Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến sự sinh trưởng, sinh hóa và dư lượng nitrat của củ và lá cây hành hương .... Ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến các chỉ tiêu sinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN THỊ MỸ CÔNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG NITƠ (N) ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH HÓA, SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT
VÀ DƯ LƯỢNG NITRAT CỦA HÀNH HƯƠNG
(Allium fistulosum L.) TRỒNG TRÊN ĐẤT CÁT TẠI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trongbất kỳ công trình nào khác.
Trang 3MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu 1
3 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nguồn gốc, phân loại 3
1.1.1 Nguồn gốc 3
1.1.2 Phân loại 3
1.1.3 Giá trị của cây hành hương 3
1.2 Đặc điểm hình thái, sinh thái của cây hành hương 5
1.2.1 Đặc điểm hình thái của cây hành hương 5
1.2.2 Điều kiện sinh thái ảnh hưởng đến cây hành hương 6
1.3 Vai trò của nitơ đối với cây hành hương 8
1.3.1 Ảnh hưởng của nitơ đến sự sinh trưởng phát triển của cây rau, ảnh hưởng của dư lượng nitrat 8
1.3.2 Ảnh hưởng của dư lượng nitrat đối với cơ thể con người và nguyên nhân gây tồn dư nitrat vượt ngưỡng cho phép trong cây hành 9
1.3.3 Vai trò các chất dinh dưỡng khác đối với sự sinh trưởng của cây hành 11 1.4 Sơ lược các nghiên cứu về hành hương trên thế giới và ở Việt Nam 12
1.4.1 Trên thế giới
12 1.4.2 Ở Việt Nam
Trang 41.4 3 Về lượng nitơ trong một số quy trình trồng hành hương 15
1.5 Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất hàn tại địa bàn xã Cát Hải huyện Phù Cát tỉnh Bình Định 16
1.5.1 Vị trí địa lí, điều kiện thổ nhưỡng 16
1.5.2 Đặc điểm thời tiết, khí hậu 16
1.5.3 Tình hình sản xuất 16
Chương 2:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Điều tra tình hình trồng hành hương tại xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định 19
2.4.2 Phân tích một số chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất trồng của thí nghiệm 20
2.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến sự sinh trưởng, sinh hóa và dư lượng nitrat của củ và lá cây hành hương 20
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 26
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 27
3.1 Kết quả điều tra tình hình trồng hành hương tại xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định 27
3.1.1 Kết quả điều tra về đặc điểm/tập quán sản xuất hành hương của nông dân ở xã Cát Hải 27
3.1.2 Kết quả điều tra về tập quán sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 29
3.1.3 Nhận xét chung 32
3.2 Kết quả phân tích đất trước và sau khi thí nghiệm 33
3.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến sự sinh trưởng và phát triển của hành hương 34 3.3.1 Ảnh hưởng của nitơ đến chiều dài phần lá có khả năng quang hợp
Trang 5của cây hành hương ở giai đoạn trước đẻ nhánh, đang đẻ nhánh và trước thu hoạch 34
3.3.2 Ảnh hưởng của nitơ đến khả năng nở của bụi qua các giai đoạn sinh
trưởng 37
3.4 Ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến các chỉ tiêu sinh hóa của hành hương và dư lượng nitrat trong củ hành hương 41
3.4.1 Ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến hàm hlượng diệp lục trong lá qua các giai đoạn sinh trưởng 41
3.4.2 Ảnh hưởng của nitơ đến tỉ lệ nước, chất khô qua các giai đoạn sinh trưởng 44
3.4.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến dư lượng nitrat trong củ hành hương sau khi thu hoạch 46
3.5 Ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ khác nhau đến năng suất và hiệu quả sản xuất cây hành hương 47
3.5.1 Ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến chiều dài củ và đường kính củ ở giai đoạn thu hoạch 48
3.5.2 Ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến khối lượng củ sau khi thu hoạch của hành hương 49
3.5.3 Ảnh hưởng các mức phân bón nitơ tỷ lệ cây bị bệnh thối nhũn của hành hương khi thu hoạch 49
3.5.4 Ảnh hưởng của các mức phân bón nito đến năng suất hành hương 47
3.5.5 Hiệu quả kinh tế của sản xuất hành hương 53
3.6 Đề xuất mức bón phân phù hợp đối với việc sản xuất hành hương trên đất cát pha tại xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định nhằm đảm bảo năng suất, hiệu quả kinh tế và không để lại dư lượng nitrat vượt ngưỡng cho phép 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
1 Kết luận 57
2 Kiến nghị 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 579 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 61.1 Thành phần dinh dưỡng có trong 100 gam hành hương 41.2
Tình hình sản xuất hành hương tại xã Cát Hải, huyện Phù
Cát, tỉnh Bình Định giai đoạn 2013 - 2016 172.1 Lượng phân nền của các công thức thí nghiệm 213.1
Hàm lượng phân chuồng và vôi sử dụng trong sản xuất
hành hương của nông dân tại xã Cát Hải 28
3.2 Hàm lượng phân hóa học N, P2O5, K2O nguyên chất sử dụng
trong sản xuất hành hương của nông dân tại xã Cát Hải
293.3 Năng suất hành hương trung bình/vụ (tạ/500 m2 ) năm 2016 313.4
Kết quả phân tích đất khu vực thí nghiệm trước và sau thí
3.5
Chiều dài phần lá có khả năng quang hợp của hành hương
Hàm lượng các chất diệp lục trong lá hành hương qua các
3.9
Hàm lượng chất khô và hàm lượng nước trong lá hành
hương qua các giai đoạn sinh trưởng 453.10
Dư lượng nitrat trong củ hành hương ở các công thức khi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 73.11 Đường kính và chiều dài củ hành hương giai đoạn thu 48
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 8hoạch ở các công thức thí nghiệm
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hành hương là cây gia vị không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày củangười Việt Nam Ngoài ra, hành hương còn có giá trị phòng và chữa bệnh.Theo định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp, các cây hoamàu, trong đó có cây hành hương ngày càng được mở rộng diện tích sản xuất
do hiệu quả kinh tế cao
Nitơ là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng đối với cơ thể sinh vật nói chung
vì nó là thành phần cấu tạo nên protein, nucleotid, ADN, ARN Nitơ tham giavào quá trình đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hấpthu các thành phần dinh dưỡng khác Vì vậy, cây hành cần nitơ trong suốt quátrình dinh dưỡng
An toàn thực phẩm đang là vấn đề được xã hội quan tâm Thực phẩmkhông an toàn là nguyên nhân chủ yếu của nhiều căn bệnh nguy hiểm đặc biệt
là ung thư Để có năng suất cao, người nông dân trồng hành hương tại xã CátHải có xu hướng lạm dụng phân đạm có thể để lại dư lượng nitrat cao so vớiyêu cầu về an toàn nông sản
Vì vậy, cần có nghiên cứu xác định lượng N cần thiết để bón cho câyhành hương nhằm đạt năng suất, hiệu quả kinh tế, không để lại dư lượng nitrat
trong cây trồng, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng nitơ (N) đến
một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh trưởng, năng suất và dư lượng nitrat của hành hương (Allium fistulosum L.) trồng trên đất cát tại xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định ”.
Trang 12- Thực trạng canh tác hành hương của nông dân trên địa bàn xã Cát Hải.
