1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thành phần loài, các chỉ số muỗi, bọ gậy và kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về bệnh sốt xuất huyết tại phường quang trung và phường nguyễn văn cừ, thành phố quy nhơn, tỉnh bình định

109 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu một số yếu tố liên quan giữa kiến thức với thái độ và thực hành của người dân về phòng bệnh SXHD.... Theo số liệu thống kê của Sở Y tế Bình Định, năm 2016 tính đến ngày28/12 số

Trang 1

NGUYỄN NGỌC CẢNH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CÁC CHỈ SỐ MUỖI,

BỌ GẬY VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA

• • 7 • 7 •

NGƯỜI DÂN VỀ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT TẠI

• • PHƯỜNG QUANG TRUNG VÀ PHƯỜNG NGUYỄN VĂN CỪ, THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC THỰC NGHIỆM

• • • • •

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

NGUYỄN NGỌC CẢNH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI, CÁC CHỈ SỐ MUỖI,

BỌ GẬY VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH CỦA

• • 7 • 7 •

NGƯỜI DÂN VỀ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT TẠI

• • PHƯỜNG QUANG TRUNG VÀ PHƯỜNG NGUYỄN VĂN CỪ, THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH NĂM 2016

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

Mã số: 60 42 01 14

Trang 4

Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trungthực và chưa từng được sử dụng hay công bố trong bất kì công trình nào kháccho đến thời điểm này.

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn vàthông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Trang 5

Phó Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn đã luôntận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh - KTNN, PhòngĐào tạo sau đại học, trường Đại học Quy Nhơn; các cán bộ Viện Sốt rét - Kýsinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thờigian tiến hành thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, những ngườiluôn bên cạnh ủng hộ, động viên để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài này

Trang 6

AHI Adult house index (Chỉ số nhà có muỗi)

BI Breteau index (Chỉ số Breteau)

CI Container index (Chỉ số dụng cụ chứa nước có lăng

quăng/bọ gậy)

DCCN Dụng cụ chứa nước

DI Density index (Chỉ số mật độ muỗi)

HI House index (Chỉ số nhà có lăng quăng/bọ gậy)

KAP Knowledge, Attitude, and Practice (Kiến thức, thái độ và

Trang 7

1 Bảng 3.1 Sự phân bố Ae aegypti và Ae albopictus tại các

điểm nghiên cứu

7 Bảng 3.7 Những dụng cụ chứa nước có bọ gậy tại các địa

điểm nghiên cứu

51

8 Bảng 3.8 Thành phần và tỷ lệ ổ bọ gậy Ae agypti tại các

địa điểm nghiên cứu

52

9 Bảng 3.9 Kết quả điều tra giá thể trú đậu của Ae aegypti 55

10 Bảng 3.10 Kết quả điều tra độ cao muỗi Ae aegypti trú

12 Bảng 3.12 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 59

13 Bảng 3.13 Nguồn cung cấp kiến thức về bệnh SXH của

người dân tại địa điểm nghiên cứu

60

Trang 8

phường Quang Trung và phường Nguyễn Văn Cừ năm

2016

Trang 9

16 Bảng 3.16 Thực hành ngủ màn ban ngày để phòng chống

bệnh SXHD của đối tượng điều tra

65

17 Bảng 3.17 Các biện pháp thường sử dụng trong nhà để

phòng chống bệnh SXHD của đối tượng điều tra

20 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tuổi của đối tượng phỏng

vấn với kiến thức về các triệu chứng của SXHD

70

21 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa giới tính của đối tượng

phỏng vấn với kiến thức về các triệu chứng của SXHD

70

22 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của đối tượng

phỏng vấn với kiến thức về các triệu chứng của SXHD

71

23 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của đối

tượng phỏng vấn với kiến thức về các triệu chứng của

Trang 10

1 Biểu đồ 1.1 Số ca mắc SXHD tại các huyện, thành phố của

tỉnh Bình Định qua các năm 2014, 2015 và 2016

7

2 Biểu đồ 1.2 Số ca mắc SXHD theo tháng tại thành phố Quy

3 Biểu đồ 3.1 Thành phần và tỷ lệ ổ bọ gậy Ae agypti tại

phường Quang Trung và phường Nguyễn Văn Cừ năm 2016 53

4 Biểu đồ 3.2 Thành phần và tỷ lệ ổ bọ gậy Ae agypti tạiphường Quang Trung và phường Nguyễn Văn Cừ (tính

chung cho cả 2 phường) năm 2016

54

5 Biểu đồ 3.3 Giá thể trú đậu của muỗi Ae aegypti tại phường

Quang Trung và phường Nguyễn Văn Cừ năm 2016 56

6 Biểu đồ 3.4 Độ cao trú đậu trong nhà của muỗi Ae aegyptitại phường Quang Trung và phường Nguyễn Văn Cừ năm

Trang 11

soát véc tơ tại phường Quang Trung và phường Nguyễn Văn

Cừ năm 2016

Trang 12

1 Hình 1.1 Hình thái ngoài muỗi cái Ae aegypti 10

2 Hình 1.2 Hình thái ngoài muỗi cái Ae albopictus 11

3 Hình 1.3 Vòng đời của muỗi Aedes trải quả 4 giai đoạn 12

4 Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định 28

Trang 13

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CẢC CẢC CHỮ VIET TAT

DANH MỤC CẢC BẢNG, BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình bệnh SXHD trên thế giới và ở Việt Nam 3

1.1.1 Tình hình bệnh SXHD trên thế giới 3

1.1.2 Tình hình bệnh SXHD ở Việt Nam 5

1.1.3 Tình hình bệnh SXHD tại tỉnh Bình Định 6

1.2 Một số đặc điểm sinh học của muỗi Aedes 9

1.2.1 Vị trí trong hệ thống phân loại 9

1.2.2 Hình thái ngoài muỗi SXHD 10

1.2.3 Tập tính của muỗi SXH 11

1.1.3 Vòng đời của muỗi Aedes 12

1.3 Các nghiên cứu về véc tơ SXHD trên thế giới và ở Việt Nam 13

1.3.1 Các nghiên cứu về véc tơ SXHD trên thế giới 13

1.3.2 Các nghiên cứu về véc tơ SXHD ở Việt Nam 16

1.4 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của người dân đối với SXHD 22

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN • ' • CỨU 26

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 29

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 29

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 45

3.1 Thành phần loài, các chỉ số muỗi, bọ gậy muỗi truyền bệnh SXHD tại phường Quang Trung và phường Nguyễn Văn Cừ 45

3.1.1 Thành phần loài muỗi SXH tại các địa điểm nghiên cứu 45

3.1.2 Các chỉ số muỗi và bọ gậy SXH tại các địa điểm nghiên cứu 47

3.1.3 Thành phần và tỷ lệ ổ bọ gậy tại địa điểm nghiên cứu 51

3.1.4 Một số tập tính hoạt động của muỗi Ae aegypti 55

Trang 14

3.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 59

3.2.2 Nguồn cung cấp kiến thức về bệnh SXH của người dân 60

3.2.3 Kiến thức của đối tượng điều tra về SXHD 62

3.2.4 Thái độ của đối tượng điều tra đối với bệnh SXHD 64

3.2.5 Thực hành phòng chống bệnh SXHD của đối tượng điều tra 65

3.2.6 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan giữa kiến thức với thái độ và thực hành của người dân về phòng bệnh SXHD 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

