trực tiếp, số giờ máy hoạt động, chi phí NC trực tiếp,
Mô hình theo CPTT kết hợp với chi phí ước tính phần nào đã giải quyết
Trang 25được tốc độ thông tin chi phí, giá thành trong kỳ để phục vụ cho việc điều hànhsản xuất và các quyết định quản trị chi phí, giá thành Tuy nhiên, mô hình này đòihỏi một quy trình điều chỉnh chi phí SXC phức tạp cuối kỳ.
(3) Mô hình kế toán CPSX và tính giá thành theo chi phí định mức
Theo mô hình này, giá thành được tính theo chi phí định mức cho cả bakhoản mục phí (NVL trực tiếp, NC trực tiếp và SXC) Phần chênh lệnh giữaCPTT và chi phí định mức sẽ được xử lý vào tài khoản giá vốn hàng bán
Để áp dụng được mô hình này, DN cần tiến hành xây dựng các định mứcchi phí cụ thể cho từng loại sản phẩm và để thu hẹp khoảng cách giữa chi phíđịnh mức và CPTT, các định mức chi phí cần được định kỳ xem xét lại cho hợplý
Trên đây là ba mô hình kết toán CPSX và tính giá thành sản phẩm củaKTQT mà các DN thường sử dụng Theo tác giả, mô hình theo phương phápCPTT kết hợp với ước tính và theo phương pháp chi phí định mức có tính ưu việthơn Tuy nhiên, hai mô hình này phát sinh thêm công việc cho kế toán trong quátrình xác định kết quả kinh doanh cuối kỳ Đối với các DNNVV đang kinh doanhtrong lĩnh vực ăn uống, nguồn lực tài chính và nhân sự còn hạn chế như hiện nay,tác giả đề xuất các DNNVV này nên lựa chọn mô hình theo phương pháp thực tế
để có thể tiết kiệm được thời gian và chi phí lao động
1.1.3.2 Dự toán
a) Khái niệm và mục đích của dự toán
- Khái niệm về dự toán
Theo Drury et al (1993) thì dự toán là một phương pháp kỹ thuật cần thiếtcho việc lập kế hoạch và kiểm soát các hoạt động của tổ chức Còn theo Abdel -Kader, M & Luther, R (2006) thì dự toán được xem là một nội dung phổ biếnnhất của việc vận dụng KTQT ở các nước đã phát triển và các nước đang pháttriển
Trang 26Và trong một số tác giả trong nước nghiên cứu về dự toán thì tác giả PhạmNgọc Toàn (2010) cho rằng dự toán là một kế hoạch mà trong đó thể hiện nhữngmục tiêu tổ chức cần phải đạt được đồng thời chỉ rõ cách thức huy động cácnguồn để thực hiện các mục tiêu mà tổ chức đặt ra Dự toán được xác định bằng
hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác địnhtrong tương lai Hay “ Dự toán là quá trình tính toán chi tiết cho kỳ tới, nhằm huyđộng và sử dụng các nguồn lực theo các mục tiêu kế hoạch đề ra trong từng kỳ cụthể” (Phạm Văn Dược, Trần Văn Tùng, 2011, trang 153)
Kiểm soát: là quá trình so sánh kết quả thực hiện với dự toán và đánh giáviệc thực hiện dự toán đó Việc kiểm soát phụ thuộc vào dự toán, nếu không có
dự toán thì DN sẽ không có cơ sở để so sánh và đánh giá kết quả của việc thựchiện dự toán
Chức năng hoạch định đi liền với chức năng kiểm soát, kết quả hoạt độngthực tế so sánh với dự toán ngân sách Nếu DN không thực hiện việc kiểm soátthì dự toán ngân sách sẽ không phát huy hết tác dụng vốn có của nó
- Phân loại dự toán
(1) Phân loại dự toán theo thời gian
Dự toán ngắn hạn (short-term budget) thường được lập cho kỳ kế hoạch là
một năm và được chia ra từng kỳ ngắn hạn hơn là hàng quý và hàng tháng Dựtoán ngắn hạn bao gồm các dự toán chức năng như dự toán doanh thu, dự toán
Trang 27sản xuất, dự toán tiền, Dự toán ngắn hạn được lập hàng năm trước khi niên độ
kế toán kết thúc và được xem là một công cụ của hoạch định nhằm làm mục tiêuhành động của năm
Dự toán dài hạn (long-term budget) có thời gian trên một năm còn được gọi
