1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển doanh nghiệp trong các cơ sở giáo dục đại học từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn Việt Nam: Phần 2

236 33 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Doanh Nghiệp Trong Các Cơ Sở Giáo Dục Đại Học Từ Kinh Nghiệm Quốc Tế Đến Thực Tiễn Việt Nam: Phần 2
Tác giả Đinh Văn Toàn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế và kinh doanh
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 236
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp nội dung phần 1, Phát triển doanh nghiệp trong các cơ sở giáo dục đại học từ kinh nghiệm quốc tế đến thực tiễn Việt Nam: Phần 2 cung cấp cho người đọc những kiến thức như: Phát triển doanh nghiệp trong các trường đại học trên thế giới; Thực tiễn hình thành và phát triển doanh nghiệp trong các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam; Những vấn đề đặt ra và chính sách cho phát triển doanh nghiệp trong cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam.

Trang 1

PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP

TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN THẾ GIỚI

4.1 Tổng quan về phát triển doanh nghiệp trong đại học trên thế giới

Phát triển doanh nghiệp và mô hình hoạt động trong các trường đại học theo hướng “đại học doanh nghiệp” đã được đề cập và quan tâm nhiều hơn trong hàng chục thập kỷ qua tại nhiều quốc gia trên thế giới Trong thực tiễn, ý tưởng liên kết giữa đại học - doanh nghiệp, coi trường đại học có sứ mệnh hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp đã được đề xướng kể từ đầu thế kỷ 19 bởi nhà triết học người Đức Willhelm Humboldt Năm 1810, ông sáng lập Trường Đại học Berlin với điểm khác biệt so với các trường đại học khi đó là chuyển trọng tâm sang nghiên cứu, đặc biệt phát triển các lĩnh vực công nghệ phục

vụ cho mục đích dân sự và mục đích quân sự (Đinh Văn Toàn, 2016)1 Bàn luận về phát triển doanh nghiệp nói chung và trong các trường đại học nói riêng, cho đến nay còn có sự tập trung vào phát triển doanh nghiệp trong các điều kiện có sẵn của tổ chức chứ không chỉ là việc tạo ra các doanh nghiệp mới Do vậy, PTDN còn nói về quá trình khởi nghiệp kinh doanh - tức là các thời kỳ gieo hạt, khởi động, phát triển của các doanh nghiệp (Reynolds, 2000; Reynolds và cộng

sự, 2001)2 Đặc biệt là đối với các trường ĐH, nơi mà các điều kiện

1 Đinh Văn Toàn (2016), “Hợp tác đại học – doanh nghiệp trên thế giới và một số

gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Chuyên san Kinh tế và kinh doanh,

Vol 32, số 4, 2016, tr 32-44

2 Reynolds, P.D và các cộng sự (2000, 2001), “Global Entreprenuership Monitor Executive Report, Bsiness Council for the United Nations”, http://unpan1.un.org/intra doc/groups/public/documents/un/unpan002481.pdf

Trang 2

cho khởi nghiệp và yếu tố nền tảng cho PTDN đang ngày càng có triển vọng và thuận lợi

Ngoài một số quốc gia tiêu biểu có hoạt động PTDN trong trường

ĐH mạnh mẽ như Mỹ, Anh, một số quốc gia ở châu Âu và châu Á cũng đã thành lập các công ty do nhà trường sở hữu một phần hoặc toàn bộ để đầu tư nghiên cứu, thí nghiệm, sản xuất thử và thương mại hóa kết quả, sản phẩm KHCN (Đinh Văn Toàn, 2016)1 Mỗi quốc gia này đều có những chính sách hỗ trợ và các cơ chế khác nhau nhưng đều nhằm mục tiêu thúc đẩy sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp trong trường đại học

4.1.1 Phát triển doanh nghiệp trong đại học tại các quốc gia châu Âu

Vương Quốc Anh:

Tại Vương quốc Anh, ở nhiều CSGDĐH danh tiếng thế giới như:

ĐH Oxford, ĐH Cambridge, ĐH London Metropolitan, ĐH Birmingham,

ĐH Manchester, ĐH Cardiff, Trường Kinh doanh London đều có các doanh nghiệp bên trong hoặc liên kết để giúp các đại học thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình

Trong giai đoạn từ 1997 đến 2000, trung bình có 95 doanh nghiệp Spin-offs được hình thành Con số này là 248 vào năm 2001 nhưng sau đó có sự giảm nhẹ khoảng 2% từ đó cho đến năm 2006 Trong giai đoạn 2001 – 2006, số lượng các bằng sáng chế tăng 130% và số các thỏa thuận cấp giấy phép tăng 271%, trong đó đã có 26 doanh nghiệp Spin-offs tham gia thị trường chứng khoán bằng cách chào bán cổ phần ra công chúng (IPO) tạo ra hiện tượng nổi bật trên thị trường chứng khoán với tổng giá trị của doanh nghiệp vượt qua con số 1,3 tỷ Bảng Anh Bảng 4.1 sau đây sẽ cho thấy xu hướng phát triển doanh nghiệp trong đại học tại Anh giai đoạn 1997 - 2006

1 Đinh Văn Toàn (2016), “Hợp tác đại học – doanh nghiệp trên thế giới và một số

gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Chuyên san Kinh tế và kinh doanh,

Vol 32, số 4, 2016, tr 32-44

Trang 3

Bảng 4.1: Phát triển doanh nghiệp trong đại học tại Vương quốc Anh

Giá trị IPO (triệu Bảng) N/A N/A N/A 214 604 204 246

(Nguồn: Wright và cộng sự, 2009 1 )

Theo thống kê từ Hội đồng Tài trợ giáo dục đại học Anh Quốc (HEFCE), các trường đại học đã đóng góp 3,3 tỉ Bảng Anh (khoảng 5,6 tỉ USD tại thời điểm thống kê) cho nền kinh tế của quốc gia này trong năm 2010-2011, trong đó lợi nhuận từ các công ty Spin-offs (năm 2010 có gần 1.300 công ty) mới thành lập là 2,1 tỉ Bảng Anh (tương đương 3,5 tỉ USD) và tạo ra 18.000 việc làm Tính trung bình,

cứ mỗi 24 triệu Bảng Anh đầu tư có khả năng tạo ra một công ty offs trong các năm này

Spin-Lawton Smith và Ho (2006)2 khi phân tích kết quả hoạt động của các công ty Spin-offs tại Anh đã chỉ ra rằng sự phát triển nhanh chóng

số lượng các công ty này là do sự thay đổi trong chính sách của chính phủ Một trong những thay đổi có tác động lớn đến các trường đại học

là sự thay đổi về chính sách tài trợ chi phí hoạt động thường xuyên, phi tập trung hóa trong nhà trường, đồng thời thúc đẩy chuyển giao

1 Wright M., Piva E., Mosey S., Lockett A (2009), “Academic Entrepreneurship and

Business Schools”, Journal of Technology Transfer, Vol 34, pp 560 – 587

2 Smith, H.L và Ho, K (2016), “Measuring the performance of Oxford University, Oxford Brookes University and the government laboratories' spin-off companies”, Science Direct

Trang 4

quyền sáng chế Về cơ bản, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng như HEFCE tài trợ cho các chi phí hoạt động chủ yếu của các trường đại học, nhưng thúc đẩy sự thành lập các doanh nghiệp trong trường đại học Sự thúc đẩy mạnh mẽ này nhờ việc ban hành Đạo luật về Sở hữu sáng chế vào năm 1997 của Chính phủ Anh Theo đó, cho phép quyền

sở hữu các phát minh/sáng chế của người lao động trong công ty sẽ thuộc về chủ sở hữu công ty khi trong hợp đồng có ghi điều khoản này Như vậy, việc tạo ra các công ty Spin-offs đã được phi tập trung hóa và các trường đại học được chủ động đàm phán với người lao động khi thành lập doanh nghiệp về vấn đề sở hữu trí tuệ

Bên cạnh đó, Chính phủ Anh cũng có những sáng kiến để thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp trong trường đại học Chẳng hạn như năm 1998, một quỹ được gọi là Quỹ “Thử thách Đại học” (UCF) đã được thành lập để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu cơ bản và đầu

tư của khu vực tư nhân, đặc biệt thông qua việc tài trợ cho thực hiện các nghiên cứu kiểm chứng khái niệm và phát triển mẫu sản phẩm để sau đó khuyến khích các quỹ tư nhân tiếp tục đầu tư (Wright và cộng

sự, 2004)1 Năm 1999, Tổ chức “Thử thách doanh nghiệp khoa học” (SEC) được thành lập để tài trợ cho các giảng viên đại học và hỗ trợ cho việc hình thành một mạng lưới các trung tâm tại các trường đại học Các tài trợ tập trung vào việc kết nối các hoạt động giảng dạy, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp trong lĩnh vực khoa học công nghệ Các mục tiêu chủ yếu củaviệc vận hành SEC là giúp các nhà khoa học, các kỹ sư ở mọi cấp bậc trình độ, bao gồm cả sinh viên hình thành ý tưởng mong muốn tạo lập công ty Spin-offs Quỹ SEC cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối những người khởi nghiệp tiềm năng với các quỹ ươm mầm, các nhà đầu tư mạo hiểm, các quỹ “chắp cánh doanh nghiệp” hay các công viên khoa học, đồng thời tạo lập mối liên kết với các ngành công nghiệp thông qua cơ chế tư vấn, tài trợ các cuộc thi lập kế hoạch kinh doanh,

1 Wright M., Birley S., Mosey S (2004), “Entrepreneurship and University Technology

Transfer”, Journal of Technology Transfer, 29, 235–246

Trang 5

các hội thảo, v.v Bên cạnh đó, trong một số trường hợp các trường đại học còn thành lập các văn phòng chuyển giao công nghệ - OTT (Wright và cộng sự, 2004)1

Thành lập vào năm 2000, Quỹ Sáng tạo trong giáo dục đại học (HEIF) của Anh cung cấp các nguồn tài trợ sự phát triển của các văn phòng liên kết trường đại học với ngành công nghiệp, thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, hỗ trợ ươm mầm doanh nghiệp và cung cấp tư vấn về kinh doanh Trong giai đoạn 2004 - 2006, quỹ này

đã thống nhất các sáng kiến của SEC và UCF để giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển đại học trong doanh nghiệp và kết quả là rất nhiều OTT ra đời

