Giúp người học nghiên cứu nắm vững nội dung cơ bản của tác phẩm làm cơ sở hiểu sâu sắc đường lối của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Hiểu rõ giá trị của tác phẩm trên cơ sở đó nâng cao nhận thức và vận dụng vào nghiên cứu quán triệt, thực hiện thắng lợi đường lối quân sự của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc hiện nay. II. Nội dung (Gồm 3 phần)
Trang 1định thắng lợi”
Phần mở đầu
I Mục đích yêu cầu
- Giúp người học nghiên cứu nắm vững nội dung cơ bản của tác phẩm làm
cơ sở hiểu sâu sắc đường lối của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
- Hiểu rõ giá trị của tác phẩm trên cơ sở đó nâng cao nhận thức và vận dụng vào nghiên cứu quán triệt, thực hiện thắng lợi đường lối quân sự của Đảng trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc hiện nay
II Nội dung (Gồm 3 phần)
I Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
II Những nội dung cơ bản của tác phẩm
III Ý nghĩa của tác phẩm
(Trọng tâm phần II) III Thời gian: 2 tiết
IV Địa điểm
V Tổ chức, phương pháp
1 Tổ chức
2 Phương pháp: Giới thiệu những nội dung chính kết hợp hướng dẫn nghiên cứu tài liệu
VI Vật chất bảo đảm
Bảo đảm vật chất phương tiện kỹ thuật
Tài liệu
Trường Chinh, CMDTDCND Việt Nam, T2, Nxb Sự thật, H 1975, tr 5 - 144 Giáo trình LSĐCSVN, Nxb CTQG, HN, 2001, tr 143 - 152
LSĐCSVN (sơ thảo), T1 (1920 - 1954), Nxb Sự thật, HN, 1981, tr514 - 533
Trang 2NỘI DUNG
I Hoàn cẩnh ra đời của tác phẩm
1 Tình hình thế giới
- Chiến tranh TG2 kết thúc, với sự giúp đỡ của Liên Xô một loạt nước XHCN
ra đời
- Nhân dân Liên Xô ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng CNXH
và giùp đỡ các nước Đông Âu xây dựng CNXH
- Đế quốc Mỹ đẩy mạnh việc lập mặt trận bao vây chống phe Liên Xô và các nước XHCN
- Nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đang đẩy mạnh đấu tranh cách mạng và từng bước giành thắng lợi
2 Tình hình trong nước
- Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 chính quyền cách mạng được thiết lập trong phạm vi cả nước, song nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng
DTDCND chưa căn bản hoàn thành Vì thế cách mạng Đông Dương vẫn là “cách mạng dân tộc giải phóng” như chỉ thi Kháng chiến kiến quốc ngày 25/11/1945 của TVTW Đảng xác định
+ Ngày 2/9/1945 Hồ Chủ Tịch đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước quốc dân đổng bào và toàn thế giới về sự ra đời của nước Vịêt Nam DCCH song đến ngày 23/9/1945 thực dân Pháp đã nổ súng gây hấn ở Nam bộ hòng thiết lập trở lại ách thống trị của chúng đối với nhân dân ta, buộc nhân dân ta phải cầm súng chống xâm lược Pháp
+ Ngày 19/10/1946 tại Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất, đồng chí Trường Chinh, TBT của Đảng đã nhận định “không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”
+ Ngày 20/11/1946 Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và đổ quân vào
Đà Nẵng
+ Ngày 18/12/1946 đại diện của Pháp tại Hà Nội tuyên bố cắt đứt mọi quan
hệ với Chính phủ ta và công khai tuyên bố sẽ dùng hành động quân sự để giải quyết quan hệ Việt – Pháp vào sáng 20/12/1946
=> Trước dã tâm xâm lược của TDP đối với nước ta, Đảng ta đã kiên quyết lãnh đạo nhân dân ta đứng lên chống xâm lược mặc dù tương quan so sánh lực lượng giữa địch và ta lúc này hết sức chênh lệch:
