Tên giải pháp: “Vận dụng hình thức đánh giá thường xuyên trong dạy học môn Ngữ văn”.. - Trong quá trình đổi mới sự nghiệp giáo dục,việc đổi mới kiểm tra đánh giá được chú trọng và xem
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 Tên giải pháp:
“Vận dụng hình thức đánh giá thường xuyên trong dạy học môn Ngữ văn”.
2 Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử.
- Từ tháng 9 năm học 2020 - 2021 và những năm tiếp theo
3 Các thông tin cần bảo mật (nếu có).
- Không
4 Mô tả các giải pháp cũ thường làm (Nêu rõ tên giải pháp, tình trạng và nhược
điểm, hạn chế của giải pháp cũ)
- Tên giải pháp cũ: Kiểm tra đánh giá theo cách truyền thống (Miệng, 15 phút,
45 phút, viết bài 2 tiết)
- Tình trạng: Áp dụng phổ biến, quen thuộc, lối mòn
- Nhược điểm, hạn chế: Gây áp lực cho HS, kết quả học tập không cao
5 Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp.
* Cơ sở lí luận.
- Trong quá trình đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục ở trường THCS nói riêng, mục tiêu, nội dung giáo dục được đổi mới, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội đang phát triển
- Trong quá trình đổi mới sự nghiệp giáo dục,việc đổi mới kiểm tra đánh giá được chú trọng và xem như một khâu đột phá quan trọng, là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng dạy học nói riêng và chất lượng giáo dục toàn diện nói chung
- Để đáp ứng những mục tiêu mới của giáo dục, việc kiểm tra đánh giá cũng phải đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh nhằm phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, để bộc lộ những cảm xúc thái độ của học sinh trước những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống hiện nay
- Kiểm tra đánh giá có ý nghĩa đối với cả học sinh và giáo viên vì qua kiểm tra đánh giá sẽ giúp cho giáo viên bộ môn, các nhà quản lý giáo dục và bản thân
Trang 2học sinh có những thông tin xác thực để có tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và
bổ sung phương pháp trong quá trình dạy và học.
- Trong hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn thì kiểm tra đánh giá
thường xuyên được tiến hành trong suốt quá trình học tập và không giới hạn về cơ
số điểm
- Vì vậy việc vận dụng hình thức đánh giá thường xuyên trong dạy học môn Ngữ văn sao cho phù hợp có vai trò vô cùng quan trọng
* Cơ sở thực tiễn.
- Thông tư số 58/2011/TT của Bộ GDĐT ban hành quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông
- Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số
26/2020/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT
- Do yêu cầu của đặc trưng bộ môn nên kiểm tra đánh giá trong môn Ngữ văn nhằm mục đích đánh giá học sinh một cách toàn diện về hai năng lực đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản, tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và cảm xúc thẩm mỹ Những năng lực này được cụ thể hóa trong chuẩn chương trình môn học với những yêu cầu cần đạt trên cả ba mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ
- Do đó việc vận dụng hình thức đánh giá thường xuyên trong dạy học môn Ngữ văn rất phù hợp với tình hình thực tế hiện nay
* Thực trạng trường THCS Đức Thắng
- Thuận lợi.
+ Trường THCS Đức Thắng là một trong những trường trọng điểm của Huyện Hiệp Hoà
+ Nhà trường nhận được sự quan tâm đặc biệt của các cấp lãnh đạo, của nhân dân toàn huyện, đã từng bước khẳng định vị thế, vai trò trong lĩnh vực giáo dục của huyện
Trang 3+ Nhà trường liên tục đổi mới trong công tác kiểm tra đánh giá ở tất cả các môn học, trong đó có môn Ngữ văn
+ Nhóm bộ môn Ngữ văn của nhà trường trong những năm qua luôn khẳng định được vị trí của mình: Chất lượng HSG cấp huyện luôn ổn định; chất lượng thi tuyển sinh THPT đứng ở vị trí từ thứ 3 đến thứ 7 của huyện; chất lượng đại trà luôn ổn định
- Khó khăn.
