1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI GIẢNG LỊCH sử ĐẢNG CHUYÊN đề NGHỊ QUYẾT 6, 7, 8 của ĐẢNG CỘNG sản ĐÔNG DƯƠNG

14 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 89,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giúp người học hiểu rõ bối cảnh lịch sử của các Nghị quyết Trung ương 6 (111939), Nghị quyết Trung ương 7 (111940), Nghị quyết Trung ương 8 (51941); đặc biệt, hiểu sâu, nắm vững các nội dung cơ bản của các nghị quyết. Trên cơ sở đó vận dụng vào nghiên cứu, tiếp thu các chủ đề Lịch sử Đảng phần Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân có chất lượng hơn. Thấy rõ sự lãnh đạo chỉ đạo sáng suốt, nhạy bén của Đảng trong cao trào cách mạng 19391945 từ đó củng cố niềm tin vững chắc vào Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được Đảng phân công.

Trang 1

Phần mở đầu Mục đích, yêu cầu

- Giúp người học hiểu rõ bối cảnh lịch sử của các Nghị quyết Trung ương

6 (11/1939), Nghị quyết Trung ương 7 (11/1940), Nghị quyết Trung ương 8 (5/1941); đặc biệt, hiểu sâu, nắm vững các nội dung cơ bản của các nghị quyết Trên cơ sở đó vận dụng vào nghiên cứu, tiếp thu các chủ đề Lịch sử Đảng phần Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân có chất lượng hơn

- Thấy rõ sự lãnh đạo chỉ đạo sáng suốt, nhạy bén của Đảng trong cao trào cách mạng 1939-1945 từ đó củng cố niềm tin vững chắc vào Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được Đảng phân công

Nội dung: 2 phần

I Bối cảnh lịch sử

II Nội dung cơ bản các Nghị quyết Trung ương 6, 7, 8

Đối tượng: Cử nhân chuyên ngành Lịch sử Đảng

Thời gian: 2 tiết

Phương pháp: Giới thiệu khái quát các nội dung cơ bản của nghị quyết

kết hợp hướng dẫn nghiên cứu các văn kiện

Tài liệu:

- Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.509-567

- Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr.20-82; 96-136

- Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Sơ thảo), tập 1 (1920-1954), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, tr.313-339

- Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr.91-97

- Giới thiệu một số văn kiện của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Nxb QĐND, Hà Nội, 2007, tr.74-100

Trang 2

NỘI DUNG

I BỐI CẢNH LỊCH SỬ

1 Tình hình thế giới

Nét nổi bật của tình hình thế giới trong những năm 1939-1945 là cuộc Chiến tranh thế giới thứ II nổ ra, lôi cuốn hàng chục nước tham gia với những hiệu quả hết sức nặng nề Cuộc chiến tranh đó chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu (9/1939-6/1941) là cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn đế quốc với nhau; giai đoạn 2 (6/1941-8/1945) là cuộc chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu

Cụ thể:

- 1/9/1945, Phát xít Đức tấn công Ba Lan mở màn Chiến tranh thế giới lần thứ hai,

- Từ tháng 4/1940 đến đầu năm 1941, Đức tiếp tục tấn công xâm chiếm hàng loạt nước ở Tây Âu và Đông Âu, trong đó nước Pháp cũng bị Đức xâm chiếm sau một tháng tiến công Tháng 6/1940, Đức đã tước vũ khí 1,5 triệu quân Pháp Các lực lượng yêu nước nòng cốt là Đảng Cộng sản Pháp đã tổ chức kháng chiến chống Phát xít Đức Chính phủ Pháp bị phân hoá thành 2 lực lượng: Lực lượng tiến bộ do Đờgôn đứng đầu lập chính phủ lưu vong chống Đức ở Angiêri; Lực lượng phái hữu do Pêtanh đứng đầu cam tâm làm tay sai cho Đức Chính quyền Pêtanh đã thực hiện chính sách cai trị, phản động ở nước Pháp và các thuộc địa

