Chủ nghĩa duy vật đã trải qua con đường phát triển lâu dài và tùy thuộc vào lịch sử đời sống vật chất của xã hội trước hết là cơ sở kinh tế, mối quan hệ của triết học với tư tưởng chính
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐỀ TÀI 1: Phân tích và chứng minh “chủ nghĩa duy vật biện chứng do
Các-mác sáng lập là hình thức phát triển hoàn thiện nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử”.
Họ tên: Nguyễn Hữu Khải
Mã sinh viên:11201917 Lớp: EBBA 12.2- Khóa 62
Hà Nội-2020
Trang 2Mục lục
2 Khái quát các hình thức của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử 4
3 Trong quan niệm về vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng có sự hoàn thiện hơn 11
3.1 Ưu điểm và nhược điểm của chủ nghĩa duy vật chất phác 11
3.2 Ưu điểm và nhược điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình 12
3.3 Sự hoàn thiện của chủ nghĩa duy vật biện chứng 14
Trang 3Lời mở đầu
Lịch sử triết học từ cổ đại đến nay là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy vật đã trải qua con đường phát triển lâu dài và tùy thuộc vào lịch sử đời sống vật chất của xã hội (trước hết là cơ sở kinh tế), mối quan hệ của triết học với tư tưởng chính trị, pháp quyền, tôn giáo, trình độ phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,… từng thời kỳ mà chủ nghĩa duy vật
đã có nhiều hình thức tồn tại khác nhau
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là thế giới quan triết học khoa học, một trong những
bộ phận hợp thành của triết học Mac; do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập từ những năm 40 thế kỉ XIX, được Lênin và những người macxit khác phát triển thêm Hạt nhân lí luận trong triết học Mác – Lênin là chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là những phát sinh lớn nhất của Mác Nhưng C.Mác không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật của thế kỉ XVIII mà đưa nó lên một trình độ cao hơn bằng cách tiếp thu có phê phán những thành quả của triết học cổ điển Đức, nhất là của hệ thống triết học Hêghen, với thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về mối liên
hệ phổ biến và về sự phát triển Tuy nhiên, phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm Vì vậy, để sử dụng phép biện chứng đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cải tạo nó, đặt nó trên cơ sở duy vật Chính trong quá trình cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen và phát triển tiếp chủ nghĩa duy vật, trên cơ
sở khái quát những thành tựu khoa học tự nhiên và thực tiễn xã hội giữa thế kỉ XIX, Mác và Ăngghen đã sáng tạo phép biện chứng duy vật
Trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định phép biện chứng
duy vật như là "khoa học về mối liên hệ phổ biến" và là "khoa học về những quy
luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy" Kế thừa và phát triển những tư tưởng đó, V.I.Lênin đã coi "phép biện chứng là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự phát triển" Trên cơ sở phát triển của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã trở thành hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật
Trang 41 Khái niệm về chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật là một trong những trường phái triết học lớn trong lịch sử, bao gồm trong đó toàn bộ các học thuyết triết học được xây dựng trên lập trường duy vật trong việc giải quyết vấn để cơ bản của triết học: vật chất là tính thứ nhất, ý thức hay tinh thần chỉ là tính thứ hai của mọi tồn tại trong thế giới; cũng tức là thừa nhận và minh chứng rằng: suy đến cùng, bản chất và cơ sở của mọi tồn tại trong thế giới tự nhiên và xã hội chính là vật chất
Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đã phát triển qua ba hình thức – trình độ
cơ bản, đó là:
- Chủ nghĩa duy vật chất phác với hình thức điển hình của nó là các học thuyết triết học duy vật thời cổ ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp
- Chủ nghĩa duy vật siêu hình với hình thức điển hình của nó là các học thuyết triết học duy vật thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây Âu (tiêu biểu là chủ nghĩa duy vật cận đại nước Anh và Pháp)