là dự toán vốn, đây là dự toán được lập liên quan đến tài sản dài hạn Dự toán dàihạn thường bao gồm việc dự toán cho các mục tiêu dài hạn của DN như các chiếnlược kinh doanh, các tài sản lớn, hệ thống phân phối Đặc điểm cơ bản của dựtoán dài hạn là dự toán cho một khoảng thời gian dài và định hướng mục tiêuchiến lược của DN Dự toán dài hạn được thực hiện thông qua các dự toán ngắnhạn của năm
(2) Phân loại dự toán theo phương pháp lập (theo mức độ hoạt động)
Dự toán cố định (fixed budget) là dự toán được lập theo một mức độ hoạtđộng nhất định Dự toán cố định phù hợp với DN có hoạt động kinh tế ổn định.Nhược điểm của dự toán cố định chỉ dựa vào một mức độ hoạt động mà khôngxét tới mức độ này có thể bị biến động trong kỳ dự toán, do đó nó không có ýnghĩa cao trong kiểm soát nếu các DN thay đổi quy mô hoạt động trong kỳ dođiều kiện hoặc môi trường kinh doanh biến động
Dự toán linh hoạt (flexible budget) là dự toán về doanh thu chi phí trongmột kỳ kinh doanh theo các mức độ hoạt động khác nhau Dự toán linh hoạt đượclập theo mối quan hệ với quá trình hoạt động, giúp xác định ngân sách dự kiếntương ứng ở từng mức độ và phạm vi hoạt động khác nhau Dự toán linh hoạtđược lập trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh được xem là công cụ của hoạchđịnh và dự toán linh hoạt được lập sau khi kết thúc một kỳ kinh doanh thì đượcxem là công cụ của kiểm soát Thông thường dự toán linh hoạt được lập ở 3 mức
độ hoạt động cơ bản: Mức độ hoạt động trung bình, mức độ hoạt động cao nhất,mức độ hoạt động thấp nhất
b) Các mô hình dự toán
Trang 28Theo tài liệu của Larry M Walther (bản chỉnh sửa năm 2016) với tên gọi
“Financial Accouting: Budget Processes And Human Behavior”, có ba mô hình
dự toán như sau:
(1) Mô hình ấn định từ trên xuống (top-down budget)
Theo mô hình này, các chỉ tiêu dự toán được định ra từ ban quản lý caocấp của tổ chức, sau đó truyền xuống cho quản lý trung gian, sau khi quản lý cấptrung gian xem xét sẽ chuyển xuống cho quản lý cấp cơ sở làm mục tiêu, kếhoạch trong việc tổ chức hoạt động tại từng bộ phận trong DN
Ưu điểm: Đơn giản, ít tốn kém
Nhược điểm: mang nặng tính áp đặt từ quản lý cấp cao xuống nên rất dễlàm cho cấp dưới không thực hiện được, tạo ra sự bất bình
(2) Mô hình thông tin từ dưới lên (bottom-up-budget)
Trang 29Theo mô hình này, cách lập dự toán là căn cứ vào các bộ phận cấp thấpnhất, căn cứ vào khả năng, năng lực hiện có của mình lập các chỉ tiêu của bộphận mình sau đó sẽ trình cấp quản lý trung gian Quản lý cấp trung gian tổnghợp số liệu của cấp cơ sở và căn cứ vào năng lực và tính thực tiễn của bộ phậnmình để tiến hành lập dự toán và trình lên quản lý cao cấp Quản lý cao cấp sẽtổng hợp số liệu quản lý cấp trung gian và kết hợp với tính khả thi, mục tiêu của
tổ chức đề xét duyệt và đưa ra dự toán chính thức làm căn cứ thực hiện kết hoạchtrong kỳ
Ưu điểm: các bộ phận tự đề xuất các chỉ tiêu của bộ phận mình nên sẽ cótrách nhiệm thực hiện các chỉ tiêu đề ra
Nhược điểm: các bộ phận có thể đặt ra các chỉ tiêu thấp hơn năng lực thưc
tế của mình nhằm dễ dàng thực hiện và đạt được mục tiêu
(3) Mô hình thông tin phản hồi (negotiated budget hay top-down vs.bottom-up budget)
Theo mô hình này, các chỉ tiêu dự toán đầu tiên được dự thảo từ ban quản
lý cấp cao nhất trong DN và được truyền xuống cho các cấp quản lý trung gian.Trên cơ sở đó, các đơn vị quản lý trung gian sẽ được phân bổ các chỉ tiêu xuống
Trang 30cho các đơn vị cấp cơ sở Các bộ phận quản lý cấp cơ sở căn cứ vào chỉ tiêu dựthảo, căn cứ vào khả năng và điều kiện của mình để xác định các chỉ tiêu dự toán
có thể thực hiện được và những chỉ tiêu dự toán cần giảm bớt hoặc tăng lên Sau
đó, bộ phận quản lý cấp cơ sở bảo vệ dự toán của mình trước bộ phận quản lý cấptrung gian