1 Kết luận 74

2 Kiến nghị 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 15

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sốt xuất huyết (SXH) hay sốt xuất huyết Dengue (SXHD) hiệnđang là vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu và được Tổ chức Y tế thếgiới (WHO) đánh giá là một trong những bệnh do véc tơ truyền quan trọngnhất Kể từ khi được phát hiện vào những năm 50 của thế kỷ trước, SXH liêntục lan rộng ra các quốc gia, hiện SXH đang lưu hành ở trên 128 quốc giathuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới như vùng Đông Nam Á

và Tây Thái Bình Dương, châu Mỹ, châu Phi Trong 20 năm trở lại đây, số mắcmới tăng gấp 3 lần so với 30 năm về trước Mật độ và thời gian di chuyển giữacác khu vực tăng cao cùng với khí hậu toàn cầu thay đổi đã làm cho SXHDngày càng mở rộng vùng phân bố và số mắc Theo thông báo của Tổ chức Y tếthế giới (WHO), đến ngày 06/10/2015, tại Malaysia đã ghi nhận 89.744 trườnghợp mắc, tăng 20,7% so với cùng kỳ năm 2014 và tăng 300% so với cùng kỳnăm 2013, trong đó có 244 trường hợp tử vong; tại Philippines, ghi nhận78.808 trường hợp mắc, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó có 233trường hợp tử vong do SXHD

Đây là bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin đang trong giaiđoạn thử nghiệm lâm sàng mà chưa đưa vào sử dụng, tỷ lệ tử vong đến 5%,thậm chí cao hơn nếu không được chẩn đoán và điều trị thích hợp chính vì vậybiện pháp phòng chống SXHD chủ yếu vẫn dựa vào việc kiểm soát véc tơ;đồng thời kiến thức, hiểu biết của người dân đóng vai trò quan trọng trong việcphòng chống dịch SXH Tuy nhiên, phần lớn hiểu biết và thái độ của ngườidân về bệnh SXH cũng như thực hành phòng chống SXH còn nhiều hạn chếnên bệnh SXHD vẫn còn là mối lo ngại lớn nhất của ngành y tế trong nhữngnăm qua

Bình Định là một trong những tỉnh hàng năm có số ca mắc SXHD caotrong khu vực Nam Trung Bộ, và thành phố Quy Nhơn là cái nôi SXHD của

Trang 16

tỉnh Theo số liệu thống kê của Sở Y tế Bình Định, năm 2016 (tính đến ngày28/12) số bệnh nhân của thành phố Quy Nhơn là 979 ca, trong khi toàn tỉnh có4.634 ca mắc (chiếm 21,1%) và tình hình SXHD đang có chiều hướng gia tăngmạnh, vấn đề xử lý ổ dịch SXHD thường xuyên phun hóa chất diệt muỗi dầndần muỗi tăng sức chịu đựng, dẫn đến SXHD có nhiều diễn biến phức tạp, cóchiều hướng gia tăng mạnh nên việc nghiên cứu về véc tơ truyền bệnh và kiếnthức, thái độ, thực hành của người dân về SXH tại thành phố Quy Nhơn, tỉnhBình Định là điều rất cần thiết.

Với những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu thành phần loài, các chỉ số muỗi, bọ gậy và kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về bệnh sốt xuất huyết tại phường Quang Trung và phường Nguyễn Văn Cừ, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định năm 2016” nhằm các mục tiêu sau:

1 Xác định thành phần loài muỗi SXH, các chỉ số muỗi, bọ gậy SXH tạicác địa điểm ở phường Quang Trung và phường Nguyễn Văn Cừ, thành phốQuy Nhơn, tỉnh Bình Định năm 2016

2 Đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi của người dân đối với SXH tạiđiểm nghiên cứu

Kết quả của đề tài là những dẫn liệu khoa học, đưa ra những dự báo vềtình hình SXHD tại địa phương, làm cơ sở đề xuất những biện pháp phòngchống véc tơ hữu hiệu, góp phần giảm tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong do SXHD,khống chế dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Trang 17

1.1 Tình hình bệnh SXHD trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Tình hình bệnh SXHD trên thế giới

Theo WHO, trước năm 1970 chỉ có 9 quốc gia xảy ra các vụ dịch SXHnghiêm trọng nhưng đến nay hơn 100 quốc gia có bệnh lưu hành tại các khuvực châu Phi, châu Mỹ, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái BìnhDương của WHO Các khu vực châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái BìnhDương đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất Theo số liệu chính thức từ cácquốc gia thành viên: số ca nhiễm trên toàn châu Mỹ, Đông Nam Á và Tây TháiBình Dương vượt quá 1,2 triệu người vào năm 2008 và trên 3 triệu người trongnăm 2013 và gần đây số ca bệnh được báo cáo vẫn tiếp tục gia tăng Trongnăm 2015, chỉ tính riêng châu Mỹ đã có khoảng 2,35 triệu ca mắc, trong đó10.200 trường hợp được chẩn đoán SXH nặng gây ra 1.181 tử vong, số lượng

ca bệnh gia tăng không chỉ lây lan sang các khu vực mới mà còn do các vụdịch đang xảy ra

Nguy cơ đe dọa bùng phát dịch bệnh SXH hiện cũng đang tồn tại ở châu

Âu, khi sự lan truyền tại chỗ đã được báo cáo lần đầu tiên tại Pháp và Croatiatrong năm 2010 và các ca bệnh nhập khẩu (imported cases) đã được phát hiệntại 3 nước châu Âu khác Trong năm 2012, một đợt bùng phát bệnh SXH trênđảo Madeira của Bồ Đào Nha gây ra hơn 2.000 trường hợp và các trường hợpnhập khẩu đã được phát hiện ở lục địa Bồ Đào Nha và 10 quốc gia khác ở châuÂu

Trong năm 2013, các trường hợp đã xảy ra tại Florida (Hoa Kỳ) và tỉnhVân Nam của Trung Quốc SXH tiếp tục ảnh hưởng đến một số nước Nam

Mỹ, đặc biệt là Costa Rica, Honduras và Mexico Ở châu Á, Singapore đã báocáo về một sự gia tăng số mắc sau khi một sự biến mất trong nhiều năm và các

vụ dịch cũng đã được báo cáo tại Lào

Trong năm 2014, các xu hướng cho thấy sự gia tăng ca bệnh ở Trung

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trang 18

Quốc, quần đảo Cook, Fiji, Malaysia và Vanuatu với SXH type 3 (DEN 3) ảnhhưởng đến các quốc đảo Thái Bình Dương sau khi một sự biến mất trong hơn

10 năm SXH cũng được báo cáo tại Nhật Bản sau khi biến mất trong hơn 70năm

Năm 2015 được đặc trưng bởi các vụ dịch SXH lớn trên toàn thế giới,với Philippines báo cáo hơn 169.000 ca mắc bệnh (tăng 59,5%) và Malaysiavượt quá 111.000 trường hợp nghi ngờ SXH (tăng 16%) so với cùng kỳ nămtrước Chỉ riêng ở Brazil báo cáo trên 1,5 triệu trường hợp vào năm 2015, xấp

xỉ cao hơn 3 lần trong năm 2014 Cũng trong năm 2015, Delhi, Ấn Độ, ghinhận vụ dịch tồi tệ nhất kể từ năm 2006 với hơn 15.000 trường hợp Quần đảoHawaii ở bang Hawaii, Hoa Kỳ đã bị ảnh hưởng bởi một vụ dịch với 181trường hợp được báo cáo trong năm 2015 và sự lây lan tiếp tục trong năm