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C Mác và Ph Ăngghen
2 Khái quát các hình thức của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử
2.1 Chủ nghĩa duy vật chất phác
Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời
cổ đại Trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này để lý giải toàn bộ sự hình thành của thế giới từ một hoặc một số dạng vật chất
cụ thể, cảm tính, coi đó là thực thể đầu tiên, là bản nguyên của thế giới
Trong thời kì cổ đại, chủ nghĩa duy vật đã thu được nhiều thành tựu giúp xác lập chỗ đứng và tạo nên nền tảng vững chắc là cơ sở cho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật những giai đoạn sau Xuất phát từ sự quan sát thực tế, chủ nghĩa duy vật thời kì cổ đại đã đưa ra nhiều quan điểm đúng đắn nhưng mang tính ngây thơ, chất phác Trong thời kì cổ đại ở phương Đông nổi lên có triết học Ấn Độ và Trung Quốc
Trang 5Ở Ấn Độ những yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị và khoa học…là những cơ sở cho sự phát sinh và phát triển của những tư tưởng triết học Mặc dù xuất hiện từ rất sớm nhưng triết học Ấn Độ chỉ thực sự xuất hiện vào cuối giai đoạn Vesda với những thành tựu nổi bật là sự ra đời của các trường phái triết học:
Trường phái Samkhya: vào thời kì đầu, trường phái Samkhya không thừa nhận
“tinh thần là vũ trụ tối cao’’, phủ nhận sự tồn tại của thần và khẳng định thế giới này là thế giới vật chất Đây là quan điểm có tính chất định hướng, là cơ sở lý luận cho sự khai phá của CNDV những giai đoạn sau Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh chống lại các quan điểm khác đề cao yếu tố tinh thần tối cao của vũ trụ
Trường phái Nyaya: Thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất và khẳng định thế
giới vật chất rất phong phú, đa dạng bao gồm nhiều sự vật, hiện tượng Thế giới
này tồn tại trong không gian do các hạt nhỏ cấu tạo nên và được gọi là nguyên
tử Nguyên tử của thực thể này khác nguyên tử của thực thể kia ở chất, hình dạng
và cách kết hợp các vật thể chỉ tồn tại nhất thời, thường xuyên thay đổi và chuyển hóa Đây là một quan điểm đúng đắn vượt thời đại, xét trong điều kiện khoa học tự nhiên thời bấy giờ chưa phát triển Với quan điểm cho rằng thế giới được cấu tạo
từ các nguyên tử, trường phái Nyaya đã đặt nền móng cho CNDV đi sâu tìm hiểu thế giới vật chất và mở ra các ngành khoa học mới như vật lý, hóa học trong những giai đoạn sau Là tiền đề cho các ngành khoa học tự nhiên ra đời và phát triển Cùng với sự thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất các nhà triết học theo trường phái Nyaya cũng đã thấy được sự khác nhau trong bản chất của các sự vật, đặt nền tảng cho tư tưởng lượng đổi, chất đổi trong triết học duy vật hiện đại
Tuy nhiên, do hạn chế về khoa học tự nhiên, hai trường phái này cũng chỉ dừng lại
ở quan niệm cho rằng thế giới vật chất được tạo nên bởi 4 yếu tố là đất, nước, lửa, không khí, đồng thời cho rằng nguyên tử không biến đổi, không chia cắt được Trung Quốc cổ đại là quốc gia rộng lớn có một lịch sử hình thành và phát triển lâu đời và được chia làm hai giai đoạn lớn Thời kỳ từ thế kỷ thứ IX TCN trở về trước
và thời kỳ từ thế kỷ IX TCN đến thế kỷ thứ III TCN Trong thời kỳ thứ nhất những
tư tưởng triết học manh nha xuất hiện, đến thời kỳ thứ hai, thường được gọi là thời
kì “Xuân thu – chiến quốc’’ thì những tư tưởng triết học phát triển nở rộ Trong đó
có những hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng Tiêu biểu:
Trang 6Thuyết Âm – Dương: Đi sâu dựa vào suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ
biến của vạn hữu Theo thuyết âm – dương thì mọi sự biến hóa vô cùng, vô tận, thường xuyên của vạn hữu đều có thể quy về nguyên nhân của sự tương tác giữa 2 thế lực đối lập vốn có của chúng là âm và dương Âm – dương không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong tương quan quy định chế ước lẫn nhau Âm –Dương được xác định thống nhất, cố hữu trong thái cực, thái cực trở thành nguyên lý của sự thống nhất của hai mặt đối lập là âm và duong Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể, cân bằng của cái đa dạng, đối lập nhưng thống nhất Nghĩa là trong thế giới vật chất, con người luôn tồn tại hai thế cực âm và dương Vạn vật có quy luật sinh khắc, kiềm chế lẫn nhau Nguyên lý này trở thành cơ sở của tư tưởng biện chứng về cái bất biến và biến đổi Trong âm có dương và trong dương có âm để giải thích sự biến hóa từ cái duy nhất thành cái nhiều, đa dạng, phong phú của vạn hữu Từ thuyết âm – dương đưa ra nguyên lý của sự biến hóa: Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh vạn vật Đây
là sự lý giải cho nguồn gốc đơn cũng như sự phong phú của vạn vật
Thuyết ngũ hành: Với 5 tố chất khởi nguyên là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Trong
đó Kim được tượng trưng cho tính chất trắng, khô, phía tây… Mộc tượng trưng cho chất xanh, chua, phía đông,…Thủy tượng trưng cho chất đen, mặn, phía bắc… Hỏa tượng cho chất đỏ, đắng, phía nam,… Thổ tượng trưng cho chất vàng, ngọt, ở giữa năm yếu tố này không tồn tại tách biệt nhau mà quan hệ tương tác với nhau trong 1 hệ thống, trong đó Thổ giữ vị trí trung tâm của hệ thống, nơi tụ, chuyển hóa các yếu tố còn lại Trong mối quan hệ của các chất khởi nguyên này có 2 nguyên lý căn bản: Tương sinh và Tương khắc Tương sinh là quá trình sinh hóa lẫn nhau: Thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy Tương khắc là quá trình khắc chế lẫn nhau: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim và Kim khắc Mộc Nếu tương sinh thì sẽ cùng phát triển, tương khắc thì sẽ lụi tàn Thuyết này có xu hướng phân tích cấu tạo hiện hữu và quy nó về nhân tố chất khởi nguyên với những tính chất khác nhau Từ đó tạo nên biến hóa vô cùng của vạn hữu Thành tựu lớn nhất về mặt triết học của thuyết Âm – Dương, ngũ hành là đã hướng sự tư duy của con người về những tố chất khởi nguyên của vạn vật, về cội nguồn đầu tiên của vận động Từ đó đưa ra một thế giới quan triết học, lý giải về sự biến dịch của vũ trụ Đồng thời các nhà triết học của Trung Quốc cũng đã thấy được quy luật vận động bốn mùa và phân thứ: đông, tây, nam, bắc cho trái đất con người Tuy nhiên những tư tưởng triết học Âm – Dương,
Trang 7ngũ hành ít đề cập đến quan điểm phát triển của vạn vật và do đó không đưa ra được những nguyên lý của sự phát triển, được xem là trung tâm của phép biện chứng
2.2 Chủ nghĩa duy vật siêu hình
Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa duy vật, thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII và đỉnh cao vào thế kỉ thứ XVII, XVIII Đây là thời kì mà cơ học cổ điển thu được những thành tựu rực
rỡ nên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc của cơ học cổ điển Do đó theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, thế giới giống như một cỗ máy cơ giới khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự tăng giảm đơn thuần về số lượng và do những nguyên nhân bên ngoài gây ra
Thời Cận đại (thế kỷ XVII - XVIII) ở các nước Tây Âu là thời kỳ giai cấp tư sản
đã giành được thắng lợi về chính trị trước giai cấp phong kiến Ba cuộc cách mạng
tư sản lớn đã nổ ra và thành công: cách mạng tư sản Hà Lan (cuối thế kỷ XVI), cách mạng tư sản Anh (1642 – 1648) và đặc biệt là cuộc cách mạng tư sản khá toàn diện và rất triệt để ở Pháp (1789 – 1794) đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ Phong kiến, xác lập chế độ cộng hòa tư sản Đây cũng là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở thành phương thức sản xuất thống trị Tây Âu Những tiền đề trên đã tạo ra những vận hội mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa học tự nhiên, trong đó cơ học đã đạt được trình độ là cơ sở cổ điển Khoa học tự nhiên thời kỳ này mang đặc trưng là khoa học tự nhiên - thực nghiệm Đặc trưng ấy tất yếu dẫn tới “thói quen” nhìn nhận đối tượng nhận thức trong sự trừu tượng, tách rời, không vận động, không phát triển, nếu có đề cập đến vận động thì là sự vận động cơ giới, máy móc Đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho triết học duy vật thời kỳ này mang nặng tính máy móc, siêu hình Các thành tựu khoa học tự nhiên, đặc biệt là cơ học, được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn cuộc sống và trong nhận thức nhưng những niềm tin tôn giáo vẫn chưa bị đẩy lùi, những giá trị của Thượng đế được thừa nhận