LLVT tập trung của ta và địch là 82.000/90.000 = 1,01/1,10
Địch có ưu thế về VKTB, kinh nghiệm tác chiến, thông thuộc địa hình lại xen kẽ với ta trên từng địa bàn, từng chiến trường
Ta có ưu thế về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, có khối ĐĐKTD, có truyền thống yêu nước, có tinh thần chiến đấu ngoan cường, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập của tổ quốc
- Đường lối kháng chiến của Đảng từng bước được hình thành, phát triển và bước đầu được kiểm nghiệm qua thực tiễn kháng chiến là đúng đắn
Trang 3+ Ngày 25/10/1945 Ban TVTW Đảng đã ra chỉ thị “kháng chiến kiến quốc” hình thành các tư tưởng cơ bản của đường lối kháng chiến
+ Trong các ngày 18 và 19/12/1846 BTVTW Đảng họp Hội nghị mở rộng tại Vạn Phúc (Hà Đông) xác định quyết tâm ta phải đánh trước để giành thế chủ động + Tối 19/12/1946 Hồ Chủ Tịch đọc lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” trong đó nói rõ ý chí quyết tâm đoàn kết toàn dân đánh thực dân Pháp xâm lược của Đảng và của quân, dân ta; nói rõ tư tưởng kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh dựa vào sức mình là chính
+ Ngày 25/12/1946 TW Đảng ra chỉ thị “Toàn quốc kháng chiến” xác định rõ
hơn mục tiêu, phương châm kháng chiến…
Trải qua hơn 1 năm kháng chiến những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng đã đề ra
đã được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn
- Qua thực tiễn phong trào cách mạng nước ta lúc này còn bộc lộ một số vấn
đề cần khắc phục
+ Một số cán bộ, đảng viên quần chúng tỏ ra bi quan hoặc chủ quan khinh địch
+ Xuất hiện tư tưởng thoả hiệp cải lương ngại chiến đấu gian khổ, lâu dài + Muốn nhờ nước thứ 3 dàn xếp…
=> Phải tổng kết thực tiễn, tăng cường giáo dục chủ trương, đường lối của Đảng tạo sự thống nhất cao về nhận thức tư tưởng, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nhằm đẩy mạnh KCCP đi đến thắng lợi
Để đáp ứng yêu cầu trên Tháng 3/1947 đồng chí TBT Trường Chinh đã viết một loạt bài nhằm giải thích , bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh đường lối kháng chiến đăng liên tiếp trên 11 số báo Sự thật từ số 70-81 (từ 4/3 – 1/8/1947)
Trong dịp kỷ niệm lần thứ 2 ngày Nam bộ kháng chiến, những bài báo trên được bổ sung in thành sách, phát hành rộng khắp cả nước (19/9/1947) Tên sách nói
lên niềm tin sắt đá của Đảng và nhân dân ta “Kháng chiến nhất định thắng lợi”
II Nội dung cơ bản của tác phẩm
Bố cục sách gồm:
1 Lời nói đầu
2 18 đề mục
3 Lời kết luận
Tác phẩm trình bầy làm nổi bật 3 nội dung cơ bản:
Một là, Mục đích, tính chất và quyết tâm kháng chiến
Hai là, Kẻ thù cần đánh đổ (đối tượng của cuộc kháng chiến)
Ba là, Phương thức tiến hành chíến tranh
1 Mục đích, tính chất và quyết tâm kháng chiến
a Mục đích kháng chiến (Tr 23- 27)
- Trả lời câu hỏi “Đánh để làm gì ?” Tác giả khẳng định: “ phải giành cho được độc lập và thống nhất thực sự mới nghe” ( Tr 25) Đó chính là mục đích của cuộc kháng chiến chống TDP xâm lược Vì:
+ Mặc dù sau khi CMT8 thành công, chính quyền CM đã được thiết lập trên phạm vi cả nước, song TDP đã quay trở lại tiến đánh nứơc ta theo “lối gặm dần để nuốt nước ta”, đe doạ nghiêm trọng nền độc lập và sự thống nhất đất nước ta, đặt