2016 Quốc đảo Fiji ở Thái Bình Dương, Tonga và Polynesia thuộc Pháp tiếptục ghi nhận số ca mắc Ước tính có khoảng 500.000 người bị SXH nặng phảinhập viện mỗi năm, một tỷ lệ lớn trong số đó là trẻ em và khoảng 2,5% sốngười bị ảnh hưởng tử vong do căn bệnh này

Theo thông tin cập nhật 29/7/2016 của WHO về gánh nặng toàn cầu củaSXH (global burden of dengue) thì tỷ lệ mắc bệnh SXH trên phạm vi toàn cầu

đã gia tăng đáng kể trong vài thập kỷ gần đây Thống kê chưa đầy đủ củaWHO gần đây cho thấy có khoảng 390 triệu ca nhiễm SXH mỗi năm (95%khoảng tin cậy: 284 - 528 triệu), trong đó 96 triệu (67 - 136 triệu) có biểu hiện

về mặt lâm sàng với bất kỳ mức độ nghiêm trọng của bệnh Ước tính 3,9 tỷngười trong 128 quốc gia có nguy cơ nhiễm virus SXH; gần 2,4 triệu ca mắcSXH hàng năm (trong các năm 2010, 2013 và 2015) được báo cáo từ các nướcthành viên trong 3 khu vực của WHO

1.1.2 Tình hình bệnh SXHD ở Việt Nam

Ở Việt Nam từ năm 1913 Gaide đã ghi nhận về sốt Dengue cổ điển tạimiền Bắc và miền Trung, năm 1929 Boyé có viết về 1 vụ dịch sốt Dengue cổ

Trang 19

điển năm 1927 ở miền Nam Việt Nam Trong 10 năm gần đây, năm 2010 cảnước có số mắc cao nhất với 128.710 trường hợp mắc, 109 trường hợp tửvong, số mắc giảm dần qua các năm, năm 2014 là năm có số mắc thấp nhấttrong giai đoạn 2010 - 2014 và trong vòng 10 năm từ 2005 - 2014 với 31.848trường hợp mắc, 20 trường hợp tử vong.

Tính đến tuần thứ 46 năm 2015, cả nước đã ghi nhận 61.780 trường hợpmắc SXHD, 40 trường hợp tử vong Số mắc/chết tập trung chủ yếu ở các tỉnhphía Nam và Nam Trung bộ

Tại Khu vực miền Trung tính đến ngày 15/11/2015, đã ghi nhận 13.917trường hợp mắc và 5 trường hợp tử vong Số mắc/chết tập trung chủ yếu ở cáctỉnh Nam Trung bộ từ Đà Nẵng trở vào: Khánh Hòa 5.498/02; Bình Thuận1.729/01; Quảng Ngãi 1.299/0; Phú Yên 1.106/01; Bình Định 1.360/01

Theo Bô Y tế (MOH), đến đầu tháng 8 năm 2016 cả nước ghi nhận gần50.000 ca mắc tại 48 tỉnh/thành phố vài 17 trường hợp tử vong Trong đo khuvực Tây Nguyên ghi nhận 7.411 trường hợp mắc, 4 trường hợp tử vong Tỷ lệmắc/100.000 dân của khu vực này là 168,1/100.000 dần, cào hờn nhiều so với

cả nước 48,2/100.000 dần; trong đó cào nhất là Kon Tum 291,3/100.000 dân,tiếp theo là Già Lài 218,2/100.000 dần, Đắk Nông 197,3/100.000 dần và Đắk

Lắk là 92,1/100.000 dân Ngoài ra, số ca mắc số t xuầt huy ế t tầp trung ờ môt

số tinh Khánh Hòa, Bình Định, Phú Yên, Đà Nẵng, Đồng Tháp, thành phố HồChí Minh, Bình Phước và có chiêu hương tiêp tục gia tăng va lan rộng

1.1.3 Tình hình bệnh SXHD tại tỉnh Bình Định

Tính đến ngày 17/12/2015, toàn tỉnh đã ghi nhận 2.308 trường hợpSXHD, tử vóng 01 trường hợp tại khối 4, thị trấn Bồng Sơn Ca bệnh được ghinhận ở tất cả 11 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, phân bố theó địa phương:Quy Nhơn 655 ca, Phù Cát 298 ca, Vân Canh 276 ca, Hóài Nhơn 227 ca (chết01), Tây Sơn 184 ca, Phù Mỹ 206 ca, Vĩnh Thạnh 184 ca, Tụy Phước 119 ca,

Trang 20

An Nhơn 107, Hóài Ân 48 và An Lãó 04 ca Só với cùng kỳ năm 2014, số camắc tăng 1.395 ca.

Theo báo cáo của Sở Y tế Bình Định, năm 2015 toàn tỉnh ghi nhận được2.650 ca mắc bệnh SXHD, tróng đó có 1 ca tử vong ở huyện Hóài Nhơn Cáctrường hợp mắc bệnh ở tất cả 11 huyện, thị, thành phố trong tỉnh, tróng đó cácđịa phương có ca mắc bệnh cao: thành phố Quy Nhơn 807 ca, huyện Phù Cát

272 ca, Vân Canh 299 ca, Hóài Nhơn 240 ca, Phù Mỹ 254 ca , địa phương có

số ca mắc ít nhất là huyện An Lão chỉ 3 trường hợp

Năm 2016, theo báo cáo của Sở Y tế Bình Định (tính đến ngày 28/12),toàn tỉnh ghi nhận 4.634 ca mắc bệnh SXHD Ca bệnh được ghi nhận ở tất cả

11 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, phân bố theó địa phương: Quy Nhơn

979 ca, Vân Canh 94 ca, Vĩnh Thạnh 157 ca, An Nhơn 848, Tuy Phước 439 ca,Tây Sơn 539 ca, Phù Mỹ 572 ca, Phù Cát 474 ca, Hóài Nhơn 399 ca, Hóài Ân

128 và An Lãó 06 ca Tróng đó có 2 ca tử vong gồm 1 ca ở huyện An Nhơn và

1 ca ở huyện Hóài Nhơn Như vậy, trong khi huyện vùng caó An Lãó, nơi màkiến thức người dân còn hạn chế về phòng chống SXH chỉ ghi nhận 6 ca, thìSXH lại bùng phát mạnh ở thành phố Quy Nhơn, với 979 ca, chiếm gần 1/4 số

ca mắc bệnh toàn tỉnh

Trang 21

Biểu đồ 1.1 Số ca mắc SXHD tại các huyện, thành phố của tỉnh Bình Định qua các năm 2014, 2015 và 2016

(Số liệu theo Báo cáo của Sở Y tế Bình Định tính đến hết tuần 52 mỗi năm)