- Góp phần khẳng định vai trò sinh hóa của nitơ đối với sự sinh trưởng, vànăng suất ở cây hành hương trồng trên đất cát
- Đưa ra được công thức cung cấp nitơ cho cây hành hương trồng trên đấtcát tại xã Cát Hải, huyện Phù Cát một cách phù hợp, giúp nâng cao năng suấtcủa cây hành đồng thời lượng nitrat tích lũy trong hành ở dưới ngưỡng chophép, không làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ cung cấp dữ liệu để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiệnquy trình trồng hành trên đất cát đảm bảo năng suất, hạn chế dư lượng đạm, đạthiệu quả kinh tế, phù hợp với mục tiêu phát triển sản xuất rau an toàn, rauGAP , góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân
2
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Nguồn gốc, phân loại
1.1.1 Nguồn gốc
Phần lớn các loài Allium có nguồn gốc từ các Bắc bán cầu , chủ yếu là ở
châu Á Một số loài có nguồn gốc từ Châu Phi và Trung và Nam Mỹ Ví dụ như
các loài xuất hiện ở Chile (như A juncifolium), ở Brazil (như A sellovianum) hoặc cận nhiệt đới châu Phi (như A spathaceum )[29].
Loài hành hương (Allium fistulosum) có nguồn gốc ở châu Á, có thể ở
Siberia (hoặc Trung Quốc) Trong thời Cận Đại, những nhà thực vật học Nga
đã tìm thấy loài hoang dả của hành trong dải núi Altai Hành hương đến từ Ngaqua Châu Âu vào thời Trung Cổ Từ khi những dân tộc Gaulois, những câyhành lá đã được dùng trong thực phẩm của người thường dân [42]
1.1.2 Phân loại
Theo Hoàng Thị Sản (2006) [15], hành hương có tên khoa học là Allium
fistulosum L Thuộc ngành hạt kín (Angiospermaetophyta) hay ngành Ngọc lan
(Magnoliopisida), lớp một lá mầm (Monocotyledoneae) hay lớp hành (Liliopisida), phân lớp hành (Liliidae), bộ măng tây (Asparagales), họ hành (Alliaceae), chi hành tây (Allium).
1.1.3 Giá trị của cây hành hương
1.1.3.1 Giá trị dinh dưỡng của cây hành hương
Theo nguồn phân tích của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) [39] thìthành phần các chất có trong lá hành tươi được thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng có trong 100 gam hành hương
Thành phần Hàm lượng Thành phần Hàm lượng
Trang 14Trong hành hương có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinhtrưởng và phát triển của cơ thể Tổng khối lượng các chất cung cấp năng lượngcho cơ thể (protein, chất béo, gluxit) 7,1 g Trong hành hương chứa nhiều cácnguyên tố đa lượng và vi lượng như Ca, Mg, Na, Fe, Ngoài ra có các chấtvitamin như vitamin B1, B2, C, PP có vai trò lớn trong sinh trưởng và phát triểncủa cơ thể.
Ngoài ra, hành hương có chứa nhiều hợp chất allyl sulfide có mùi hăng vànồng, giúp khử mùi, tạo hương vị cho món ăn Người La Mã - Hy Lạp coi hành
là một thực phẩm thiết yếu trong bữa ăn hằng ngày của quân đội, giúp tăngcường thể lực và dũng khí cho binh sĩ Trong ẩm thực Việt Nam, hành hươnggiữ vai trò khá quan trọng Chất allyl sulfide kích thích tiết dịch dạ dày, giúpcải thiện cảm giác thèm ăn, ăn ngon miệng hơn
1.1.3.2 Giá trị y học của cây hành hương
Theo Đông y, hành làm thông khí, khí đẩy huyết, huyết đẩy khí.điều hòakinh mạch, tạng và phủ
Theo Tây y, hành có tính chất lợi tiêu hóa, chống ung thư, ngăn chặnchứng xơ vữa động mạch, tiểu đường, giảm nguy cơ đau tim hay đột quỵ,chống viêm nhiễm Trong một nghiên cứu hơn 100.000 người, các nhà khoahọc phát hiện ra rằng, những người có chế độ ăn nhiều hành giúp giảm 20%nguy cơ đau tim [33], giảm 84% mắc bệnh ung thư vòm miệng và họng, giảm88% nguy cơ ung thư thực quản, 83% nguy cơ ung thư thanh quản, 25% ung
Trang 15thư vú, 73% nguy cơ ung thư buồn trứng, 73% nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt,
và 38% nguy cơ ung thư tế bào thận so với những người không ăn hoặc ăn rất íthành [40] Chất flavonoid ngăn chặn sự phát triển các khối u ở động vật và bảo
vệ các tế bào ruột kết khỏi tổn thương từ một số chất gây ung thư Chất khángsinh alicine trong hành giúp diệt khuẩn rất mạnh, vì thế hành lá có thể trừ gió,toát mồ hôi, giải độc, tiêu phù, chữa sưng tái, trị cảm cúm, phong hàn, đau đầu,nghẹt mũi, sốt nhưng không ra mồ hôi, trị mụn, giảm đau [13][14]
Ở Việt Nam, hành khô nướng chín, đem đập dập, đắp vào chỗ mưng mủ,chống đau nhứt và mau lành vết thương [2] Rễ hành kết hợp với củ cải và rễrau cải trắng sắc lấy nước uống, trị cảm lạnh và cảm cúm hoặc rễ hành kết hợpvới dọc hành sắc lấy nước đặc uống chữa bệnh trĩ Khi có dịch bệnh lây nhiễmqua đường hô hấp, nên ăn hành sống để phòng ngừa [1][13]
1.2 Đặc điểm hình thái, sinh thái của cây hành hương
1.2.1 Đặc điểm hình thái của cây hành hương
Hành hương là cây thảo, có căn hành (gọi là củ), có 5-6 lá, sống hằngnăm, có mùi đặc biệt và có đặc điểm:
Thân hình nhỏ, trắng hay nâu, chỉ hơi phồng, rộng 0,7-1,5 cm, đẻ nhiềunhánh Lá màu xanh mốc, bọng 3 cạnh ở dưới, hình trụ rỗng, mọc thành túm từthân hành, đầu thon nhọn, cao khoảng 30-50 cm [12], đường kính 4-8 cm Bẹ lá
to, vảy mỏng, màu trắng, đôi khi pha hồng có nhiều sọc Rễ chùm, màu trắng,hơi bất đối xứng, phát triển nhưng ăn nông, khả năng chịu hạn và chịu úngkém
Hoa hình cầu, lưỡng tính, cuống nhỏ mỏng, gồm nhiều hoa nhỏ xếp liềnnhau trông giống như một chiếc ô có màu trắng hoặc màu vàng nhạt Cánh hoa
6 xếp thành 2 luân sinh, phiến hoa cao 5 mm, rời, màu trắng có sọc xanh, cómùi, 6 tiểu nhụy, cao vượt qua mảnh bao bên ngoài và bên trong hoa Bao hoa
có các mảnh hình trái xoan nhọn màu trắng có sọc xanh Trục phát hoa caobằng lá, tán hình cầu to vào khoảng 3 cm, có tổng bao, 1-2 lá hoa trắng mỏng
Trang 16Quả nang hình tròn chứa nhiều hạt, hạt hình ba cạnh màu đen.