Giới tự nhiên được gán ép cho những tính siêu nhiên, thần thánh Do đó, màu sắc
tự nhiên thần luận là một nét đặc sắc của chủ nghĩa duy vật máy móc lúc bấy giờ
Trang 8Trên bình diện nhận thức – phương pháp luận, triết học chủ yếu đi tìm phương pháp nhận thức mới để khắc phục triệt để phương pháp kinh viện giáo điều, nhằm xây dựng một triết học và một khoa học mới có sự liên hệ mật thiết với nhau, hướng đến xây dựng tri thức Tuy nhiên sự đối lập giữa cảm tính và lý tính rất gay gắt kéo theo sự đối lập giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch, giữa
tư duy tổng hợp và tư duy phân tích đã sản sinh ra sự đối lập của chủ nghĩa kinh nghiệm – duy giác và chủ nghĩa duy lý – tự biện Sự đối lập này đã sản sinh ra hai phương pháp tư duy siêu hình trong nhận thức khoa học: phương pháp kinh
nghiệm trong nghiên cứu khoa học tự nhiên thực nghiệm và phương pháp tư duy tư biện trong nghiên cứu khoa học tự nhiên lý thuyết Do khoa học thực nghiệm chiếm ưu thế nên phương pháp siêu hình kinh nghiệm được đề cao và do cơ học vươn lên vai trò hàng đầu trong các ngành khoa học tự nhiên nên chủ nghĩa cơ giới (máy móc) xuất hiện và xâm nhập trở lại vào các ngành khoa học đó Vì vậy, trào lưu triết học thống trị trong giai đoạn này là chủ nghĩa duy vật siêu hình – máy móc Tuy nhiên sau đó chủ nghĩa duy vật siêu hình – máy móc lại bộc lộ những nhược điểm yếu kém của mình trong quá trình tư duy lý luận vì vậy phép biện chứng duy tâm đã ra đời thay thế Trên bình diện nhân sinh quan – ý thức hệ, nền triết học thời kỳ này thể hiện rõ tinh thần khai sáng và chủ nghĩa nhân đạo tư sản
Nó là ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản để tập hợp, giác ngộ, hướng dẫn quần chúng thực hiện những hành động cách mạng nhằm cải tạo xã hội cũ và xây dựng
xã hội mới – chủ nghĩa tư bản Khát vọng giải phóng con người ra khỏi sự thống trị của chế độ Phong kiến – giáo hội Nhà thờ, ra khỏi sự ngu dốt, ra khỏi chi phối âm thầm của các lực lượng tự nhiên nhằm hướng đến một cuộc sống tự do, hạnh phúc, công bằng, bác ái, sung túc cho con người trên trần gian được đặt ra Khát vọng này có sức cuốn hút mạnh mẽ quần chúng đi đến một hành động cách mạng cụ thể
để giải phóng mình và giải phóng xã hội
Là nhà triết học duy vật kiệt xuất của nước Anh Mác đánh giá Bacon là “ông tổ thực sự của chủ nghĩa duy vật Anh và của khoa học thực nghiệm hiện đại” Bacon thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất Khoa học không biết một cái
gì khác ngoài thế giới vật chất, ngoài giới tự nhiên Ông cho rằng con người cần phải thống trị, phải làm chủ giới tự nhiên Điều đó có thực hiện được không hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết của con người Bacon cho rằng tri thức là sức mạnh, sức mạnh là tri thức Do đó cần có một khoa học mới lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu nhằm biến tự nhiên thành “giang sơn” của con người
Trang 9Cũng như Bacon, Đêcáctơ đã chú ý đến nghiên cứu phương pháp nhận thức khoa học để tạo nên khả năng đi sâu vào nghiên cứu những bí mật của giới tự nhiên Ông tin tưởng rằng, với phương pháp mới có thể đạt được những tri thức có ích cho cuộc sống Triết học của ông có tính chất nhị nguyên Ông cho rằng, hai thực thể tinh thần và vật chất tồn tại độc lập với nhau, nhưng cả hai thực thể này đều phục tùng nguyên thể thứ ba – nguyên thể tối cao là thần linh Nhị nguyên luận của Đêcáctơ biểu hiện tính chất thỏa hiệp của hệ tư tưởng tư sản Trong học thuyết về
tự nhiên, Đêcáctơ là một nhà duy vật, ông coi vật chất là một thực thể duy nhất, là