Trong năm 2005, Chương trình Học giả Medici được triển khai nhằm phát triển mối liên kết giữa các nhà khoa học và doanh nhân (những người mà vốn trước đây không nói cùng một ngôn ngữ) Sáng kiến này cung cấp việc trao đổi 50 học giả mỗi năm giữa 5 CSGDĐH trong thời gian từ tháng 9 năm 2002 đến tháng 9 năm 2004 để tăng cường việc thương mại hóa các nghiên cứu về dược - sinh học tại 5 trường đại học này Cơ chế này đã giúp khắc phục hạn chế vốn có là

sự thiếu hụt kỹ năng của các OTT tại các trường đại học do việc thiếu các hoạt động huấn luyện chuyên sâu Cơ thế hoạt động này cũng đã cung cấp một phương pháp hình thành cầu nối giữa giới thương mại, giới hàn lâm và giới công nghiệp, qua đó việc tập huấn chuyên sâu cho các nhà khoa học được thực hiện

Nước Đức:

Tại Đức, sự tham gia của các trường đại học cũng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp Trường hợp khu tự trị Bavaria là một ví dụ điển hình Khu tự trị Bavaria là Bang lớn nhất trong

số 16 bang của Đức với diện tích 70.549 km2 và hơn 12 triệu dân

1 Wright M., Birley S., Mosey S (2004), “Entrepreneurship and University Technology

Transfer”, Journal of Technology Transfer, 29, 235–246

Trang 6

(chiếm 15% tổng dân số nước Đức) Bavaria là một khu vực nông thôn nổi tiếng với các sản phẩm truyền thống và các điểm du lịch như bia Bavarian, quần sooc da truyền thống, Oktoberfest ở Munich, lâu đài Neuschwanstein, và dãy núi Alps Cho đến những năm 1960, Bavaria vẫn là một bang thuần kinh tế nông nghiệp và phụ thuộc vào

sự viện trợ ngân sách của chính phủ và tỷ lệ thất nghiệp luôn cao hơn

tỷ lệ trung bình chung của cả nước Nhưng sau đó Bavaria đã chuyển mình thành một trong những bang có nền kinh tế phát triển nhất nước Đức Câu chuyện thành công của Bravia bắt đầu từ thời kỳ hậu chiến

ở Đức

Do đặc trưng của vùng Bavaria là thiếu cơ sở vật chất để phát triển công nghiệp, điều này lại trở thành lợi thế của Bavaria sau Chiến tranh thế giới thứ 2 để phát triển các ngành công nghiệp mới Một chiến lược quan trọng trong sự phát triển kinh tế tại Bavaria là hướng

đi tập trung vào công nghiệp hạt nhân, vũ trụ và hàng không Năm

1957, lò phản ứng hạt nhân đầu tiên (FRM I) được đưa vào hoạt động tại Trường Đại học Công nghệ Munich (TUM), sau đó vào năm 2004 được thay thế bằng lò phản ứng số 2 (FRM II) Chính quyền Bavaria

đã phát triển một cụm công nghệ và nghiên cứu trong vành đai lò phản ứng này, thu hút và thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin, khoa học vật liệu, dược phẩm Mạng lưới hơn 100 các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) trong vùng tập trung sản xuất radio và hệ thống rada, máy bay và phi cơ Hiện nay, Bavaria đã phát triển một loạt các đơn vị nghiên cứu và ươm tạo doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ sinh học gần Munich và Regensburg

Theo nghiên cứu của Hulsbeck và Lehmann, chính quyền khu tự trị Bavaria đã có những chính sách riêng để thu hút các doanh nhân từ vùng Trung và Tây Đức đến mở trụ sở tại đây Bên cạnh việc sử dụng các nhân tài trong vùng, chính quyền Bavaria còn tận dụng mạng lưới quan hệ cá nhân của các chuyên gia để thu hút các doanh nghiệp Theo

đó, một đặc trưng của Bavaria là có mạng lưới quan hệ rất chặt chẽ giữa chính trị gia – doanh nhân – nhà nghiên cứu Một đặc điểm của

Trang 7

vùng Bavaria là sự phân tán về mặt địa lý của các SMEs dẫn đến những hạn chế trong đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ Do vậy, chính quyền Bavaria đã cố gắng giải quyết vấn đề này bằng cách phân bổ ngân sách hỗ trợ cho các vùng phát triển kém hơn Như vậy, thay vì phương pháp phân bổ bình quân thì chính sách ưu tiên phát triển theo vùng đã thúc đẩy sự tích tụ và phát triển các cụm công nghiệp và đổi mới sáng tạo với cơ sở hạ tầng nghiên cứu gồm:

26 trường đại học, viện nghiên cứu; 3 tổ chức nghiên cứu quy mô lớn;

12 trung tâm nghiên cứu cơ bản và 13 trung tâm nghiên cứu ứng dụng Xét về các hoạt động hỗ trợ PTDN nói chung, Bavaria còn tổ chức các cuộc triển lãm công nghệ cao, nhiều hoạt động tham quan thương mại quốc tế dành cho doanh nhân hoặc các đoàn đại biểu gồm

cả doanh nhân và chính trị gia Những chính sách của chính quyền Bavaria cùng với những hoạt động này đã khai thác được thế mạnh vốn có là các mối quan hệ giữa chính quyền, các chính trị gia với các doanh nghiệp và trường đại học để phát triển mạng lưới đổi mới sáng tạo Theo đó, các hoạt động chuyển giao công nghệ từ trường đại học sang các doanh nghiệp cũng phát triển mạnh mẽ, kéo theo sự phát triển mạnh các doanh nghiệp

Một yếu tố then chốt trong sự thành công của Bavaria phải kể đến

sự sẵn có và chất lượng của nguồn nhân lực địa phương trong bối cảnh cạnh tranh trong khu vực của các ngành công nghiệp đổi mới sáng tạo

Để đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao, chính quyền Bavaria đã tích hợp các bước đi cụ thể vào chính sách PTDN chung trong đó trước hết là vai trò của các ĐH Trước tiên, kế hoạch tổng thể phát triển các trường đại học được điều chỉnh hướng đến mục tiêu của chính sách PTDN trong vùng Theo đó, chính quyền Bavaria khuyến khích sự phát triển các trường ĐH khoa học ứng dụng để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp Ngoài ra, chính quyền địa phương còn

ưu tiên hỗ trợ các chương trình trao đổi nhà khoa học trẻ Trong giai đoạn này, có hơn 200 dự án nghiên cứu và lượt trao đổi học giả đã được tài trợ cho các trường đại học Trong vòng 20 năm, kể từ tháng 8

Trang 8

năm 1998 đến nay, đã có hơn 200 chương trình đào tạo đại học và thạc sĩ đã được triển khai kèm theo các chương trình bổ sung trình độ ngoại ngữ để thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc tế của các nhà khoa học được đào tạo tại Bavaria

Ngoài ra, chính quyền Bavaria còn triển khai chương trình “Mạng lưới tinh hoa Bavaria” để thúc đẩy và giúp các nhà khoa học trẻ có năng lực tốt hơn cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học tương lai của họ Thông qua chương trình này, có hơn 20 các khóa học tinh hoa và 10 nhóm nghiên cứu quốc tế đã được thành lập Cũng trong các chính sách PTDN của chính quyền Bavaria, Phòng Thương mại công nghiệp

đã phối hợp với các trường đại học trong nỗ lực hỗ trợ các SMEs nâng cao chất lượng nhân lực thông qua việc tổ chức mạng lưới đào tạo trong toàn vùng và cung cấp các trang thiết bị đào tạo Sáng kiến Bayern thành lập một chi nhánh đặc biệt để đảm bảo việc triển khai đồng bộ hệ thống chương trình đào tạo trong toàn Bang Điều này đã tạo ra sự hấp dẫn của Bavaria với các nhà đầu tư bên ngoài và thúc đẩy sự phát triển của các SMEs trong vùng

Hiện nay, Bavaria đang được thừa hưởng những thành quả từ chính sách PTDN của mình Trong giai đoạn 10 năm từ 1994-2004, GDP thực đã tăng 21.3% Đến năm 2004, Bavaria đã trở thành một trong 6 khu vực có sức mạnh kinh tế lớn nhất trong khối EU, chỉ sau Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha và Hà Lan Riêng về hoạt động PTDN, Bavaria có tỷ lệ khởi nghiệp cao nhất ở Đức (11.9%) Chỉ số xuất khẩu là 44.9% (so với năm 1994 là 31.9%) Kim ngạch xuất khẩu sang các quốc gia EU tăng 279% so với năm 1994 Tỷ lệ thất nghiệp thấp ở mức 6.9%, trong đó tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chỉ ở mức 7.3%, thấp thứ nhì trong khối EU

Có thể nói, hoạt động PTDN trong trường hợp đặc thù là khu tự trị Bavaria nói riêng nhưng đã phản ánh chính sách chung của nước Đức trong việc củng cố mối quan hệ chính phủ - nhà trường - doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy mô hình PTDN doanh nghiệp trong nhà trường

Trang 9

Chính sách PTDN tập trung, có trọng điểm đã làm nên thành công của khu tự trị Bavaria và sự phát triển của mô hình hợp tác đại học - doanh nghiệp và PTDN trong đại học ở nước Đức

Hà Lan:

Trước thập niên 70, hệ thống giáo dục đại học của Hà Lan hầu như không có mối liên hệ với các ngành công nghiệp Chính phủ không xác định nhiệm vụ của các trường đại học là phải chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp Vì vậy, các nghiên cứu khoa học đóng góp rất ít cho nền kinh tế (Leisyte, 2011)1 Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 1979, quan điểm của chính phủ và các trường đại học bắt đầu thay đổi Sách Trắng về nghiên cứu khoa học trong các trường đại học (gọi tắt là BUOZ) ra đời năm 1979 là dấu mốc quan trọng mở ra thời

kỳ mới cho sự phát triển của các trường đại học theo xu hướng gắn kết chặt chẽ hơn với khu vực kinh doanh

Hoạt động PTDN trong các CSGDĐH tại quốc gia này diễn ra chủ yếu dưới hình thức các công ty Spin-offs do các CSGDĐH và Viện Nghiên cứu công (PRO) thành lập Các công ty Spin-offs này chính là nơi chuyển giao công nghệ của các đơn vị nghiên cứu công

và các CSGDĐH Chỉ tính riêng trong giai đoạn 1981 đến 1998, tổng

số bản quyền sáng chế được chuyển giao từ các trường đại học và viện nghiên cứu công lập sang các công ty đã tăng nhanh chóng, từ con số