+ Đi cùng với những thuận lợi, thời cơ trên luôn là những khó khăn thách thức đối với thầy và trò nhà trường
+ Đi cùng với vinh dự trường trung tâm là những sức ép lớn, trong tất cả các hoạt động, đặc biệt là trong các đợt thi kiểm tra đánh giá
+ Việc duy trì kiểu kiểm tra truyền thống trong thời gian dài đã gây áp lực, đơn điệu, nhàm chán, hiệu quả không cao
+ Vì vậy, tôi đã chọn biện pháp: “Vận dụng hình thức đánh giá thường xuyên trong dạy học môn Ngữ văn” để giải quyết những khó khăn trên
6 Mục đích của giải pháp.
- Để cung cấp kịp thời những thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh nhằm điều chỉnh hoạt động dạy và học Không nhằm xếp loại thành tích hay kết quả học tập mà đánh giá thường xuyên để cải thiện, nâng cao hoạt động giảng dạy
và học tập:
+ Kịp thời động viên, khuyến khích học sinh khi thực hiện tốt nhiệm vụ học tập + Phát hiện, tìm ra những thiếu xót, những lỗi, những nhân tố ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập, rèn luyện của HS để hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời
- Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn
- Giúp HS hình thành những phẩm chất và năng lực cần thiết
7 Nội dung.
Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến.
7.1 Nội dung.
“Vận dụng hình thức đánh giá thường xuyên trong dạy học môn Ngữ văn”.
7.1.1 CHỦ THỂ ĐÁNH GIÁ.
Trang 4- Chủ thể đánh giá là giáo viên Ngữ văn đánh giá, HS tự đánh giá, HS đánh giá lẫn nhau và đánh giá của phụ huynh
- Điểm mới:
+ GV tập trung đánh giá sự tích cực, chủ động, hứng thú của học sinh trong quá trình tham gia các hoạt động học tập, rèn luyện được giao: giáo viên không chỉ giao nhiệm vụ, xem xét HS có hoàn thành hay không, mà còn phải xem xét từng học sinh hoàn thành thế nào (có chủ động, tích cực, có khó khăn khăn gì …, có hiểu rõ mục tiêu học tập và sẵn sàng thực hiện, …)
+ Giáo viên thường xuyên theo dõi và thông báo về sự tiến bộ của học sinh với chính học sinh và phụ huynh
+ Trong quá trình học tập, giáo viên tổ chức để học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau Học sinh sẽ đối chiếu với yêu cầu cần đạt của bài học để đánh giá mình, bạn mình xem đã làm được những gì, cần điều chỉnh như thế nào trong việc học để tiến bộ
+ Phụ huynh vào cuộc đánh giá cùng giáo viên và học sinh qua những hoạt động trải nghiệm ngoài giờ học, qua nhiệm vụ về nhà của học sinh
7.1.2 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN.
7.1.2.1 Phương pháp kiểm tra viết.
* Vai trò: Đây là phương pháp rất quan trọng, không thể thiếu trong đánh
giá thường xuyên trong dạy học Ngữ văn
* Công cụ:
- Đề kiểm tra bao gồm 2 phần: Đọc – hiểu và tạo lập văn bản
- Đoạn văn: Vận dụng kiến thức đã học để viết đoạn văn ngắn theo yêu cầu
- Bảng hỏi ngắn
- Bảng KWLH:
Những gì
HS đã biết
Những gì
HS muốn biết
Những gì HS
đã học được
Những cách thức
HS tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu
Trang 5- Các loại câu hỏi này thường được thiết kế trong SGK, các phiếu hỏi hoặc các phiếu học tập
* Minh chứng:
- Minh chứng 1:
Đề kiểm tra sau khi học sinh học xong chủ đề: VĂN HỌC DÂN GIAN- VĂN BẢN TỰ SỰ (Ngữ văn 6 kì 1)
PHẦN I: ĐỌC- HIỂU (4 điểm)
Đọc kĩ đoan trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới
(….)
Sơn Tinh có một mắt ở trán,
Thuỷ Tinh râu ria quăn xanh rì
Một thần phi bạch hổ trên cạn,
Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi
Hai thần bên cửa thành thi lễ,
Hùng Vương âu yếm nhìn con yêu
Nhưng có một nàng mà hai rể,
Vua cho rằng thế cũng hơi nhiều!
Thuỷ Tinh khoe thần có phép lạ,
Dứt lời tay hất chòm râu xanh,
Bắt quyết hò mây to nước cả,
Dậm chân rung khắp làng gần quanh
Ào ào mưa đổ xuống như thác,
Cây xiêu cầu gẫy nước hò reo,
Lăn, cuốn, gầm, lay, tung sóng bạc,
Bò, lợn và cột nhà trôi theo
Mỵ Nương ôm Hùng Vương kinh hãi
Sơn Tinh cười, xin nàng đừng lo,
Vung tay niệm chú Núi từng dải,
Nhà lớn, đồi con lổm cổm bò
Chạy mưa Vua tuỳ con kén chọn
Mỵ Nương khép nép như cành hoa:
“ Con đây phận đào tơ bé mọn,
Nhân duyên cúi để quyền mẹ cha!”
Vua nghĩ lâu hơn bàn việc nước,
Rồi bảo mai lửa hồng nhuốm sương,
Lễ vật thần nào mang đến trước,
Vui lòng vua gả nàng Mỵ Nương
(….) ( Theo Nguyễn Nhược Pháp)
Câu 1 Đoạn thơ trên khiến em liên tưởng đến văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ Văn 6, học kì I? Văn bản đó thuộc thể loại nào?
Câu 2 Đoạn trích trên kể về sự việc gì?
Trang 6Câu 3 Hai vị thần được nói đến trong đoạn trích là những ai? Hãy nêu ngắn gọn đặc điểm của hai vị thần ấy?
Câu 4.Trong hai câu: Lễ vật thần nào mang đến trước,
Vui lòng vua gả nàng Mỵ Nương
Từ “ lễ vật” có nghĩa là gì? Em dùng cách nào để giải nghĩa từ đó? “ Lễ vật” mà nhà vua yêu cầu bao gồm những gì?
PHẦN II: TỰ LUẬN (6 điểm).
Kể lại một truyện truyền thuyết đã học mà em thích nhất bằng lời kể của em
HƯỚNG DẪN CHẤM NGỮ VĂN 6
I
1 - Mức tối đa:
+ HS xác định đúng tên văn bản: Sơn Tinh, Thuỷ Tinh
+ HS nêu đúng thể loại: truyện truyền thuyết
- Mức chưa tối đa:
HS chỉ được đúng tên văn bản nhưng lại không nêu đúng thể loại truyện dân gian
- Mức không đạt: Không làm hoặc làm sai
1.0
0.5
0
2 - Mức tối đa:
HS xác định đúng: Sơn Tinh, Thuỷ Tinh đến trổ tài để cầu hôn
Mỵ Nương/ hoặc Vua Hùng kén rể
-Mức chưa tối đa: Xác định đúng nhưng còn thiếu
- Mức không đạt: Không làm hoặc làm sai
0.5
0.25
0
3 - Mức tối đa:
+ HS xác định đúng hai vị thần được nói đến là: Sơn Tinh và Thuỷ Tinh
+ Sơn Tinh chúa vùng non cao, chỉ tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi
+ Thuỷ Tinh: chúa vùng nước thẳm, gọi gió, gió đến, hô mưa, mưa về
- Mức chưa tối đa:
+ HS xác định đúng hai vị thần, không nêu được đặc điểm
- Mức không đạt: Không làm hoặc làm sai
1.5
1.0 0
Trang 74 - Mức tối đa:
+ HS giải nghĩa đúng: “ lễ vật” dùng để biếu, tặng hay cúng tế
+ Trình bày bằng cách khái niệm mà từ biểu thị + Lễ vật nhà vua yêu cầu bao gồm: một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi
- Mức chưa tối đa:
+ HS giải thích đúng nghĩa, chưa chỉ ra được giải thích nghĩa bằng cách nào và không nêu được đủ lễ vật vua yêu cầu
- Mức không đạt: Không làm hoặc làm sai
1.0
0.5 0
II LÀM VĂN: Viết bài văn kể được câu chuyện truyền thuyết
đã được học.
6.0
a Đảm bảo cấu trúc bài văn tự sự, có bố cục ba phần: Mở bài,
Thân bài, Kết bài
0.5
b Xác định đúng nội dung tự sự : Truyện truyền thuyết đã học 0.5
c Nội dung tự sự đảm bảo một số yêu cầu sau
- Mở bài : Giới thiệu được truyện sẽ kể Nêu cảm xúc chung
- Thân bài: Kể chi tiết truyện theo một trình tự nhất định
- Kết bài: Nêu ý nghĩa truyện đó và liên hệ với bản thân…
4.0
d Sáng tạo: Có ý tưởng sáng tạo trong cách diễn đạt (Khuyến
khích thêm yếu tố miêu tả và biểu cảm khi kể)
Trong bài văn biết cách dùng lời lẽ của mình để kể, không phụ thuộc vào lời kể trong sách giáo khoa
0.5
e Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ
nghĩa tiếng Việt
0.5
- Minh chứng 2:
Sau khi học xong văn bản Thạch Sanh em hãy viết một đoạn văn ngắn (từ 3 đến
5 câu) giới thiệu về nhân vật Thạch Sanh
- Minh chứng 3:
Dùng bảng KWLH trước và sau khi học truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi” Câu hỏi 1: Em hãy điền vào bảng những gì đã biết, những gì muốn biết?
(Trước khi bài học)
Câu hỏi 2: Em hãy điền vào bảng những gì em đã học được? Biết được nguyên nhân dẫn đến sai lầm của năm ông thầy bói, em hãy đề xuất cách giải quyết để có được kết luận đúng về con voi?
Câu hỏi 3: Sau khi học xong truyện “ Thầy bói xem voi” em có suy nghĩ gì về vấn
đề bói toán hiện nay ?
(Sau khi bài học)
Trang 8Cột K Cột W Cột L Cột H
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
7.1.2.2 Phương pháp quan sát.
* Đặc điểm:
- Là phương pháp dùng trong quá trình dạy học
- Phương pháp quan sát thường dùng:
+ Quan sát quá trình:
GV quan sát quá trình HS học tập như chuẩn bị bài, tham gia vào bài học (ghi chép, phát biểu ý kiến, thuyết trình, tương tác với thầy cô, với các bạn … trong giờ
học Ngữ văn) Việc quan sát có thể bao gồm cả quan sát hành động cũng như thái độ cảm xúc của HS
+ Quan sát sản phẩm:
Là quan sát các sản phẩm HS tạo ra trong quá trình học tập Ngữ văn (tranh ảnh, vi deo, các ghi chép mở rộng của HS, các phiếu bài tập, bài luận, các sản phẩm đóng vai, sân khấu hóa)
* Công cụ:
Công cụ quan sát là phiếu ghi chép sự kiện thường nhật, thang đo, bảng kiểm
* Minh chứng:
- Minh chứng 1:
Quan sát sản phẩm học sinh vẽ sau khi dạy xong văn bản “ Thạch Sanh”
Trang 9(Tranh vẽ của học sinh)
- Minh chứng 2:
Thực hành nói tiết 36 Ngữ văn 6 kì I: Luyện nói kể chuyện
+ GV giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị ở nhà, trên lớp nói trước nhóm (6 HS /1 nhóm - 15 phút) Trong quá trình HS nói, GV quan sát, hỗ trợ nếu cần
+ Mỗi nhóm cử đại diện trình bày trước lớp
+ GV và HS cùng quan sát phần trình bày của từng HS
(Học sinh luyện nói)
- Minh chứng 3:
Trang 10Quan sát bài viết của HS qua cuộc thi Tìm hiểu về dịch bệnh Covid-19 GV quan sát sản phẩm của HS sau khi hoàn thành các bài viết dự thi
(Bài dự thi của học sinh)
7.1.2.3 Phương pháp hỏi- đáp.
* Đặc điểm:
- Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên khi dạy học Ngữ văn, đặc biệt trong các giờ dạy học trên lớp
- Hỏi- đáp có thể dùng trong tất cả các hoạt động như khởi động, hình thành kiến thức, luyện tập, vận dụng, tìm tòi- mở rộng
* Công cụ: Câu hỏi.
* Minh chứng:
- Minh chứng 1:
Khi đọc hiểu văn bản “Thầy bói xem voi”, trước khi cho HS đọc toàn bộ văn
bản, GV yêu cầu học sinh nhớ lại khái niệm truyện Ngụ ngôn và suy nghĩ trả lời câu hỏi:
1 Em thường đánh giá mọi người, sự việc xảy ra xung quanh chúng ta như thế nào?
2 Khi làm việc thầy cô giáo, cha mẹ giao cho em thường có suy nghĩ ra sao?
- Minh chứng 2:
Trang 11Khi đọc hiểu văn bản “Thầy bói xem voi ”: sau khi cho HS đọc toàn bộ văn bản,
GV đặt câu hỏi:
Truyện kể về sự việc gì? Diễn biến, kết quả của sự việc đó ra sao?
- Minh chứng 3:
Khi học xong phần đọc hiểu văn bản “Thầy bói xem voi”, GV đặt câu hỏi:
1 Theo em, vì sao kết luận về voi của các ông thầy bói lại không đúng? Hãy giải thích nguyên nhân và rút ra bài học cho mình?
2 Em hãy đề xuất cách giải quyết để giúp các thầy bói có được kết luận đúng về con voi và kết thúc cuộc tranh luận Từ đó em rút ra cho mình được những kinh nghiệm gì khi làm việc?
7.1.2.4 Phương pháp đánh giá sản phẩm học tập.
* Vai trò: Phương pháp này rất cần thiết để đánh giá. GV hướng dẫn và công bố công khai tiêu chí đánh giá trước cho học sinh, để bảo đảm khách quan, công bằng, tương đương về mức độ hay yêu cầu cần đạt so với các hình thức kiểm tra, đánh giá khác
* Công cụ: Phiếu đánh giá theo tiêu chí (Thường 3 đến 5 tiêu chí).
* Minh chứng:
Thực hành nói tiết 36 Ngữ văn 6 kì I: Luyện nói kể chuyện.
Sau khi GV và HS quan sát phần luyện nói của từng HS, quan sát yêu cầu cần đạt (Bảng tiêu chí đánh giá) để đánh giá cụ thể, cho điểm
PHIẾU ĐÁNH GIÁ THEO TIÊU CHÍ.
Tốt (2 điểm) Đạt (1 điểm) Chưa đạt (0 điểm)
1 Chọn được câu
chuyện hay, có ý
nghĩa.
Câu chuyện hay và
ấn tượng
Có chuyện để kể nhưng chưa hay
Chưa có chuyện để kể
2 Nội dung câu
chuyện phong
phú, hấp dẫn.
Nội dung có đủ chi tiết để người nghe hiểu được câu chuyện và hấp dẫn, thú vị
Nội dung có đủ chi tiết để người nghe hiểu được câu chuyện
Nội dung sơ sài, chưa có đủ chi tiết
để người nghe hiểu câu chuyện
3 Giọng nói rõ Giọng nói to, rõ Giọng nói to, rõ Giọng nhỏ, khó