Trang 4nhân dân ta trước sự lựa chọn: Hoặc can tâm làm nô lệ, hoặc cầm súng chống lại
kẻ xâm lược để giành cho kỳ được độc lập, thống nhất thực sự
+ Tiến hành kháng chiến “không chỉ đòi TDP tôn trọng hiệp định đã ký, trở lại vị trí trước ngày 20/11/1946 và ngày 17/12/1946 như một số người nhầm tưởng
mà đòi Pháp phải công nhận nước VN hoàn toàn độc lập, đất nước VN hoàn toàn thống nhất, dù đó là độc lập thống nhất trong khối liên hiệp Pháp nếu cần” (Tr 25) + Khẩu hiệu “độc lập, thống nhất trong khối liên hiệp Pháp” là vấn đề có ý nghĩa sách lược tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của nhân dân tiến bộ Pháp, cô lập cao độ bọn TDP hiếu chiến, chứ không phải là mục tiêu chiến lược lâu dài
- Thái độ kiên quyết dứt khoát đánh Pháp nhằm đạt mục đích của cuộc kháng chiến của Đảng
+ Đánh để phá chính sách “việc đã rồi” của TDP
+ Đánh để chống thái độ bội tín, phi nghĩa, láo xược của Pháp
+ Để quét sạch TDP hèn nhát, tham lam
+ Để tự vệ và bênh vực văn minh, chính nghĩa
- Mục đích chính trị của KCCP quy định mục đích quân sự trong KCCP: Nhằm tiêu diệt lực lượng địch trên nước ta, lấy lại toàn bộ đất nước, đề bẹp ý chí xâm lược của địch (Tr 27)
b Tính chất của cuộc kháng chiến (Tr 28-31)
- Tác giả phân biệt rõ ràng tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến của ta
và tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược do TDP gây ra (Tr 28-29) + Cuộc kháng chiến của ta mang tính chất chính nghĩa vì chúng ta đánh Pháp
để giành độc lập, để tự vệ, để tự giải phóng Chính vì thế cuộc kháng chiến của ta được sự ủng hộ của các lực lượng dân chủ tiến bộ trên thế giới
+ Cuộc chiên tranh do TDP gấy lên là chi ến tranh xâm lược, phi nghĩa, phản động, vì mục đích của nó nhằm chiếm lại nước ta, để tiếp tục áp bức, bóc lột nhân dân ta Do đó bị thế giới chê cười, lên án
- Cuộc kháng chiến của ta không những có t/c dân tộc giải phóng mà còn có
tính dân chủ mới, vì:
+ Cuộc KC nằm trong phong trào CM DTDCND, kháng chiến là hình thái bạo lực của CM ấy trong điều kiện mới và bằng phương pháp đấu tranh cao nhất (ĐTVT)
+ Việc kháng chiến kiến quốc sau CMT8/1945 là kế tục sự nghiệp CMT8 để giải phóng hoàn toàn đất nước và mở rộng chế độ DCND tạo mầm mống cho CNXH
- Tính chất cơ bản của cuộc kháng chiến là cuộc chiến tranh nhân dân, thực chất là cuộc chiến tranh nông dân do GCCN lãnh đạo (Tr 30)
+ Vì: Đại đa số nhân dân nước ta là nông dân
Hầu hết cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội chủ lực và DQTV là nông dân + Tính chất chiến tranh nhân dân được xác định ngay từ đầu: trong chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, trong lời kêu gòi toàn quốc kháng chiến của Bộ Chính trị, trong chỉ thị Toàn quốc kháng chiến của Ban Thường vụ Trung ương
+ Mặc dù toàn dân kháng chiến là một khẩu hiệu chiến lược được Đảng ta xác định ngay từ đầu song không phải mọi người đều nhận thức đầy đủ, sâu sắc về
Trang 5điều đó nhất là không chú ý đúng mức đến vai trò của nông dân trong kháng chiến -> thiếu quan tâm động viên, trọng dụng nông dân, sau này đến năm 1949 mới được uốn nắn