Củ hành có hình cầu, màu xám hoặc màu hồng nhạt, có tối đa là 2 tép,mỗi tép có khoảng 5-6 múi được hình thành từ thân hành, kích thước trung bình
từ 1,6-2,2 cm Mỗi bụi hành có trung bình từ 3-5 củ, các củ dính nhau ở phần
rễ, mỗi củ có từ 15-25 rễ [37]
1.2.2 Điều kiện sinh thái ảnh hưởng đến cây hành hương
1.2.2.1 Ánh sáng
Ánh sáng rất quan trọng đối với thực vật nói chung và cây hành nói riêng,
nó thúc đẩy quá trình quang hợp Có 90-95% năng suất cây trồng là do quanghợp Cây đủ ánh sáng sẽ làm tăng bề dày của mô, tăng chất diệp lục Nếu nhiềubóng râm thì khả năng quang hợp giảm, dẫn đến sinh trưởng phát triển kém,hàm lượng diệp lục giảm, thịt lá mềm và xốp, gian bào chứa đầy nước, củ nhỏ,làm giảm năng suất và phẩm chất [6]
Cây hành thuộc nhóm ngày dài, nếu thời gian chiếu sáng trên 14 giờ thìcây sinh trưởng phát triển thuận lợi, ra hoa kết hạt sớm, tăng sản lượng hạt Nếuthời gian chiếu sáng giảm xuống còn 10-12 giờ thì bị ức chế sinh trưởng pháttriển, cây ra hoa chậm muộn hoặc không ra hoa [3]
1.2.2.2 Nhiệt độ
Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều gây trở ngại cho quá trình sinh trưởng
và phát triển, thậm chí làm cho cây rau chết do nhiệt độ thấp ở 00C hoặc câykhô héo và chết do nhiệt độ quá cao (400C) Hành hương là loài cây chịu rét,cây có thể đồng hóa mạnh ở nhiệt độ 15-200C [3]
- Nhiệt độ ngâm ủ: Theo Nguyễn Mạnh Chinh [5][6], nhiệt độ có tác độngrất lớn đến quá trình nảy mầm của hạt Vì vậy, để hạt hành nảy mầm tốt thìngười ta phải ngâm trong nước ấm 38 - 400C trong vài giờ rồi đem gieo
- Thời kỳ nảy mầm: Nhiệt độ thích hợp là 25-300C Cây hành có thể bắtđầu nảy mầm ở nhiệt độ 10-150C
- Thời kỳ cây con: Nhiệt độ thích hợp 18-200C Nhiệt độ cao có thể làm
Trang 17giống cây nhỏ bé, mềm yếu.
- Thời kỳ trưởng thành: Nhiệt độ thích hợp là 17-180C Nhiệt độ cao hơn
250C gây trở ngại cho sinh trưởng
1.2.2.3 Nước và độ ẩm
Trong cây hành hương, lượng nước chiếm từ 85-93% Nước và độ ẩm giữvai trò rất quan trọng, quyết định đến năng suất và chất lượng của hành Nếuthiếu nước cây rau sẽ sinh trưởng kém, thấp bé, còi cọc dẫn đến năng suất vàchất lượng giảm Nếu thừa nước, cây sinh trưởng mềm yếu, nồng độ đường vàcác chất hòa tan giảm, cây trở nên mềm, dễ bị hư hỏng, thối rữa trong quá trìnhthu hoạch vận chuyển bảo quản [3] Ở mỗi giai đoạn cần một lượng nước và độ
ẩm thích hợp Cụ thể:
- Thời kỳ nảy mầm: Độ ẩm thích hợp là 70-75% Do đó, sau khi gieo hạtcần tưới nước đủ ẩm để hạt trương lên và nảy mầm
- Thời kỳ sinh trưởng và phát triển: Độ ẩm thích hợp 60-80% Vì rễ hành
là rễ chùm, ăn nông, nước ở lớp đất mặt dễ bốc hơi dưới tác dụng của gió vàánh nắng mặt trời, vì vậy cần cung cấp đủ nước cho cây
kỹ thuật để tăng hàm lượng O2 cho đất như làm tương xốp đất trước khi gieotrồng, làm cỏ thường xuyên, phá ván khi gặp mưa [5][6] [21]
1.2.2.5 Độ pH
Trang 18Độ pH không chỉ ảnh hưởng đến độ hòa tan và khả năng di động của cácchất khoáng mà còn ảnh hưởng đến hoạt động của các vi sinh vật, do đó ảnhhưởng đến khả năng hút khoáng của rễ cây [30] Sự sinh trưởng và phát triểncủa hành tốt nhất ở độ pH = 6-6,5 Khi độ pH của môi trường vượt quá giới hạnsinh lý (quá kiềm hoặc quá acid) thì mô rễ, đặc biệt là lông hút bị tổn thương và
sự hút khoáng sẽ hạn chế [5][21]
1.2.2.6 Đất
Đất được xem là yếu tố quan trọng đối với cây hành Đất trồng hành phải
là đất thịt nhẹ hoặc đất cát pha, giàu dinh dưỡng, tươi xốp, thoát nước nhanh,thấm nước cao Để đất đạt tiêu chuẩn trồng hành và nâng cao năng suất thì cầnthường xuyên cải tạo đất trồng Bón lót là cách cải tạo đất tốt nhất [6] Đất chuathì cần bón thêm vôi bột để khử chua cho đất
1.3 Vai trò của nitơ đối với cây hành hương
1.3.1 Ảnh hưởng của nitơ đến sự sinh trưởng phát triển của cây hành
Tỷ lệ nitơ trong cây dao động từ 1-6 % khối lượng chất khô N là yếu tốquan trọng hàng đầu đối với cơ thể sống vì nó là thành phần của protein-chất cơbản biểu hiện sự sống Nitơ là thành phần của nhiều hợp chất cơ bản, cần thiếtcho sự phát triển của cây như diệp lục, các chất enzyme Các bazo nitơ là thànhphần cơ bản của acid nucleid, trong các AND và ARN của nhân tế bào, nơi cưtrú thông tin di truyền, đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp protein [24]
Do vậy, N là yếu tố cơ bản trong việc đồng hóa cacbon, kích thích sự pháttriển của bộ rễ và các yếu tố dinh dưỡng khác Cây trồng được bón đủ đạm lá
có màu xanh lá thẫm, sinh trưởng phát triển mạnh, cho năng suất cao
Thừa và thiếu đạm trong quá trình sinh trưởng phát triển điều ảnh hưởngkhông tốt đến năng suất và chất lượng Thiếu đạm cây sinh trưởng còi cọc, thân
lá nhỏ bé, làm chậm quá trình ra hoa, quả Thiếu đạm nghiêm trọng còn dẫnđến rụng nụ, rụng hoa Cây thiếu đạm lá chuyển từ màu xanh sang màu vàngnhạt, các gân chính bị mất màu, cuối cùng cây khô héo và chết Điều đáng quan
Trang 19tâm là nếu cung cấp đạm không đủ sẽ làm giảm năng suất và chất lượng rau[3] Thừa đạm cây sẽ kéo dài thời gian sinh trưởng thân lá, ra hoa quả chậm,chín muộn, thân lá non mềm, tế bào chứa nhiều nước, giảm khả năng chốngchịu với điều kiện bất lợi của ngoại cảnh như sâu bệnh hại và khô hạn Rauđược bón nhiều đạm sẽ giảm hương vị, độ giòn, khó vận chuyển và bảo quản,nhanh bị thối hỏng.