Bộ phận quản lý cấp trung gian, trên cơ sở tổng hợp các chỉ tiêu của dựtoán từ các bộ phận cấp cơ cở và khả năng thực tế của bộ phận mình quản lý màtiến hành xác định các chỉ tiêu dự kiến của bộ phận mình Sau đó tiến hành bảo
vệ dự toán trước cấp trên là bộ phận quản lý cấp cao
Bộ phận quản lý cấp cao trên cơ sở tổng hợp số liệu từ các bộ phận cấptrung gian, căn cứ vào mục tiêu của đơn vị mình và tính thực tiễn Bộ phận quản
lý cấp cao sẽ xét duyệt thông qua các chỉ tiêu dự toán của bộ phận quản lý trunggian và bộ phận quản lý trung gian xét duyệt thông qua quản lý cơ sở Khi đó, dựtoán chính thức được sử dụng như định hướng cho hoạt động của kỳ kế hoạch
Ưu điểm: do có sự phản hồi, phối hợp giữa các bộ phận nên tính khả thi
mô hình này rất cao
Nhược điểm: phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí
Trong 3 mô hình trên thì mỗi mô hình có ưu và nhược điểm nhất định.Theo tác giả, với mô hình ấn định từ trên xuống, thì đối với các DNNVV hoạtđộng kinh doanh vẫn chưa thể hiện được vì số lượng nhân viên nhiều mà trình độlao động giữa các bộ phận lại có sự chênh lệch khá lớn, nếu áp đặt từ trên xuốngthì với trình độ nhân sự hiện tại chưa thể thực hiện được các dự toán mà DN đềra
Trong ba mô hình thì mô hình thông tin phản hồi có tính ưu việt nhất Tuynhiên, mô hình này phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí lao động mà quy môcủa các DN trên còn nhỏ, tài chính hạn hẹp, số lượng nhân sự cần sử dụng choKTQT chưa có, vì vậy sẽ không khả thi nếu DN áp dụng mô hình thông tin phản
Trang 31hồi này.
Vì thế, đối với các DNNVV đang kinh doanh, tác giả đề xuất nên sử dụng
mô hình thông tin từ dưới lên Và để khắc phục nhược điểm các bộ phận có thểđặt ra các chỉ tiêu thấp hơn năng lực thực tế của mình nhằm dễ dàng thực hiện vàđạt được mục tiêu thì nhà quản trị cấp cao và cấp trung gian cần thường xuyênkiểm tra việc thực hiện dự toán, nếu các bộ phận hoành thành dự toán một cách
dễ dàng thì nhà quản trị cần xem xét tiềm năng có thể đạt được dự toán cao hơn
mà điều chỉnh lại dự toán sao cho phù hợp với năng lực của các bộ phận nhằmgiảm thiểu sự lãng phí nguồn lực
1.1.3.3 Kế toán trách nhiệm
a) Định nghĩa kế toán trách nhiệm
Theo định nghĩa của Kohler, E L và cộng sự (1983) thì kế toán tráchnhiệm là việc phân loại, quản lý, duy trì, đánh giá và thẩm định các tài khoảnphục vụ cho mục đích cung cấp thông tin về chất lượng, số lượng và chỉ số thựchiện được từ những người được giao quyền hạn
Hay theo như Horngren, C T và những cộng sự (2011), nhóm tác giả chorằng: Kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán công nhận các trung tâm tráchnhiệm khác nhau trong toàn tổ chức, phản ánh kế hoạch và thực hiện của mỗitrung tâm này bằng cách ấn định doanh thu và chi phí cụ thể cho người xem cótrách nhiệm đứng đầu mỗi trung tâm Nó còn được gọi là kế toán lợi nhuận và kếtoán hoạt động Cũng theo định nghĩa này, tổ chức được chia thành nhiều trungtâm trách nhiệm và mỗi trung tâm trách nhiệm sẽ được đo lường bằng các chỉtiêu đánh giá thành quả của từng trung tâm trách nhiệm
Hay theo một số tài liệu nghiên cứu trong nước thì Đoàn Ngọc Quế vàcộng sự (2013) có khái quát rằng: Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử lý
và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhàquản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức Thông tin có thể kiểm soát
Trang 32của một bộ phận là những thông tin về doanh thu, chi phí, vốn đầu tư, mà nhàquản trị của bộ phận đó có thể đưa ra các quyết định tác động lên nó.
