Thì lời kết trong tác phẩm: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là khẩu hiệu hành động, như một chân lý: “VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC, ĐOÀN KẾT LẠI” Đây là tác phẩm quan trọng do Mác và Ăngghen viết; giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong kho tàng LL CN MLN. Sự ra đời của TP vĩ đại này đánh dấu sự hình thành về cơ bản LL CN Mác gồm ba bộ phận hợp thành: Triết học, KTCT học, CNCSKH. Đó là tác phẩm nêu lên nhiều vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác. Là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tác phẩm được nhiều bộ môn nghiên cứu. Ở góc độ khoa học Lịch sử Đảng CSVN, chúng tôi giới thiệu một số nội dung cơ bản để nghiên cứu và vận dụng vào môn học.
Trang 1C.Mác - Ăngghen Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG - ST, Hà Nội, 2002, tr.591- 646.
MỞ ĐẦU
Nếu mở đầu TNCĐCS là câu văn: “Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu: Bóng ma
CNCS”
Thì lời kết trong tác phẩm: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là khẩu hiệu hành
động, như một chân lý: “VÔ SẢN TẤT CẢ CÁC NƯỚC, ĐOÀN KẾT LẠI!”
Đây là tác phẩm quan trọng do Mác và Ăngghen viết; giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong kho tàng LL CN MLN Sự ra đời của TP vĩ đại này đánh dấu sự hình thành về cơ bản LL CN Mác gồm ba bộ phận hợp thành: Triết học, KTCT học, CNCSKH.
Đó là tác phẩm nêu lên nhiều vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác Là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Tác phẩm được nhiều bộ môn nghiên cứu Ở góc độ khoa học Lịch sử Đảng CSVN, chúng tôi giới thiệu một số nội dung cơ bản để nghiên cứu và vận dụng vào môn học.
1 Mục đích, yêu cầu
- Giúp các đồng chí nắm được hoàn cảnh ra đời và nội dung lý luận cơ bản của tác phẩm
- Từ nội dung lý luận của tác phẩm liên hệ với đường lối, phương pháp cách mạng của Đảng CSVN trong quá trình Đảng lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng
- Vận dụng, phê phán những quan điểm sai lầm nhằm phủ nhận những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; qua đó củng cố niềm tin phấn đấu thực hiện nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra
2 Nội dung bố cục
I Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
II Kết cấu và nội dung cơ bản của tác phẩm
III Ý nghĩa của tác phẩm
3 Thời gian: 4 tiết = 160 phút
Phần 1: 55 phút
Phần 2: 80 phút
Phần 3: 25 phút
4 Phương pháp
- Chủ yếu là thuyết trình, giới thiệu khái quát những tư tưởng, nguyên lý cơ bản của tác phẩm, phân tích, chứng minh làm rõ những tư tưởng, nguyên lý đó
- Liên hệ vào thực tiễn thế giới và Việt Nam làm rõ nội dung và ý nghĩa của tác phẩm
5 Tài liệu
1 C.Mác - Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG - ST, Hà Nội, 2002,
tr.591-646 (khoảng 50 tr).
Trang 2NỘI DUNG
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
1 Qúa trình ra đời của tác phẩm
- Tác phẩm TNCĐCS là văn kiện có tính cương lĩnh vĩ đại nhất của CNCS, được Mác và Ăngghen viết từ tháng Chạp năm 1847 đến tháng Giêng năm 1848
(từ 12/1847 đến 1/1848); đã in lần đầu tiên thành sách riêng xuất bản ở Luân Đôn
vào tháng Hai năm 1848, (2/1848).
+ Lênin đánh giá: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng cả một pho sách lớn:
tinh thần của nó cho tới nay còn cổ vũ và thúc đẩy toàn bộ giai cấp vô sản có tổ chức và chiến đấu của thế giới văn minh”
+ Ban đầu với tính cách là Cương lĩnh của Liên đoàn những người cộng sản + Từ tháng 3 đến 8/1848, “Tuyên ngôn” được đăng trên tờ báo của cơ quan ngôn luận dân chủ của những người lưu vong Đức là tờ “Deutsche Londonner Zeitung” tờ Báo Đức ở Luân Đôn.