- Nhật đẩy mạnh xâm chiếm Trung Quốc và tiến quân xuống Đông Nam

Á Nhân dân Trung Quốc đứng lên kháng Nhật và “Quốc - Cộng hợp tác” lần thứ 2 (lần thứ nhất: 1/1924 với chủ trương: “Liên Nga, dung Cộng, phù trợ công - nông” khi phái tả chiếm ưu thế do Tôn Trung Sơn đứng đầu)

- 22/6/1941, Đức tiến công Liên Xô Nhân dân Liên Xô đứng lên chống phát xít bảo vệ Tổ quốc Tính chất cuộc chiến tranh đã thay đổi: đây là cuộc chiến tranh giữa lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu

- 8/12/1941, Nhật bất ngờ tấn công Mỹ ở Trân Châu Cảng (Ha-oai) làm cho chiến tranh lan rộng sang châu Á – Thái Bình Dương

- 1943, Quốc tế Cộng sản tự giải tán, đảng Cộng sản ở mỗi nước chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng ở nước mình do điều kiện chiến tranh chia cắt, Quốc tế Cộng sản không thể lãnh đạo.Cụ thể: từ năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ 2 nổ ra gây khó khăn lớn cho việc liên lạc giữa các đảng cộng

Trang 3

sản và công nhân, giữa các lực lượng cách mạng trên thế giới Sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản đối với cách mạng các khu vực gặp khó khăn Lúc này đòi hỏi các đảng cộng sản phải nỗ lực, chủ động, sáng tạo, tự thân vận động Do đó, Quốc tế Cộng sản đã tuyên bố giải tán kết thúc vai trò lịch sử của mình năm 1943

2 Tình hình Đông Dương

- Cuối năm 1939, thực dân Pháp ở Đông Dương đã thủ tiêu những thành quả mà ta giành được trong cao trào vận động dân chủ 1936-1939 Chúng tăng cường đàn áp cách mạng khốc liệt Điều kiện hoạt động công khai không còn, Đảng chuyển vào hoạt động bí mật

- Tháng 9/1940, Nhật xâm chiếm Đông Dương, Pháp đầu hàng Nhật Nhân dân Đông Dương chịu cảnh “một cổ hai tròng” Nhật đã thi hành một loạt chính sách bóc lột tàn bạo và đàn áp dã man phong trào cách mạng Ví dụ: Chúng bắt nhân dân ta phải nhổ lúa trồng đay, trồng thầu dầu; bắt bớ, bắn giết cán bộ đảng viên, quần chúng yêu nước

- Lợi dụng Pháp suy yếu, Nhật dần dần gạt Pháp ra khỏi địa vị thống trị ở Đông Dương Ngày 9/3/1945, Nhật tiến hành đảo chính Pháp, lật đổ hoàn toàn

sự thống trị của Pháp

- Trước sự đàn áp của kẻ thù ở Đông Dương, mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc xâm lược vốn đã sâu sắc nay càng sâu sắc hơn, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra ở quy mô khác nhau (Khởi nghĩa Bắc Sơn (9/1940); Khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940); Khởi nghĩa Đô Lương (1/1941)) Các cuộc khởi nghĩa nổ ra khi cả nước chưa có thời cơ nên bị địch đàn áp khốc liệt, nhiều cán

bộ, đảng viên của Đảng bị địch bắt và bị sát hại

- Mặc dù bị địch đàn áp, khủng bố, phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng liên tục phát triển Đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước tiếp thêm sức mạnh cho phong trào (2/1941)