- Cuộc kháng chiến còn có tính chất “một chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lạo, dân chủ và hòa bình” (Tr 31)
Vì chúng ta tiến hành chiến tranh không vì lợi ích của dân tộc mình mà vì lợi ích chung của nhân loại
c Quyết tâm kháng chiến của Đảng và nhân dân ta
- Ngay tên sách “ Kháng chiến nhất định thắng lợi ” đã nói lên ý chí quyết tâm sắt đá, làng tin vững chắc vào thắng lợi của cuộc kháng chiến của Đảng và nhân dân ta
- Quyết tâm kháng chiến được thể hiện:
+ Phát động cả nước kháng chiến, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ (Tr21)
+ Kháng chiến với ý chí tiến công dù phải đốt cháy cả dẫy Trường sơn cũng quyết giãnh cho được độc lập như lời HCM nói trong CMT8
- Cơ sở của quyết tâm: Dựa vào sự phân tích sâu sắc tương quan lực lượng địch ta
+ Phân tích đánh giá tương quan lực lượng theo quan điểm biện chứng của CNMLN, khách quan, toàn diện cả hai bên và theo quy luật chiến tranh: mạnh được yếu thua
+ Cụ thể: (Tr87-90)
1 Chỗ hơn của ta là chỗ kém hơn của địch và ngược lại
2 Pháp nhiều nhược điểm hơn Việt Nam
3 Pháp có nhiều nhược điểm hơn ưu điểm
4 Ưu điểm của ta phần nhiều về chính trị Pháp về quân sự
5 Ưu điểm của ta là gốc, địch là ngọn
=> KL “ Ta càng đánh càng khoẻ, đich càng đánh càng yếu ” (Tr 91)
KL đó có giá trị củng cố quyết tâm, khích lệ tinh thần kháng chiến của quân
và dân ta
2 Kẻ thù cần đánh đổ (Đối tượng chính trong kháng chiến) (Tr 14)
Trong mục I: Chúng ta đánh ai? Tác giả đặt vấn đề như vậy và trả lời chúng
ta đánh “Bọn thực dân phản động Pháp (hoặc nói một cách khác là thực dân cực đoan Pháp) đang dùng vũ lực để cướp lại nước ta” (Tr 10)
Ở đây có 3 ý cần làm rõ:
Một là: Đối tượng chính của cuộc chiến tranh của nhân dân ta là bọn thực dân phản động Pháp chứ không phải toàn nước Pháp, không phải mọi tầng lớp nhân dân Pháp, với mọi TDP về các hạng thực dân trên thế giới
Bởi vì:
+ Nhân dân tiến bộ Pháp không đồng tình với cuộc chiến tranh xâm lược của TDP + Trong thực dân Pháp lúc này có sự phân hoá thành phái chủ hoà và phái chủ chiến
+ Các nước thực dân khác chưa chực tiếp xâm hại đến độc lập thống nhất nước ta
Trang 6+ Lúc này thực dân phản động Pháp là “kẻ thù không đội trời chung, đáng muôn đời nguyền rủa Chúng ta phải xông lên mà chặn lại, mà bắn giết băm vằm” Lời văn thể hiện lòng căm thù cao độ, thái độ kiên quyết, dứt khoát của chúng ta đối với kẻ thù
- Hai là: Tác giả đã phân biệt rõ bạn, thù, các loại kẻ thù trong chiến tranh để
có đối sách phù hợp nhằm thực hiện phương châm thêm bạn bớt thù
Đó là: Phân biệt giữa bọn thực dân phản động Pháp với nhân dân tiến bộ Pháp Phân biệt giữa bọn thực dân phản động Pháp với các nước thực dân khác
Giữa kẻ chủ mưu với kẻ làm công cụ (Binh lính Pháp, lính lê dương, lính các nước thuộc địa, lính nguỵ…)
Trên cơ sở đó để có đối sách phù hợp cho từng đối tượng vì dù có là lính Pháp hay là laính đánh thuê thì tuyên truyền để họ không bắn vào ta, vác súng chạy sang phía ta Với lính nguỵ tuyên truyền họ bỏ ngũ về làm ăn lương thiện hoặc theo kháng chiến để lập công chuộc tội, với nhân dân tiến bộ phải tuyên truyền để
họ hiểu đấu tranh chính nghĩa của ta, đấu tranh chặn bàn tay độc ác của chính quyền phản động Pháp…
Sự phân biệt này nhằm “cô lập cao độ kẻ thù để đánh đổ nó” và “Đó là một sách lược thông thường của một giai cấp, một dân tộc quyết chiến và quyết thắng” (Tr 14)
- Ba là: Từ cuối năm 1947 trở đi Đảng xác định kẻ thù chính là TDP xâm lược vì thực tế chúng đến có mưu đồ dùng vũ lực để khuất phục chúng ta
Đến ĐH II (1951) kẻ thù của chúng ta lúc này có thêm can thiệp Mỹ vì lúc này đế quốc Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương
3 Phương thức tiến hành chiến tranh
Vấn đề này tác giả không nêu thành đề mục tổng quát mà được chẻ nhỏ ra thành nhiều ý để phân tích, luận giải một cách sâu sắc, cụ thể Khái quát lại
phương thức tiến hành chiến tranh là: Tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính
a Kháng chiến toàn dân
- Từ tính chất cơ bản của cuộc kháng chiến: chiến tranh nhân dân (thực chất
là chiến tranh nông dân do GCCN lãnh đạo) quy định phương thức tiến hành chiến tranh là chiến tranh nhân dân
+ Chiến tranh nhân dân không phải là t/c riêng biệt của cuộc chiến tranh ở VN: tất cả các cuộc chiến tranh giải phóng, chiến tranh cách mạng đều có t/c nhân dân, nhất là chiến tranh của một dân tộc nhỏ chống lại 1 kẻ thù lớn thì t/c nhân dân càng được rõ nét hơn
+ Vấn đề là làm thế nào để cuộc kháng chiến này thực sự là của nhân dân, là
do nhân dân: toàn dân kháng chiến, toàn quốc kháng chiến không phân biệt già trẻ gái trai giàu nghèo, không phân biệt tôn giáo, đảng phái
- Để toàn quốc kháng chiến, toàn dân kháng chiến (Tr35) theo tác giả:
+ Phải động viên, đoàn kết toàn dân, tuyên truyền giác ngộ cho mọi người
VN tham gia kháng chiến là biện pháp cơ bản, hàng đầu
+ Tuyên truyền giác ngộ gắn với phát động và tổ chức cho toàn dân đánh giặc
để “địch đi đến đâu cũng đụng phải sức kháng cự mãnh liệt của ta ở đó, khiến chúng bị ngẹt thở, bị bao vây, không thể yên sống trên đất nước ta” (Tr 7)
Trang 7+ Xây dựng LLVT 3 thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc
+ Kết hợp các hình thức tác chiến: Du kích chiến, vận động chiến, trận địa chiến…
+ Đánh trên tất cả các mặt trận, tạo điều kiện cho mọi người có thể tham gia đánh giặc
- Điều kiện để thực hiện kháng chiến toàn dân
Phải: “cải thiện sinh hoạt của nhân dân, mở rộng quyền dân chủ của nhân dân… để động viên chính trị toàn dân dốc lực lượng của 25 triệu đồng bào vào cuộc kháng chiến” (Tr 140)
Đây là sự thấm nhuần quan điểm chủ nghĩa MLN, TT HCM: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Đảng phải đánh giá cao vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của mình, phải tin tưởng vững chắc vào khả năng vô tận, sức mạnh vô địch của nhân dân đồng thời phải chăm lo bồi dưỡng sức dân, phát huy mọi khả năng của quần chúng nhân dân
Với chiến lược “kháng chiến toàn dân” ta t/c kháng chiến khắp nơi “mỗi phố
là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sỹ” Toàn dân kháng chiến là nét đặc sắc, là một nội dung chủ yếu, là tư tưởng chỉ đạo trong tác chiến, trong xây dựng ll của chiến tranh nhân dân do Đảng lãnh đạo
b Kháng chiến toàn diện
Tác giả đã trình bầy mạch lạc, cụ thể từng mặt trong cuộc kháng chiến của ta (Tr 32-60)
* Kháng chiến về quân sự (Tr32-38) Tác giả trình bầy 2 vấn đề lớn:
- Tiến hành đấu tranh vũ trag: dùng mọi cách mọi mưu mẹo, để tiêu diệt địch, giữ gìn phát triển lực lượng của ta, tiến tới đánh bại chúng, trong đó:
+ Phương châm chiến lược: đánh lâu dài Đây là phương châm chiến lược của toàn bộ cuộc chiến tranh, nó chi phối các mặt khác
+ Phương châm tác chiến: tích cực tiến công, giải quyết mau từng trận đánh + Chiến thuật: Du kích chiến, vận động chiến, phát triển lên dùng cả trận địa chiến Hiện tại du kích chiến và vận động chiến là lối đánh chính
Lưu ý: Du kích chiến là cách đánh của toàn dân, không phải riêng của bộ đội
- Những quan điểm cơ bản xây dựng, phát triển LLVT (Tr 37, 117-126) + Lấy nền tảng là nhân dân “nhân dân như nước, bộ đọi như cá” Phải vũ trang toàn dân, phát động phong trào dân quân du kích, kết hợp phát triển lực lượng cả 3 thứ quân Đây là quy luật phát triển lực lượng vũ trang nhân dân: từ nhân dân mà ra, từ không đến có, từ yếu đến mạnh, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao + Quân đội cách mạng của nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu, có tính chất dân tộc, dân chủ và nhân dân
+ Giáo dục chính tri, tư tưởng có tính chất quyết định đối với xây dựng lực lượng và tác chiến (Tr123-124)
* Kháng chiến về chính trị: (Tr39-45)
Tác giả khẳng định: “Muốn thắng giặc Pháp, muốn đánh và đánh giỏi cũng chưa đủ, phải có chính sách khôn khéo đối trong và đối ngoài” (Tr39)
- Chính sách đối nội phải đúng đắn:
+ Đoàn kết toàn dân chống chính sách lừa bịp, chia rẽ của địch
Trang 8+ Phải củng cố Nhà nước cộng hoà dân chủ, tăng cường bộ máy kháng chiến, thống nhất lãnh đạo, quân sự phụ thuộc chính trị, loại trừ cơ hội, quan liêu, quân phiệt, biệt phái, kiên quyết trấn áp bọn phản chách mạng
+ Củng cố hậu phương, cô lập kẻ thù
+ Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục chính trị, xây dựng niềm tin, chống bi quan, chủ quan khinh địch, thoả hiệp, trông chờ sự trung gian hoà giải của nước thứ 3 (Tr127)
- Chính sách đối ngoại phải khôn khéo, phù hợp
+ Về cơ bản là cô lập kẻ thù, lôi kéo thêm bè bạn
+ Trong điều kiện bị bao vây 4 phía phải làm cho nhân dân Pháp và các dân tộc thuộc địa Pháp ủng hộ ta Các lực lượng tiến bộ, hoà bình, dân chủ bênh vực ta + Để làm thất bại âm mưu xuyên tạc, lừa bịp của TDP phải có chính sách đúng đắn với tù hàng binh
* Kháng chiến về kinh tế (Tr46-53) Là phá hoại kinh tế của địch, xây dựng kinh tế của ta (Tr46) cụ thể:
- Phá kinh tế địch: phá máy móc, kho tàng, đường sá, thực hiện vườn không nhà trống, không cho địch cướp bóc, vơ vét
- Xây dựng kinh tế ta: nhằm thực hiện 2 nguyên tắc: vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tự cung, tự cấp mọi mặt
Ban hành các chính sách: tăng gia sản xuất, tăng thu giảm chi, tiết kiệm, giảm dàn sự gánh vác của nhân dân, củng cố tiền tệ, giữ vững giá cả…
Ví dụ: Tư tưởng vì dân bằng bỏ hết thuế, vét của nhân dân, bắt dân đóng góp quá nhiều, lãng phí, gian lận, chống tả khuynh về kinh tế “tập thể hoá nông nghiệp” “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng”., coi thường nông nghiệp và thủ công nghiệp
* Kháng chiến về văn hoá (Tr54-50)
Nhằm thực hiện 2 nhiệm vụ
- Đánh đổ văn hóa ngu dân, văn hóa xâm lược của TDP
- Xây dựng nền văn hóa dân chủ mới theo nguyên tắc dân tộc, khoa học, đại chúng
c Kháng chiến lâu dài (Tr32-35, 68-78)