Trang 22

Biểu đồ 1.2 Số ca mắc SXHD theo tháng tại thành phố Quy Nhơn năm 2015 và 2016

(Số liệu theo Báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bình Định)

Trang 24

1.1.3 Vòng đời của muỗi Aedes

Hình 1.3 Vòng đời của muỗi Aedes trải quả 4 giai đoạn

Vòng đời của muỗi SXH có 4 giai đoạn: trứng bọ gậy lăng quăng muỗi trưởng thành Trong đó 3 giai đoạn đầu thì sống trong nước, chỉ có giaiđoạn muỗi trưởng thành sống trên cạn Thời gian phát triển của các pha trướctrưởng thành (từ trứng đến quăng) trung bình 7 ngày, thời gian từ quăng đếnmuỗi trưởng thành khoảng 2 đến 3 ngày, thời gian tiêu sinh của muỗi khoảng 5ngày Muỗi cái sống từ 20 đến 40 ngày, muỗi đực sống ngắn hơn từ 9 đến 12ngày; số lượng trứng đẻ của mỗi con muỗi cái từ 60 - 100 trứng/lần đẻ, trứngmuỗi có màu đen, riêng rẽ từng quả một đính vào thành vật chứa hay chìmxuống nước, trong điều kiện bất lợi trứng muỗi có thể tồn tại đến 6 tháng

-1.3 Các nghiên cứu về véc tơ SXHD trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Các nghiên cứu về véc tơ SXHD trên thế giới

Nghiên cứu về véc tơ truyền bệnh SXHD từ lâu trên thế giới đã có nhiềucông trình nghiên cứu:

Tổng kết của WHO (1993) cho biết véc tơ chính của bệnh SXHD là Ae aegypti và Ae albopictus Ở đảo Thái Bình Dương là Ae polynesiensis và sau

Trang 25

đó là nhóm Ae scutellaris.

Muỗi Ae aegypti có vai trò truyền bệnh ở hầu hết các nước trên thế giới,

vì thế nhiều tác giả lấy nó làm đối tượng nghiên cứu về nhiều mặt Các công

trình đã được công bố của Christopher (1960) nghiên cứu muỗi Ae aegypti

một cách toàn diện về thời gian phát triển của các pha, vai trò truyền bệnh cũngnhư phân bố của chúng và các nghiên cứu sâu về di truyền tế bào Ngoài ra cónhiều công trình của các tác giả khác như Suroso và cs (1986) nghiên cứu ở

Indonesia cho thấy: nơi đẻ ưa thích của Ae aegypti là ở các dụng cụ chứa nước

mưa (40,2%), nước máy (10,5%), nước giếng hoặc nước sông (4,2%) [42]

Theo WHO (1993) muỗi Ae aegypti thích đốt người hơn súc vật và trú đậu tiêu

máu chủ yếu trong nhà Chúng hoạt động vào ban ngày và có hai đỉnh: sau mặttrời mọc và đỉnh chính là một giờ trước khi hoàng hôn [44]

Trong thực tế tại nhiều quốc gia trên thế giới véc tơ truyền bệnh SXHD

có mật độ thay đổi theo mùa, đồng thời bệnh SXHD cũng phát triển khác nhautheo thời gian trong năm, có nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa yếu tốthời tiết nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm đến véc tơ và bệnh SXHD: Mogi và cs

(1988) điều tra trứng của 2 loài Ae aegypti và Ae albopictus ở khu dân cư

Chiềng Mai, Thái Lan thấy khả năng phát triển của muỗi giảm xuống vào mùakhô (kể cả 2 loài), nhưng được tăng lên hoặc giảm xuống theo hàm số mũ trongsuốt nửa đầu hoặc sau của mùa mưa Mô hình phát triển của 2 quần thể muỗi

kể trên theo mùa cũng tương tự với sự phân bố theo mùa của các trường hợp

mắc bệnh SXH ở trong vùng Trong suốt mùa khô (tháng 12 - 3) muỗi Ae aegypti trội ở thành phố Bắt đầu mùa mưa (vào tháng 4) muỗi Ae albopictus tăng lên và đã thay thế Ae aegypti vào nửa sau của mùa mưa ở vùng nông thôn Nhiều tác giả giải thích sự suy giảm của quần thể muỗi Ae aegypti và sự tăng lên của Ae albopictus có liên quan đến lượng mưa và nguồn thức ăn sẵn

có trong các ổ bọ gậy [40]; S Wongkoon và cs (2013) nghiên cứu tác động của

biến đổi theo mùa đến muỗi và bọ gậy Ae aegypti và Ae albopictus và mùa

Trang 26

truyền bệnh SXHD tại Sisaket, Thái Lan, nghiên cứu được tiến hành điều tracôn trùng từ tháng 1 đến tháng 12/ 2010, và hồi cứu số liệu bệnh nhân SXHDhàng tháng từ năm 2004 đến năm 2010 từ Bộ Y tế, dữ liệu thời tiết lấy từ Cụckhí tượng Thái Lan, kết quả vào mùa đông và mùa mưa tại mỗi hộ gia đình bọ

gậy Ae aegypti cao hơn Ae albopictus, tại mỗi hộ gia đình bọ gậy Ae aegypti

vào mùa mưa cao hơn mùa đông và mùa hạ; độ ẩm tương đối ở một tháng và

số ngày mưa trong tháng là yếu tố dự báo đáng kể tỷ lệ mắc bệnh SXHD tạiSisaket [45]

Nghiên cứu mối liên quan giữa yếu tố thời tiết đến bệnh SXHD có MariaGoreti Rosa - Freitas và cs (2006) nghiên cứu mối liên quan giữa bệnh SXHD

và các yếu tố thời tiết trong một thành phố ở Amazon của Brazil, từ số ca bệnhSXHD từ 9/1998 đến 12/2001 và các biến số khí tượng (nhiệt độ, gió, áp suấtkhông khí và độ ẩm ), có kết luận: Mối liên quan giữa khí hậu và SXHDđược phân tích tốt nhất trong khoảng thời gian ngắn có liên quan, đa biến ngẫunhiên theo thời gian khí hậu dựa trên phân tích có tiềm năng để xác định thờigian có tỷ lệ SXHD cao, cần được lồng ghép các chương trình kiểm soát bệnh

do véc tơ truyền tại địa phương [43]; Jay P Picardal và Allan Roy R Elnar(2012) nghiên cứu ảnh hưởng của lượng mưa, nhiệt độ đến tỷ lệ mắc SXHD ởtrung tâm Visayas, Philippines, phân tích các số liệu bệnh nhân SXHD và cácyếu tố khí hậu, cho thấy phạm vi nhiệt độ từ 27,5oC đến 28,5oC và lượng mưa

từ 0 đến 10mm là điều kiện lý tưởng cho tỷ lệ virus Dengue, tuy nhiên không

có sự tương quan của các yếu tố khí hậu: lượng mưa (r = 0,2, p = 0,937) vànhiệt độ (r = 0, p = 0,789) đến bệnh SXHD, còn nhiễu bởi các yếu tố khác đến

tỷ lệ mắc SXHD tại đây [38]; Karim MN và cs (2012) nghiên cứu yếu tố khíhậu ảnh hưởng đến các trường hợp SXH ở thành phố Dhaka, Bangladesh đưa

ra một mô hình để dự đoán SXH, phân tích từ số liệu ca SXHD hàng tháng vàcác dữ liệu khí hậu trong những năm 2000 - 2008, cho thấy nhiệt độ tối đa và

độ ẩm tương đối có tương quan đáng kể với ca SXH báo cáo hàng tháng, khí

Trang 27

hậu đã có một ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện của bệnh SXH tại thành phốDhaka, các mô hình dự đoán: có một số hạn chế trong việc dự đoán số lượng caSXH hàng tháng, nó có thể dự báo có thể bùng phát hai tháng trước với độchính xác đáng kể [39]; Promprou S và cs (2005) nghiên cứu các yếu tố khíhậu ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh SXHD ở miền Nam Thái Lan, từ dữ liệu khí hậu(lượng mưa hàng tháng, mưa hàng ngày, nhiệt độ: tối đa, tối thiểu, nhiệt độtrung bình và độ ẩm tương đối) miền Nam Thái Lan giai đoạn 1993 - 2002 và

dữ liệu hàng tháng bệnh nhân SXHD cùng kỳ, kết quả chỉ ra rằng nhiệt độtrung bình, lượng mưa và độ ẩm tương đối có liên quan với tỷ lệ mắc SXH tạicác khu vực biên giới trên biển Andaman, trong khi nhiệt độ tối thiểu, ngàymưa và độ ẩm tương đối có mối liên quan với tỷ lệ SXHD ở bán đảo phía namvịnh Thái Lan [41]

Dulay Aubrey Valora S và cs (2013) nghiên cứu biến đổi khí hậu và tỷ

lệ bệnh SXH và SXHD ở thành phố Iligan, Lanao del Norte, Philippines,nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ giữa các yếu tố khí hậu với tỷ lệ SXH vàSXHD báo cáo trong thành phố Iligan 2005 - 2009, các yếu tố khí hậu baogồm: nhiệt độ tối đa, nhiệt độ tối thiểu, lượng mưa và độ ẩm tương đối, kết quảcho thấy: Tổng số ca SXH được sử dụng như là biến phụ thuộc, đã đưa ra một

mô hình hồi quy dự đoán của Y (tỷ lệ cả SXH và SXHD) = - 0,307 (nhiệt độ tốiđa) + 0,375 (nhiệt độ tối thiểu) + 0,024 (lượng mưa) - 0,323 (độ ẩm tương đối)

có nghĩa là các hằng số này có một mối tương quan đáng kể đến trường hợpSXH, cho thấy một sự gia tăng hay giảm giá trị của nó có thể ảnh hưởng đến số

ca SXH [36]

1.3.2 Các nghiên cứu về véc tơ SXHD ở Việt Nam

Nghiên cứu về véc tơ truyền bệnh SXHD có: Vũ Thị Phan và cs (1973)

đã xác định trung gian truyền bệnh chính ở Việt Nam là Ae aegypti, còn Ae albopictus chỉ đóng vai trò phụ; SXHD là một bệnh lưu hành nặng và trên địa

bàn rộng ở Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh có sự sai khác giữa các năm, song

Trang 28

dịch năm nào cũng xuất hiện và gây ra những thiệt hại hết sức to lớn [24]; Đỗ

Sỹ Hiển (1992) nghiên cứu về khả năng tồn tại của trứng, các yếu tố kích thíchtrứng nở, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bọ gậy, khả năng sinh sản

của hai loài Ae aegypti và Ae albopictus [14]; nhiều nghiên cứu về Aedes ở các vùng khác nhau cho rằng muỗi Aedes qua đông ở giai đoạn trứng và ấu

đêm, kết quả tại thành phố Nha Trang có 2 véc tơ truyền bệnh SXHD chủ yếu

Ae aegypti (82,35%) và thứ yếu Ae albopictus (17,65%), thu thập được có số

lượng nhiều vào tháng 9 và tháng 10 chiếm 29,4% trong cả năm, phù hợp vớithời điểm có nhiều bệnh nhân SXHD tại Nha Trang [6], Đỗ Công Tấn và cs(2009) nghiên cứu véc tơ SXHD tại thành phố Quy Nhơn, Bình Định từ tháng03/2007 đến tháng 02/2009, thu thập muỗi bằng bẫy bả mồi Biogent GmbH đặttại nhà của bệnh nhân SXHD suốt ngày đêm, kết quả tại thành phố Quy Nhơn

véc tơ truyền bệnh SXHD chủ yếu Ae aegypti (100%), véc tơ SXHD phát triển

có định từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, thấp nhất khoảng tháng 5 đến tháng 8,mùa phát triển của véc tơ phù hợp với 1 đỉnh bệnh SXHD (tháng 9 đến tháng 1năm sau), tuy nhiên thời gian tháng 6 đến tháng 7 véc tơ thấp nhất lại có tìnhhình bệnh SXHD có phần tăng cao, có thể giai đoạn này tỷ lệ nhiễm virus

Trang 29

Dengue trong quần thể muỗi Ae aegypti tại địa phương cao, khả năng tiếp xúc của con người và muỗi Ae aegypti cao [30]; Nguyễn Xuân Quang, Đỗ CôngTấn và cs (2014) nghiên cứu đặc điểm véc tơ SXHD tại huyện miền núi có tìnhhình SXHD tăng cao Sơn Hòa và Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, từ tháng 5 đếntháng 12 năm 2014, cho thấy tại huyện Sơn Hòa: nơi hoạt động đốt người và

trú đậu (muỗi trưởng thành Ae aegypti trong nhà 100%; Ae albopictus trong nhà 22,2 % và ngoài nhà 77,8 %), muỗi Ae aegypti có mật độ (1,4 - 1,5

con/giờ/người) đốt người cao từ sáng sớm (5 đến 7 giờ sáng) giảm dần đến 12giờ trưa, sau đó muỗi hoạt động tăng trở lại đến 18 giờ, tuy nhiên đỉnh từ 17đến 18 giờ có mật độ xấp xỉ khoảng thời gian từ 8 đến 11 giờ (0,9 - 1,1

con/giờ/người), tỷ lệ muỗi trưởng thành: Ae aegypti 92% và Ae albopictus 8% Tại huyện Sơn Hòa mùa phát triển của Ae aegypti (từ tháng 9 đến tháng

12) trùng hợp với mùa phát triển bệnh SXHD tại đây (Tại huyện Sơn Hòa: từtháng 1 đến tháng 8 bệnh nhân SXHD có từ 0 6 trường hợp mắc/tháng; từtháng 9 đến tháng 11 bệnh nhân SXHD có từ 16 38 trường hợp mắc/tháng),

