Ngày 03.02.1930 Đảng Cộng sản Việt nam ra đời. Đó là kết quả của cuộc đấu tranh dân tộc và cuộc đấu tranh giai cấp trong thời đại mới: là kết quả của sự lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử về con đường cứu nước giải phóng dân tộc; Đó là kết quả của sự chuẩn bị tích cực và đầy đủ về chính trị tư tưởng, tổ chức; là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác Lê nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt nam. Ngay từ khi ra đời, với cương lĩnh cách mạng đúng đắn và sáng tạo, Đảng Cộng sản Việt nam đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, mở đường đi tới CNXH.
Trang 1Chuyên đề 2 CUỘC VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP ĐẢNG (1920-1930)
1 Mục đích, yêu cầu:
- Nắm vững quá trình đồng chí Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước, chuẩn bị thành lập Đảng và những nội dung cơ bản về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và ý nghĩa của việc thành lập Đảng
- Chấp hành đúng qui chế huấn luyện
2 Nội dung: Gồm 3 phần (trọng tâm phần 2)
3.Thời gian: 04 tiết.
4 Phương pháp: Quy nạp, diễn dịch
5.Tài liệu:
MỞ ĐẦU
Ngày 03.02.1930 Đảng Cộng sản Việt nam ra đời Đó là kết quả của cuộc đấu tranh dân tộc và cuộc đấu tranh giai cấp trong thời đại mới: là kết quả của sự lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử về con đường cứu nước giải phóng dân tộc; Đó là kết quả của sự chuẩn bị tích cực và đầy đủ về chính trị tư tưởng, tổ chức; là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác Lê nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt nam
Ngay từ khi ra đời, với cương lĩnh cách mạng đúng đắn và sáng tạo, Đảng Cộng sản Việt nam đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc,
mở đường đi tới CNXH
I Tình hình thế giới và trong nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
1 Tình hình thế giới
a Tình hình thế giới.
- Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (đế quốc chủ nghĩa) Các nước tư bản đế quốc, bên trong thì tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài thì xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa
- Sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc làm cho đời sống giữa các
Trang 2dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa
- Năm 1917, cách mạng Tháng mười Nga thành công có ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
- Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập Tại Đại hội II Quốc tế cộng sản (1920), sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được công bố Luận cương đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức
Tình hình thế giới đầy biến động đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam
2 Sự phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam
Từ giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm lược nước ta, xã hội Việt nam trở thành xã hội thuộc địa nữa phong kiến( Phong kiến phụ thuộc vào tính chất thuộc địa, là tay sai chịu sự điều khiển của thực dân Pháp ) - Biểu hiện:
- Về chính trị:
+ Thực hiện chính sách chuyên chế cai trị trực tiếp
+ Thực hiện chính sách chia để trị làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc
- Về kinh tế: Thực hiện chính sách độc quyền về kinh tế đối với các lĩnh
vực và duy trì phương thức sản xuất phong kiến, kết hợp thiết lập hạn chế phương thức sản xuất TBCN
- Về văn hoá: Thi hành chính sách ngu dân dể trị.
+ Mở rất ít trường học, mà chủ yếu chỉ để dạy cho con em giai cấp thống trị
+ Gây tâm lý tự ti vong bản
+ Du nhập văn hoá thực dân và ngăn cản tư tưởng văn hoá tiến bộ nhằm làm cho nhân dân ta bị đồi phong bại tục
Do chính sách cai trị của thực dân Pháp đối với nước ta nên kết cấu xã hội Việt nam có sự biến đổi sâu sắc: Ngoài hai giai cấp vốn có trong xã hội là nông dân và địa chủ phong kiến, nay xuất hiện thêm giai cấp công nhân, tư sản và tiểu
Trang 3tư sản, từng giai cấp có địa vị kinh tế, thái độ chính trị, xã hội khác nhau.
Nên xã hội Việt nam xuất hiện hai mâu thuẩn cơ bản ngày càng gay gắt là: Dân tộc ta > < thực dân Pháp và tay sai
Nhân dân ta (Nông dân) > < Địa chủ, phong kiến
Hai mâu thuẩn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mâu thuẫn: Dân tộc ta > <thực dân Pháp và tay sai là mâu thuản chủ yếu cần phải gạt bỏ
II Các phong trào yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX
1 Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và dân chủ tư sản
Phong trào yêu nước của nông dân và các sĩ phu tiến bộ.
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn bạc nhược, ươn hèn, từng bước đầu hàng, nhưng nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên kháng chiến dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước để bảo vệ Tổ quốc, điển hình là:
- Phong trào chống Pháp ở Nam kỳ 1861 - 1868
- Phong trào Cần Vương ở Bắc kỳ và Trung kỳ 1885 - 1896
- Phong trào khởi nghĩa Nông dân Yên thế 1883 - 1913
Và nhiều cuộc khởi nghĩa khác diễn ra ở khắp nơi nhưng cuối cùng đều thấy bại do không có đường lối cứu nước đúng đắn và một giai cấp tiên tiến lãnh đạo
* Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản.