cơ sở duy nhất của tồn tại và nhận thức Quảng tính là thuộc tính cơ bản của vật chất, nhưng ông lại đi đến đồng nhất vật chất với quảng tính, và ngược lại, ở đâu không có quảng tính thì không có vật chất Vật chất choán đầy vũ trụ, không có không gian trống rỗng Đêcáctơ thừa nhận tính vĩnh cửu của vật chất Vận động cơ học được ông xem như là một biểu hiện sức sống của vật chất Vận động được chuyển từ vật này đến vật khác và không bao giờ bị tiêu diệt Luận điểm của
Đêcáctơ về tính không bị tiêu diệt của vận động được Ph.Ăngghen đánh giá như một thành tựu khoa học vĩ đại Ông cho rằng, sự khác biệt giữa con người và con vật là ở chỗ: con người không chỉ là một cơ thể vật chất mà còn là một thực thể có
lý trí Nhưng lý trí, theo ông không phụ thuộc vào quá trình vật chất
Giá trị của triết học Aristotle thể hiện ở quan điểm về thế giới tự nhiên: đó là sự tồn tại của vật chất và hình dạng là cái tạo nên sự vật tuy còn nhiều quan điểm duy tâm trong học thuyết này nhưng nhìn chúng nó đã có giá trị nhất định Tuy nhiên giống như các nhà triết học trước đây hạn chế của ông vẫn là sự ngây thơ, chất phác trong quan niệm và sự tư duy trực quan cảm tính Hạn chế của ông còn thể hiện trong học thuyết về sự tồn tại: ông cho rằng giới tự nhiên vừa là vật chất đầu tiên, là cơ sở của mọi sinh tồn, vừa là hình dáng (cái được đưa từ bên ngoài vật chất) nhận thức của con người là thu nhận hình dáng chứ không phải chính sự vật Ngoài ra ông còn thừa nhận hình dáng của mọi hình dáng là thần thánh, xuất phát
từ thần thánh Hạn chế của ông còn được thể hiện ở chỗ khi quan niệm về sự vận động của vật chất, ông cho rằng thần thánh là nguồn gốc của mọi vận động Trong
lý luận nhận thức, sai lầm có tính chất duy tâm của Aristotle là thần thánh hóa mọi nhận thức lý tính và coi đó là chức năng của linh hồn, của thượng đế
2.3 Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Trang 10Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do Mác và Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỉ XIX, sau đó được V.I.Lênin phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó
và sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa siêu hình và là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật Nó là kết quả của quá trình đúc kết, khái quát hoá những tri thức của nhân loại về nhiều lĩnh vực để xây dựng nên hệ thống quan điểm lý luận chung, đồng thời định hướng cho các lực lượng xã hội tiến bộ trong hoạt động nhận thức
và thực tiễn của mình Ví dụ quan niệm của Béccli
Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng đó không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập với con người, quyết định sự tồn tại của tự nhiên xã hội và tư duy Nó thường được mang những tên gọi khác nhau như ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối
Ví dụ quan niệm của Platon, Heghen Cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, nguồn gốc nhận thức Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ, nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức, tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duy triết học Đồng thời nó biểu hiện cuộc đấu tranh
về hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội Bên cạnh các nhà triết học, nhất nguyên luận giải thích thế giới từ một nguyên thể hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có các nhà triết học nhị nguyên luận Họ xuất phát từ cả hai nguyên thể vật chất sinh ra từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ nguyên thể tinh thần Họ muốn dung hòa giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm nhưng cuối cùng họ rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi thừa nhận ý thức hình thành và phát triển tự
nó không phục thuộc vào vật chất
Để xây dựng học thuyết của mình ngang tầm cao của trí tuệ nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Lênin viết: "Lịch sử triết học và lịch sử khoa học xã hội chỉ ra một cách hoàn toàn
rõ ràng rằng chủ nghĩa Mác không có gì là giống "chủ nghĩa tông phái", hiểu theo nghĩa là một học thuyết đóng kín và cứng nhắc, nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới" Người còn chỉ rõ, học thuyết của Mác "ra đời là
sự thừa kế thẳng và trực tiếp những học thuyết của những đại biểu xuất sắc nhất