+ Cùng năm 1848, tác phẩm Tuyên ngôn được dịch ra nhiều thứ tiếng (Pháp,
Ba Lan, Ý, Đan Mạch, Phla - măng, Thụy Điển), Tuy nhiên, tên TG không công bố rõ.
+ Tên tác giả được công bố năm 1850, khi bản dịch tiếng Anh được đăng trên
cơ quan ngôn luận của phái Hiến chương là tờ tạp chí:“Red Republica” (Người Cộng
hòa đỏ) trong Lời tựa do TBT Tạp chí Gi.Hácni viết
+ Hơn 20 năm sau, đến năm 1872, tác phẩm “Tuyên ngôn” được sửa chữa
và xuất bản bằng tiếng Đức, có lời tựa của chính Mác và Ăngghen ra mắt Lần này,
và những lần xuất bản bằng tiếng Đức các năm 1883 và 1890 có tên “Tuyên ngôn cộng sản”
+ Tên đầy đủ: “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” được xuất bản bằng tiếng
Nga, vào đầu năm 1869 ở Giơnevơ (Thụy Sĩ), theo bản dịch của Bacunin là người
đã xuyên tạc nội dung của “Tuyên ngôn” ở nhiều chô
+ Năm 1882, lại được xuất bản ở Giơnevơ bằng tiếng Nga do Plêkhanốp dịch, đã khắc phục nhiều sai sót Lần này, đặt cơ sở cho việc truyền bá rộng rãi
Trang 3những tư tưởng của “Tuyên ngôn” ở Nga Mác và Ăngghen coi việc tuyên truyền
CN Mác ở Nga có ý nghĩa lớn lao nên đã viết Lời tựa riêng cho lần xuất bản này
+ Sau khi Mác mất, “Tuyên ngôn” được xuất bản nhiều lần và đều được Ăngghen xem lại:
+ Năm 1883, XB bằng tiếng Đức với Lời tựa của Ăngghen;
+ Năm 1888, xuất bản bằng tiếng Anh, theo bản dịch của X Murơ, do
Ăngghen hiệu đính và bổ sung thêm Lời tựa cùng với các chú thích
+ Năm 1885, Báo “Socialiste” (Người XHCN), xuất bản bằng tiếng
Pháp do con gái Mác là: Lôra Laphácgơ dịch và được Ăngghen xem lại
+ Năm 1892, XB bằng tiếng Ba Lan; năm 1893 XB bằng tiếng Ý, đều
do Ăng ghen viết Lời tựa
- Theo lời tựa năm 1872 của Mác - Ăngghen, tác phẩm gồm những vấn đề tổng quát, trình bày những quan điểm, mục đích, ý đồ của những người cộng sản công khai trước toàn thế giới
Do đó, tác phẩm không ra đời một cách ngẫu nhiên mà ra đời trong điều kiện
chính trị, kinh tế, xã hội đã chín muồi là cần thiết và cấp bách
2 Hoàn cảnh lịch sư
* Một là, đến giữa thế kỷ XIX, nền sản xuất TBCN đã phát triển đến trình
độ cao, đại công nghiệp TBCN đã hình thành ở một số nước tư bản chủ yếu ở châu
Âu, mâu thuẫn giữa GCVS và GCTS đã gay gắt.
Đó là:
- Cách mạng công nghiệp Anh đã hoàn thành năm 1840
- Cách mạng công nghiệp Pháp đã hoàn thành năm 1850
- Cách mạng công nghiệp Đức đã hoàn thành năm 1870
-> Đại công nghiệp phát triển làm cho GCVS nhanh chóng phát triển và mâu thuẫn vô sản, tư sản cũng trở lên gay gắt
* Hai là, phong trào đấu tranh của GCCN ở các nước TBCN đã liên tục
nổ ra
Đó là:
Trang 4- Những cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Lyông (Pháp) năm 1837
- Phong trào nổi dậy của công nhân dệt vùng Xilêdi (Đức), năm 1844.