Tóm lại, tình hình thế giới và tình hình Đông Dương vào cuối những

năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ XX có nhiều biến đổi to lớn khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra Các mâu thuẫn vốn có của thế giới đã sâu sắc càng sâu sắc hơn Ở Đông Dương tình thế cách mạng đã dần dần xuất hiện đòi hỏi Đảng Cộng sản Đông Dương phải có chủ trương mới phù hợp với nhu cầu, điều kiện lịch sử mới Chính vì thế mà Trung ương Đảng đã tiến hành 3 Hội nghị quan trọng: Hội nghị Trung ương 6 (11/1939); Hội nghị Trung ương 7 (11/1940) và Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) Các hội nghị đó đã ra nghị quyết lãnh đạo cách mạng Đông Dương trong thời kỳ mới

Trang 4

II NỘI DUNG CƠ BẢN CÁC NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 6,7,8

1 Nghị quyết Trung ương lần thứ 6 (11/1939)

(Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội.2000, tr.509-567)

Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội.2000 tr.509 viết là

“Nghị quyết của Ban Trung ương Đảng ngày 6,7,8 tháng 11 năm 1939” Hiện nay ta gọi là Nghị quyết Trung ương 6 nhưng nguyên bản không ghi rõ như vậy

* Giới thiệu sơ lược về Hội nghị

- Vào các ngày 6, 7, 8/11/1939, tức 2 tháng sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, Trung ương Đảng đã họp tại Bà Điểm – HócMôn (Gia Định)

do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì

- Tham gia Hội nghị có các đồng chí: Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần và một số đồng chí khác

- Hội nghị đã bàn nhiều vấn đề và đi đến quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng trong tình hình mới

* Nội dung Nghị quyết

- Nhận định đánh giá tình hình thế giới: Về cuộc Chiến tranh thế giới thứ

hai, Nghị quyết đã phân tích tỷ mỉ diễn biến của cuộc chiến tranh trên cơ sở đó làm rõ bản chất của cuộc chiến tranh này

+ Trước hết Nghị quyết vạch rõ mục đích, tính chất và thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh:

Mục đích của cuộc chiến tranh mà chủ nghĩa phát xít gây ra nhằm chia lại thế giới (tr.510)

Tính chất cuộc chiến tranh là một thứ chiến tranh cướp bóc tối phản động, trái với công lý (tr.510)

Thủ phạm gây ra cuộc chiến tranh là phát xít Đức – Ý – Nhật

+ Nghị quyết phân tích làm rõ diễn biến, hậu quả và thái độ của các nước qua giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh

Nghị quyết xác định cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai “từ lúc khởi đầu tới lúc này” có thể chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Bắt đầu từ lúc Nhật chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc tới lúc cuộc thương lượng Anh – Pháp và Liên Xô tan vỡ Đây là thời kỳ phe phát xít Đức – Ý – Nhật tiến hành xâm lược các nước yếu Trong thời kỳ này Anh – Pháp – Mỹ thực hiện chính sách hai mặt: một mặt muốn xoay chiến tranh đế quốc bằng cuộc chiến tranh chống Liên Xô Mặt khác, muốn cả Đức – Ý – Nhật

và Liên Xô suy yếu để chúng hưởng lợi

Trang 5

Nghị quyết viết: “Trong lúc những nước bị xâm lược hăng hái chống lại để giữ độc lập tự do thì mấy đế quốc khác như Anh – Pháp – Mỹ mặc dù quyền lợi của mình cũng bị xâm phạm và đe doạ vẫn cứ ngồi trương mắt ếch cho đôi bên đánh nhau liệt nhược để nhảy ra vồ lấy cái lợi ngư ông.” (tr510-511)

Giai đoạn 2: Bắt đầu từ ngày xảy ra cuộc chiến giữa Anh – Pháp – Ba Lan với Đức Đây là giai đoạn mà tất cả các nước đế quốc trên thế giới tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào cuộc chiến tranh Tham gia vào guồng máy chiến tranh, chính phủ Anh – Pháp đã thủ tiêu các quyền tự do dân chủ, phát xít hoá

bộ máy thống trị và ngả sang phe phản động

Nghị quyết nhận định: chiến tranh thế giới sẽ gieo đau thương tang tóc, gieo tai hoạ thảm khốc cho loài người