1.3.2 Ảnh hưởng của dư lượng nitrat đối với cơ thể con người và nguyên nhân gây tồn dư nitrat vượt ngưỡng cho phép trong cây hành
Nitrat vào cơ thể người ở mức độ bình thường thì không gây độc, chỉ khihàm lượng vượt ngưỡng cho phép thì gây nguy hiểm Trong hệ thống tiêu hóanitrat bị khử thành nitrit Trong dạ dày con người, do tác dụng của hệ vi sinhvật, các loại enzyme và do các quá trình sinh hóa mà NO2- dễ dàng tác dụng vớicác acid amin tự do tạo thành nitrosamine gây nên ung thư, đặc biệt là ung thư
dạ dày [27] Nhiều tác giả cho rằng nitroamine như một tác nhân làm sai lệchnhiễm sắc thể, dẫn đến truyền đạt sai lệch thông tin di truyền gây nên các bệnhung thư khác nhau [9]
Trong máu, NO2- ngăn cản sự kết hợp của O2 với hemoglobin ở quá trình
hô hấp Quá trình này được lặp lại nhiều lần vì vậy mỗi ion NO2- có thể biến rấtnhiều phân tử hemoglobin thành methaemoglobin Methaemoglobin được tạothành do oxyhemoglobin đã oxi hóa Fe2+ thành Fe3+ làm cho mỗi phân tửhemoglobin mất khả năng kết hợp với oxy tức là việc trao đổi khí ở hồng cầuchưa được thực hiện, có thể gây hạ đường huyết [34] [6] Cơ chế này dễ dàngxảy ra với trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ nhỏ có sức khỏe yếu, tiêu hóa kém vì trẻ concòn thiếu các enzyme cần thiết để khử NO2- xuống N2 và NH3 rồi thải ra ngoài[9]
Ngoài ra, nitrit khống chế sự sinh sản của một số vi khuẩn hiếu khí, yếmkhí và ở nồng độ cao cũng có thể gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản vàtăng nguy cơ sẩy thai ở người
Trang 20Nguyên nhân gây dư lượng nitrat trong nông sản [6]:
- Do bón phân nhất là phân đạm Có rất nhiều nghiên cứu liên quan đếnvấn đề này những năm gần đây, Lê Văn Tám và cộng sự (1998) cho thấy: Khităng lượng đạm bón sẽ dẫn đến tăng tích lũy NO3 trong rau
- Thời gian cách ly từ lần bón cuối đến thu hoạch
- Phân lân có ảnh hưởng nhất định tới tích lũy nitrat Baker và Tucker(1971) cho biết bón phân đạm nhưng không bón phân lân gây tích lũy nitrat caotrong cây Hàm lượng nitrat trong cây bón phân đạm nhưng không bón phân lâncao gấp 2-6 lần so với cây vừa bón đạm với bón lân
- Đối với kali, Bardy (1985) cho rằng kali làm tăng quá trình khử NO3
trong cây Bón thêm phân kali làm giảm tích lũy nitrat rõ rệt so với chỉ bónphân đạm
- Thời tiết, nước tưới và đất trồng cũng ảnh hưởng đến sự tích lũy nitrattrong cây
1.3.3 Vai trò các chất dinh dưỡng khác đối với sự sinh trưởng của cây hành
Ở mỗi giai đoạn sinh trưởng, cây hành có nhu cầu về chất dinh dưỡngkhác nhau Khi hạt nảy mầm, cây mầm sử dụng chất dinh dưỡng dự trữ từ hạt.Khi bộ rễ phát triển, cây hành cần được cung cấp chất dinh dưỡng từ môitrường bên ngoài Nhu cầu chất dinh dưỡng tăng theo sự tăng trưởng của cây.Cung cấp chất dinh dưỡng không đầy đủ và cân đối cây trồng sẽ bị bệnh vànăng suất thấp [11]
- Thiếu lân: Cây có biểu hiện lá màu lục nhạt với các vệt ánh nâu sẫm hayđồng thau, kìm hãm quá trình tổng hợp protein và tích lũy đường Có thể bónlót super lân với liều lượng 300kg/ha, bón thúc phân NPK (13-8-17) từ 150-350kg/ha/4 lần
- Thiếu kali: Lá ngắn, hẹp, xuất hiện các chấm đỏ, cây còi cọc, yếu nên dễ
bị ngã đổ, khả năng chống chịu kém, củ nhỏ, lép và bị bạc màu, năng suất vàphẩm chất giảm rõ rệt Lượng kali clorua thích hợp nhất cho cây hành là100kg/ha/lần bón lót hay 50-55kg/ha/lần bón thúc (từ 3-4 lần)
Trang 21- Thiếu canxi: Đầu lá và mép lá bị hóa trắng và đen rồi phiến lá uốn cong
và xoắn lại, cấu trúc màng sinh chất và màng các bào quan cũng như các mônon của rễ bị hư hại Cung cấp canxi cho cây bằng cách bón vôi 500-800kg/ha
- Thiếu sắt: Lá cây mất màu xanh, chuyển sang màu vàng và trắng, quátrình hô hấp, quang hợp bị đình trệ
- Thiếu đồng: Mầm chết rất nhanh sau khi mọc, lá cây chuyển sang màuxanh đen và xuất hiện các điểm hoại tử ở lá non rồi lan xuống dọc theo mép lá,
lá có thể bị biến dạng, đôi khi bị ngã đổ, ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chấtsản phẩm Có thể dùng sunfat đồng (phèn xanh CuSO4.2H2O) để bón vào đấtvới hàm lượng 20-25kg/ha
- Thiếu kẽm: Rối loạn trao đổi auxin nên sinh trưởng bị ức chế, lá hànhngắn, nhỏ và xoắn, hàm lượng diệp lục giảm, giảm sự thụ tinh cho hoa và sựkết hạt của trái hoàn toàn bị ngừng lại Có thể sử lý hạt giống trước khi gieobằng sunfat kẽm pha loãng 0,05-0,1% với lượng 6-8 lít/100kg hạt
- Thiếu bo: Triệu chứng điển hình là điểm chết đen ở lá non, thân bị cứng,cấu trúc rễ và củ bị dị dạng hoặc bị thối do các mô bên trong bị hỏng, năng suấtthấp
-Thiếu molymden: Gây ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng protein, hàmlượng diệp lục và các vitamin Để bổ sung molypden cho cây có thể dùngmolypdat amon, nồng độ 0,02% để phun cho cây với liều lượng 600-1000lít/ha
1.4 Sơ lược các nghiên cứu về cây hành hương trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Trên thế giới
Theo nghiên cứu của Oyen LPA và Soenoeadji (1993), loài Allium
fistulosum có nguồn gốc từ Tây Bắc Trung Quốc, được trồng ở Trung Quốc
khoảng 200 năm TCN, được đưa tới Nhật Bản 500 năm TCN, lây lan đến ĐôngNam Á và châu Âu Chu kỳ sinh trưởng và phát triển của hành hương khoảng
Trang 2290 đến 120 ngày [28] Theo nghiên cứu của Horst Marchner (1986), hànhhương ở giai đoạn còn non rễ chưa đâm sâu vào đất nên chưa hấp thụ được chấtdinh dưỡng, ngược lại ở giai đoạn này lá chứa nhiều nước nên hấp thụ chấtdinh dưỡng tốt hơn [31] Hệ thống rễ của cây hành hương trưởng thành pháttriển tốt hơn cả về chiều sâu và bề rộng so với rễ hành tây (cả trong điều kiện
nhà kính) Cây Allium fistulosum L trưởng thành có nhiều cây, mỗi cây có một