Phong trào bạo động của Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ 1905 -1912
+ Mục tiêu: Giành độc lập dân tộc, đưa đất nước phát triển lên TBCN + Phương pháp: Dựa vào Nhật để đánh Pháp
HCM: “Đưa Hố cửa trước, rước Beo cửa sau”
Nhật Pháp đã cấu kết với nhau trục xuất những người yêu nước Việt nam ra khỏi nước Nhật ( 12.1909 Phan Bội Châu phải rời Nhật bản sang Thái
Trang 4lan đến năm 1912 phong trào hoàn toàn bị thất bại )
- Phong trào Cải lương của Phan Chu Trinh, Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng (1906 1908) với tư tưởng “Bạo động là tắc tử”
+ Mục tiêu: giành độc lập dân tộc, đưa đất nước phát triển theo con đường TBCN
+ Phương pháp: Dựa vào Pháp để canh tân đất nước, sau đó yêu cầu Pháp trao trả độc lập mà không cần bạo lực cách mạng
HCM: “Xin giặc rủ lòng thương
Các phong trào yêu nước trên đã cổ vũ động viên lòng yêu nước của nhân dân ta, đã kích vua quan thối nát, bài trừ hủ tục, đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản với yêu cầu khai dân trí, chấn dân khí,hậu dân sinh tiến tới đuổi quân Pháp khôi phục nền độc lập của Tổ quốc.Thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp, các phong trào yêu nước đó lần lượt thất bại
Thất bại của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản
đã khẳng định: Con đường dân chủ tư sản cũng không thể cứu được đất nước
Tóm lại: Lịch sử cho thấy trước năm 1930, các phong trào yêu nước
Việt nam theo nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau diễn ra sôi nổi đều khắp trong cả nước, chứng tỏ tinh thần quật cường của dân tộc Việt nam
Đồng thời chỉ rõ những hạn chế lịch sử của phong trào yêu nước Việt nam Một trong những hạn chế và nguyên nhân cơ bản, dẫn tới sự thất bại của các phong trào yêu nước đương thời, là những người yêu nước lúc đó chưa tìm ra con đường cứu nước đúng đắn đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội Cách mạng Việt nam đứng trước một cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước
2 Nguyễn Ái Quốc tìm đường giải phóng dân tộc và sự phát triển phong tào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, quê ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Lúc còn nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành Lớn lên giữa lúc nước mất nhà tan đau xót
Trang 5trước cảnh lầm than của đồng bào, Nguyễn Tất Thành sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc Ngày 5/6/ 1911 Nguyễn Tất Thành rời dất nước ra đi tìm đường cứu nước
Từ tháng 6 năm 1911 đến tháng 12 năm 1920, là quá trình từng bước chuyển biến về lập trường quan điểm của Nguyễn ái Quốc, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Những kết luận quan trọng đánh dấu các mốc về sự chuyển biến
tư tưởng của Người là:
- Kết luận thứ nhất (1911 - 1916): Ở đâu chủ nghĩa tư bản cũng tàn ác vô
nhân đạo, ở đâu giai cấp công nhân và nhân dân lao động cũng bị áp bức bóc lột dã man Bởi vậy, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù, giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn.
Kết luận này được rút ra khoảng năm 1916 Sau nhiều năm đi nhiều nơi như Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ- la- tinh và làm nhiều nghề khác nhau như: phụ bếp, làm vườn, quét tuyết, đốt lò Qua khảo sát thực tiễn Nguyễn ái Quốc
đã phát hiện cảnh bất công trong các nước tư bản chủ nghĩa và sự cùng khổ của giai cấp công nhân, nhân dân lao động các nước không phân biệt màu da Đây
là kết luận quan trọng đầu tiên, đặt cơ sở cho quan niệm đúng đắn về bạn – thù, xác định đúng đối tượng, lực lượng cách mạng, về sự kết hợp cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới
- Kết luận thứ hai (1917 - 1919): Những lời tuyên bố tự do, dân chủ,
bình đẳng của bọn đế quốc chỉ là luận điệu giả dối Muốn có tự do, độc lập thực sự, các dân tộc bị áp bức phải trông cậy vào lực lượng của chính bản thân mình, người Việt Nam phải tự giải phóng lấy mình.