Nghị quyết viết: “Thế giới sẽ là cái lò sát sinh lớn! Nhân loại sẽ phải chịu một số kiếp vô cùng thê thảm (tr.512)

Nghị quyết phân tích làm rõ chính sách hoà bình của Liên Xô thông qua việc ký hiệp ước với Đức (23/8/1939) và các hoạt động quân sự ở Ba Lan (17/9/1939) Nghị quyết coi đây là một hành động đúng đắn vừa có tác dụng chia rẽ lực lượng bọn đế quốc, vừa tránh cho nhân dân Liên Xô và nhân dân các nước trên thế giới khỏi bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh thảm khốc (tr.513) Nghị quyết cũng lên án các luận điệu xuyên tạc chính sách hoà bình của Liên

Xô trong các hoạt động quân sự và ngoại giao Nghị quyết khẳng định chính sách hoà bình và ủng hộ cách mạng thế giới là chính sách nhất quán của Liên Xô

Nghị quyết chỉ ra tiền đồ sáng sủa của cách mạng thế giới

Nghị quyết nhận định: “Chế độ tư bản đang hấp hối thì cuộc Chiến tranh

đế quốc lần thứ hai lại tiếp đến đẩy nó chóng vào chỗ diệt vong.” (tr.515)

Nghị quyết khẳng định: “Cách mạng Trung Quốc sẽ thắng! Cách mạng giải phóng dân tộc Đông Dương sẽ thắng! Cách mạng thế giới thế nào cũng sẽ thắng! Một thế giới quang minh rực rỡ sẽ thay cho cái thế giới tối tăm mục nát này.” (tr.516)

- Về tình hình Đông Dương, Nghị quyết nhận định:

+ Đông Dương đã bị lôi cuốn vào guồng máy chiến tranh do đế quốc gây ra + Nhật sẽ xâm chiếm Đông Dương, Pháp sẽ đầu hàng Nhật

+ Chế độ cai trị ở Đông Dương đã trở thành chế độ phát xít, một thứ phát xít quân phiệt thuộc địa vô cùng tàn bạo Toàn thể nhân dân Đông Dương sẽ rơi vào cảnh đói rét, đau khổ, phá sản, chết chóc hàng loạt

Cụ thể: Công nhân thất nghiệp, giờ làm tăng, lương giảm; Nông dân “sẽ bị phá sản cả đám, bị đói rét cùng cực (tr.522); Tiểu tư sản thành thị rơi vào hoàn

Trang 6

cảnh “rất ngut ngập” (tr.522); Tư bản bản xứ và trung tiểu địa chủ sẽ “bị sa sút

và có khi sẽ phải bị tịch lý hết gia sản (tr.521)

Những nhận định trên của Đảng là rất sáng suốt, đúng đắn và thực tiễn đã diễn ra đúng như vậy.đòi hỏi phải được giải quyết Đó là mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với bọn đế quốc xâm lược

=> Đặc điểm nổi bật của tình hình Đông Dương lúc này là chiến tranh

đã thúc đẩy các mâu thuẫn vốn có của xã hội thuộc địa nửa phong kiến thêm gay gắt trong đó mâu thuẫn chủ yếu đã phát triển đến đỉnh điểm

Nghị quyết viết: “Những thảm trạng do đế quốc chiến tranh gây nên sẽ làm cho trình tự cấp tiến hoá và cách mạng hoá của quần chúng sẽ hết sức mau chóng Lòng phẫn uất sẽ sôi nổi, cách mạng sẽ bùng nổ.” (tr,534)

- Chính sách của Đảng Cộng sản Đông Dương

+ Đảng xác định mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc Pháp để giải phóng dân tộc Nghị quyết viết:

“Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả các ách ngoại xâm,

vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng dân tộc.” (tr.536)

+ Đảng xác định cuộc cách mạng giải phóng các dân tộc Đông Dương bao gồm 2 nội dung: chống đế quốc và chống phong kiến trong đó nhiệm vụ chính

là đánh đổ đế quốc

Nghị quyết chỉ rõ: “Cách mạng phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt của cách mạng tư sản dân quyền Không giải quyết được cách mạng điền địa thì không giải quyết được cách mạng phản đế Trái lại, không giải quyết được cách mạng phản đế thì không giải quyết được cách mạng điền địa Cái nguyên tắc ấy không bao giờ thay đổi được, nhưng nó phải ứng dụng một cách khôn khéo để thực hiện được nhiệm vụ chính cốt của cách mạng là đánh đổ đế quốc” (tr.538)

=> Đây là sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược rất quan trọng của Đảng trong việc thực hiện hai nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân + Để tập trung lực lượng đánh đế quốc tay sai, giải phóng dân tộc, Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ mới tịch thu ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc; thay khẩu hiệu lập “chính phủ xô viết công nông binh” bằng khẩu hiệu “chính phủ Liên bang Cộng hoà dân chủ Đông Dương” (tr.539) (tức là thành lập chính phủ liên minh của nhiều giai cấp, tầng lớp – bước quá độ của chuyên chính vô sản

+ Nghị quyết xác định: thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay thế cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương Mục đích là để đoàn

Trang 7

kết tất cả các dân tộc Đông Dương, tất cả các giai cấp, đảng phái, các phần tử phản đế để đấu tranh đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai giành độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương

Nghị quyết chỉ rõ: “Mục đích của Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương là đánh đổ đế quốc Pháp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc phản bội dân tộc.” (tr.539)

+ Nghị quyết xác định lực lượng chính của cách mạng là công nông, đoàn kết với các tầng lớp trung sản thành thị, nông thôn và đồng minh tạm thời hoặc trung lập giai cấp tư sản dân tộc, trung, tiểu địa chủ; giai cấp vô sản giữ vai trò lãnh đạo (tr.530-540)

+ Về phương pháp cách mạng: Đảng phải tổ chức lãnh đạo các phong trào đấu tranh của giai cấp thật mạnh mẽ và rộng lớn đòi quyền lợi thiết thực và chống chiến tranh, chống đế quốc Pháp và bè lũ tay sai, chuẩn bị điều kiện tiến tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc (tr.551-552)

+ Về công tác tổ chức quần chúng: Nghị quyết xác định nguyên tắc, hình thức tổ chức các tổ chức quần chúng với phương châm vừa xây dựng các tổ chức hợp pháp, đơn giản, rộng rãi, vừa xây dựng phát triển các đoàn thể cách mạng bí mật (công hội, nông hội, phản đế hội)

+ Về công tác xây dựng củng cố Đảng (tr.555-556)

Nghị quyết đã chỉ ra các yêu cầu về xây dựng Đảng bao gồm:

Một là, phải thống nhất ý chí và hành động

Hai là, phải mật thiết liên lạc với quần chúng

Ba là, phải vũ trang lý luận cách mạng cho cán bộ đảng viên

Bốn là, phải biết lựa chọn cán bộ mới

Năm là, phải giữ gìn mối liên lạc từ Trung ương đến cơ sở

Sáu là, phải quan tâm củng cố cơ sở Đảng ở các trung tâm kinh tế - chính trị Bảy là, phải chú ý xây dựng cơ sở ở Miên, Lào và tổ chức nhiều đảng bộ

tự trị của các dân tộc thiểu số

Tám là, phải kiểm tra kiểm soát việc thi hành các nghị quyết của Đảng Chín là, phải lập ban chuyên môn của Đảng

Mười là, phải chú ý chống nạn khiêu khích, mật thám

Mười một là, phải làm tốt phê bình và tự phê bình

* Nhận xét về Nghị quyết Trung ương 6

- Nghị quyết Trung ương 6 (11/1939) đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng về đường lối và phương pháp cách mạng trong thời kỳ đầu của cao trào giải phóng dân tộc (1939-1945) Đó là chuyển đấu tranh đòi dân sinh dân chủ

Trang 8

sang đấu tranh đánh đổ đế quốc Pháp và bè lũ tay sai, giải phóng dân tộc; chuyển hình thức đấu tranh từ công khai hợp pháp sang bí mật bất hợp pháp, nửa hợp pháp và khởi nghĩa vũ trang

- Điểm sáng tạo, nhạy bén nhất của Nghị quyết Trung ương 6 là sớm nêu

ra phương hướng chiến lược, tập trung mũi nhọn cuộc đấu tranh vào đế quốc Pháp và bè lũ tay sai, chuẩn bị điều kiện trực tiếp cho việc giành chính quyền Nghị quyết đã làm phong phú kho tàng lý luận cách mạng của Đảng về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

=> Nghị quyết được phổ biến tới đảng viên và quần chúng đã đem lại ánh sáng mới cho phong trào cách mạng Đông Dương

2 Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (11/1940)

Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 viết “Nghị quyết của Hội nghị Trung ương ngày 6,7,8,9 tháng 11 năm 1940” (tr.20-82), có 6 chương nhưng chương 6 hiện nay chưa sưu tầm được

* Giới thiệu sơ lược về Hội nghị

- Những chuyển biến mau lẹ của tình hình quốc tế sau khi Pháp mất nước

và tình hình sôi sục của phong trào cách mạng ở Đông Dương đòi hỏi Đảng phải nhanh chóng kiện toàn sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương (22/9/1940, Nhật chiếm Lạng Sơn, Hải Phòng; 23/9/1940, Pháp đầu hàng Nhật; 27/9/1940, khởi nghĩa Bắc Sơn)

- Tháng 11/1940, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 họp ở làng Đình Bảng (Bắc Ninh) từ ngày 6 đến ngày 9/11/1940

- Tham gia Hội nghị có đồng chí Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh

* Nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 7

- Nhận định về tình hình quốc tế:

Hội nghị cho rằng: cuộc chiến tranh thế giới ngày càng lan rộng và ác liệt,

đế quốc Pháp đã bị bại trận Phát xít Nhật sẽ nhân cơ hội này mở rộng chiến tranh cướp lấy các thuộc địa của Anh – Pháp – Mỹ ở châu Á Cuộc chiến tranh

đế quốc rất có thể chuyển thành chiến tranh giữa phát xít và Liên Xô Bọn đế quốc hiếu chiến sẽ nhanh chóng bị Hồng quân Liên Xô và cách mạng thế giới tiêu diệt (Sự nhận định sáng suốt của Đảng đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn)

- Nhận định về tình hình Đông Dương

Hội nghị cho rằng: từ khi phát xít Pháp – Nhật cấu kết với nhau, áp bức bóc lột nhân dân ta, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với phát xít

Trang 9

Pháp – Nhật càng trở nên sâu sắc Do đó, cách mạng tất yếu sẽ nổ ra Nghị quyết viết: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy Đảng phải chuẩn bị

để giành lấy cái sứ mệnh thiêng liêng: lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập (tr.58)

- Nghị quyết khẳng định chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm gác khẩu hiệu cách ruộng đất của Hội nghị Trung ương 6 là đúng.

- Nghị quyết tiếp tục khẳng định cách mạng tư sản dân quyền “có hai

tính: phản đế và thổ địa” (tr.67) và phải tiến hành đồng thời cả phản đế và thổ điạ: “Cách mạng phản đế và cách mạng thổ địa phải đồng thời tiến, không thể

làm cái trước, cái sau Song lúc này khẩu hiệu cách mạng phản đế - cách mạng giải phóng dân tộc cao hơn và thiết thực hơn” (tr.68)

- Nghị quyết xác định kẻ thù chính của cách mạng Đông Dương lúc này

là phát xít Pháp – Nhật Nghị quyết viết: “Trong lúc này, kẻ thù chính của nhân

dân Đông Dương là đế quốc chủ nghĩa Pháp – Nhật” (tr.76)

Việc xác định chính xác kẻ thù trong từng thời kỳ, thời điểm cụ thể có ý nghĩa hết sức quan trọng, là một trong những điều kiện bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Chính vì thế mà căn cứ vào tình hình cụ thể mà Đảng ta đã chỉ

rõ từng kẻ thù trong thời kỳ 1939-1945 là:

Từ 1/1939 trước tháng 9/1940: phát xít Pháp

Từ tháng 9/1940 đến 1943: phát xít Pháp – Nhật

Từ năm 1943 đến 3/1945: phát xít Nhật – Pháp

Từ tháng 3/1945 đến 8/1945: phát xít Nhật

- Nghị quyết khẳng định Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông

Dương là mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Pháp – Nhật ở Đông Dương.

- Về công tác tổ chức: Hội nghị đã cử ra Ban Chấp hành Trung ương lâm

thời Phân công đồng chí Trường Chinh làm quyền Bí thư Trung ương Đảng Hội nghị cũng quan điểm nối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ phận của Đảng ở nước ngoài

- Hội nghị quyết định 2 vấn đề cấp bách:

+ Một là, duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những đội du kích, khi cần thiết thì chiến đấu chống khủng bố, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, phát triển cơ sở cách mạng, tiến tới lập căn cứ địa du kích, lấy Bắc Sơn –

Vũ Nhai làm trung tâm

Trang 10

+ Hai là, chỉ thị cho xứ uỷ Nam kỳ hoãn ngay cuộc khởi nghĩa vì chưa đủ điều kiện bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi

Quyết định của Hội nghị chưa truyền đạt tới xứ uỷ Nam kỳ thì ngày 23/11/1940, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ đã nổ ra không thể hoãn lại được Thực dân Pháp đã đàn áp hết sức dã man Gần 6000 người bị bắt và bị giết Một số đồng chí bị địch bắt trước đó cũng bị địch khép vào tội “có trách nhiệm tinh thần trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ” và đưa ra xử bắn

Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam kỳ đã tạo ra những tiền đề cho Đảng rút ra những bài học bổ ích về lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang Khi khởi nghĩa Nam kỳ

nổ ra, Đảng đã kịp thời ra lời kêu gọi các nơi ủng hộ và hưởng ứng

* Đánh giá Nghị quyết Trung ương 7 (11/1940)

- Nghị quyết Trung ương 7 (11/1940) là sự kế tục và phát triển tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (11/1939) Nghị quyết thể hiện sự sáng suốt của Đảng trong việc nhận định đánh giá tình hình quốc tế và Đông Dương Xác định kẻ thù chính của cách mạng Đông Dương là phát xít Pháp – Nhật đồng thời đã có chủ trương kịp thời, đúng đắn đối với 2 cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và khởi nghĩa Nam kỳ

- Nghị quyết Trung ương 7 đã có tác dụng định hướng và thúc đẩy cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ

3 Nghị quyết Trung ương lần thứ 8 (5/1941)

Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội.2000, tr.96-136 viết:

“Trung ương Hội nghị lần thứ tám Đảng Cộng sản Đông Dương”

* Bối cảnh Hội nghị

- Trong lúc tình hình thế giới và trong nước đang có nhiều biến đổi mau lẹ, ngày 8 tháng 2 năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước và Người

ở lại PắcPó (Hà Quảng, Cao Bằng) xây dựng căn cứ địa, tổ chức các đoàn thể cứu quốc và chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 8

- Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tiến hành họp từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941 dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản

- Tham gia Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên cùng một số đồng chí đại biểu của xứ uỷ Trung kỳ, Bắc kỳ và một số đại biểu hoạt động ở nước ngoài

* Nội dung Nghị quyết Trung ương 8

- Nhận định về tình hình thế giới

+ Nghị quyết nhất trí với đánh giá của Nghị quyết Trung ương 6, 7

Ngày đăng: 12/08/2021, 19:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w