b) Nội dung cơ bản của hệ thống kế toán trách nhiệm
Theo như Horngren và cộng sự (2011), kế toán trách nhiệm gồm có 4 loạitrung tâm trách nhiệm:
(1) Trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ đượcquyền ra quyết định đối với chi phí phát sinh trong bộ phận đó
Thành quả của trung tâm chi phí thường được đánh giá bằng việc so sánhCPTT với CPDT và phân tích các chênh lệch phát sinh
(2) Trung tâm doanh thu
Trung tâm doanh thu là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ đượcquyền ra quyết định đối với doanh thu phát sinh trong bộ phận đó
Thành quả của trung tâm doanh thu thường được đánh giá bằng việc so sánhdoanh thu thực tế với doanh thu dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh.(3) Trung tâm lợi nhuận
Trung tâm lợi nhuật là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ đượcquyền ra quyết định đối với lợi nhuật đạt được trong bộ phận đó
Do lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí nên các nhà quản trị của trung tâmlợi nhuận có trách nhiệm cả về doanh thu, và chi phí phát sinh ở bộ phận đó.Thành quả của các trung tâm lợi nhuận thường được đánh giá bằng việc sosánh các dữ liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh thực tế với các dữ liệu trên báocáo kết quả kinh doanh tổng thể và dự toán linh hoạt
(4) Trung tâm đầu tư
Trung tâm đầu tư là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền
ra quyết định đối với lợi nhuận và vốn đầu tư của đơn vị đó
Thành quả của các trung tâm đầu tư thường được đánh giá bằng việc sử
Trang 33dụng các thước đo: Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) và lợi nhuận còn lại (RI).
Hai chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
Trong đó:
Lợi nhuận hoạt động để xác định ROI nói trên là lợi nhuận trước thuế và lãivay (EBIT) Đây là lợi nhuận do sử dụng tài sản được đầu tư mang lại mà khôngphân biệt nguồn tài trợ cho các tài sản đó (không bao gồm lợi nhuận từ các hoạtđộng đầu tư tài chính, lợi nhuận khác) ROI cho biết cứ một đồng tài sản đầu tưvào trung tâm đầu tư thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ROI càng lớnthành quả quản lý vốn đầu tư càng cao
Lợi nhuận còn lại là phần còn lại của lợi nhuận hoạt động sau khi đi từ lợinhuận mong muốn tối thiểu từ tài sản được đầu tư của trung tâm đầu tư Lợinhuận còn lại càng lớn thì lợi nhuận hoạt động tạo ra càng nhiều hơn lợi nhuậnmong muốn tối thiểu, khi đó thành quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâmđầu tư được đánh giá càng cao
Hiện nay có 3 mô hình kế toán trách nhiệm được áp dụng rộng rãi trong các
DN là mô hình kế toán trách nhiệm dựa trên chức năng, mô hình kế toán tráchnhiệm dựa trên quy trình và mô hình kế toán trách nhiệm dựa trên chiến lược.Trong ba mô hình thì mô hình kế toán trách nhiệm theo chức năng là đơn giản và
dễ thực hiện nhất Do đó, tác giả đề xuất các DNNVV nên xây dựng hệ thống kếtoán trách nhiệm theo mô hình chức năng này Và về quan điểm vì sao lựa chọn
mô hình này, tác giả sẽ trình bày ở mục 3.2.4.1 (quan điểm về xây dựng hệ thống
kế toán trách nhiệm)
c) Thiết lập thông tin KTQT phục vụ việc ra quyết định
Trang 34Ra quyết định là việc lựa chọn một phương án thích hợp nhất từ nhiềuphương án khác nhau Ra quyết định là một trong những chức năng quan trọngcủa nhà quản trị.