4 vào năm 1981 đến con số 80 năm 1998 Tính đến năm 2001, có 64 bản quyền sáng chế được chuyển giao từ trường ĐH và 103 bản quyền sáng chế từ các viện nghiên cứu công lập Số công ty Spin-offs tính

1 Leisyte L (2011), “University commercialization policies and their implementation

in the Netherlands and the United States”, Journal Science and public policy,

Volume 38 (6), p 437-448,

and-their-implementation-in

Trang 10

https://research.utwente.nl/en/publications/university-commercialization-policies-trung bình trên 1 trường ĐH là 1.07 và tính trên 1 viện nghiên cứu là 0.67 (Bekkers và cộng sự, 2006)1

Một trong những yếu tố tạo nên quá trình PTDN sôi động trong

hệ thống giáo dục đại học tại Hà Lan là các chính sách của chính phủ Luật về sáng chế của Hà Lan đã quy định quyền sở hữu sáng chế thuộc về các trường ĐH nghiên cứu ra nó, trừ phi các bên có thoả thuận khác theo hợp đồng Hơn nữa, các trường ĐH và viện nghiên cứu cũng được trao quyền tự chủ hoàn toàn trong việc quyết định phương thức sở hữu bản quyền sáng chế Do vậy, thực tiễn thực hiện các hoạt động chuyển giao bằng phát minh, sáng chế tại các CSGDĐH cũng rất đa dạng (Arundel và cộng sự, 2003)2 Các trường ĐH và viện nghiên cứu cũng không bắt buộc phải công bố công khai quyền sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu Nói một cách khác, ở Hà Lan, mối liên kết đại học - ngành công nghiệp không mang tính quy trình cứng nhắc và quyền sở hữu không bị ràng buộc chặt chẽ bởi quy định pháp luật

Tuy nhiên, chính sách phát triển các công ty Spin-offs vẫn là một phần quan trọng trong chính sách đổi mới sáng tạo quốc gia Mặc dù

đã có nhiều cơ chế hình thành kể từ năm 1990 đến nay, nhưng chính sách phát triển các công ty Spin-offs vẫn được cho là thành công nhất tại Hà Lan trong việc thúc đẩy mối liên kết giữa trường ĐH với các bên liên quan khác Để nuôi dưỡng các công ty Spin-offs phát triển, các trường ĐH đã cung cấp cơ sở vật chất, công viên ươm tạo DN và thúc đẩy đào tạo về tinh thần khởi nghiệp trong các trường ĐH Chính sách này đã tháo gỡ được 03 rào cản quan trọng trong khởi nghiệp các công ty Spin-offs: (1) thiếu vốn đầu tư mạo hiểm; (2) tinh thần khởi

1 Bekkers, R., Gilsing,V., Van der Steen, M (2006), “Determining factors of the effectiveness of IP-based Spin-offss: Comparing the Netherlands and the US”,

Journal of Technology Transfer, 31, 545-566

2 Arundel, A., Bordoy, C., Van der Steen (2003), “Knowledge flows from Dutch research organizations to business firms, in Central Bureau of Statistics (CBS)”,

Knowledge and Economics, Voorburg, The Netherlands, 146-156

Trang 11

nghiệp thấp; (3) thiếu kỹ năng khởi nghiệp (Bekkers và cộng sự, 2006) Kết quả là tính đến năm 2001, tổng số công ty Spin-offs trong các CSGDĐH và viện nghiên cứu công tại Hà Lan đã lên đến con số

546 (xem Bảng 4.2)

Bảng 4.2: Số lượng bản quyền sáng chế và công ty Spin-offs tại Hà Lan

Số giảng viên

Số viện nghiên cứu

Số bản quyền sáng chế (1990-1999)

Số DN Spin-offs (2001)

Trang 12

Số giảng viên

Số viện nghiên cứu

Số bản quyền sáng chế (1990-1999)

Số DN Spin-offs (2001)

Khối các Viện nghiên cứu

Viện Nghiên cứu khoa học

Trang 13

Ngoài ra, chính phủ Hà Lan còn có chính sách hỗ trợ ưu tiên cho việc thành lập các công ty Spin-offs trong lĩnh vực khoa học đời sống Một chương trình có tên gọi là STIGON đã ra đời nhằm thúc đẩy sự hình thành các công ty Spin-offs trong lĩnh vực khoa học đời sống, đặc biệt trong các ngành như công nghệ tế bào, hoá sinh (Geehuizen

và Reyes-Gonzalez, 2007)1

Với chương trình STIGON, cơ quan Nghiên cứu khoa học Hà Lan (NOW) và Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển Sức khỏe Hà Lan (ZonMw) đã tài trợ 2 triệu Euro cho các nhà khoa học để biến các ý tưởng nghiên cứu thành kế hoạch kinh doanh cụ thể (Hu và Mosmuller, 2008)2 Khoản tài trợ cho mỗi dự án tối đa là 250,000 Euro cho thời hạn 2.5 năm được dùng để trả lương cho các nhà nghiên cứu, trợ lý kỹ thuật, mua nguyên vật liệu, tư vấn và đào tạo Kết quả là trong giai đoạn 2001 đến tháng 2 năm 2005, đã có 133 dự án nộp hồ

sơ xin tài trợ, và 69 dự án được phê duyệt tài trợ Trong khuôn khổ các dự án này, có 13 công ty khởi nghiệp đã được thành lập Chương trình STIGON sau đó đã được sáp nhập vào chương trình BioPartner First-Stage Grant (FSG)

Nói tóm lại, đặc trưng của hoạt động PTDN tại Hà Lan là các sáng kiến của chính phủ trong việc kết nối các trường ĐH, viện nghiên cứu công và các DN để tạo nên các công ty khởi nghiệp nhằm thừa hưởng các kết quả nghiên cứu từ “tháp ngà” của các trường ĐH

1 Geehuizen, M.V., Reyes-Gonzalez, L (2007), “Does a clustered location matter for high-technology companies’ performance? The case of biotechnology in the

Netherlands”, Technological Forecasting and Social Change, 74, 1681-1696

2 Hu H., Mosmuller., W (2008), “Stimulating entrepreneurship in life sciences: The

Dutch approach”, in W Hulsink and H Dons (Eds), Pathways to high-tech valleys

and research triangles: Innovative entrepreneurship, Knowledge transfer and Cluster

formation in Europe and the United States, Springer

Trang 14

Italia:

Tại Italia, theo số liệu thống kê từ nghiên cứu được công bố gần đây nhất (tháng 3 năm 2019) của các tác giả S Boffo và A Cocorullo thì quá trình hình thành và phát triển các công ty từ trường đại học (University Spin-offs) bắt đầu từ những năm 2000 và có sự tăng dần Tính đến 2007, trung bình có 100 Spin-offsra đời ở Italia từ dự án kinh doanh mới mỗi năm Đến cuối năm 2015, đã có 1.254 công ty Spin-off được thành lập từ các ĐH và các tổ chức nghiên cứu Trong tổng số Spin-offs được thành lập từ các trường ĐH trong các năm

2011 đến 2014 là 1.115, tại thời điểm cuối năm 2014 đã ghi nhận 753 công ty Spin-off hoạt động được xuất phát từ các trường đại học (Boffo và Cocorullo, 2019)1 Một số khảo sát khác đề cập đến 95 trường ĐH, trong đó có 60 trường có ít nhất một Spin-off hoạt động Xem xét sự phân bổ về mặt địa lý của các công ty Spin-off cho thấy các khu vực tích cực nhất trong việc tạo ra các công ty này đã duy trì mức độ hoạt động cao trong toàn bộ thời kỳ Hiện tượng này tập trung ở các khu vực phía Bắc nơi đặt 47,6% tổng số Spin-offs và khu vực Trung tâm (29,3%), trong khi 23,1% còn lại được phân phối

ở phía Nam và các quần đảo của Italia Có thể thấy rằng những lãnh thổ ít hoạt động Spin-off nhất là do những khó khăn kinh tế truyền thống và hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính cuối thập niên 1990 (Hình 4.1) Nguyên nhân của sự phân bố này khá rõ ràng

là khu vực phía Bắc và Trung tâm của Italia là những khu vực có mức độ công ngiệp hóa cao hơn phía Nam và các đảo Đặc biệt, đây

là nơi tập trung nhiều các vườn ươm doanh nghiệp và các cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp

1 Boffo, S., Cocorullo, A (2019), “University Fourth Mission: Spin-offs and Academic Entrenreneurship: Connecting Public Policies with new missions and management issues of universities”, Higher Education Forum

Trang 15

Hình 4.1 Sự phân bố về địa lý của các Công ty Spin-off tại Italia

(Nguồn: Boffo và Cocorullo (2019) 1 )

Xét về lĩnh vực hoạt động, các công ty trong lĩnh vực ICT (công nghệ thông tin và truyền thông) chiếm tỷ trọng lớn nhất (23,9%), sau

đó là các công ty hoạt động ở các lĩnh vực dịch vụ có tính đổi mới sáng tạo (22,9%) Đặc biệt, các số liệu và bằng chứng thực tiễn chứng minh nhận định của các nhà nghiên cứu: các Spin-offs trong trường đại học ở Italia có thiên hướng ở các ngành hàng dịch vụ hơn là về sản xuất kinh doanh và thiên về áp dụng các tri thức mới (Boffo và Cocorullo, 2019)2

Xét về cơ cấu thành phần của các thành viên sáng lập, phát triển doanh nghiệp trong ĐH, nghiên cứu tổng hợp thực nghiệm của Boffo

và Cocorullo chỉ ra tỷ lệ lớn nhất (chiếm tới trên 50%) là các nghiên cứu viên Về lĩnh vực chuyên môn, tỷ trọng lớn nhất (33%) là các sáng lập viên nghiên cứu về lĩnh vực công nghệ, sau đó lần lượt là các lĩnh vực y sinh (25%) Trong khi đó, các giảng viên, nghiên cứu viên

ở lĩnh vực kinh tế và khoa học xã hội có tỷ lệ thành lập doanh nghiệp Spin-offs thấp nhất, chỉ chiếm 3%

1, 2 Boffo, S., Cocorullo, A (2019), “University Fourth Mission: Spin-offs and Academic Entrenreneurship: Connecting Public Policies with new missions and management issues of universities”, Tlđd