củ và có từ 15-25 rễ, có khả năng chịu hạn và chống chịu bệnh cao [28] Nhómtác giả cho rằng hành hương có kiểu hình dẻo dai nên thích nghi rộng với nhiềuloại thổ nhưỡng (kể cả gieo trồng trên đất bạc màu)[30] Silva CA, Vale FRd(2000) cho rằng đất ở độ pH = 6.0 hoặc cao hơn, vi khuẩn nitrat hóa hoạt độngrất hiệu quả, làm tăng khả năng hấp thụ nitrat ở rễ lên 2-3 lần [32] Một số nhàkhoa học nghiên cứu về vi sinh vật đất và nấm rễ cho thấy mối liên quan mậtthiết giữa hành hương với nấm rễ Arbuscular Mycorrhizal Fungi (AMF), nhờmối quan hệ này mà rễ của hành hương có khả năng hấp thụ P cao, kháng được
vi khuẩn gây bệnh trong đất và cải thiện năng suất [32] Nếu hành hương đượcbón phân N, P, K với liều lượng thích hợp thì mối quan hệ giữa hành hương vớiAMF làm tăng khả năng chống chịu bệnh và nâng cao năng suất Hành hương
có chứa nhiều thành phần quan trọng và hương vị đặc trưng, đó là hương thơmtrung gian giữa mùi hành tây và tỏi tây, có nguồn gốc từ sulphoxide cysteinepropyl dễ bay hơi (đặc trưng của tỏi tây) và sulphoxide cysteine propenyl (đặctrưng của hành tây) Hành hương không chỉ là loại rau gia vị có giá trị dinhdưỡng cao mà còn là một dược liệu quý, phòng và chữa bệnh [28]
1.4.2 Ở Việt Nam
Hành hương là cây rau ăn lá và là cây gia vị được dùng phổ biến ở ViệtNam Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về loài hành hương.Hoàng Thị Sản (2006) [15] nghiên cứu về phân loại học Trần Khắc Thi (1996)[22] nêu ra ảnh hưởng của dư lượng nitrat đối với cơ thể con người, nguyênnhân gây dư lượng nitrat và quy trình kỹ thuật trồng rau sạch Trần Khắc Thi,
Trang 23Lê Thu Thủy, Tô Thị Thu Hà (2008) nghiên cứu về rau ăn củ, rau gia vị - trồngrau an toàn năng xuất chất lượng cao trong đó có nghiên cứu về kỹ thuật trồnghành hương [23].
Bùi Huyền Trang, Quỳnh Liên (2013) [25], Trần Thị Ba [36] giới thiệuquy trình trồng hành lá an toàn theo hướng GAP (sản phẩm nông nghiệp tốt)của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Mật độ giống khi trồng bằng củ là 180-
240 kg/1000 m2 Sử dụng 1-2 tấn phân chuồng hoai, 30 kg tro bếp, 12,5
Trang 24Lê Huy Hảo (2006) [8] cho rằng: Nên chọn những vùng đất cao ráo, tươixốp, thoát nước tốt, giàu dinh dưỡng, sạch sâu bệnh, cỏ dại để trồng rau ăn lá.Nên tránh xa nguồn nước thải của thành phố, xa bệnh viện và các khu côngnghiệp Nên luân canh cây trồng để hạn chế nguồn sâu bệnh Hàm lượng phânbón cho cây hành trong một ha là 10 tấn phân chuồng đã ủ hoai hoàn toàn, 50-
70 kg N/ha, 60-70 kg P2O5/ha, 35-50 Kg K2O/ha Chỉ phun thuốc sâu bệnh lúccần thiết, ở ngưỡng phòng trừ, phun đúng nồng độ, đúng liều lượng, đúng cách
Để đảm bảo an toàn thực phẩm tuyệt đối không dùng các nguồn nước nhiễmbẩn ở mương, rãnh, ao hồ tù đọng để tưới nước cho cây
Đường Hồng Dật (2003) [7] nêu một số đặc điểm của hành hương, đưa raquy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc hành hương Thời vụ trồng hành từ giữatháng 9 đến giữa tháng 10 Mỗi ha cần 300 đến 500 kg củ hành giống Nếu gieohạt thì mỗi m2 cần 4-5 g hạt Hạt hành có nội nhũ to, chứa nhiều dầu vì thế saukhi thu hoạch cần phơi khô và gieo ngay vào vụ sau, không cất giữ lâu năm.Theo Lù Thị Lìu [12], nếu trồng hành hoa bằng hạt phải chú ý: hạt hànhrất nhỏ nên cần gieo hạt vào một khu riêng Gieo hạt hành theo tỷ lệ 4-5 g/ m2đất Trước khi gieo hạt phải ngâm nước, chăm sóc cây con chu đáo cho cây lên
10 đến 12 cm mới đem đi trồng Hành hoa thường bị bọ trĩ phá hoại làm tópđầu lá và lá bị tổn thương Cần theo dõi thường xuyên, khi thấy cây bệnh cần
có bệnh pháp ngăn chặn kịp thời Thông thường bọ trĩ nên dùng thuốc Diptex5%
Mai Văn Quyền, Lê Thị Việt Nhi, Ngô Quang Vinh, Nguyễn Thị Hòa,Nguyễn Tuấn Kiệt (1997) [14], cho rằng: Hành dùng trong điều trị chứng bụngnước do gan cứng, giã nhỏ đắp lên mụn nhọt, sắt lấy nước uống chữa chứng sốtrét, sốt, cảm nhứt đầu, mặt phù thũng, làm sáng mắt Cùng với đó nhóm tác giảđưa ra kỹ thuật trồng, chăm sóc hành hương
1.4 3 Về lượng nitơ trong một số quy trình trồng hành hương
Cây hành hương đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu về kỹ thuật
14
kg urê, 28 kg lân super và 8 kg kali để bón cho 1000 m2 đất trồng hành
Trang 25trồng, đặc biệt là trồng để lấy lá Tùy hàm lượng dinh dưỡng ở trong đất trồngkhác nhau và điều kiện thời tiết ở mỗi địa phương mà người ta đưa ra chế độphân bón khác nhau Sau đây là một số công thức bón phân ở các địa phương:
15
Trang 26Chương 2ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
• 7 •
NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng nghiên cứu
Giống hành hương (Allium fistulosum L.) của địa phương cung cấp, trồng
trên đất cát pha với các mức phân bón nitơ khác nhau
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Thí nghiệm được nghiên cứu tại thôn Chánh Oai, xã Cái Hải, huyện PhùCát, tỉnh Bình Định, trong vụ đông xuân năm 2016 - 2017
2.3 Nội dung nghiên cứu
1 Điều tra tình hình trồng hành hương tại xã Cát Hải, huyện Phù Cát,tỉnh Bình Định
2 Phân tích một số chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất trồng ở khu vực bố trícác thí nghiệm nghiên cứu trước và sau khi thí nghiệm
3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến sự sinh trưởngphát triển của cây hành hương
4 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến các chỉ tiêusinh hóa và dư lượng nitrat của củ và lá cây hành hương
5 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ khác nhau đếnnăng suất, hiệu quả sản xuất của cây hành hương
6 Đề xuất mức bón phân đạm phù hợp đối với việc sản xuất hành hươngtrên đất cát tại xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, đảm bảo năng suất,hiệu quả kinh tế và không để lại dư lượng nitrat vượt ngưỡng cho phép
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Điều tra tình hình trồng hành hương tại xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
- Sử dụng phiếu điều tra (mẫu phiếu kèm theo ở phụ lục)
- Quy mô: 30 phiếu
- Địa điểm: Xã Cát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định
Trang 27- Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu, Sử dụng phương phápphương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA).