Kết luận này rút ra cuối 1918 đầu 1919 khi người tham gia Đảng xã hội Pháp, nghiên cứu công xã Pari và cách mạng Tháng Mười Nga Tại Hội nghị Véc xây (các nước thắng trận thế chiến I hay chia lại thị trường) Đồng chí Nguyễn ái Quốc đưa bản yêu sách 8 điểm, đời Pháp và chủ nghĩa thực dân phải thừa nhận quyền tự do bình đẳng của dân tộc Việt Nam, nhưng không được chấp nhận Đây là đòn tấn công trực diện đầu tiên của Người vào bọn trùm đế quốc, là người Việt
Trang 6Nam đầu tiên dám nói tiếng, nói chính quyền, những khát vọng cháy bỏng của các dân tộc bị áp bức, nên dã có tiếng vang rất lớn trong nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và các nước thuộc địa của Pháp Kết luận này có ý nghĩa quan trọng là vạch trần bản chất phản động không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc, nhận rõ bộ mặt thật của chúng, khẳng định tính chủ động cách mạng của các dân tộc thuộc địa Phê phán quan điểm hy vọng của kẻ thù ban ơn cho độc lập dân tộc hoặc tư tưởng coi trọng cách mạng chính quyền, coi nhẹ cách mạng thuộc địa của Quốc tế II
- Kết luận thứ III (1920): Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không
có con đường nào khác, con đường cách mạng vô sản Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ Trong thời đại ngày nay giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng.
Đây là kết luận rút ra sau khi người đọc sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin trên báo Nhân đạo (7/1920),
từ đó tạo ra bước chuyển căn bản trong nhận thức của Nguyễn ái Quốc Tháng 12/1920, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam Kết luận này đã khẳng định dứt khoát con đường cứu nước
ở Việt Nam là con đường cách mạng vô sản Khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân Việt Nam, mở đường đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử của dân tộc
Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin và Việt Nam và chuẩn bị thành lập Đảng.
Từ năm 1920, sau khi đã tìm thấy chủ nghĩa Mác - Lênin và xác định con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, Nguyễn ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, nghiên cứu học tập, bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những điều kiện về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng tiền phong cách mạng
* Về chính trị: Nguyễn Ái Quốc từng bước phác thảo đường lối cứu nước
Trang 7từ sau năm 1920, thể hiện tập trung trong tập bài giảng của Người cho những cán
bộ cốt cán của “Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên” tại Quảng Châu (Trung Quốc) Đường lối cứu nước Hồ Chí Minh thể hiện những nội dung cơ bản sau:
- Một là, chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của
đại đa số dân chúng Đây chính là điểm xuất phát của con đường cách mạng Nguyễn Ái Quốc và nó khác hoàn toàn với các con đường cứu nước trước đó
- Hai là, mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là sau
khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc phải đưa nước ta đi lên chủ nghĩa
xã hội Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau
- Ba là, về lực lượng cách mạng, công nông là gốc của cách mạng, học
trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông Cách mạng là việc chung của dân chúng, không phải là việc của một hai người
- Bốn là, về phương pháp cách mạng muốn thắng lợi phải giác ngộ và tổ
chức quần chúng, phải làm cho quần chúng hiểu rõ mục đích cách mạng, biết đồng tâm hiệp lực để đánh đổ giai cấp áp bức mình, làm cách mạng phải biết cách làm, lúc nào làm và lúc nào chưa nên làm
- Năm là, đoàn kết quốc tế “cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận
của cách mệnh thế giới Ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân
An Nam cả”
- Sáu là, cách mạng trước hết phải có Đảng cách mạng, Đảng có vững
cách mạng mới thành công Muốn cho Đảng vững phải làm cho trong Đảng ai cũng hiểu, ai cũng theo chủ nghĩa Mác - Lênin
Sáu điểm trên thể hiện sâu sắc tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi trong đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc Thực hiện đã chứng minh, con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã
mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng đường lối ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
* Về tư tưởng: Sau khi tiếp thu được lý luận Mác - Lênin và trở thành
người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc bắt tay vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác -Lênin về nước bằng sách, báo do Người viết trong thời kỳ này như: Báo
“Người cùng khổ”, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Đường cách
Trang 8mệnh”, truyện ngắn “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc”, vở kịch “con Rồng tre” để truyền bá một cách có hệ thống tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác -Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Đồng thời qua sách báo để tố cáo tội ác của thực dân Pháp; liên kết cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa với cách mạng vô sản ở các nước đế quốc; vạch ra phương hướng hành động của nhân dân các nước thuộc địa; kêu gọi nhân dân Việt Nam và nhân dân các thuộc địa phải tự đứng dậy giải phóng cho mình