Ae aegypti đóng vai trò chính và Ae albopictus là thứ yếu trong lan truyền

bệnh SXHD tại đây Tại huyện Sông Hinh, nơi hoạt động đốt người và trú đậu

muỗi trưởng thành Ae aegypti trong nhà 95,3% và ngoài nhà 4,7%, Ae albopictus ngoài nhà 100%; muỗi Ae aegypti có mật độ 1,3 - 1,4 con/giờ/

người đốt người cao từ sáng sớm (5 đến 7 giờ sáng) giảm dần đến 12 giờ trưa,sau đó muỗi hoạt động tăng trở lại đến 18 giờ, tuy nhiên đỉnh từ 17 đến 18 giờ

có mật độ xấp xỉ khoảng thời gian từ 8 đến 11 giờ (0,8 - 1,0 con/giờ/người), tỷ

lệ muỗi trưởng thành: Ae aegypti 90,6 % và Ae albopictus 9,4 % Tại huyện

Sông Hinh có sự can thiệp, vào mùa mưa vệ sinh môi trường diệt lăng quăng

bọ gậy, không có sự khác biệt của muỗi Ae aegypti giữa mùa khô và mùa mưa, diễn biến mật độ muỗi Ae aegypti tại thị trấn Hai Riêng không thấy rõ mùa

phát triển phù hợp với tình hình bệnh SXHD tại đây (Tại huyện Sông Hinh: từtháng 1 đến tháng 11 bệnh nhân SXHD thường có từ 0 :2 trường hợp

Trang 30

Nguyễn Văn Chuyên và cs (2014) nghiên cứu mối liên quan giữa véc tơtruyền bệnh SXHD, sốt rét với biến đổi khí hậu tại tỉnh Kiên Giang, nghiên cứuđược tiến hành từ tháng 3/2013 đến 4/2014 tại 7 huyện ven biển tỉnh Kiên

Trang 31

Giang Kết quả phân tích mối liên quan giữa véc tơ truyền bệnh SXHD và sốtrét với biến đổi khí hậu tại tỉnh Kiên Giang cho thấy: sự biến đổi về lượng mưa

và nhiệt độ theo mùa là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển

của véc tơ SXHD Vào mùa mưa, các chỉ số về mật độ muỗi cái Ae aegypti có

xu hướng tăng cao hơn (r = 0,65) Đối với véc tơ truyền bệnh sốt rét, sự biến

đổi về nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng tới sự phát triển của muỗi Anopheles epiroticus Số lượng muỗi Anopheles epiroticus có mối tương quan nghịch với

nhiệt độ (r = - 0,83) và tương quan thuận với độ ẩm (r = 0,68) [7]

Vũ Đức Hương và cs (2000) nghiên cứu về phân bố và độ nhạy cảm với

một số hóa chất diệt côn trùng của muỗi Ae aegypti ở Nam Bộ và Tây Nguyên

đã kết luận số lượng, thành phần và vị trí đặt ổ bọ gậy muỗi Ae aegypti thay

đổi theo các sinh cảnh, chịu ảnh hưởng của việc cung cấp nước sạch và tậpquán của nhân dân, đồng thời qua việc điều tra ở một số địa điểm khu vực Nam

Bộ và Tây Nguyên cho thấy việc áp dụng một biện pháp diệt bọ gậy muỗi Ae aegypti khó có thể cho kết quả mong muốn mà phải sử dụng biện pháp tổng

hợp, vừa diệt muỗi vừa diệt bọ gậy [16]

Triêu Nguyên Trung và Nguyễn Xuân Quang (2010) giám sát phong

chống SXH tại Tây Nguyên xác định có mặt cả hái véc tơ Ae aegypti và Ae albopictus Phạm Văn Minh (2011) xây dựng bản đồ phân bố muỗi Ae aegypti

có vai trò truyền bệnh SXH và khủng bố sinh học giái đoạn 1999 - 2009, xác

định muỗi Ae aegypti có mật độ cao nhất ở các tỉnh/thành phía Nam và không

có mặt ở 11 tỉnh vùng núi phía Bắc

Nguyễn Ngọc San và Phạm Lê Tuấn (2010) nghiên cứu về sự biến động

ổ bọ gậy nguồn của Ae aegypti tại thành phố Hà Nội từ tháng 1/2004 đến 6/2006, kết quả cho thấy: các tháng trong năm đều thu thập được Ae aegypti

trưởng thành và bọ gậy, các chỉ số muỗi và bọ gậy tăng dần theo từng năm tại 2quận, đặc biệt chỉ số BI ở Đống Đá: 8 (năm 2004) tăng lên 14 (năm 2006), ởquận Thánh Xuân 17 (năm 2004) tăng lên 30 (năm 2006); quận Thanh Xuân có

Trang 32

DI từ 39,46 con/nhà (năm 2004) tăng lên 42,38 con/nhà (năm 2006), trong nămchỉ số BI tháy đổi tăng giảm thất thường, nguy cơ xảy ra dịch SXHD ở cả 2quận là rất cao [26].

Nguyễn Thị Mỹ Liên, Trần Ngọc Hữu và cs (2011) nghiên cứu khảo sát

2971 DCCN tự nhiên, nhân tạo vào mùá mưá, mùá nắng tại 800 hộ giá đìnhcủa các tỉnh Bình Dương và Hậu Giang bằng phiếu điều tra và bộ dụng cụ khảo

sát véc tơ để tìm các chỉ số, tỉ lệ nhiễm, tỉ lệ tập trung lăng quăng, nhộng Aedes

trong DCCN, xác định mối liên quan giữa tỉ lệ DCCN nhiễm lăng quăng với

các đặc tính nội tại, địa lý, mùa, tỉ lệ muỗi Ae aegypti và Ae albopictus trưởng

thành Tại Bình Dương, ở khu vực nông thôn, loại DCCN chủ yếu bị nhiễmlăng quăng vào mùá mưá, nắng là lu khạp nhỏ (<100L) chiếm 30,2% - 54,8%;trong khi ở khu vực thành thị loại DCCN bị nhiễm chính vào mùá mưá là lukhạp (< 100L) chiếm 24,5% còn vào mùa nắng là phế thải (40,4%) Ở khu vựcnông thôn của tỉnh Hậu Giang, loại DCCN bị nhiễm chính vào mùa mưa, nắng

là lu khạp có dung tích trung bình hoặc lớn (> 100L) chiếm 68,7% - 83,6%trong khi ở khu vực thành thị của tỉnh này, loại DCCN bị nhiễm chính vào mùamưa là lu khạp (>100L) chiếm 83%, còn vào mùa nắng là hồ <1000L (32,3%)

Có nắp đậy kín, có thiên địch trong DCCN là các đặc tính bảo vệ DCCN không

bị nhiễm lăng quăng Muỗi Ae aegypti và Ae albopictus đều hiện diện ở hai

tỉnh Từ những ổ lăng quăng nguồn được xác định, cần tập trung diệt nguồn vàlưu ý sự có mặt của véc tơ tại hai tỉnh này vào mùa mưa nắng trong chiến lượckiểm soát véc tơ [18]

Phạm Thị Thúy Ngọc và cs (2013), nghiên cứu về sự khác biệt ổ lăng

quăng nguồn Ae aegypti ở đô thị và nông thôn vào mùa mưa và mùa nắng tỉnh

Bạc Liêu và Bình Dương từ năm 2011 - 2012 Kết quả điều tra được 2647DCCN với 18,74% DCCN nhiễm lăng quăng; ở tỉnh Bình Dương chiếm tỉ lệnhiễm cao nhất là lu (< 100 lít) 32% và vật chứa linh linh chiếm tỉ lệ thấp hơn;trong khi ở Bạc Liêu vật chứa nhiễm chủ yếu là lu (> 100 lít) 89% và hồ vuông

Trang 33

> 500 lít chiếm 64% Sự biến thiên các chỉ số côn trùng Aedes (BI, HI, CI)

trong mùa nắng thấp hơn trong mùa mưa [21]

Kết quả nghiên cứu của Đỗ Văn Nguyên, Nguyễn Xuân Quang (2015)tại Quy Nhơn, huyện Tuy Phước và huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định cho thấy

muỗi trưởng thành và bọ gậy/lăng quăng Ae aegypti có mặt tại tất cả các điểm nghiên cứu, nhưng đối với loài Ae albopictus chỉ có mặt tại Quy Nhơn và Tây Sơn, riêng Tuy Phước chưa thu thập được loài muỗi này Ae aegypti hoạt động

và trú đậu trong nhà là 90,9% và xuất hiện 9,1% hoạt động ngoài nhà Trong

khi đó, tỷ lệ đốt máu và hoạt động ngoài nhà của Ae albopictus là 93,9% và đã xuất hiện hoạt động và đốt máu trong nhà là 6,1% Đối với loài Ae aegypti chỉ

số mật độ muỗi chung là 0,4 con/nhà và chỉ số Breteau chung là 29 Trong khi

đó, muỗi trưởng thành Ae albopictus không thu thập được trong nhà và có chỉ

số Breteau là 3 Chỉ số mật độ muỗi Ae aegypti chung tại Bình Định là 0,4

con/nhà, thấp hơn ngưỡng nguy cơ theo quy định của Bộ Y tế (2014) (DI > 0,5con/nhà) [23]

1.4 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của người dân đối với SXHD

Phạm Văn Bé, Lê Minh Uy và các cs (2005), phỏng vấn 720 hộ dânsống tại hai huyện Phú Tân và Thoại Sơn năm 2005 cho thấy: hầu hết ngườidân đều nghe nói về bệnh SXH Họ hiểu muỗi là tác nhân truyền bệnh; họ biết

ít nhất một dấu hiệu nghi ngờ bệnh nhưng phần lớn họ hiểu sai lệch là bệnh cóthuốc chủng ngừa, bệnh có thuốc chữa đặc hiệu Khi bệnh, người dân thường

đi đến các cơ sở thuốc Nam, thuốc Bắc và y tế tư để chữa bệnh 2/3 người dânchưa biết cách xử lý khi trẻ sốt Để phòng bệnh, đa số người dân chọn cáchtránh muỗi đốt, tiêu diệt lăng quăng Cuối cùng, người dân tin tưởng vào cán

bộ y tế và nghe các hướng dẫn qua tivi về phòng bệnh SXH Khi tuyên truyềnnên ưu tiên cho truyền hình, loa phát thanh, sau cuối là radio [3]

Lý Lệ Lan và Lê Hoàng Ninh (2005), nghiên cứu mô tả cắt ngang được

Trang 34

tiến hành trên 450 người sống tại địa bàn Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh năm2004; mẫu nghiên cứu được chọn bằng phương pháp chọm cụm ngẫu nhiênnhằm xác định tỷ lệ người dân có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về phòngchống SXHD và các yếu tố liên quan là giới tính, tuổi, dân tộc, trình độ họcvấn, các nguồn thông tin Kết quả cho thấy có 93,1% người dân có nghe nói vềbệnh SXHD, 92,2% biết tác nhân truyền bệnh SXHD là muỗi, 61,6% biết làmuỗi vằn, 81,2% biết nơi sinh sản của muỗi, 9,3% biết thời gian hoạt động củamuỗi, 54% biết triệu chứng cơ bản của bệnh và 64,7% biết dấu chuyển nặngcủa bệnh Người dân đồng ý cả 5 biện pháp phòng chống chiếm tỷ lệ là 52%,thực hiện đúng cả 5 biện pháp là 13,1% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kêgiữa trình độ học vấn, dân tộc, với kiến thức chung về bệnh SXHD, thái độchấp nhận và thực hành đúng 5 biện pháp phòng chống SXHD [17].

Trương Phi Hùng, Trần Thị Tuyết Nga và Trần Thị Hồng Hiên (2011)xác định tỉ lệ kiến thức đúng, thái độ đúng, thực hành đúng về phòng bệnhSXH của thân nhân bệnh nhân SXH tại bệnh viện Nhiệt đới - Thành phố HồChí Minh và mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành Trong đó, có63% thân nhân có kiến thức đúng, 52,5% thân nhân có thái độ đúng, 53% thânnhân có thực hành đúng về phòng bệnh SXH Có mối liên quan giữa kiến thứcđúng với trình độ học vấn (p < 0,01), số người trong nhà mắc bệnh SXH (p =0,02); giữa thái độ đúng với số người trong nhà mắc bệnh SXH (p = 0,02); giữathực hành đúng với nghề nghiệp của thân nhân (p = 0,02), tình trạng nhà ở củacác thân nhân (p = 0,02), nguồn nước (0,01), số người mắc bệnh SXH trongnhà (p = 0,02) Có mối liên quan chặt chẽ giữa kiến thức đúng với thực hànhđúng (p < 0,01) và thái độ đúng với thực hành đúng (p < 0,01) Kết quả nghiêncứu chỉ ra rằng tỉ lệ thân nhân có kiến thức đúng, thái độ đúng, thực hành đúng

về phòng bệnh SXH chưa cao và có mối liên quan giữa kiến thức, thái độ đúngvới thực hành đúng do đó, cần chú trọng công tác tuyên truyền đúng về phòngbệnh SXH [15]

Trang 35

Nguyễn Công Cừu (2011) tiến hành nghiên cứu tại 06 xã của huyệnThanh Bình, Đồng Tháp với 3 xã thuộc nhóm can thiệp và 3 xã thuộc nhómchứng đại diện cho 3 vùng đặc thù của huyện Thanh Bình, Đồng Tháp từ 09-11/2011 với kết quả như sau: Kiến thức đúng về phòng chống SXHD của nhómnghiên cứu trước can thiệp là 4,4%, sau khi can thiệp là 20,4%; của nhómchứng trước can thiệp 02,5%, sau khi can thiệp là 09,5% Thái độ đúng vềphòng chống phòng chống SXHD của nhóm nghiên cứu trước can thiệp là8,0%, sau khi can thiệp là 22,2%; của nhóm chứng trước can thiệp 2,9%, saukhi can thiệp là 7,3% Thực hành đúng về phòng chống SXHD của nhómnghiên cứu trước can thiệp 4,4%, sau khi can thiệp là 13,8%; của nhóm chứngtrước can thiệp 3,3%, sau khi can thiệp là 7,3% Yếu tố liên quan đến kiếnthức: trình độ học vấn, kinh tế; các yếu tố liên quan đến thực hành: nghềnghiệp, hiệu quả can thiệp từ 25% đến 93% [8].

Trần Ngọc Dung và cs (2012), nghiên cứu xác định tỷ lệ người dân cókiến thức, thực hành tốt về phòng chống SXH trong cộng đồng và các yếu tốliên quan đến hành vi không đúng về phòng chống SXHD của người dân xã

Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp cho kết quả: tỷ lệ người dân cókiến thức đúng về phòng chống SXHD là 69,5%, tỷ lệ người dân thực hànhđúng về phòng chống SXHD là 41,17% Độ tuổi và trình độ học vấn của ngườidân liên quan có ý nghĩa đến sự hiểu biết về phòng chống SXHD, người > 35tuổi và có học vấn cao có kiến thức phòng chống SXHD tốt hơn với p < 0,05.Ngoài ra, giữa kiến thức và thực hành phòng chống SXHD cũng có mối liênquan: Người dân có kiến thức đúng về phòng chống SXHD thì thực hành đúng

về phòng chống dịch bệnh SXHD là 73,86%, người dân có kiến thức chưađúng thì thực hành đúng chỉ có 26,14% Kết luận: Tỷ lệ người dân có kiến thức

và thực hành đúng về phòng chống SXHD trong cộng đồng còn thấp Có mốiliên quan giữa kiến thức và thực hành phòng chống SXHD ở người dân: Ngườidân có kiến thức đúng thì hành vi phòng chống SXHD đúng và ngược lại [9]

Trang 36

Nguyễn Thị Mai Anh, Nguyễn Nhật Cảm (2016), tiến hành nghiên cứu

mô tả cắt ngang vào tháng 4 năm 2016 với mục tiêu so sánh sự khác nhau vềkiến thức và thực hành phòng chống bệnh SXHD của người dân tại xã TânTriều và xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Đối tượng nghiêncứu gồm 200 hộ gia đình trên tổng số 14.500 hộ gia đình tại 2 xã được điều tra,phỏng vấn bằng bộ câu hỏi cấu trúc Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớnngười dân tại 2 xã nghiên cứu đã được tiếp cận với các thông tin về bệnhSXHD, nguồn cung cấp thông tin chủ yếu là qua các phương tiện thông tin đạichúng, việc tiếp cận thông tin về bệnh SXHD qua cán bộ y tế và các tổ chứcđoàn thể còn hạn chế Tại xã Tân Triều, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức

và thực hành đúng cao hơn tại xã Đại Áng Tỷ lệ kiến thức và thực hành đúngtại xã Tân Triều lần lượt là 48% và 36%, tại xã Đại Áng lần lượt là 21% và16% Kết quả nghiên cứu giúp bổ sung, củng cố và nâng cao chất lượng côngtác truyền thông, giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức của cộng đồng vềbệnh SXHD và cách phòng chống [1]

Trang 37

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Muỗi và bọ gậy: Ae aegypti và Ae albopictus.

- Chủ hộ hoặc vợ (chồng) của chủ hộ các gia đình ở phường NguyễnVăn Cừ và phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Phường Nguyễn Văn Cừ và phường Quang Trung,thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía đông nam của tỉnh Bình Định, phíađông là biển Đông, phía tây giáp huyện Tuy Phước, phía bắc giáp huyện TuyPhước và huyện Phù Cát, phía nam giáp thị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên Códiện tích tự nhiên 216 km2 Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, giómùa Quy Nhơn có 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đến tháng 9, mùa mưa từtháng 10 đến tháng 2 năm sau; nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24,5oC

Có điều kiện khí hậu thích hợp cho sự sinh trưởng phát triển của côn trùng

Quy Nhơn có 21 đơn vị hành chính gồm 16 phường (Bùi Thị Xuân,Đống Hải Cảng,Đa, Ghềnh Ráng, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt,Ngô Mây, Nguyễn Văn Cừ, Nhơn Bình, Nhơn Phú, Quang Trung, Thị Nại ,TrầnHưng Đạo, Trần Phú, Trần Quang Diệu), 5 xã (Nhơn Châu, Nhơn Hải, NhơnHội, Nhơn Lý, Phước Mỹ) Năm 2015, dân số tỉnh Bình Định khoảng 1,5 triệungười (chiếm 1,7% dân số cả nước - 90,73 triệu người) Mât đô dân số trungbinh 251,1 người/km2, bằng 93% mật độ trung bình của cả nước (274người/km2)

Phường Quang Trung là phường nội thành nằm ở phía Tây Nam thànhphố Quy Nhơn, Bắc giáp phường Nhơn Phú, Đống Đa, Đông giáp phường Ngô

Trang 38

hành chính loại I, có diện tích 7.8 km2, dân số tương đối đông, có 5.814 hộ dânvới 21.809 nhân khẩu (tính đến hết quý I, 2017), phân chia thành 8 khu phố, 88

tổ dân phố

Phường Nguyễn Văn Cừ có phía Đông giáp biển Đông, Tây giápphường Quang Trung, Nam giáp phường Ghềnh Ráng, Bắc giáp phường NgôMây, với tổng diện tích 1,43 km2, dân số tương đối đông, có 3.341 hộ dân với12.651 nhân khẩu (tính đến hết quý I, 2017), phân chia thành 9 khu vực dân

cư, 56 tổ dân phố Đây là phường trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa - xãhội, quốc phòng - an ninh và là đầu mối giao thông quan trọng của thành phốQuy Nhơn nói riêng và của tỉnh Bình Định nói chung Địa hình phường bằngphẳng, có bờ biển dài gần 1km, nhà cửa dân cư bố trí tập trung với nhiều dãynhà cao tầng khang trang được nối liền ngang dọc bởi nhiều đường lớn, tạo thếliên hoàn giữa các khu vực

Tại mỗi phường chọn 3 khu vực có tỉ lệ mắc SXH cao trong năm 2016

để điều tra Trong đó, tại phường Quang Trung chọn 3 khu vực là khu vực 1,khu vực 2 và khu vực 5 Tại phường Nguyễn Văn Cừ chọn khu vực 1, khu vực

3 và khu vực 6

Thời gian tiến hành: Từ tháng 10/2016 đến 12/2016

Trang 40

- Điều tra thành phần loài, các chỉ số muỗi và bọ gậy muỗi truyền bệnhSXHD tại địa điểm nghiên cứu.

- Phỏng vấn kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về bệnhSXHD tại địa điểm nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.2.1 Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Tiến hành điều tra thu thập các chỉ số muỗi và bọ gậy muỗi truyền bệnhSXHD ở phường Nguyễn Văn Cừ và phường Quang Trung, thành phố QuyNhơn, tỉnh Bình Định bằng quy trình giám sát của Bộ Y tế

2.2.2.1.1 Kỹ thuật điều tra muỗi trưởng thành

a) Mục đích

Xác định thành phần muỗi truyền bệnh SXHD, chỉ số mật độ muỗi (DI)

và chỉ số nhà có muỗi (AHI) tại địa điểm nghiên cứu

b) Phương pháp

Điều tra muỗi trưởng thành bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉtrong nhà bằng ống tuýp hoặc máy hút cầm tay Ở phương pháp này, ngườiđiều tra soi bắt muỗi cái đậu nghỉ trên quần áo, chăn màn, các đồ vật trong nhàvào ban ngày (buổi sáng), mỗi nhà soi bắt muỗi trong 10 - 15 phút

Đối với điểm ngoài nhà, muỗi Ae albopictus được thu thập bằng

phương pháp mồi người trong 1 giờ

c) Kỹ thuật bắt muỗi bằng phương pháp soi bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà ban ngày

Muỗi được bắt ở những nơi tối như: quần áo treo trên mắc, trên lọ cắmhoa, trên mảnh vải phủ dài, chăn màn, thành giường và trên các đồ vật có màusẫm trong nhà

Ngày đăng: 12/08/2021, 20:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w