2.4.2 Phân tích một số chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất trồng của thí nghiệm
Phương pháp lấy mẫu đất theo tiêu chuẩn Việt Nam TCN 449-2001[17]
Cách lấy mẫu theo quy tắc đường chéo (dùng dao nhỏ đào lỗ kích thước
10X10X10 cm trong diện tích trồng củ để lấy 5 vị trí khác nhau của 4 góc vàtrung tâm của lô thí nghiệm), mỗi hố lấy 200g, phơi khô ở nhiệt độ phòng,đựng trong túi nilon
Phân tích tại phòng thí nghiệm của Viện Khoa học, Kỹ thuật Nông nghiệpDuyên hải Nam Trung Bộ
Trang 28- CT ĐC (ĐC): nền + 0,135 kg N (tương đương 150 kg N/ha).
- CT 1 (TN1): nền + 0,153 kg N (tương đương 170 kg N/ha)
- CT 2 (TN2): nền + 0,117 kg N (tương đương 130 kg N/ha)
- CT 3 (TN3): nền + 0,099 kg N (tương đương 110 kg N/ha)
Bảng 2.1 Lượng phân nền của các công thức thí nghiệm
b) Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí 3 lần lặp lại theo thứ tự Quy mô thí nghiệm:
- Diện tích mỗi lô thí nghiệm là 3 m2 (0,6 m X 5 m), mỗi công thức thí nghiệm 9 m2
- Số lô thí nghiệm là 4 X 3 = 12 lô
- Xung quanh khu thí nghiệm có bố trí trồng hàng rào bảo vệ
Trang 29* Ghi chú: ĐC, CT1, CT2, CT3: công thức thí nghiệm.
L1, L2, L3: các lần lặp lại c) Kỹ thuật bón phân.
- Làm đất: Đất được cày xới, ủ phân chuồng trong 15-20 ngày Lên luống( 0,6 m X 5 m X 0,15 m )
- Bón lót: Cày xới đất, ủ 100% số phân chuồng, sau 15-20 ngày tiếnhành cày xới đất, bón 100% lượng vôi, 60% lượng phân lân và 15% lượng urê
- Bón thúc: chia thành 4 đợt sau khi trồng 20, 35, 45, 60 ngày
+ Đợt 1: sau 15 ngày, bón phân giúp kích thích sinh trưởng, sử dụng 20%lượng urê, pha loãng với nồng độ 0,5-1 % (5-10g phân/lít) để tưới cho cây.+ Đợt 2: sau 30 ngày, sử dụng 25% lượng phân urê, 10% lượng phân lân
và 20% lượng phân kali, bón theo luống
+ Đợt 3: sau 45 ngày, sử dụng 25% lượng urê, 15% lượng phân lân và30% lượng kali, bón phân theo luống
+ Đợt 4: sau 60 ngày, sử dụng 15% lượng urê, 15% lượng phân lân và50% lượng kali, bón phân theo luống
Trang 302.4.3.2 Phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi về ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến sự sinh trưởng, sinh hóa và dư lượng nitrat của củ và lá cây hành hương
a) Phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi về chỉ tiêu sinh trưởng, của cây hành hương ở các công thức bón nitơ
* Các chỉ tiêu theo dõi :
- Chiều dài lá (cm); số lượng lá/củ
- Khả năng nở của bụi hành: số củ/bụi
- Đường kính củ (cm), chiều dài củ (cm)
- Khối lượng củ (g)
* Phương pháp điều tra, thu thập số liệu:
Mỗi lô thí nghiệm theo dõi 30 bụi qua các thời điểm trước đẻ nhánh (28ngày), đang đẻ nhánh (42 ngày) và chuẩn bị thu hoạch (84 ngày)
- Chiều dài lá thực hiện quang hợp: dùng thước kẻ li đo từ bẹ đến chóp lá(lá thứ 3 từ dưới lên), chỉ đo phần lá có màu xanh
- Số lá/củ: Trên một bụi hành có thể có nhiều củ, các củ tách riêng chỉdính phần gốc, dựa vào đó ta có thể đếm được số lá/củ
- Số củ/bụi: Mỗi củ hành không dính chung với các củ khác bởi lớp vỏbao bọc bên ngoài, có hình bầu dục, các củ chỉ còn dính chung gốc (bộ rễ), dựavào đó có thể đếm được số củ trên mỗi bụi hành
- Chiều dài củ: Dùng thước đo từ gốc củ (nơi tiếp giáp với rễ) đến phầnthu nhỏ (nơi tiếp giáp với dọc hành)
- Đường kính củ: Dùng thước kỹ thuật panme để xác định đường kínhcủ
- Dùng cân tiểu li để cân khối lượng
b) Phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi về sinh hóa và dư lượng nitrat trong
lá và củ hành hương
* Các chỉ tiêu phân tích:
Trang 31- Hàm lượng diệp lục.
- Hàm lượng nước tổng số, chất khô tổng số
- Dư lượng nitrat
* Phương pháp lấy mẫu
Mẫu hành hương được lấy vào buổi sáng (tách lấy củ/bụi, cả lá và củ), lấytheo quy tắc đường chéo, giống lấy mẫu đất, không lấy những tép trên nhữngbụi sâu bệnh, mỗi luống lấy 10 củ/10 bụi, trộn chung các luống cùng công thứcthí nghiệm, rửa sạch, bỏ vào túi nilon, bỏ vào thùng xốp ướp lạnh, đem vềphòng thí nghiệm để phân tích
*Phươngpháp phân tích
❖ Phân tích hàm lượng diệp lục trong lá, tại phòng thí nghiệm Trường Đạihọc Quy Nhơn, qua 3 giai đoạn: bắt đầu đẻ nhánh (35 ngày), kết thúc đẻ nhánh(56 ngày) và giai đoạn chuẩn bị thu hoạch (84 ngày) theo phương pháp so màuquang phổ
Diệp lục được chiết bằng etanol tuyệt đối sau đó đo mật độ quang trênmáy quang phổ 722 ở các bước sóng E665, E649 Hàm lượng diệp lục đượctính theo công thức Wintermans, De Most (1965) [4]
Trong đó:
A: hàm lượng diệp lục trong mẫu phân tích (mg/g)
Trang 32C: nồng độ sắc tố Ca, Cb, C a+b (mg/l).