Căn cứ vào thời gian hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi quyết định,
việc ra quyết định thường được chia thành hai loại: quyết định ngắn hạn và dài hạn.
Trong quá trình lựa chọn phương án để ra quyết định, việc nhận diện thôngtin là rất quan trọng Nhà quản trị phải nhận diện được thông tin nào là thích hợp
và thông tin nào không thích hợp Do đó, một quá trình phân tích thông tin thíchhợp đối với việc ra quyết định là hết sức cần thiết Theo Huỳnh Lợi (2012), quátrình này gồm 4 bước như sau:
Bước 1: Tập hợp tất cả các thông tin thu thập, chi phí liên quan đến từng
phương án kinh doanh được xem xét, so sánh lựa chọn Điều cần quan tâm ở đây
là thu thập, chi phí được tập hợp không những bao gồm thu thập, CPTT mà cònphải bao gồm cả thu nhập, chi phí tiềm ẩm, chi phí cơ hội
Bước 2: Loại bỏ các khoản chi phí chìm, là những khoản chi phí đã phát
sinh luôn tồn tại ở tất cả các phương án kinh doanh
Bước 3: Loại bỏ các khoản thu nhập, chi phí sẽ phát sinh như nhau trong
tương lại ở tất cả các phương án kinh doanh
Bước 4: Tổng hợp những thông tin còn lại sau khi thực hiện bước 2, và
bước 3 chính là những thông tin thích hợp cho quyết định chọn lựa phương ánkinh doanh Hay nói cách khác hơn đây chính là thông tin chênh lệch, thông tinkhác biệt giữa các phương án kinh doanh cần thiết để xem xét đưa ra quyết địnhlựa chọn phương án kinh doanh
1.1.4 Phân biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
Kế toán quản trị tạo ra các sản phẩm là báo cáo quản trị, các kế hoạch, chiếnlược tài chính quản trị giúp nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra các quyết định cho
Trang 35doanh nghiệp Còn kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biếnđộng về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát hay nói cách khác làphản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệpvới môi trường kinh tế bên ngoài Sản phẩm của kế toán tài chính là các báo cáotài chính Thông tin của kế toán tài chính ngoài việc được sử dụng cho ban lãnhđạo doanh nghiệp còn được sử dụng để cung cấp cho các đối tượng bên ngoàinhư: Các nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống
kê Sự khác nhau cơ bản giữa hai loại hình này như sau:
cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê)
Đặc điểm thông tin:
- Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số liệu,thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau Thông tin ít chútrọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến động, có tính
dự báo vì vậy thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc đánh giá và xây dựngcác kế hoạch kinh doanh, thông tin được theo dõi dưới hình thái giá trị và hìnhthái hiện vật Ví dụ: Kế toán vật tư ngoài việc theo dõi giá trị của vật tư còn phảitheo dõi số lượng vật tư
Trang 36- Kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ đòi hỏi có tínhkhách quan và có thể kiểm tra được Thông tin chỉ được theo dõi dưới hình tháigiá trị.
Nguyên tắc cung cấp thông tin:
- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyềnquyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanhnghiệp
- Kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận
và được sử dụng phổ biến, nói cách khác kế toán tài chính phải đảm bảo tínhthống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người cócách hiểu giống nhau về thông tin kế toán đặc biệt là báo cáo tài chính và kế toántài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là nhữngyêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội thông qua việc công bốnhững số liệu mang tính bắt buộc
Phạm vi của thông tin:
- Phạm vi thông tin của kế toán quản trị liên quan đến việc quản lý trên từng
bộ phận (phân xưởng, phòng ban) cho đến từng cá nhân có liên quan
- Phạm vi thông tin của kế toán tài chính liên quan đến việc quản lý tàichính trên quy mô toàn doanh nghiệp
Kỳ báo cáo:
- Kế toán quản trị có kỳ lập báo cáo nhiều hơn: Quý, năm, tháng, tuần,ngày
- Kế toán tài chính có kỳ lập báo cáo là: Quý, năm
Quan hệ với các môn khoa học khác:
- Do thông tin kế toán quản trị được cung cấp để phục vụ cho chức năngquản lý, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán tài chínhthì kế toán quản trị còn phải kết hợp và sử dụng nội dung của nhiều môn khoa
Trang 37học khác như: Kinh tế học, thống kê kinh tế, tổ chức quản lý doanh nghiệp, quảntrị đầu tư để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin.
- Kế toán tài chính ít có mối quan hệ với các môn khoa học khác
Tính bắt buộc theo luật định:
- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc
- Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định: Kế toán tài chính cótính bắt buộc theo luật định có nghĩa là sổ sách báo cáo của kế toán tài chính ởmọi doanh nghiệp đều phải bắt buộc thống nhất, nếu không đúng hoặc khônghạch toán đúng chế độ thì báo cáo đó sẽ không được chấp nhận (tham khảo thêm
về luật kế toán vừa ban hành)
1.2 Nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp
1.2.1. Kế toán quản trị chi phí
Theo Kaplan và Atkinson (1998) Thông tin kê toán quản trị đóng một vaitrò quan trọng trong tổ chức Nó hỗ trợ cho việc ra quyết định, chỉ dẫn phát triểnchiến lược và đánh giá các chiến lược hiện tại, tập trung nỗ lực liên quan đến việcnâng cao thành quả của tổ chức và để đánh giá việc đóng góp vào thành quả nàytheo từng phòng ban, từng cá nhân
Một trong những thông tin kế toán quản trị quan trọng nhất là thông tin vềchi phí Tổ chức sử dụng những thông tin về chi phí đế đưa ra các quyết địnhquan trọng về tính năng sản phẩm hay là hỗn hợp sản phẩm Tổ chức cũng sửdụng thông tin về chi phí để phát triển chiến lược cạnh tranh của mình Hơn nữa,
tồ chức sử dụng thông tin về chi phí phù hợp để điều hành và cải tiến các hoạtđộng của họ
Đối với nhà quản trị, chi phí là mối quan tâm hàng đầu vì chi phí ảnh hưởngtrực tiếp đến lợi nhuận Do đó, vấn đề đặt ra là làm sao kiểm soát và đưa chi phíxuống mức thấp nhất có thể Để làm được điều này thì nhà quán trị phải xác địnhđược các phương pháp phân loại chi phí (như: chi phí sản xuất, chi phí ngoài sản
Trang 38xuất chi phí thời kỳ, chi phí sản phẩm, chi phí khả biến, chi phí bất biến, chi phíhỗn hợp ), các phương pháp tập hợp chi phí (như: phương pháp trực tiếp,phương pháp phân bổ), cách xác định các trung tâm chi phí (trung tâm mua hàng,trung tâm sản xuất ) để có thể đưa ra quyết định đúng đắn trong quá trình tổchức điều hành hoạt động của nhà quản trị.
máy tính, chi phí bảo trì, chi phí khấu hao tài sản cố định Thông tin về chiphí trên hệ thống sổ sách kế toán được sử dụng để phân bổ chi phí nguồn lực sửdụng thực tế trong kỳ đến các bộ phận hoạt động và sau đó phân bổ chi phí ở các
bộ phận hoạt động đến các sản phẩm
Việc phân bồ chi phí nguồn lực theo chi phí thực tế được sử dụng đề đánhgiá tính hiệu quá và khả năng sinh lời của hoạt động sản xuất kinh doanh trongdoanh nghiệp Thông tin về chi phí từ hệ thống dự toán ngân sách được sử dụng
để phân bổ chi phí nguồn lực đến trung tâm hoạt động nhằm xây dựng nhữngđịnh mức chi phí Những định mức chi phí này sau đó sẽ được sử dụng để phục
vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị, ví dụ như quyết định về giá, quyếtđịnh về tiếp tục sản xuất hay mua ngoài Tuy nhiên, việc thiết kế và cấu trúc của
hệ thống chi phí là không thay đổi cho dù chi phí nguồn lực dự toán hay chi phínguồn lực thực tế được phân bổ
Trong giai đoạn thứ nhất, chi phí bộ phận phục vụ được phân bổ đến các bộphận hoạt động Bên cạnh đó, chi phí trực tiếp phát sinh ở các bộ phận hoạt động
Trang 39cũng phải được tập hợp cho những bộ phận này Vì vậy, sau giai đoạn thứ nhất,tất cả chi phí phát sinh đã được phân bổ và tập hợp Trong giai đoạn thứ hai, chiphí bộ phận hoạt động được tính cho từng loại sản phẩm Giai đoạn phân bổ đầutiên của hệ thống chi phí dựa trên hoạt động (ABC) cũng có cấu trúc tương tựnhư hệ thống chi phí truyền thống, tuy nhiên thay vì phân bổ chi phí nguồn lực từ