- Phong trào Hiến chương ở Anh với quy mô toàn quốc kéo dài hơn 10 năm (1838 - 1848)
=> Qua các phong trào nổi lên 3 vấn đề sau:
+ 1là: Cuộc đấu tranh của GCCN chống GCTS có vị trí to lớn song vẫn là đấu tranh tự phát
Tức là:
Chưa ý thức được vị trí của giai cấp mình;
Chưa được tổ chức, giáo dục, giác ngộ;
Chưa xác định được mục tiêu cuối cùng của cuộc đấu tranh
+ 2là: Phong trào đấu tranh của GCVS còn chịu ảnh hưởng của các trào lưu CNXH không tưởng (ĐB: Xanhximông, Phuriê, Ôwen )
Về CNXH không tưởng:
Phản ánh nôi bất hạnh của giai cấp, những người lao động trong xã hội tư bản;
Phê phán xã hội tư bản;
Phỏng đoán một xã hội trong tương lai
Song, để thay thế xã hội tư bản bằng xã hội mới họ lại trông chờ vào lòng
từ thiện và hảo tâm của GCTS (ngây ngô và khờ dại).
+ 3là: Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của GCVS đòi hỏi bức thiết phải có lý luận cách mạng, có cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam
-> Không có lý luận CM thì không thể có phong trào CM
3 Vai trò của Mác - Ăngghen đối với phong trào công nhân
- Lúc đầu hai ông tham gia phái Hêghen trẻ theo tư tưởng duy tâm
biện chứng
Trang 5- Mùa hè 1847, Đại hội I “Đồng minh những người chính nghĩa”, hai ông
đã tham gia và cải tổ thành “Đồng minh những người cộng sản”, thay khẩu hiệu
“Tất cả đều là anh em” bằng khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước liên hợp lại !”
- Tháng 11/1847, theo uỷ nhiệm của “Liên đoàn những người cộng sản”, hai ông soạn thảo Cương lĩnh của Liên đoàn có tên: “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”.
- Cuối tháng 11, đầu tháng 12/1847, hai ông tham gia Đại hội lần thứ 2 “Liên đoàn những người cộng sản” ĐH đã thảo luận và thông qua “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, do hai ông trình bày Trên cơ sở đó, Mác và Ăngghen được ĐH giao nhiệm vụ soạn thảo Tuyên ngôn cho Liên đoàn.
- Mác và Ăngghen bắt đầu soạn thảo TNCĐCS, tác phẩm được viết từ tháng Chạp năm 1847 đến tháng Giêng năm 1848 (từ 12/1847 đến 1/1848); đã in lần đầu tiên thành sách riêng xuất bản ở Luân Đôn vào tháng Hai năm 1848, (2/1848).
Tóm lại:
+ TNCĐCS ra đời là kết quả của sự chín muồi về chính trị, kinh tế, xã hội
của xã hội đương thời Đó là sự kết tinh tinh hoa, trí tuệ nhân loại, trong đó có công lao sáng tạo thiên tài của Mác - Ăngghen Việc công bố TNCĐCS cũng là sự “khai sinh” ra một học thuyết cách mạng, một thế giới quan khoa học - đó là CN Mác
+ TNCĐCS ra đời, đánh dấu bước chuyển lịch sử của phong trào công nhân với tư cách là một lực lượng độc lập GCVS đấu tranh để tự giải phóng mình, đồng thời giải phóng loài người khỏi áp bức, bóc lột, bất công
II KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM (1, 2)
1 Kết cấu và tư tưởng cơ bản của tác phẩm (a, b)
a) Kết cấu của tác phẩm
Ngoài lời tựa, tác phẩm có 4 chương
- Chương 1: Tư sản và vô sản
- Chương 2: Những người vô sản và những người cộng sản
- Chương 3: Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Trang 6- Chương 4: Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập
b) Tư tưởng chủ yếu của tác phẩm
- Một là: Sự thay đổi chế độ xã hội là do sự phát triển của sản xuất Sự phát
triển của sản xuất đến giai đoạn nào đó sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
- Hai là: Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ khi phân chia thành giai
cấp là lịch sử đấu tranh giai cấp Đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy xã hội có giai cấp phát triển
- Ba là: Cuộc đấu tranh giai cấp đã đến giai đoạn GCVS muốn giải phóng
mình thì đồng thời phải giải phóng toàn xã hội
2 Nội dung cơ bản của tác phẩm
a) Tác phẩm khẳng định sứ mệnh lịch sử của GCVS
(Chương 1: Tư sản và vô sản)
-Tác phẩm phân tích khách quan, khoa học quá trình phát sinh, phát triển của
CNTB, rút ra 2 kết luận:
+ Sự ra đời của GCVS và sự diệt vong của GCTS là tất yếu như nhau;
+ GCVS là giai cấp có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu GCTS
Cụ thể là: (3 Ndung)
- Nd1: Lịch sử xã hội loài người từ khi có giai cấp “chỉ là lịch sử đấu tranh
giai cấp” Trong chế độ tư bản, đấu tranh giai cấp ngày càng trở lên gay gắt và những đối kháng giai cấp này tập trung ở 2 giai cấp lớn hoàn toàn đối lập nhau là
tư sản và vô sản
+ Câu mở đầu cho chương TS và VS khẳng định: “Lịch sử tất cả các XH tồn
tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử ĐTGC” *(tr.596).