V: thể tích dịch chiết xác định sắc tố (50 ml)
P: khối lượng mẫu (g)
❖ Phân tích hàm lượng nước tổng số, chất khô tổng số, tại phòng thínghiệm Trường Đại học Quy Nhơn, qua ba giai đoạn: Trước đẻ nhánh, đang đẻnhánh và chuẩn bị thu hoạch theo phương pháp A.P.Marinsich
Trên mỗi công thức thí nghiệm, lấy 10 lá (5 tép/củ), đều nhau, xác địnhđịnh khối lượng tươi (g), cho vào đĩa pectri, cắt nhỏ, cân cả đĩa Sấy ở nhiệt độ
800C trong 2 giờ Sau đó nâng lên 1050C đến khi khối lượng không đổi, xácđịnh khối lượng khô (trừ khối lượng đĩa pectri) Tính % hàm lượng nước vàchất khô theo công thức:
Trong đó:
m%: hàm lượng nước tổng số
m1 : khối lượng lá/củ tươi ban đầu (g)
m2: khối lượng lá/củ sau khi sấy ở nhiệt độ 1050C (g)
Hàm lượng chất khô = 100 - hàm lượng nước tổng số
❖ Phương pháp xác định dư lượng nitrat trong củ hành hương sau 12 tuần Phân tích tại trung tâm Phân tích và Kiểm nghiệ m trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, theo tiêu chuẩn TCVN 7814:2007 [18]
So sánh mức dư lượng nitrat trong từng công thức thí nghiệm, so sánh vớihàm lượng nitrat theo “Phụ lục 3 mức giới hạn tối đa cho phép của một số visinh và hợp chất gây hại trong sản phẩm rau, quả, chè (ban hành kèm theo quyđịnh số 99/2008/QĐ-BNN)”, để xác định lượng phân bón chứa nitơ phù hợpcho cây hành Ngưỡng dư lượng nitrat quy định trong hành lá là 400 mg/kg
m% m 1 - m 2
m
1
X100
Trang 332.4.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá năng suất, hiệu quả sản xuất của cây hành hương
Trang 3424
Trang 35Bảng 3.2 Hàm lượng phân hóa học N, P2O5, K2O nguyên chất sử dụng
trong sản xuất hành hương của nông dân tại xã Cát Hải
Vụ mùa 4,16+ 0,75 18,05 9,94 + 2,71 27,27 1,66 + 1,51 91,12
!—\ - - ~ 7
Số liệu điều tra ở bảng 3.2 cho thấy:
- Phân P2O5 được sử dụng nhiều nhất Mức phân P2O5 sử dụng giữa các hộ giaođộng lớn CV% từ 29,2% đến 46,34% Trong đó, vụ đông-xuân hàm lượng P2O5 caonhất (11,48 kg), thấp nhất là vụ xuân-hè (9,57 kg)
- Hàm lượng phân N bón cho cây không cao, cao nhất là vụ đông-xuân với hàmlượng 6,24 kg, vụ mùa 4,16 kg, thấp nhất là vụ xuân-hè 4,04 kg Mức độ phân tán về
sự cung cấp hàm lượng N cho cây ở các hộ dân rất cao CV% từ 18,03% đến 30,79%
- Phân K2O chưa được người dân sử dụng nhiều, hàm lượng bón rất thấp, giaođộng từ 1,6 - 2,08 kg Người dân chưa nắm được tầm quan trọng của phân kali trongquá trình sinh trưởng và phát triển cây hành, do đó mức độ phân tán về hàm lượngphân kali giữa các hộ rất cao, CV % > 100
Nhận xét chung: Người dân sử dụng phân bón trong sản xuất hành hương chủyếu dựa vào: kinh nghiệm, điều kiện thời tiết, mùa vụ, chưa có quy trình kỹ thuậtcanh tác đồng bộ
3.1.2 Kết quả điều tra về tập quán sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
3.1.2.1 Về phòng trừ cỏ dại
Qua điều tra cho thấy: Trong số 30 hộ được điều tra, 100% hộ dân tại xã Cát Hải
có sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ cỏ dại Thuốc trừ cỏ được phun khoảng 2lần/vụ, khi mới xuống củ và khi thuốc cỏ lần đầu hết tác dụng, có nhiều cỏ mọc trở
Trang 36lại Trong đó, 26,7 % số hộ hoàn toàn phòng trừ cỏ dại bằng thuốc bảo vệ thực vật,73,3% số hộ vừa sử thuốc phòng trừ cỏ dại vừa làm cỏ thủ công Kết quả này chothấy nông dân còn lạm dụng thuốc trừ cỏ trong sản xuất, ít sử dụng phương pháp thủcông để phòng trừ cỏ dại.
3.1.2.2 Về phòng trừ sâu, bệnh hại hành hương
Cây hành thuộc loài có chất kháng sinh nên ít bị ảnh hưởng của sâu hại, mức độgây hại không cao, dễ trừ Tuy nhiên khi bị sâu gây hại sẽ ảnh hưởng đến năng suất
và chất lượng hành
Sâu xanh da láng xuất hiện khá phổ biến Sâu ăn lá làm giảm hiệu suất quanghợp của cây hành, ảnh hưởng đến năng suất Để phòng trừ, nông dân sử dụng thuốcSulfaron 250EC, Atabron 5EC, Regent 800WG,
Dòi vẽ bùa ăn phần mô mền của lá, tạo các đường ngoằn nghoèo, làm giảm diệntích quang hợp Loài này có mức độ gây hại cho cây hành cao nhất trong các loài sâugây hại, có khoảng 6,7 % hộ được điều tra có năng suất hành giảm 50% do loài nàygây ra Nông dân thường dùng Trigard 100SL hoặc hoạt chất Abamectin để phòngtrừ
Dòi đục lá hành do ruồi đẻ trứng vào lá, trứng nở thành dòi Dòi làm hành bịthối nhũn ở mõm lá, lá ngắn, hành sinh trưởng kém Nông dân thường dùng thuốcFastac, Sherpa, Trigard, để phòng trừ
Cây hành hương dễ có các loại bệnh hại chính như: thán thư, thối nhũn, sươngmai Đây là các bệnh gây nguy hiểm lớn cho cây hành, khó điều trị, ảnh hưởng lớnđến năng suất và chất lượng hành, có thể dẫn đến mất trắng
Bệnh thối nhũn có triệu chứng là cây bị thối mềm ở phần gần mặt đất, do các tếbào bị mềm và bị vỡ vụn ra Đây là bệnh có mức độ gây hại cao, khoảng 10% hộ dânđược điều tra cho biết có thể làm giảm khoảng 50% năng
Trang 37Bệnh thán thư hành hại cả lá, thân giả hành và củ hành Vết bệnh thường cóhình bầu dục, kích thước nhỏ hơn (4-5 x 2-3 mm) ở giữa màu sáng trắng, xung quanh
có viền nâu, màu vàng nhạt, trên vết bệnh thường thấy nhiều chấm đen xếp theo vòngđồng tâm Cây bị bệnh nặng, thân, lá khô, củ nhỏ và dễ bị thối củ khi gặp mưa Bệnh
sương mai hành: Vết bệnh dạng hình bất định, lúc đầu màu trắng xám sau to dần màu
xám tím, gặp tiết trời ẩm ướt thường hình thành một lớp nấm bông xốp, màu trắngxám trên mô bệnh Người dân sử dụng Gekko 20 SC kết hợp Pulsor 23F, Topsin,Metalaxyl, Aliette, để phòng trừ
Nông dân trồng hành hương còn hạn chế trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.Trong số 30 hộ đã điều tra, có 23,3% người dân có xem hướng dẫn sử dụng khi dùngthuốc, 76,7% người dân dựa vào sự hướng dẫn của đại lý bán thuốc bảo vệ thực vật,66,7% người dân phun thuốc theo kinh nghiệm