bộ phận phục vụ đến bộ phận hoạt động, ABC phân bô chi phí nguồn lực của cả
bộ phận hoạt động và bộ phận phục vụ đến các hoạt động sử dụng các nguồn lựcđó
1.2.2 Hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh
Dự toán ngân sách là kế hoạch cho tương lai Do đó dự toán ngân sách làcác công cụ để lập kế hoạch, và nó thường được lập trước khi bắt đầu một giaiđoạn hay một kỳ ngân sách Tuy nhiên, so sánh giữa dự toán ngân sách với cáckết quả thực tế sẽ cung cấp được nhiều thông tin có giá trị về các hoạt động Do
đó dự toán ngân sách là cả hai công cụ lập kế hoạch và công cụ đánh giá thựchiện kế hoạch
Mục đích của dự toán ngân sách:
- Dự toán ngân sách cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch củadoanh nghiệp bằng những con số cụ thể Cụ thể hoá các nguồn lực, các biện pháp
để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ bằng những bảng số liệu những bản tính toán chitiết và cụ thể
- Dự toán ngân sách cung câp cho nhà quản trị doanh nghiệp toàn bộ thôngtin về kế hoạch sản xuất, kinh doanh trong từng thời gian cụ thể và cả quá trìnhsản xuất kinh doanh Dự toán ngân sách chỉ rõ nhiệm vụ của từng bộ phận vàđánh giá trách nhiệm quản lý của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu củadoanh nghiệp
Vai trò của dự toán ngân sách
Dự toán ngân sách có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chức năng
Trang 40của nhà quán trị, cụ thể như sau:
Chức năng lập kế hoạch: Dự toán ngân sách xác định mục tiêu mà doanh
nghiệp đạt được trong kỳ hoạt động, đồng thời dự kiến nguồn lực đổ thực hiệnmục tiêu đó
Chức năng kiểm soát: Dự toán ngân sách được xem là cơ sở, là thước đo
chuẩn để so sánh, đối chiếu với số liệu thực tế đạt được của doanh nghiệp thôngqua các báo cáo kế toán quán trị Thông tin trên dự toán ngân sách là cơ sở đểkiểm tra đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
Chức năng tố chức và điều hành: Vai trò này của dự toán ngân sách thề
hiện ở việc huy động và phân phối các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu củadoanh nghiệp, thể hiện ở dự toán ngân sách là văn bản cụ thể, súc tích truyền đạtcác mục tiêu, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đến các nhà quản lý các
bộ phận, phòng ban
1.2.3. Hệ thống đánh giá thành quả trong doanh nghiệp
Trước năm 1900, các công ty kinh doanh đều sử dụng chi tiêu lợi nhuậnhoạt động để đánh giá thành quả của các bộ phận Vào năm 1903, khi công tyDupont Powder đã xây dựng thước đo để đánh giá khả năng hoàn vốn đầu tư:ROI = Lợi nhuận hoạt động/vốn dầu tư Ông Donaldson Brown, CFO cùa công tyDupont, đã mở rộng công thức tính ROI = Lợi nhuận/Doanh thu * Doanh thu/vốnđầu tư = p * T Tuy nhiên việc sử dụng tỷ số ROI để đánh giá thành quả cònnhiều hạn chế khi sử dụng để đánh giá thành quả của các bộ phận do ROI khôngquan tâm đến chi phí sử dụng vốn Từ những năm 1950, đã xuất hiện giải phápvượt qua những hạn chế cua ROI, dó là sử dụng thước đo tài chính EVA (giá trịkinh tế tăng thêm)
EVA giúp cho nhà quản trị cấp cao ra quyết định đầu tư vốn cho các bộphận, phục vụ cho đánh giá thành quả quản lý và thành quả hoạt động của các bộphận Giúp cho các nhà quản trị bộ phận quyết định đầu tư vốn vào những hoạt