+ “Trong những thời đại lịch sử trước, chúng ta đều thấy XH chia thành những đẳng cấp khác nhau, một cái thang chia thành từng nấc thang địa vị xã hội.” (tr.597)
+ XH tư sản hiện đại, sinh ra từ trong lòng XH PK đã bị diệt vong, không xóa
bỏ được những đối kháng giai cấp Mà chỉ là: đem những GC mới, những điều kiện
Trang 7áp bức mới, những hình thức ĐTr mới thay thế cho những GC, những ĐK áp bức, những HT ĐTr cũ mà thôi (tr.597)
+ Tuy nhiên, ĐĐ, ĐK đã khác , CNTB đã tạo ra 2 GC lớn, hoàn toàn đối lập nhau: GCTS >< GCVS
- Nd2: GCTS đã đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử
*(tr.599)
Biểu hiện:
+ 1là: GCTS là sản phẩm của lịch sử
-> “Từ nông nô thời trung cổ, đã nảy sinh những thị dân tự do…, từ dân cư thành thị này, nảy sinh ra những phần tử đầu tiên của giai cấp tư sản.”
=> Sự ra đời của GCTS: Khi công nghiệp càng phát triển, nhất là đại công
nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải càng phát triển thì giai cấp tư sản càng lớn lên
+ 2là: GCTS đã cách mạng hoá công cụ sản xuất, cách mạng hoá những QHSX,
cách mạng hoá những quan hệ xã hội kể cả đạo đức của xã hội phong kiến cổ truyền Đặc biệt, GCTS có vai trò to lớn trong phát triển LLSX.
-> “GCTS đã đóng vai trò hết sức CM trong lịch sử” *(tr.599)
-> “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” (tr.603)
Tóm lại: Giai cấp tư sản đã đóng góp với lịch sử nhân loại 3 đóng góp lớn:
Có công hình thành dân tộc;
Có công phát triển sản xuất xã hội;
Có vai trò thiết lập được phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn phương
thức sản xuất phong kiến và thiết lập được chế độ dân chủ tư sản
-> Tuy nhiên, vai trò của nó còn hạn chế do chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất, bóc lột Do đó, những mâu thuẫn kinh tế - xã hội không thể khắc phục được
- Nd3: Vai trò sứ mệnh lịch sử của GCVS (thể hiện ở 3 vai trò lớn)
+ 1là: GCVS hiện đại là sản phẩm tất yếu của nền đại công nghiệp.
Trang 8Vì: LLSX phát triển do GCTS tạo ra trước đây là vũ khí để phá vỡ QHSX phong kiến, ra đời QHSX TBCN Khi LLSX càng phát triển lại mâu thuẫn với QHSX TBCN
Tr.605: “Những vũ khí mà GCTS đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì
ngày nay quay lại đập vào chính ngay GCTS
Nhưng GCTS không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những công nhân hiện đại,
những người vô sản.”
=> Sự ra đời của GCCN Việt Nam qua 2 cuộc khai thác thuộc địa của thực
dân Pháp Tức là, công nghiệp ra đời, phát triển làm cho GCCN Việt Nam ra đời, phát triển và xuất hiện mâu thuẫn GCCN Việt Nam với GCTS Pháp
+ 2là: GCVS có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu CNTB, xây dựng xã hội mới XHCN trên phạm vi toàn thế giới GCVS muốn giải phóng mình thì phải đồng thời giải phóng toàn xã hội không phải ở một nước mà toàn bộ xã hội loài người.