Trang 16

Thông qua điều tra các công ty Spin-off của các trường đại học ở Italia từ các góc nhìn khác nhau và nghiên cứu trường hợp 4 ĐH lớn (Đại học Messina; Đại học Bách khoa Torino; Đại học Scuola Superiore Sant” Anna của Pisa; Đại học Trento), nghiên cứu đã chỉ ra kết quả tăng nhanh số lượng các công ty Spin-offs (kết quả của hoạt động PTDN) trong các trường ĐH trên là do sự thay đổi trong các chính sách và pháp luật về trường đại học ở Italia Trong số đó, quy định về “tổ chức các trường đại học, giảng viên, nghiên cứu viên và tuyển dụng” vào năm 2010 của Chính phủ Italia có tác động mạnh mẽ đến sự biến động về nhân lực nghiên cứu viên của các ĐH Theo đó,

số lượng nghiên cứu viên cơ hữu được bổ nhiệm (giống như viên chức trong biên chế trong các ĐH ở Việt Nam) giảm mạnh từ năm 2011 đến năm 2016 Trong khi đó, các nghiên cứu viên làm việc theo hợp đồng

từ 3 năm đến 6 năm lại tăng nhanh

Kết quả nghiên cứu của Boffo và Cocorullo cho thấy hiện tượng thú vị là số lượng các công ty Spin-offs từ các trường ĐH ở Italia giai đoạn trên lại không giảm đi theo sự giảm số lượng các nghiên cứu viên cơ hữu mà tăng lên mạnh mẽ theo xu thế tăng nghiên cứu viên hợp đồng Số công ty Spin-off tăng từ trên 6.000 ở năm 2011 đến trên 1.300 vào năm 2016 Xu hướng này, cùng với kết quả phân tích 40 cuộc phỏng vấn định tính với các tác nhân chính trong mỗi công ty Spin-off (trực tiếp và gián tiếp tham gia vào các dự án kinh doanh) đã dẫn đến phỏng đoán có cơ sở khoa học và phù hợp với lý thuyết về tinh thần doanh nghiệp là các nghiên cứu viên trẻ và các giảng viên ít

có ràng buộc mang tính truyền thống học thuật trong trường ĐH có xu thế khởi nghiệp cao hơn so với các giáo sư và nghiên cứu viên cơ hữu Nhìn chung, ở châu Âu các trường ĐH luôn được coi là yếu tố quan trọng trong chuyển giao kiến thức, phát minh và công nghệ cho nền kinh tế Đây là một trong những gốc rễ của các quá trình cải cách

đã lan tỏa trong hầu hết các lĩnh vực tại các ĐH ở châu Âu trong một vài thập kỷ qua Các trường đại học đã trải qua nhiều thay đổi và được định hình lại một cách sâu sắc trong hơn 2 thập kỷ qua Một loạt các

Trang 17

hoạt động trên nhiều phương diện đã được thực hiện để tăng cường mối quan hệ giữa giới học thuật trong các ĐH và xã hội Trước đây, vai trò của ĐH chủ yếu liên quan đến cấp bằng sáng chế cho các cá nhân bên ngoài, nhưng ngày nay các trường ĐH ngày càng tập trung vào việc tạo ra và thúc đẩy các hoạt động Spin-off Đây cũng là những công cụ nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội đối với trách nhiệm giải trình của các ĐH và tiếp cận với nền kinh tế thông qua chia sẻ các kết quả NCKH mang tính học thuật

Kết quả nghiên cứu và số liệu thực nghiệm cho thấy một cách tổng quát là sự xuất hiện của các công ty Spin-offs cao hơn ở những khu vực có mức độ công nghiệp hóa cao hơn và gần hơn với các vườn ươm doanh nghiệp và đơn vị hỗ trợ doanh nghiệp của chính phủ trung ương hay địa phương Một điều đáng chú ý là sự không nhất quán hoặc thiếu các chính sách tầm quốc gia hay ở địa phương về hỗ trợ và thúc đẩy NCKH đã dẫn đến sự phân phối không đồng nhất của các Spin-offs ở cấp quốc gia Nghiên cứu và các khảo sát từ các trường

ĐH ở Italia gần đây cho thấy kết quả phù hợp nhận định trên

4.1.2 Phát triển doanh nghiệp trong đại học tại các quốc gia châu Mỹ

Nước Mỹ (Hoa Kỳ):

Tại Mỹ, Hiệp hội Các nhà Quản lý Công nghệ của Đại học Mỹ (Association of University Technology Managers, AUTM) đã thống kê: trong vòng 20 năm (1980-1999) kể từ khi Đạo luật Bayh–Dole về công ty Spin-offs được phê chuẩn, các công ty Spin-offs ở Mỹ đã đóng góp 33,5 tỉ USD cho nền kinh tế và tạo ra 280.000 việc làm và trung bình mỗi năm có hơn 200 công ty Spin-offs được đăng ký thành lập trên tổng số trên 132 trường đại học ở Mỹ Từ năm 1982, chính phủ Hoa Kỳ có một chương trình nghiên cứu hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ mang tên Small Business Innovative Research (SBIR) với sự tham gia

hỗ trợ của 12 cơ quan ngang bộ trong Chính phủ Hoa Kỳ Năm 2004, chương trình SBIR đã giải ngân hơn 2 tỉ USD cho việc hỗ trợ thành

Trang 18

lập các doanh nghiệp Spin-offs và tới năm 2009 đã trao cho tổng số 112.500 công ty Spin off với tổng đầu tư lên tới 26,9 tỉ USD Các doanh nghiệp Spin-offs từ đại học Hoa Kỳ đã góp phần quan trọng trong việc tạo nên sự thành công của thung lũng Silicon ở California Tại Mỹ, việc tổ chức quản lý doanh nghiệp trong trường đại học thường theo mô hình thành lập các Văn phòng chuyển giao công nghệ (TTO hoặc TLO) Ví dụ như tại Viện Công nghệ Massachussetts, các TLO được thành lập từ năm 1945 để khuyến khích các khoa chuyên ngành đưa ra các công nghệ mới, tiến hành thẩm định và định giá thị trường, sau đó tiến hành đăng ký quyền sở hữu trí tuệ TLO còn đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư mạo hiểm, cùng thảo luận về sự thích ứng của công nghệ mới với các lĩnh vực công nghiệp mà các khoa chuyên môn của MIT đang tiến hành nghiên cứu TLO cũng luôn điều chỉnh hoạt động theo sứ mệnh phát triển kinh tế của MIT và truyền thống văn hóa khởi nghiệp của nhà trường

Để hỗ trợ cho các khoa theo hướng khởi nghiệp, trường đã đưa ra các điều khoản hỗ trợ về hoạt động thương mại hóa các kết quả nghiên cứu Việc chuyển giao công nghệ không được làm suy giảm tới chất lượng đào tạo của trường Sau khi chuyển giao công nghệ, 15% tiền phí trả cho TLO, còn lại 1/3 dành cho các nhà sáng chế, 1/3 dành cho các phòng ban học thuật và 1/3 nộp thì vào quỹ chung của MIT (Trần Anh Tài, 2011)1

Các công trình nghiên cứu không phải là tài sản riêng của bất cứ

ai, phải được công bố rộng rãi Chỉ có bằng sáng chế và bản quyền phát minh được quản lý thông qua cơ quan chuyển giao Năm 2004, số bằng sáng chế của MIT là 510 bằng, dẫn đầu cả nước và MIT thu về gần 60 triệu USD từ việc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ MIT luôn giữ vững ngôi vị dẫn đầu của mình Tính riêng năm 2016, MIT

1 Trần Anh Tài (2011), “Học viện Công nghệ Massachusettes - Mô hình đại học

doanh nghiệp tiêu biểu”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giới

Trang 19

có 278 bằng sáng chế và được xếp vị trí số 2 trên bảng xếp hạng thế giới về số bằng sáng chế (Simeone và cộng sự, 2017)1

Canada:

Không giống với các quốc gia khác, Canada lại có những chính sách khá đặc thù để thúc đẩy hoạt động PTDN So với các quốc gia khác, Canada có truyền thống lâu đời về sự hỗ trợ từ chính phủ nhằm thúc đẩy việc tận dụng lợi ích kinh tế từ các nghiên cứu khoa học (Atkison-Grosjean & cộng sự, 20012); (Slaughter & Leslie, 1997)3 Chính phủ Canada đã chi 3.2 tỷ CAD mỗi năm cho 178 sáng kiến trong lĩnh vực PTDN (Gault & McDaniel, 2004)4 Tuy nhiên, sự can thiệp của chính phủ vào các hoạt động này cũng có nhiều khó khăn do

hệ thống giáo dục của nước này có mức độ phi tập trung hóa cao Vì vậy, việc triển khai các hoạt động PTDN đều có sự phối hợp chặt chẽ với các CSGDĐH, tổ chức nghiên cứu để tác động đến đúng đối tượng

có nhu cầu

Hơn nữa, Canada cũng là nước có thị trường nội địa quy mô nhỏ trong khi khu vực nghiên cứu lại rất lớn (giống đặc điểm của các nước châu Âu) nên việc thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu chủ yếu qua hình thức các công ty Spin-offs chứ không phải là cấp giấy phép (li-xăng) Theo các số liệu thống kê của Canada năm 2003, các trường đại học và bệnh viện đã hợp tác thành lập 64 công ty Spin-offs chỉ riêng trong năm đó và tính từ trước đó đến năm 2003 thì tổng số công

1 Simeone L., Secundo G., Schiuma G (2017), “Adopting a design approach to translate needs and interests of stakeholders in academic entrepreneurship: The

MIT Senseable City Lab case”, Technovation, 58–67

2 Atkinson-Grosjean, J., House, D., Fisher, D (2001), “Canadian science policy and

public research organizations in the 20th century”, Science Studies 14 (1), 3–25

3 Slaughter, S., Leslie, L (1997), Academic Capitalism: Politics, Policies and The

Entrepreneurial University, Baltimore: John Hopkins University Press

4 Gault, F and McDaniel, S (2004), “Summary: Joint Statistics Canada - University

of Windsor Workshop on Intellectual Property Commercialization Indicators,

Windsor”, Working Papers, Science, Innovation and Electronic Information

Division, Minister responsible for Statistics Canada

Trang 20

ty Spin-offs là 876 Còn theo cuộc khảo sát của AUTM thì chỉ tính riêng trong 2 năm 2003 và 2004, con số các công ty Spin-offs được thành lập và số giấy phép cấp li-xăng lần lượt là 58 công ty cùng 448 giấy phép trong năm 2003 và 45 công ty với 544 giấy phép trong năm

2004 Kết quả là có 93 công ty Spin-offs đã niêm yết trên sàn chứng khoán (trong số 585 công ty) và từ đó tạo ra việc làm cho 29,900 người, đạt doanh số 6.1 tỷ CAD trong năm 2004 Các số liệu cụ thể về hoạt động PTDN tại Canada trong giai đoạn 1999 – 2003 được thể hiện trong Bảng 4.3

Bảng 4.3: Hoạt động thương mại hóa ở các trường đại học và bệnh viện

Canada giai đoạn 1999 - 2003 Hoạt động 1999 2001 2003

Số trường ĐH và các bệnh viện liên quan

cùng điều hành quyền sở hữu trí tuệ

Doanh thu từ công ty Spin-offs (triệu CAD) - 2,580 -

Số việc làm tạo ra từ các công ty Spin-offs - 19,243 -

(Nguồn: Ramussen, 2008 1 )

1 Rasmussen, E (2008), “Government instruments to support the commercialization

of university research: Lessons from Canada”, Technovation, Sciencedirect, Volume

28, Issue 8, 473-550,

https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0166497207001526

Trang 21

Cũng trong quá trình triển khai việc thương mại hóa các nghiên cứu khoa học, Canada đã có rất nhiều các chương trình ở cả cấp địa phương và trung ương với nhiều tổ chức tham gia Ở cấp độ trung ương, sự hỗ trợ PTDN của chính phủ là việc thực hiện thương mại hóa thể hiện trong 3 nhóm hoạt động chủ yếu sau: Một là, thiết lập các viện nghiên cứu cấp liên bang như NRC nhằm tạo sự ưu tiên hàng đầu cho việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu Hai là, có các cơ chế thông thoáng để thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu như CIHR, NSERC và SSHRC Ba là, các đơn vị như Chương trình hỗ trợ nghiên cứu công nghiệp (NRC-IRAP) và Ngân hàng Phát triển kinh doanh Canada (BDC) đã hỗ trợ đáng kể cho các công ty Spin-offs có nền tảng dựa vào nghiên cứu Ở cấp độ địa phương, một số tỉnh đã rất năng động trong việc triển khai các chính sách và chương trình hỗ trợ thương mại hóa theo các sáng kiến của chính phủ (Rasmussen, 2008)1 Tuy nhiên, cũng phải ghi nhận một thực tế là không phải tỉnh nào cũng có cam kết tuân thủ chặt chẽ các sáng kiến PTDN của chính phủ Ngoài ra, ở Canada còn có các văn phòng đại diện cho Bộ Công nghiệp ở từng tỉnh và có thêm 4 cơ quan cấp vùng về phát triển doanh nghiệp như Ủy ban đa dạng hóa Canada, FedNor (ở khu bắc Ontario), ACOA và Ủy ban Phát triển Kinh tế Canada vùng Quebec (DEC) Các trung tâm này đã có vô số các chương trình thúc đẩy PTDN và sáng tạo trong các CSGDĐH (DEC) Các ủy ban này đã tổ chức nhiều chương trình ở các trường ĐH nhằm thúc đẩy sáng tạo và PTDN, thành lập các công ty khởi nghiệp công nghệ cao kèm theo việc thương mại hóa các công trình nghiên cứu khoa học

Ở cấp độ trường đại học, điểm nổi bật ở Canada là các trường đại học nghiên cứu đều có trung tâm chuyển giao công nghệ (OTT) và/ hoặc văn phòng kết nối với ngành công nghiệp (ILO) và từ đó đóng

1 Rasmussen, E (2008), “Government instruments to support the commercialization

of university research: Lessons from Canada”, Technovation, Sciencedirect, Volume

28, Issue 8, 473-550,

https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0166497207001526

Trang 22

vai trò điều phối các hoạt động thương mại hóa Theo thống kê của AUCC năm 2003, các nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và quy mô của các trung tâm này thay đổi đáng kể và số nhân viên làm việc cũng thay đổi, dao động từ con số 1 người lên 30 người ở một số trường đại học trong khi mức trung bình của cả nước là 3.8 người Một nhiệm vụ quan trọng của OTT và TLO trong trường đại học là quản lý sở hữu trí tuệ (IP) Trong năm 2003, các trường đại học của Canada đã chi 36.4 triệu CAD vào vấn đề quản lý IP

Từ đầu những năm 1950 đến cuối những năm 1990, Brazil đã cố gắng thiết lập hệ thống quốc gia về học tập và phổ biến công nghệ Mục tiêu của hệ thống này là nhằm tạo dựng một nền tảng nghiên cứu

và chuyển giao khoa học công nghệ để đảm bảo khả năng tự cung cấp năng lượng và sự tự chủ về công nghệ nói chung để thúc đẩy các sáng kiến trong nội bộ quốc gia nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường nội địa Xét về khía cạnh tích cực, Brazil đã phát triển được các năng lực công nghệ quốc gia có tính cạnh tranh cao trong các lĩnh vực như

1 Dalmarco G., Hulsink W., Blois G.V (2018), Creating entrepreneurial universities

in an emerging economy: Evidencefrom Brazil, Technological Forecasting & Social

Trang 23

thông tin, viễn thông, hàng không, nông nghiệp, công nghệ biển và vũ trụ Mặt khác, do có nguồn tài nguyên tự nhiên dồi dào và nguồn nhân lực giá rẻ, Brazil đã lựa chọn con đường phát triển kinh tế quá nhanh chóng Xét về khía cạnh tiêu cực, các tập đoàn kinh tế ở quốc gia này

đã phát triển theo chiến lược đa dạng hóa và trở nên phân tán, các ngành công nghiệp thì thiếu tinh thần khởi nghiệp và động lực sáng tạo và phần lớn thiếu khả năng vận hành để mở rộng pham vi hoạt động trên thương trường quốc tế (Accenture, 2013)1

Bên cạnh đó, các dự án hỗ trợ phát triển công nghệ của chính phủ thì có hiệu suất cực thấp vì chỉ tập trung vào phát triển công nghệ trong nước trong khi hệ thống giáo dục và sáng tạo của đất nước vẫn còn nhiều khiếm khuyết vì 2 vấn đề: (1) rất ít doanh nghiệp đầu tư và thực hiện hoạt động R&D; (2) các ngành công nghiệp hoàn toàn không có liên kết với các trường đại học hay các viện nghiên cứu Các ngành công nghiệp ở Brazil chủ yếu tiếp nhận các công nghệ đã lỗi thời và hiếm khi sử dụng các công nghệ chuyển giao từ các kết quả nghiên cứu trong các trường đại học và viện nghiên cứu Còn các doanh nghiệp thì lại thiếu khả năng ứng dụng các kiến thức và công nghệ từ các trường đại học Nói tóm lại, sự kết nối giữa các trường đại học và khu vực tư nhân còn rất yếu kém Các trường chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ giảng dạy và phải đến những năm 1960 mới bắt đầu chú

ý hơn đến việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu

Kể từ năm 1990 trở lại đây, nền kinh tế Brazil trở nên mở cửa hơn với đầu tư quốc tế, đón nhận nhiều nhà đầu từ nước ngoài và cũng

có nhiều doanh nghiệp trong nước ra nước ngoài đầu tư Ở Brazil, khu vực sản xuất chủ yếu là cơ sở của các công ty đa quốc gia nên hoạt động R&D của họ lại được thực hiện ở trụ sở công ty mẹ ở nước ngoài

1 Accenture Institute (2013), Brazil Unleashed: “Lessons in Building World-class International Operations”, Accenture Institute for High Performance https://www.accenture.com/us-en/insight-brazil-international-imperative-

accenture

Trang 24

(Accenture, 2015)1 Kết quả là các hoạt động nghiên cứu của trường đại học thì lại không “trúng” nhu cầu của doanh nghiệp

Bên cạnh sứ mệnh là cung cấp dịch vụ đào tạo và tiến hành nghiên cứu theo đơn đặt hàng của chính phủ, cũng như các ngành công nghiệp, trường đại học có thêm một sứ mệnh nữa là phát triển kinh tế - xã hội Theo đó, các trường đại học bắt đầu thay đổi và tiến hành nhiều hoạt động phối hợp với các ngành công nghiệp hơn trong

đó có việc chuyển giao công nghệ Để thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ sang khu vực tư nhân, các trường đại học bắt đầu chấp nhận và tiếp thu quan điểm doanh nghiệp đại học Về phía chính phủ, các động thái được thực hiện bao gồm: năm 1996, chính phủ rà soát lại Luật Sở hữu trí tuệ để phù hợp hơn với các quy định của WTO và năm 2004 thể chế hóa quy định về vấn đề chuyển giao công nghệ vào Luật Đổi mới sáng tạo Theo Dzisah và Etzjkowitz (2008)2, động thái này của chính phủ đã tạo ra một mô hình hợp tác đại học – doanh nghiệp, thúc đẩy sáng tạo công nghệ bằng cách khuyến khích khu vực học thuật đảm nhận vai trò dẫn dắt trong việc thiết lập các hoạt động hỗ trợ khu vực doanh nghiệp như cung cấp công nghệ và dịch vụ đào tạo, và thực hiện các dự án hợp tác nghiên cứu giữa các trường và doanh nghiệp, cho phép các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp sử dụng các thiết bị, phòng thí nghiệm và các cơ sở vật chất khác của trường đại học

Để hiện thực hóa chủ trương này, chính phủ có quy định trong luật về mô hình hoạt động của “doanh nghiệp lai” (hybrid firm) hay còn gọi là “doanh nghiệp sơ sinh” được thành lập do sự kết hợp giữa đại học và doanh nghiệp tư nhân thì vẫn có trụ sở trong trường đại học hoặc trong các trung tâm ươm mầm doanh nghiệp và được sự hỗ trợ

1 Accenture Institute (2015), “Unleashing Brazil’s Innovation Potential,” Accenture Outlook

2 Dzisah, J., Etzkowitz, H (2008), Triple helix circulation: the heart of innovation

and development, International Journal of Technology Management and Sustainable

Development, 7 (2), 101 -115

Trang 25

tài chính một phần từ trường đại học và một phần từ bộ chủ quản liên quan Với cách làm đó, mục tiêu của chính phủ là sẽ tăng các dự án hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp, tăng số lượng công

bố quốc tế và các phát minh sáng chế Kết quả là theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ Brazil năm 2014, số lượng bài báo công bố quốc tế tăng từ 86 năm 2000 lên 744 năm 2014, tức là tăng 765% Cũng trong thời kỳ đó, số các phát minh sáng chế cũng tăng lên đáng

4.1.3 Phát triển doanh nghiệp trong đại học tại các quốc gia châu Á

Nhật Bản:

Nhật Bản là một trường hợp điển hình tại châu Á khi có một nền giáo dục bậc đại học phát triển theo xu hướng quốc tế hóa Sự thành lập các trường ĐH hiện đại tại quốc gia này chịu ảnh hưởng lớn từ mô hình các trường ĐH nghiên cứu ở nước Đức vào cuối thế kỷ 19, sau

đó là ảnh hưởng từ các trường ĐH Mỹ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2 Đặc điểm của mô hình các ĐH ở Nhật Bản là chịu sự chi phối của cơ chế thị trường và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản sau chiến tranh (Huang, 2018)2

1 Etzkowitz, H., & Klofsten, M (2005), “The innovating region: toward a theory of

knowledge-based regional development”, R and D Management, 35(3), 243–255

2 Huang, F (2018), University governance in China and Japan: Major findings from

national surveys, International Journal of Educational Development, 63, 13-19

Trang 26

Quá trình cải cách cơ chế quản lý tại các trường ĐH ở Nhật Bản

đã bắt đầu diễn ra từ đầu thập niên 60 Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các trường ĐH với cơ quan chủ quản cũng như khu vực DN hầu như vẫn chưa thay đổi cho đến khi có sự ra đời của quy định về “Tiêu chuẩn thành lập các trường đại học và cao đẳng” vào năm 1991 Kể từ

đó, vai trò của chính phủ đối với các trường ĐH đã có sự thay đổi đáng kể

Tại Nhật Bản, các hoạt động PTDN được thấy phổ biến nhất trong hợp tác giữa khu vực tư nhân và trường đại học mà người Nhật

gọi là sangaku renkei Trong khuôn khổ sangaku renkei, các hoạt

động chủ yếu bao gồm hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và

nhân sự Ý tưởng sangaku renkei là nhằm mục đích thực hiện trách

nhiệm xã hội của các trường đại học hơn là nhằm mục đích tìm kiếm

lợi nhuận Vì vậy, mô hình tổ chức của sangaku renkei là các đơn vị

khoa học công nghệ chứ không phải là doanh nghiệp Các con số

thống kê cho thấy khoản doanh thu từ các sangaku renkei cũng không

đáng kể mà nguồn thu chủ yếu của các trường đại học công hay tư đều

từ học phí của sinh viên (Yokoyama, 2006)1

Tuy nhiên, ngoài sangaku renkei, cũng có mô hình liên kết UIL

khác khá thành công và hỗ trợ mạnh mẽ cho hoạt động PTDN là mô hình Hiệp hội TAMA Mô hình này ra đời vào năm 1998 và đã phát triển mạnh mẽ qua nhiều năm TAMA thực chất là một khu công nghệ cao có diện tích 3,058 km2 thuộc quận Tama, Tokyo Khu vực này tập trung với mật độ cao: (1) các trường ĐH thuộc nhóm ngành kỹ thuật

và các viện nghiên cứu công; (2) bộ phận R&D của các nhà sản xuất sản phẩm điện tử và các công ty lớn khác; (3) các DNNVV có năng lực phát triển và thương mại hoá sản phẩm; (4) các DNNVV có khả năng chế tạo và lắp ráp chính xác cũng như đưa sản phẩm ra thị trường nhanh

1 Yokoyama K (2006), “Entrepreneurialism in Japanese and UK Universities:

Governance, Management”, Leadership and Funding, Higher Education, Vol 52,

No 3, pp 523-555

Trang 27

Cũng trong nghiên cứu của Kodama (2008)1, theo thống kê của Văn phòng Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp khu vực Kanto, trong khu vực TAMA có tổng cộng 90 trường ĐH trong đó có 38 trường có khoa chuyên ngành về kỹ thuật, hơn 100 phòng R&D của DNNVV và các DN quy mô lớn khác với giá trị vốn lên đến 10 tỷ Yên Nhật

Hình thức hoạt động của Hiệp hội TAMA giống như một dự án PTDN do Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) đề xuất và quản lý Trong Hiệp hội TAMA, tính đến cuối năm 2007, có 660 thành viên, trong đó có 355 DN, 32 cá nhân là các nhà nghiên cứu đến

từ các trường ĐH, 39 trường ĐH, 79 phòng thương mại và công nghiệp cùng các hiệp hội công nghiệp, 22 cơ quan hành chính và 138 các chuyên gia môi giới TAMA (Kodama, 2008) Các chuyên gia môi giới là những người tư vấn về các lĩnh vực đa dạng như thủ tục thành lập DN, các quy định về thuế, giải pháp kỹ thuật, cải cách bộ máy quản lý, và kết nối DN với các trường ĐH Mô hình hoạt động của TAMA được minh hoạ như trong hình 4.2

Các hoạt động mà Hiệp hội TAMA thực hiện gồm:

- Cung cấp thông tin kết nối các thành viên với nhau bằng các biện pháp như: xây dựng cơ sở dữ liệu về sản phẩm và công nghệ hoặc các hoạt động nghiên cứu của các DN thành viên và các nhà nghiên cứu từ các trường đại học;

- Cung cấp dịch vụ tư vấn từ các chuyên gia môi giới TAMA đến các DN thành viên về các vấn đề như lắp đặt hệ thống sản xuất tích hợp IT mới, cải tổ bộ máy quản lý, lập kế hoạch kinh doanh;

- Hỗ trợ hoạt động R&D của các DNNVV bằng cách giúp họ nộp

hồ sơ xin ngân sách từ chính phủ, hỗ trợ kết nối DN với chính quyền địa phương;

1 Kodama T (2008), “The role of intermediation and absorptive capacity in facilitating university-industry linkages - An empirical study of TAMA in Japan”,

Research Policy, 37, 1224-1240

Trang 28

Hình 4.2: Mạng lưới hoạt động trong mô hình TAMA

Như vậy, có thể thấy mô hình Hiệp hội TAMA đã góp phần thúc đẩy mối quan hệ khăng khít giữa các trường ĐH với các DN, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động PTDN trong các trường ĐH tại Nhật Bản

Hàn Quốc:

Một quốc gia trong khu vực châu Á cũng có những chính sách rất

rõ ràng trong việc thúc đẩy PTDN là Hàn Quốc Đặc trưng của hoạt động PTDN trong đại học ở Hàn Quốc là các hoạt động phối hợp

1 Kodama T (2008), “The role of intermediation and absorptive capacity in facilitating university-industry linkages - An empirical study of TAMA in Japan”,

Research Policy, 37, 1224-1240

Trang 29

nghiên cứu giữa 3 bên: nhà trường – ngành công nghiệp – chính phủ (UIG) thông qua các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) Từ những năm 1970, chính phủ Hàn Quốc đã có những chính sách mạnh mẽ để thúc đẩy mối quan hệ và liên kết này Liên kết UIG được coi là hệ thống hạ tầng tri thức mà ở đó các chủ thể

có sự phụ thuộc lẫn nhau Tuy nhiên, trong mối liên kết này thì vai trò kết nối của chính phủ vẫn là yếu tố then chốt Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện những sáng kiến rất mạnh mẽ để định hướng các hoạt động nghiên cứu và phát triển (Kwon, 2009)1 Trong hệ thống này, phản ứng của các chủ thể như trường đại học, các tổ chức công và ngành công nghiệp với chính sách của chính phủ có thể khác nhau nhưng đều

có liên quan đến các giai đoạn phát triển khác nhau của hệ thống R&D của quốc gia

Tổng thống Park Jung-Hee, người được mệnh danh là “cha đẻ của quá trình hiện đại hóa” và là một “tướng lĩnh quân đội” làm thủ tướng trong thập niên 1970, đã chủ động thiết lập hệ thống cơ sở hạ tầng khoa học và công nghệ quốc gia Vị tổng thống này đã tin tưởng mạnh mẽ rằng sự tiến bộ của nền kinh tế quốc gia không thể có được nếu thiếu sự phát triển của năng lực nghiên cứu khoa học và công nghệ trong nước Mặc dù Bộ Khoa học và Công nghệ đã được thành lập từ thập niên 1960 nhưng sự hợp tác mật thiết giữa các trường đại học với các nhà nghiên cứu trong cơ quan chính phủ mới chỉ được điều chỉnh bằng chính sách từ thập niên 1970 với mục tiêu đưa Hàn Quốc lên một bậc thang mới của quốc gia phát triển

1 Kwon, K.S., (2009), “The co-evolution of academic research and transfer activities of universities in catch-up countries: in the case of Korea”, 7th Triple Helix Conference, 17-19 June, 2009

Trang 30

knowledge-Bảng 4.4: Đặc điểm chương trình R&D theo chính sách

của các nhiệm kỳ Tổng thống Hàn Quốc

Giai đoạn Nhiệm kỳ

tổng thống

Đặc điểm của chương trình R&D

1970 - 1979 Park, Jung-Hee Chính phủ thúc đẩy mạnh mẽ các cơ quan

chính phủ hợp tác nghiên cứu với các trường đại học

1980 - 1987 Chun, Doo-Hwan Tái cấu trúc các viện nghiên cứu do chính

phủ tài trợ.Ví dụ: sáp nhập KAIS (Viện Khoa học cấp cao) với KAIST (Viện Khoa học và Công nghệ cấp cao)

1988 - 1992 Roo, Tae-Woo Ra đời các viện nghiên cứu sử dụng ngân

sách nhà nước và ngoài ngân sách nhà nước

1993 - 1997 Kim, Young-sam Sự chi phối của các cơ quan chính phủ khi

Hàn Quốc bắt đầu áp dụng theo quy chế của Quỹ Tiền tệ quốc tế

1998 - 2002 Kim, Dae-Jung Dự án BK21 bắt đầu năm 1999 để nâng cao

năng lực nghiên cứu của các trường đại học thông qua tài trợ của chính phủ

2003 - 2007 Roo, Mo-Hyun Tiếp tục thúc đẩy dự án BK21 và quốc tế hóa

hoạt động R&D trong lĩnh vực học thuật Chương trình PBS đã được đưa vào khu vực chính phủ

(Nguồn: Park và Leydesdoff, 2010 1 )

Đến giai đoạn 1980 - 1987, Tổng thống Chun, Do-Hwan tiếp tục nhấn mạnh vào vai trò duy nhất của các tổ chức R&D công trong việc củng cố hệ thống nghiên cứu quốc gia Các viện nghiên cứu được chính

Trang 31

phủ tài trợ đã được tái cấu trúc trong giai đoạn này (Kim, 2006)1 Trong nhiệm kỳ của mình, các nhà nghiên cứu trong các ngành công nghiệp không còn làm việc đơn độc mà phối hợp với các đồng nghiệp ở các trường đại học Một sự kiện nổi bật thể hiện sự gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp chính là việc Tập đoàn Thép POSCO thành lập một trường đại học nghiên cứu có tên gọi là POSTECH (Pohang Institue of Science and Technology) để củng cố các hoạt động nghiên cứu và phát triển

Một môi trường mới cho sự hợp tác trường đại học – chính phủ

đã một lần nữa được tạo ra trong giai đoạn nắm quyền mới của Tổng thống Roh, Tae-Woo (1988 – 1992) Trong giai đoạn này, các chương trình R&D quốc gia trở nên rất đa dạng Ví dụ như KIST đã tách ra độc lập từ KAIST Hơn nữa bản kế hoạch tổng thể cho sự phát triển nghiên cứu cơ bản cũng nhấn mạnh việc thúc đẩy mối quan hệ giữa các trường đại học và khu vực công

Tổng thống Kim, Young-Sam (1993 – 1997) tiếp tục chính sách của người tiền nhiệm Ông cũng củng cố các dự án KH&CN và đa dạng hóa các chương trình R&D của chính phủ Sự thúc đẩy mối liên kết UIG vẫn là mục tiêu chính sách chủ đạo giống như ở các nhiệm

kỳ tổng thống trước đó Để đối mặt với sự chuyển đổi từ kỷ nguyên công nghiệp sang xã hội thông tin thông qua việc tái cấu trúc nền công nghiệp và các chương trình đổi mới công nghệ, các trường đại học nghiên cứu đã được hình thành như trường GIST (Gwangju Institute of Science and Technology) vào năm 1993, KIAS (Korea Institute for Advanced Study) vào năm 1996, và ICU (Information and Communications University) vào năm 1998

Khi đối mặt với khủng hoảng tài chính diễn ra ở Hàn Quốc vào cuối năm 1997, các công ty Hàn Quốc đã giảm đáng kể kinh phí cho R&D Chính quyền của Tổng thống Kim, Dae-Jung (1998 – 2002) đã thiết lập các chỉ tiêu chính sách để thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu

1 Kim, S.H., (2006), “Public research institutes: universality and peculiarity”, Science

and Technology Policy, 16(5), 102-114

Trang 32

của giới học giả tại các trường đại học Dự án “Brain Korea 21” (BK21) được xem như là một giải pháp thúc đẩy chính của chính phủ trong nhiệm kỳ này Dự án này được thực hiện để thúc đẩy các nhà nghiên cứu ở các trường đại học đặc biệt là các giảng viên trẻ và học viên sau đại học thực hiện nghiên cứu có chất lượng cao và xuất bản các bài báo quốc tế Theo báo cáo kết quả của BK21, nhờ có chính sách này, số lượng các công bố quốc tế của Hàn Quốc đã tăng nhanh chóng từ 3.765 bài năm 1998 lên 7.281 bài năm 2005

Tiếp tục sự thành công vang dội của các trường đại học trong việc xuất bản bài báo trong danh mục SCI, chính phủ của Tổng thống Roh, Moo-Hyun (giai đoạn 2003 – 2007) tiếp tục thúc đẩy chương trình BK21 để hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ, các nghiên cứu sinh tham gia vào hoạt động quốc tế hóa R&D Trong giai đoạn này, một

hệ thống có tên gọi PBS được hình thành và đưa vào các cơ sở nghiên cứu công Theo quy chế hoạt động của hệ thống này, các nghiên cứu tại các viện nghiên cứu công lập được đánh giá dựa trên kết quả đầu

ra, ví dụ như thu nhập có được từ các hợp đồng chuyển giao kết quả nghiên cứu Mục đích của chính sách này là nhằm thúc đẩy các viện nghiên cứu của chính phủ tập trung vào các nghiên cứu đỉnh cao dẫn đến sự phát triển công nghệ phức tạp nhằm nâng cao tri thức trong các ngành công nghiệp của Hàn Quốc Một đặc điểm khác của thời kỳ này mối quan hệ giữa ngành công nghiệp và trường đại học trở nên khăng khít hơn và hướng đến việc đào tạo các kỹ sư công nghiệp và cho ra đời các phát minh sáng chế Chính sách này được gọi tên là “thúc đẩy các đại học doanh nghiệp”

Nói tóm lại, hoạt động PTDN trong các trường đại học ở Hàn Quốc đã được thúc đẩy liên tục từ những năm 1970 đến nay thông qua chính sách R&D của chính phủ Sự tham gia liên tục của chính phủ vào công cuộc tái cấu trúc hệ thống nghiên cứu quốc gia bằng việc cấp ngân sách và điều chỉnh các chỉ tiêu đánh giá (Kwon, 2012)1 Nhờ có

1 Kwon, K.-S., (2012), “The evolution and future of university-industry-government

relations in South Korea”, Journal of Korea Soc Ind Acad Collab, 1, 40-49

Trang 33

chính sách này, các trường đai học cũng đã có sự thay đổi đáng kể vai trò của mình trong nền kinh tế Cho đến những năm 1990, các trường đại học ở Hàn Quốc vốn chỉ được coi là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp Đến nay, các ĐH là nơi thể hiện rõ năng lực nghiên cứu và đóng góp trong hệ thống sáng tạo quốc gia và phát triển doanh nghiệp

Trung Quốc:

Trung Quốc gần đây cũng là một quốc gia châu Á nổi lên như một đất nước có nhiều kinh nghiệm thành công trong hoạt động PTDN tại các CSGDĐH Nghiên cứu của Eun và cộng sự (2006)1 cho thấy quá trình PTDN trong các CSGDĐH ở Trung Quốc có một đặc điểm nổi bật là nó gắn chặt chẽ với sự chỉ đạo của chính phủ và quan điểm định hướng của Đảng cầm quyền Quá trình này khởi nguồn từ một nghị quyết chung giữa chính phủ trung ương và Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1995 nhằm thúc đẩy sự phát triển của khoa học và kỹ thuật của quốc gia Nghị quyết này khuyến khích các trường đại học

và các viện nghiên cứu thành lập các doanh nghiệp công nghệ cao sử dụng năng lực khoa học kỹ thuật (S&T) của chính mình và thúc đẩy cho mối liên kết giữa giới học thuật và khu vực doanh nghiệp

Chính sách này của chính phủ Trung Quốc đã dẫn đến sự ra đời của một mô hình doanh nghiệp gọi là “doanh nghiệp do trường đại học điều hành” - University-run Enterprise (URE) Loại hình doanh nghiệp này là những “đứa con” do các trường đại học sinh ra nên nó chịu ảnh hưởng rất lớn từ “tổ chức mẹ” Do nằm trong cơ cấu tổ chức của đại học “mẹ” nên URE cũng tận dụng lợi thế về các kết quả nghiên cứu và các nguồn lực của trường đại học như tài chính, nhân

1 Eun, J.H., Lee, K., Wu G (2006), Explaining the “University-run enterprises” in China: A theoretical framework for university-industry relationship in developing countries and its application to China, Research Policy, 35, 1329-1346

Trang 34

sự, cơ sở vật chất, các mối liên kết với xã hội và thậm chí cả cái tên của trường đại học để làm thương hiệu (Eun và cộng sự, 2006)1 Với sự thúc đẩy của chính phủ, các URE tại Trung Quốc đã liên tiếp ra đời trong giai đoạn 1997 – 2004 mà trong đó đỉnh điểm là năm

1997 với hơn 6.600 doanh nghiệp Năm 1989, Công ty tập đoàn Liên Tưởng Bắc Kinh tiền thân của Công ty Lenovo đã “thoát thai” khỏi Viện Khoa học Trung Quốc để kinh doanh các mặt hàng máy tính, phần mềm, bo mạch chủ Sau đó một năm, Công ty này lên sàn giao dịch và đến năm 1994 đã có tên trên thị trường chứng khoán Hồng Kông Sau một loạt thành công của thương hiệu máy tính Lenovo (1 triệu máy năm 1994, 10 triệu máy năm 1998), hiện nay Lenovo trở thành một “đại gia” sản xuất máy tính cá nhân trên thế giới có tổng doanh thu 13 tỷ USD/năm Một số công ty URE có tiếng tăm khác là Công ty Founder do ĐH Bắc Kinh thành lập hay Tongfang thuộc ĐH Thanh Hoa Các công ty này hiện nay đều là các công ty hàng đầu trong lĩnh vực máy tính tại Trung Quốc

Vào đầu những năm 2000, sự phổ biến của doanh nghiệp do trường ĐH điều hành đã tăng lên đến mức ở tỉnh nào của Trung Quốc cũng đều có các doanh nghiệp này thành lập Các doanh nghiệp này đều có sự thành công đáng kể trong hoạt động trên thị trường Trong bảng xếp hạng 100 doanh nghiệp hàng đầu về khoa học và công nghệ năm 2002 tại Trung Quốc đã có 14 công ty là trực thuộc trường ĐH và

Trang 35

Bảng 4.5: Các doanh nghiệp do trường đại học điều hành

nằm trong danh sách 100 công ty hàng đầu Trung Quốc về KHCN

năm 2002 Thứ hạng Tên công ty Đơn vị thành lập

(Nguồn: Eun và cộng sự, 2006 1 )

1 Eun, J.H., Lee, K., Wu G (2006), Explaining the “University-run enterprises” in China:

A theoretical framework for university-industry relationship in developing countries and its application to China, Research Policy, 35, 1329-1346

Trang 36

Các doanh nghiệp do các ĐH điều hành ra đời đã tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa các trường đại học và các ngành công nghiệp để tận dụng nguồn lực từ các trường đại học Tuy nhiên, sau giai đoạn bùng

nổ trong một vài năm, đến cuối thập niên 90, số lượng các doanh nghiệp này bắt đầu có xu hướng giảm đi Bảng 4.6 cho thấy rõ hơn xu hướng thay đổi số lượng các doanh nghiệp trực thuộc do các trường

ĐH thành lập từ năm 1997 đến 2004 tại Trung Quốc

Bảng 4.6: Số lượng doanh nghiệp do các trường đại học điều hành

tại Trung Quốc giai đoạn 1997 - 2004

1 Eun, J.H., Lee, K., Wu G (2006), Explaining the “University-run enterprises” Tlđd

Trang 37

nghiệp này đã có một giai đoạn thừa hưởng những lợi ích rõ rệt từ các trường đại học Theo Eun và cộng sự thì những nền tảng cơ sở cho sự phát triển của mô hình URE tại Trung Quốc vào thập niên 90 gồm có

3 yếu tố xuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội trong giai đoạn này

Thứ nhất, xu hướng mạnh mẽ của các CSGDĐH trong việc tìm

kiếm lợi ích kinh tế:

Vào giữa thập niên 80, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra chính sách cải cách và mở cửa nền kinh tế, chuyển dịch từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp dựa vào khoa học kỹ thuật và giáo dục Tháng 3 năm 1985, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã công bố Nghị quyết cải cách hệ thống khoa học và kỹ thuật quốc gia Nghị quyết này đã hiện thực hóa quan điểm của Đảng Cộng sản là phát triển kinh tế phải dựa vào khoa học kỹ thuật, và ngược lại các nghiên cứu khoa học kỹ thuật phải đóng góp cho công cuộc xây dựng nền kinh tế Khi đó, một giải pháp đã được thực hiện là chính phủ cắt giảm ngân sách cho các CSGDĐH Chính điều đó đã tạo ra áp lực thúc đẩy các trường ĐH buộc phải tìm kiếm các nguồn ngân sách khác để tồn tại Một trong số các giải pháp của các trường là thành lập doanh nghiệp trực thuộc để thương mại hóa sản phẩm NCKH và tham gia vào SXKD

Thứ hai, nguồn lực nội bộ dồi dào của các CSGDĐH:

Các nguồn lực này xuất phát từ 2 nhân tố nền tảng: (1) truyền thống nghiên cứu khoa học ứng dụng; và (2) quyền sở hữu trí tuệ và vốn xã hội được nuôi dưỡng một cách tự nhiên trong các trường ĐH

(tiếng Trung Quốc gọi là “Danwei”) Đây cũng là một đặc thù vốn có

của các trường ĐH Trung Quốc - xu hướng thiên về nghiên cứu khoa học ứng dụng hơn là khoa học cơ bản Thực tế thì tỷ trọng ngân sách R&D được nhà nước phân bổ cho các trường ĐH trọng điểm luôn

chiếm đến 80% ngân sách NCKH

Lý do căn bản cho thực tế này là xuất phát từ đặc điểm riêng trong

sự phân bố nguồn nhân lực của Trung Quốc trong các CSGDĐH,

Trang 38

viện nghiên cứu và doanh nghiệp: Dưới thể chế kinh tế kế hoạch tập trung, các doanh nghiệp Trung Quốc chỉ tập trung vào chức năng sản xuất, bên cạnh chức năng an sinh xã hội (cung cấp nhà ở, chăm sóc y

tế, giáo dục, v.v.) Hoạt động của các DN Trung Quốc thiếu các chức năng cơ bản như R&D, marketing do những chức năng này được các

bộ chủ quản đảm nhận Theo mô hình đó, các doanh nghiệp hoạt động như những nhà máy hơn là doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về

số phận của mình trong thị trường không chắc chắn Hơn nữa, với những DN chỉ thuần túy hoạt động chuyên môn hóa vào một ngành cụ thể, các trường ĐH thường tham gia sản xuất sản phẩm mẫu hoặc bán thành phẩm để cung cấp cho các DN này tiếp tục chuỗi sản xuất để tạo

ra sản phẩm hoàn chỉnh trên quy mô lớn Trong bối cảnh đó, các CSGDĐH có điều kiện thuận lợi để tích lũy kinh nghiệm, bí quyết kỹ thuật trong quá trình sản xuất thực, từ đó, tạo tiền đề cho sự ra đời của các URE

Bên cạnh đó, sự tồn tại của “Danwei” cũng là một điểm khác biệt của Trung Quốc “Danwei” thực chất là một loại hình của nhóm cộng

đồng tự chủ, đa cấp và đa chức năng mà ở đó mỗi thành viên được hỗ trợ để phát triển (Bjorklund, 19861; Lu và Perry, 19972) Khi các

trường ĐH tham gia trong một Danwei sẽ được hưởng lợi từ các quy

định về quyền sở hữu trí tuệ từ những tài sản hiện có và tiềm năng từ các nghiên cứu trong các trường ĐH thành viên tạo ra Các trường ĐH được phép thương mại hóa các kết quả nghiên cứu từ các dự án cho dù

đó là dự án lấy ngân sách từ bên ngoài hay là ngân sách của chính

phủ Một điểm đáng lưu ý nữa với mô hình Danwei là các thành viên

của nó thường tập trung ở một khu vực địa lý nhất định Do đó, các thành viên có thể hỗ trợ lẫn nhau thuận tiện hơn, và từ đó, sự tin tưởng

và gắn kết giữa các thành viên cũng tăng lên đáng kể

1 Bjoklund, E.M., (1986), “The Danwei: socio-spatial characteristics of work units in

China’s urban society”, Economic Geography, 62(1), 739-758

2 Lu, X.B, Perry, E.J (1997), Danwei: The changing Chinese workplace in historical and

comparative perspective, M.E.Sharpe, Armonk

Trang 39

Ba là, môi trường bên ngoài đại học còn có sự hạn chế trong

chuyển giao khoa học và kỹ thuật:

Quyết định thành lập các URE còn được dựa trên sự cân nhắc của

các trường ĐH về khả năng “hấp thụ tri thức” của các DN Vào cuối

thập niên 80, các DN Trung Quốc còn rất hạn chế trong việc tiếp thu chuyển giao khoa học và công nghệ nên các trường ĐH đã quyết định cần thành lập các URE để chuyển giao và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của mình ra thị trường

Singapore:

Hệ thống trường ĐH ở Singapore đã phản ánh sự phát triển nhanh chóng của quốc gia này Hiện nay, quốc đảo này là mái nhà của một hệ thống giáo dục đại học phức hợp với 6 trường ĐH vận hành theo cơ chế tự chủ Lịch sử của nền giáo dục đại học của Singapore là quá trình xảy ra liên tục các cuộc sáp nhập và tái cấu trúc Ban đầu là sự thành lập của 2 trường và viện nghiên cứu là trường Raffles và trường King Eward VII trước khi Singapore giành độc lập vào đầu thế kỷ 20 Trường ĐH Singapore Malaya thành lập ngay sau thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc và sau này đổi tên là ĐH Singapore vào năm 1962

Thập niên 60 cũng đã chứng kiến sự phát triển của một trường

ĐH kiểu Trung Quốc là ĐH Nanyang, ban đầu được thành lập với mục đích mở rộng giáo dục đại học cho cộng đồng người Hoa Trường

ĐH Singapore và ĐH Nanyang đã sáp nhập vào năm 1980 trong một

nỗ lực của chính quyền nhằm tổng hợp các nguồn lực để tạo ra một trung tâm tiếng Anh có khả năng cạnh tranh toàn cầu với tên gọi ĐH Quốc gia Singapore - NUS (Tan, 2004) Cùng thời điểm đó, Viện Công nghệ Nanyang (NTI) được thành lập nhằm mục đích đào tạo các

kỹ sư Một thập kỷ sau đó, năm 1991, NTI được sáp nhập với Viện Giáo dục quốc gia để hình thành một NTU bán tự chủ và nhanh chóng trở thành đơn vị đào tạo ở trình độ ĐH lớn thứ 2 trong cả nước

Trang 40

Từ giữa thập niên 80, hệ thống giáo dục đại học của Singapore đã

được cải cách do 2 động lực chính Một là, đại chúng hóa để tăng

cường chất lượng nguồn nhân lực sau cuộc khủng hoảng năm 1985

(Lee và Gopinathan, 2008) Hai là, quốc tế hóa vào năm 1998 theo hai

giải pháp: (1) chương trình ĐH đạt đẳng cấp quốc tế nhằm tìm kiếm

và thu hút 10 trường ĐH nổi tiếng toàn cầu đến Singapore; (2) thực thi chính sách phát triển “Ngôi nhà trường học Toàn cầu” (Global Schoolhouse) nhằm mở cửa nền giáo dục trong nước với thị trường giáo dục toàn cầu và làm thay đổi Singapore thành “Boston của phương Đông” (Olds, 20071; Sidhu và cộng sự, 20112)

Đến năm 2000, trường ĐH mới thứ 3 ra đời là Trường Quản lý Singapore (SMU) SMU là trường hợp tác với ĐH Pennsylvania, được vận hành theo hệ thống ĐH của Hoa Kỳ Sau đó, mô hình hợp tác quốc tế tiếp tục được triển khai với việc thành lập 2 trường ĐH khác của Singapore theo cơ chế tự chủ Năm 2005, UniSIM trở thành đối tác của Học viện Quản lý Singapore và ĐH Mở Vào năm 2009, Viện Công nghệ Massachusets (MIT) đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập đơn vị đào tạo định hướng nghiên cứu thứ 5: ĐH Công nghệ

và Thiết kế Singapore (SUTD)

Tuy là một quốc gia nhỏ chỉ với 2 trường đại học nghiên cứu chính (Đại học Quốc gia – NUS, và Đại học Công nghệ Nanyang – NTU), cùng với hệ thống các viện nghiên cứu khoa học và công nghệ thuộc cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ (A*STAR) nhưng Singapore đã rất thành công trong việc ươm mầm cho các công ty khoa học và công nghệ Chỉ tính trong 5 năm (1998-2003), đã có hơn

70 doanh nghiệp Spin-offs được thành lập từ các đơn vị này Với nguồn đầu tư dồi dào từ ngân sách chính phủ cùng với cơ chế và thủ tục hành chính được cải thiện mạnh mẽ, Singapore là một trong những

1 Olds, K (2007), “Global assemblage: Singapore, Western universities, and the

construction of a global education hub”, World Development, 36(6), 959-975

2 Sidhu, R., Ho, R.C., Yeoh, B (2011), “Emerging education hubs: The case of

Singapore”, Higher Education, 61(1), 23-40

Ngày đăng: 12/08/2021, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w