Tác giả đã luận giải rất kỹ về phương châm này và coi đây là phương châm quan trọng nhất chi phối các lĩnh vực quân sự, là “bí quyết của sự thắng lợi” với
“thời gian là thầy chiến lược của ta, nên nhân dân ta quyết tâm kháng chiến bền bỉ”
- Tác giả luận giải rõ lí do phải đánh lâu dài (Tr32-33)
+ Từ quy luật cuộc khởi nghĩa hoặc chiến tranh giải phóng
+ Từ âm mưu của kẻ thù: Đánh nhanh thắng nhanh
+ Từ so sánh lực lượng nhất là buổi đầu
+ Đất nước bị bao vây… sự giúp đỡ của quốc tế hầu như chưa có
=> Ta cần thời gian để vừa kháng chiến vừa kiến quốc làm thay đổi tương quan lực lượng để ta càng đánh càng mạnh, có thời gian để tuyên truyền vận động nhân dân, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế, có thời gian phá thế bao vây phong toả của
kẻ thù làm cho kẻ thù thêm hao công tốn của
Trang 9- Phân biệt phương châm chiến lược lâu dài với phương châm tác chiến giải quyết mau từng trận đánh (Tr34-35)
+ Đánh lâu dài không có nghĩa đánh kéo dài (kết hợp từ tuần tự đến nhẩy vọt) + Tích cực tiến công giải quyết mau chóng từng trận đánh
Đây là 2 mặt có quan hệ biện chứng với nhau, là sự kết hợp giữa yêu cầu khách quan với sự nỗ lực chủ quan nhằm dút ngắn thời gian của cuộc chiến tranh
- Thực hiện phương châm đánh lâu dài trải qua 3 giai đoạn: Phòng ngự, cầm
cự, phản công (Tr 68-78)
Vấn đề này được xác định từ 22/12/1946 đến đây tác giả phân tích làm rõ thêm và sau này Đại hội V ( 3- 1982) tiếp tục đề cập
+ Mỗi giai đoạn có nội dung riêng, không có giới hạn rõ rệt: giai đoạn sau có mầm mống ở giai đoạn trước, giai đoạn trước tạo điều kiện cho giai đoạn sau
Gđ1: Chiến lược phòng ngự, chiến thuật tiến công
Gđ2: Chiến lược giằng co, chiến thuật tiến công
Gđ3: Chiến lược, chiến thuật đều phản công
Mỗi gđiai đoạn đều tạo ra sự thay đổi tương quan so sánh lực lượng địch – ta Lúc đầu địch mạnh ta yếu, sau đó ta - địch ngang nhau, đến cuối ta mạnh hơn địch Tác giả tập trung luận giải sâu vào mối quan hệ giữa giai đoạn trước với các giai đoạn sau: chỉ có trải qua giai đoạn 1 một cách thuận lợi thì mới có điều kiện chuyển qua giai đoạn 2 Mục tiêu giai đoạn 1 bảo toàn lực lượng của ta, làm cho đich tiêu hao về ý chí xâm lược của chúng bị suy sụp một phần
+ Thực tế kháng chiến diễn biến không hoàn toàn phù hợp với dự đoán ban đầu về nội dung cụ thể của 3 giai đoạn do nhiều nguyên nhân, phản ánh tính chất hết sức phức tạp của cuộc kháng chiến
Ý nghĩa tích cực của sự phân chia 3 giai đoạn: đem lại cho cán bộ, ndân ta một quan niệm khoa học về cuộc kháng chiến, gây cho họ một niềm tin vững chắc vào tương lai, chống tư tưởng nôn nóng chủ quan đánh nhanh thắng nhanh
+ Hiện nay một số người cho rằng: Chia 3 giai đoạn là không đúng, đó là quan điểm sai lầm: Vì
Thứ 1: đây là vấn đề có tính quy luật để làm chuyển hoá lực lượng địch – ta Thực tế từ lúc bắt đầu kháng chiến đến lúc kết thúc kháng chiến ta đã thắng, địch
đã thua đó là sự thật lịch sử
Thứ 2: Tư tưởng nổi bật là cách mạng thắng từng bước từ thấp tới cao Vấn
đề này lúc đó nhận thức lý luận chưa tốt, sau này trong chống Mỹ được nhận định
và phát triển rõ hơn
Thứ 3: quan niệm phân làm 3 giai đoạn song giữa 3 giai đoạn không tách rời nhau “không có giới hạn dứt mạch Giai đoạn sau có mầm mống giai đoạn trước, giai đoạn trước tạo tiền đề cho giai đoạn sau” tr77
Đồng chi Võ Nguyên Giáp “quy luật một cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài thông thường trải qua 3 giai đoạn: phòng ngự, cầm cự và phản công Cuộc kháng chiến của ta trên phương hướng lớn cơ bản cung theo quy luật đó Thực tế trên chiến trường đương nhiên đã diễn ra một cách sinh động và phức tạp hơn” (những nghiên cứu lớn của Đảng ta về lãnh đạo LLVT và xây dựng LLVTCM, Nxb ST, H,
1961, tr34-35)
Trang 10d Dựa vào sức mình là chính
Chỉ thị toàn quốc kháng chiến, ngày 22/12/1946 viết “phải tự cấp, tự túc về mọi mặt” đến đây tác giả không chia thành mục riêng mà quán vào trong các nọi dung của tác phẩm
- Dựa vào sức mình là chính phản ánh cách giải quyết mqh chủ quan và khách quan Do đó nó là quy luật của mọi cuộc cách mạng trong mọi thời kỳ lịch sử
Đó chính là tư tưởng HCM “phải tự ta giúp ta rồi mọi người mới giúp ta” hoặc “đem sức ta mà giải phóng cho ta” là chỉ thị của Đảng phải “tự cấp tự túc về mọi mặt”
Trong hoàn cảnh đất nước còn bị kẻ thù bao vây 4 phía thì vấn đề “dựa vào sức mình là chính” càng có ý nghĩa quan trọng đặc biệt
- Dựa vào sức mình là chính: là dựa vào sức mạnh toàn dân, trước mắt và chủ yếu dựa vào đường lối kháng chiến đúng đắn của Đảng, vào khả năng, tiềm lực và
sự nỗ lực của toàn dân tộc, vào các điều kiện nhân hoà, địa lợi, thiên thời của đất nước ta
- Toàn bộ tác phẩm toát lên nhân tố bên trong:
+ 1 là: Tin vào sức mạnh toàn dân ở việc giáo dục, tổ chức, động viên quần chúng, xây dựng, phát triển lực lượng tạo lên thế mạnh nội tại chủ quan quyết định thắng lợi
+ 2 là: Đánh giặc kết hợp với ngoại giao, tranh thủ ủng hộ của nhân dân thế giới, cô lập kẻ thù
+ 3 là: Chống tư tưởng ỷ lại, trông chờ may rủi, chờ giải pháp từ bên ngoài Tóm lại: Kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính Mỗi một mặt cơ bản của phương châm chiến lược đó có quan hệ mật thiết với nhau: toàn dân kháng chiến là lực lượng, toàn diện kháng chiến là hình thức, lâu dài là quy luật chung của chiến tranh, tự lực cánh sinh, nỗ lực chủ quan giữ vai trò quyết định Sự kết hợp các yếu tố trên tạo lên sức mạnh tổng hợp để kháng chiến nhất định thắng lợi
III Ý nghĩa của tác phẩm
- “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh là một tác phẩm lý luận sâu sắc, được trình bầy một cách sinh động nhằm bổ xung, phát triển đường lối kháng chiến chống TDP của Đảng
- Tác phẩm là kết quả của sự kết hợp giữa lý luận MLN, TT HCM với thực tiễn chiến tranh giải phóng của dân tộc ta, là sự kế thừa, phát triển những kinh nghiệm, truyền thống quý báu của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đồng thời kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm của các cuộc chiến tranh cách mạng trên thế giới
- Tác phẩm có ý nghĩa lớn lao trong việc chỉ đạo được cuộc kháng chiến chống TDP từng bước đi tới thắng lợi và sau này được vận dụng, kế thừa, phát triển trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
- Ngày nay nhiều vấn đề của tác phẩm còn có giá trị nóng hổi trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nếu chúng ta biết vận dụng, phát triển sáng tạo trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử mới./