Vì:
-> GCVS có địa vị kinh tế đại diện cho nền sản xuất tiên tiến,
-> Là sản phẩm của đại công nghiệp,
-> Là giai cấp có đặc tính triệt để cách mạng, có lợi ích thống nhất với người lao động, có tính tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần quốc tế
+ “Trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp tư sản thì chí có giai
cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn GCVS lại là sản phẩm
của bản thân nền đại công nghiệp.” (tr.610):
+ 3là: Về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản
Cuộc đấu tranh của GCVS lúc đầu chỉ là tự phát, dần dần tiến lên tự giác GCVS trước hết phải giành lấy chính quyền tức là lật đổ GCTS ở nước
mình
-> “Cuộc ĐT của GCVS chống lại GCTS, dù về mặt nội dung không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc Đương
Trang 9nhiên là trước hết, GCVS môi nước phải thanh toán xong GCTS nước mình đã”
(tr.611).
-> “Vì GCVS mõi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn
lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc” (tr.623 - 624).
=> Tư tưởng này đối chiếu với cách mạng DTDCND ở Việt Nam hoàn toàn
đúng đắn Nó có tính dân tộc và giai cấp rất rõ ràng
GCVS có nghĩa vụ quốc tế trong cuộc đấu tranh chung chống
GCTS quốc tế
Vì:
Cuộc đấu tranh của GCVS mang tính quốc tế, nhưng nó diễn ra trước hết trên địa bàn của từng dân tộc, sau đó ảnh hưởng, lan ra toàn thế giới
b) Về chính đảng của giai cấp vô sản
(Về chính đảng của GCVS tập trung ở chương 2 và chương 3 của tác phẩm
với tư tưởng cơ bản là: GCVS muốn chiến thắng phải tổ chức ra chính đảng của
mình với 4 nội dung sau:)
- Nd1: Mối quan hệ giữa GCVS và đảng cộng sản; tính chất của
đảng cộng sản.
Biểu hiện:
+ 1là: Đảng là bộ phận của GCVS, đảng không đứng ngoài giai cấp và
cũng không đứng trên giai cấp Mục đích, lợi ích của đảng thống nhất với mục đích và lợi ích của GCVS
=> Về lý luận cũng như thực tiễn cho thấy đảng cộng sản gồm những người
tiên phong nhất trong GCCN, đại biểu quyền lợi cho GCCN và nhân dân lao động
-> “Những người cộng sản không phải là một đảng riêng biệt, đối lập với các đảng công nhân khác” *(tr.614)
-> “Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể GCVS” (tr.614)
-> ĐCSVN: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác” *(HCM tt, tập 5, tr.120)
Trang 10+ 2là: Đảng và giai cấp không phải là một Sự khác nhau giữa đảng và giai
cấp thể hiện:
-> Về lý luận: đảng nắm được lý luận cách mạng, có chiến lược, sách
lược đấu tranh
-> Về thực tiễn: đảng là bộ phận kiên quyết nhất đi tiên phong trong đấu
tranh cách mạng, luôn cổ vũ phong trào tiến lên Đảng là đội tiền phong, là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của GCCN
- Nd2: Nhiệm vụ lịch sử của Đảng
+ Nhiệm vụ trước mắt: xây dựng GCVS thành giai cấp thống trị (giành lấy
chính quyền): “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người VS thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của GCTS, GCVS giành lấy chính quyền” *(tr.615)
+ Sau khi giành được chính quyền: lãnh đạo cải tạo xã hội cũ, xây
dựng xã hội mới XHCSCN mà giai đoạn đầu là CNXH
- Nd3: Lập trường của những người cộng sản đối với vấn đề sở hữu, gia
đình, dân tộc, Tổ quốc, tôn giáo
Nội dung này tập trung ở Chương 2
Cụ thể là:
+ 1là: Những người cộng sản chủ trương xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân
TBCN về TLSX chứ không phải xoá bỏ mọi quyền sở hữu như GCTS vu cáo
Vì lịch sử đã tự xoá bỏ rồi, như phong kiến xoá bỏ sở hữu nô lệ, tư sản xoá 90% phong kiến
+ 2là: Những người cộng sản đấu tranh chống lại sự xoá bỏ gia đình thực
hiện chế độ cộng thê của GCTS
Tức là, những người cộng sản xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì cũng xoá bỏ gia đình kiểu tư sản
+ 3là: Đấu tranh chống sự xuyên tạc cho rằng những người cộng sản xoá
bỏ Tổ quốc, xoá bỏ dân tộc.