Các thuốc kích thích sinh trưởng thường dùng nhằm dưỡng rễ, dưỡng lá nhưComcat, Atonix, Stimula, Thuốc được sử dụng thường xuyên khoảng 7 đến 10ngày phun một lần Lần phun cuối cùng cách khi thu hoạch khoảng 12 đến 15 ngày
Bảng 3.3 Năng suất hành hương trung bình/vụ (tạ/500 m 2 ) năm 2016 tại
vụ mùa 21,75%, chứng tỏ năng suất mỗi hộ có sự sai khác nhau lớn, phụ thuộc vàotrình độ, kinh nghiệm canh tác của mỗi hộ Tùy theo giá cả ở mỗi thời điểm mà ngườidân có mức lãi ròng khác nhau dao động từ 4-8 triệu đồng/sào
27
suất/vụ Khi hành mắc bệnh nên hạn chế tưới nước, thu gom và tiêu hủy bụi
bị thối nhũn
Trang 383.1.3 Nhận xét chung
Cây hành hương là một trong những cây trồng chủ lực của xã Cát Hải, huyệnPhù Cát, tỉnh Bình Định Hành được trồng hầu như quanh năm, với 3 vụ chính làđông-xuân, xuân-hè, vụ mùa
Ưu điểm: Người dân có kinh nghiệm trồng hành hương, tùy thời tiết mỗi vụ mà
có biện pháp canh tác phù hợp Lượng phân nitơ cung cấp cho cây trồng không quácao, đảm bảo được chất lượng sản phẩm Người dân chủ yếu sử dụng các loại phântổng hợp để cung cấp nitơ cho cây thay vì phân urê cũng giúp hạn chế sự tích lũynitrat lại cho cây Bón phân lân có tác dụng tăng cường chuyển hoá đạm khoángthành đạm, làm giảm sự tích luỹ NO3- trong rau Một số tiến bộ khoa hoạc kỹ thuật đãđược ứng dụng và trong sản xuất hành hưởng xã Cát Hải giúp giảm công lao độngnhư: tưới nước tự động, sử dụng máy móc trong làm đất, góp phần tăng năng suất,thu nhập cho người dân
Hạn chế: Nông dân đầu tư phân bón chưa hợp lý Tổng khối lượng phân bónbón trong một vụ cao nhưng chủ yếu chỉ tập trung vào lượng phân P2O5 Một số hộdân cung cấp phân N cho cây > 8 kg/500m2, có khả năng gây ra dư lượng nitrat chocây trồng Nông dân chưa có thói quen sử dụng phân kali Các kết quả điều tra đềucho thấy lượng phân kali bón cho cây hành thường rất ít, thậm chí không bón Ngườidân chưa có nhiều hiểu biết về sâu bệnh hại và về thuốc bảo vệ thực vật, nông dân sửdụng thuốc chủ yếu theo kinh nghiệm Năng suất hành hương thấp
3.2 Kết quả phân tích đất trước và sau khi thí nghiệm
Năng suất và phẩm chất cây trồng nói chung và cây hành nói riêng không chỉphụ thuộc vào giống, biện pháp canh tác, điều kiện thời tiết mà còn phụ thuộc lớn vàotình hình lý hóa, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng của đất trồng Nitơ dễ tiêu bao
gồ m nitơ ở dạng khoáng (NH4+, NO3-, NO2-) và một số N-hữu cơ dễ bị phân hủy màcây trồng có thể hút thu được Chúng tôi tiến hành trồng hành trên đất cát pha, loạiđất thích hợp cho sự sinh trưởng của hành hương và chiếm diện tích lớn tại địa bàn xãCát Hải, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định Để tìm hiểu về đặc điểm nông học của đất
28
Trang 39và khả năng sử dụng chất dinh dưỡng của hành hương chúng tôi tiến hành phân tíchmột số chỉ tiêu của đất trồng trước và sau thí nghiệm để đánh giá được sự tác độngcủa các mức nitơ khác nhau đến tính chất hóa học của đất.
Theo Tiurin và Cononova [38] đánh giá các mức độ của đất dựa vào N dễ tiêucủa đất như sau: N dễ tiêu < 4 mg/100 gam là đất nghèo, N dễ tiêu từ 4 - 6 mg/100g
là đất trung bình, N dễ tiêu > 6 mg/100g là đất giàu Như vậy sau khi phân tích đượcđất trồng trước và sau thí nghiệm, chúng tôi được bảng giá trị:
Bảng 3.4 Kết quả phân tích đất khu vực thí nghiệm trước và sau
thí nghiệm
rri /V /V
Tên m u ẫ
N dễ tiêu (mg/100 gam)
Độ chua trao đổi (me/100 gam) Ph KCl
[Số liệu tại Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ]
Từ kết quả cho thấy: Đất thí nghiệm là đất nghèo nitơ, hàm lượng N dễ tiêutrước thí nghiệm 2,31 mg/100 gam Đất chua, pH = 5,1 Sau khi thí nghiệm, N dễtiêu, độ chua trao đổi có sự thay đổi N dễ tiêu tăng theo sự tăng hàm lượng phân bón
N nhưng đất vẫn nghèo nitơ Cụ thể: TN1 tăng 0,60 mg/100 gam so với trước thínghiệm, ĐC tăng 0,39 mg/100 gam, TN2 tăng 2,8 mg/100 gam, TN3 tăng 1,4 mg/100gam
Trước khi thí nghiệm, chúng tôi có tiến hành bón vôi nhằm cải tạo độ chua củađất, sau khi thí nghiệm, độ chua đất vẫn không có sự thay đổi, đất vẫn ở trạng thái hơichua Thông thường độ chua trao đổi của đất nhỏ hơn 1 me/100 gam Tuy nhiên, đấttrồng trước khi thí nghiệm có độ chua trao đổi = 2,5 me/100 gam chứng tỏ các cationkiềm hấp thụ trên keo đất đã bị rữa trôi nhiều [35] Sau khi thí nghiệm, độ chua trao
29
Trang 40đổi đã trở về trạng thái nhỏ hơn 1 me/100 gam.
3.3 Ảnh hưởng của các mức phân bón nitơ đến sự sinh trưởng và phát triển của hành hương
Sự sinh trưởng phát triển là do sự phân chia, tế bào tế bào ở các mô phân sinhđỉnh, mô phân sinh bên của thực vật hai lá mầm và mô phân sinh lóng của thực vậtmột lá mầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố bên trong và yếu tố bênngoài Phân bón là một yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng củathực vật nói chung, đặc biệt là phân đạm, loại phân cung cấp nitơ chủ yếu cho cây
3.3.1 Ảnh hưởng của nitơ đến chiều dài phần lá có khả năng quang hợp của cây hành hương ở giai đoạn trước đẻ nhánh, đang đẻ nhánh và trước thu hoạch
Chiều dài lá biểu hiện sức sống, sự phân chia của các tế bào bên trong cơ thểthực vật Chiều dài lá tăng nhanh chứng tỏ lượng tế bào và kích thước tế bào tăngnhanh Ngoài ra phát triển chiều cao cây nhằm tạo ưu thế cho quá trình quang hợp, là
cơ sở cho việc hình thành năng suất sau này Cây sinh trưởng tốt sẽ có chiều cao thíchhợp, cân đối qua từng thời kỳ Chiều dài lá là một đặc tính di truyền ngoài ra, phụthuộc vào điều kiện ngoại cảnh và tác động của các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt làphân bón Phân N có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây hành, sựảnh hưởng đó được thể hiện qua bảng sau
Bảng 3.5: Chiều dài phần lá có khả năng quang hợp của cây hành qua
các thời điểm sinh trưởng
Giai đoạn ĐC 30,89 ± 2,47 100,00 7,98
30