* Về tổ chức: Từ năm 1925 trở đi, Nguyễn ái Quốc tập trung vào vấn đề
lớn có ý nghĩa quyết định là huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng, lực lượng nòng cốt để hình thành tổ chức tiền thân của Đảng Tháng 6/1925, khi điều kiện
đã chín muồi, Người lập ra tổ chức “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên”, nòng cốt là “Cộng sản đoàn” Người mở những lớp huấn luyện cán bộ và ra tờ báo
“Thanh niên”, phần lớn các cán bộ trẻ tuổi đã qua huấn luyện trở về nước để
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Người vào phong trào công nhân, phong trào nông dân các tầng lớp nhân dân lao động khác Từ năm 1926 đến năm 1929, Hội có cơ sở ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị trong cả nước
Năm 1928, Hội đề ra chủ trương “vô sản hoá” để rèn luyện những trí thức tiêu tư
sản về lập trường giai cấp công nhân và từng bước kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Đây là cách làm sáng tạo của Người khi sáng lập Hội nhằm cuẩn bị tiền đề về tổ chức để tiến tới thành lập Đảng
Cách mạng Việt Nam thực sự chuyển biến mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu bức thiết phải tổ chức ra chính đảng của giai cấp công nhân, những điều kiện về chính trị, tư tưởng, tổ chức dần dần chín muồi vào cuối năm 1929 đầu năm 1930
3 Các tổ chức Cộng sản Việt Nam ra đời
- Ngày 17.06.1929, tại số nhà 312 Khâm thiên, Hà nội đại biểu cơ sở
cộng sản ở Bắc kỳ đã tổ chức Đại hội và quyết định thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, thông qua chính cương, tuyên ngôn mang tính thống nhất
Trang 9trong cả nước.
- Mùa thu 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam kỳ.
- 01.01.1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở
Trung kỳ
Tóm lại: Trong một thời gian ngắn ở Việt nam đã có ba tổ chức Cộng
sản tuyên bố thành lập, phản ánh yêu cầu khách quan và xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở Việt nam
Nhưng sự tồn tại cùng lúc của ba tổ chức Cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến sự chia rẽ lớn cần phải được khắc phục
để bảo đảm sự phát triển của phong trào cách mạng Việt nam Đặt ra yêu cầu bức thiết cần có một Đảng thống nhất trong cả nước
Trước tình hình phát triển của phong trào cách mạng ở Việt nam Quốc tế Cộng sản đã gửi thư cho các tổ chức Cộng sản ở Đông dương nêu rõ: Nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của tất cả những người Cộng sản ở Đông dương là sáng lập một Đảng cách mạng của giai cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính quần chúng ở Đông dương Đảng ấy phải là một Đảng duy nhất ở Đông dương, chỉ có Đảng ấy là tổ chức Cộng sản mà thôi
NAQ là người duy nhất có đủ uy tín và năng lực để được giao nhiệm
vụ lớn lao tổ chức hợp nhất ba tổ chức Cộng sản ở Đông Dương Người đã được uỷ nhiệm làm việc
III Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930)
Họp từ 06.01- 07.02.1930 tại bán đảo Cửu long, Hương cảng (TQ) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc
tế Cộng sản Hội nghị đã đi đến thống nhất:
- Nhất trí hợp nhất tất cả các tổ chức Cộng sản ở Đông dương thành một Đảng thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt nam (03.02.1930 )
- Thông qua chính cương vắt tắt, sách lược vắn tắt, chương trình tóm tắt và điều lệ vắn tắt của Đảng
Trang 10- Thông qua điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng do NAQ soạn thảo.
- Định ra kế hoạch lập ra UBTƯ lâm thời của Đảng
- Ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng của NAQ được viết sau đó ít ngày
1 Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
* Nội dung cơ bản của chánh cương, sách lược vắn tắt (Cương lĩnh đầu
tiên của Đảng )
- Mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt nam: chủ trương làm tư sản
dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản
Cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản chính là làm cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân tiến lên CNXH, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội gắn liên với nhau nhằm mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
(Đây chính là sự lựa chọn dứt khoát của lãnh tụ NAQ và Đảng ta ngay
từ đầu).
- Nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và
bọn phong kiến làm cho nước nam hoàn toàn độc lập.
Chống ĐQ và phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập dân tộc
và ruộng đất cho dân cày
- Lực lượng cách mạng: Đoàn kết tất cả các giai cấp, các lực lượng
tiến bộ, cá nhân yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai.
- Phương pháp cách mạng: Bằng con dường cách mạng, bằng bạo lực cách mạng chứ không thể bằng con đường cải lương thoả hiệp
“Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ”
- Mối quan hệ của cách mạng: cách mạng Việt nam liên lạc mật thiết
và là một bộ phận của cách mạng thế giới
“Đảng liên kết với các dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới”
(Nêu cao chủ nghĩa quốc tế vô sản và mang bản chất quốc tế của giâi cấp công nhân.)
- Vai trò lãnh đạo của Đảng: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai