Lịch sử đấu tranh của những chiến sĩ cách mạng trong nhà tù đế quốc là một bộ phận khăng khít của lịch sử Đảng ta và lịch sử cách mạng Việt Nam. Đấu tranh bảo vệ khí tiết cách mạng là trung tâm của cuộc đối đầu giữa người tù và bộ máy nhà tù, là một loại hình đấu tranh tiêu biểu đặc sắc và là cuộc đọ sức cao nhất giữa ý thức hệ tư tưởng vô sản và tư sản trong tù. Để nhận thức đúng đắn về vấn đề này, chúng ta nghiên cứu chủ đề: Cuộc đấu tranh của những người Cộng sản Việt Nam trong các nhà tù thực dân Pháp (19301935).
Trang 1VIỆT NAM TRONG CÁC NHÀ TÙ THỰC DÂN PHÁP (1930-1935)
và là cuộc đọ sức cao nhất giữa ý thức hệ tư tưởng vô sản và tư sản trong tù.
Để nhận thức đúng đắn về vấn đề này, chúng ta nghiên cứu chủ đề: Cuộc đấu tranh của những người Cộng sản Việt Nam trong các nhà tù thực dân Pháp (1930-1935).
I Mục đích, yêu cầu
- Góp phần vạch trần những tội ác man rợ, thủ đoạn thâm độc của TD Pháp
- Hiểu rõ tinh thần, bản lĩnh, khí tiết và những hình thức, phương pháp ,kinh nghiệm đấu tranh của những người cộng sản trong các nhà tù đế quốc
- Trên cơ sở đó xây dựng lòng tự hào, niềm tin cộng sản đối với Đảng;
- Góp phần giáo dục, truyền thống cách mạng của Đảng cho các thế hệ ngườiVN
II Nội dung: Kết cấu làm 2 phần (trọng tâm là phần 2)
1 Chế độ nhà tù của thực dân Pháp.
2 Cuộc đấu tranh của những người cộng sản Việt Nam trong các nhà tù của thực dân Pháp.
III Thời gian: 4 tiết.
IV Phương pháp: Thuyết trình và định hướng, gợi mở.
V Tài liệu nghiên cứu.
1 Tài liệu lưu tại Học viện chính trị quốc gia, Tổng hợp nhà tù Sơn La C/16/1; Khám lớn Sài Gòn C/16/15; Ngục Kon Tum C/16/9 và Hoả Lò – Hà Nội C/ 16/22.
2 Sống để hoạt động, truyện ký của đồng chí Nguyễn Tạo.
3 Hai lần vượt ngục, Nxb.Văn học, H.1960.
Trang 24 Con đường cách mạng, Nxb.Thanh niên, H.1970.
NỘI DUNG
I Chế độ nhà tù của thực dân Pháp.
1 Nguồn gốc ra đời hệ thống nhà tù thực dân ở Việt Nam (3 nd)
* Xuất phát từ bản chất của chủ nghĩa thực dân Pháp: xâm lược, hiếu
chiến và phản động; chúng không từ một âm mưu, thủ đoạn nào để xâm lược
và thống trị các dân tộc.
- Tại Đại hội Tua (1920), đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo: “Đế quốc Pháp vào Đông Dương vì lợi ích của nó, nó dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi Chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm…bằng thuốc phiện, bằng rượu cồn và bằng nhà tù…Chúng đã làm chết và tàn sát hàng nghìn người Việt Nam, để bảo vệ lợi ích không phải của chính họ”.
- Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925), Người kết tội : “Chế
độ thực dân Pháp không chỉ là ăn cướp mà còn là hiếp dâm và giết người”.
-> Công lý thực dân:
+ Bịp bợm, tự do đốt phá nhà cửa, đánh đập, bắn giết, hình phạt, máychém, nhà tù và đày ải
+ Bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu
* Quá trình xâm lược nhằm thiết lập chế độ thực dân ở Việt Nam,
thực dân Pháp phải đương đầu với sức phản kháng quyết liệt của dân tộc Việt Nam anh hùng.
- Đối phó với một dân tộc bất khuất, thực dân Pháp không từ một thủ
đoạn dã man nào, với nhiều chính sách thâm độc: chia rẽ, đầu độc, ngu dân, đàn áp, khủng bố và tù đày, hòng biến dân tộc Việt Nam thành một dân tộc nô
lệ “dễ bảo”.
* Ngày 3/2/1930, Đảng CSVN ra đời, phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc,
lật đổ ách thực dân.
-> Những người cộng sản Việt Nam đã phải đương đầu với bộ máy đàn
áp khổng lồ : toà án phát xít và hệ thống nhà tù nổi tiếng tàn bạo ở Đông Dương
Trang 3Đặc biệt, thời kỳ 1930-1935 (từ sau cao trào cách mạng 1930-1931),
hoảng hốt trước phong trào cách mạng rộng lớn của quần chúng, đế quốc Pháp
và tay sai đã dùng mọi âm mưu và thủ đoạn thâm độc để dàn áp phong trào,hòng dập tắt phong trào cách mạng và tiêu diệt Đảng ta
- Thể hiện ở lời tuyên bố ngạo mạn của Pát-sri-ê khi nhận chức toàn
quyền Đông Dương (tên toàn quyền Đông Dương đầu tiên): “Cuộc chiến đấu với Đảng CSVN, quyết chiến cho đến khi nào tiêu diệt hết cộng sản mới thôi” và
“Không dẹp xong Cộng sản thì Pát-sri-ê không nhìn thấy sông Xen”.
Saten (Khâm sứ Trung Kỳ) cũng lên giọng rằng : “chỉ cần một dấu hiệu nhỏ của Đảng Cộng sản cũng phải tiêu diệt ngay”.
- Trên thực tế : Đế quốc Pháp đã liên tiếp tiến hành các đợt khủng bố, trả
thù rất điên cuồng tàn bạo:
+ Mở đầu là cuộc ném bom tàn sát cuộc biểu tình của nhân dân ở Hưng Nguyên (Nghệ An) vào ngày 12/9/1930 Sau đó, thực dân Pháp khủng bố tràn
lan ở Nghệ An, Hà Tĩnh và rộng ra cả nước
Ví dụ: Theo tài liệu thống kê của toàn quyền Đông Dương (ngày 21/12/1933): từ 1930-1933 thực dân Pháp đã bắt giam tổng số 246.532 người,
trong đó:
+/ Năm 1930 là 65.455 người, năm 1931: 62.726 người, năm 1932: 63.435 người và năm 1933: 54.916 người.
+/ Riêng ở Bắc kỳ, trong 2 năm 1930-1931 chính quyền thực dân và
bọn tay sai đã mở 21 phiên toà đại hình xử 1094 án, trong đó có 64 án tử hình,
114 án khổ sai trung thân và 420 án lưu đày biệt xứ.
+/ Tháng 5/1933, toà án ở Sài Gòn đã mở phiên toà kết án tử hình 8 người, 19 án tù chung thân và gần 100 án từ 5 năn đến 20 năm tù giam.
+ Thực dân Pháp dựng lên hàng loạt nhà tù như: Sơn La, côn Đảo, Buôn Mê Thuột, Hoả Lò, Khám Chí Hoà… trong các nhà tù của chúng đã giam
chật những chiến sĩ cách mạng, mặc dù mỗi năm có hàng trăm người chếtnhưng con số tù nhân vẫn không ngừng tăng cao
Trang 4-> Ở nhà tù Côn Đảo: Năm 1930 có 1.992 tù nhân; 1931 có 2.146 tù nhân; 1932 có 2.276 tù nhân; 1933 có 2.483 tù nhân; 1934 có 2.818 tù nhân.
> Do yêu cầu của nền thống trị thực dân cần phải lừa bịp về chính trị.
Vì vậy, nhà tù là công cụ khủng bố chủ yếu của chúng, bởi không giết đượchàng loạt ngay một lúc thì giết dần, giết mòn Đồng thời, đó còn là nơi đày ảilàm tiêu mòn ý chí chiến đấu và tiêu diệt lực lượng cách mạng
-> Cụ thể: Ở nhà tù Côn Đảo từ năm 1930 – 1931 đã có 833 tù chính trị
bị giết hại, cũng 2 năm đó ở nhà tù Kon Tum có 300 người hy sinh
Ở nhà tù Sơn La chỉ trong vòng 8 tháng của năm 1933 đã có 43 tù nhân
bị giết hại
> Nhà tù thực dân “tụ hội” của những người cộng sản và những người
yêu nước sau mỗi lần đế quốc Pháp khủng bố ác liệt Từ giữa năm 1931 đếngiữa 1932, hầu hết các động chí uỷ viên Trung ương, các động chí Xứ uỷ 3miền Bắc- Trung-Nam bị bắt và bị giết hại
> Ngoài ra, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng bị địch bắt trongthời kỳ 1931-1935 gồm:
+/ Tại Hoả Lò (Hà Nội) chúng giam các động chí: Nguyễn Đức Cảnh, Hoàng Quốc Việt, Lương Khánh Thiện, Tống Văn Trân, Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh, Lê Duẩn.
+/ Ở Khám Sài Gòn địch bắt giam các động chí: Hà Huy Giáp, Ngô Gia
Tự, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Bùi Lân, Trần Văn Giàu, Nguyễn Trác, Lê Quang Sung.
+/ Tại nhà tù Sơn La chúng giam các đồng chí: Trần Huy Liệu, Ngô Minh Loan, Tô Hiệu, Lê Đức Thọ, Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh, Lê Thanh Nghị, Vũ Thiện Châu.
+/ Ở ngục Kon Tum địch giam các đồng chí: Lê Văn Hiến, Ngô Đức
Đệ, Hồ Văn Minh, Phạm Thể…và nhiều đồng chí chưa xác định được tên.
(Trường hợp cá biệt như Ngô Đức Trì, uỷ viên TƯ Đảng bị địch bắt vào
tù đã phản bội…và Nghiêm Thượng Biền bị bắt năm 1932 đã đầu thú địch…)
Trang 5> Nhiều đồng chí có tên trong hầu hết các nhà tù của Pháp vì địch cốtình thay đổi thủ đoạn, để triệt tiêu những người cộng sản trong tù hoặc nângmức hình phạt lên cao hơn
Tuy nhiên, bên cạnh những tấm gương trung liệt còn một số ít đảng viên
và quần chúng yêu nước hoang mang, dao động nhận trình báo, đầu thú địch…
+ Ngoài việc bắt bớ, giết hại tràn lan những người cộng sản, tàn phá các
cơ sở cách mạng, thực dân Pháp còn lên minh với bọn Tưởng Giới Thạch ởTrung Quốc, bọn phản động cầm quyền ở Thái Lan, âm mưu thanh toán nhữngngười cộng sản Việt Nam đang hoạt động ở đó
> Đặc biệt, sự kiện thực dân Pháp cấu kết với nhà cầm quyền Anh ở Hương
Cảng bắt giam lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (6/6/1931) Sau đó, thực dân Pháp vận động chính phủ Anh trao trả Nguyễn Ái Quốc cho chúng xử lý (thủ tiêu)
Nhưng nhờ có sự giúp đỡ của Quốc tế cộng sản và Luật sư Lu-dơ-bai
(người Anh), là nhân sĩ dân chủ tiến bộ đã trực tiếp lên tiếng bênh vực cho
Người Buộc nhà cầm quyền Anh phải tuyên bố xoá án vào mùa Xuân năm
1933 (đến đầu năm 1934, Quốc tế cộng sản triệu tập Người sang Liên Xô học trường đại học quốc tế lấy tên là Lin).
2 Tính chất dã man, tàn bạo của hệ thống nhà tù thực dân.
Thực dân Pháp đã thi hành chế độ tù đày dã man, biến nhà tù thành địa ngục trần gian để thực hiện dã tâm nham hiểm: giết dần những chiến sĩ cách mạng, làm tiêu mòn ý chí chiến đấu và tiêu diệt lực lượng cách mạng.
* Địa điểm xây dựng và mở rộng nhà tù:
Thực dân Pháp xây dựng kiên cố ở những nơi hẻo lánh, rừng thiêng
nước độc, hiểm trở đi lại khó khăn, biệt lập với dân cư -> Biểu hiện:
- Thâm độc:
+ Tách rời mối liên hệ giữa những người tù với nhân dân
+ Khí hậu khắc nghiệt, chế độ tù đày hà khắc làm nảy sinh bệnh tật hiểmnghèo sẽ giết dần, giết mòn những người cộng sản và những người yêu nước
-> Xanh pu lốp nhà tù Sơn La quả quyết : “chỉ 6 tháng vi trùng sốt rét
sẽ làm cho chúng trở nên hiền lành”
Trang 6+ Sử dụng, mua chuộc những người lạc hậu làm đạo quân bao vây nhà tù,dùng thủ đoạn chia rẽ dân tộc, lợi dụng những bất đồng về ngôn ngữ, phong tục,tập quán giữa các dân tộc để ngăn cản tuyên truyền cộng sản của các tù chính trị.
-> Xanh pu lốp đe doạ tù nhân : “đừng tìm cách trốn, thổ dân sẽ đem đầu các anh về đổi lấy muối” Chúng treo giải 20 đồng bạc trắng (5 tạ muối)
với mỗi tù nhân
+ Cấu trúc tường: tường kín bao quanh, chòi canh lô cốt 4 góc, bố
phòng chặt chẽ từ trong ra ngoài, lính đi tuần thường xuyên 24/24 giờ
- Nơi giam giữ tù nhân:
+ Ngoài một số buồng giam lớn, nhỏ bằng đá hộc, lợp tôn, chúng cònxây dựng các dãy xà lim ngầm sâu dưới đất 3,5 m Trong buồng tối xà lim cócùm sắt tập thể gắn liền bục giam từ 3-5 người/8 m2 Xà lim cá nhân hẹp 1,68
m2 có bệ dài 1 m gắn cùm sắt, hộp kín nằm không cự cậy dược, không phânbiệt được ngày và đêm
+, thời tiết khắc nghiệt, nhà tù u ám, chế độ quản lý hà khắc
+ Người tù dễ giảm sút ý chí và nghị lực (thực tế ở nhà tù Sơn La)
- Chế độ sinh hoạt cá nhân rất kham khổ:
+ Ăn uống: bằng tiêu chuẩn ngặt nghèo và bị bọn giám ngục bớt xén,
ăn gạo mục, cá khô thối, thiếu định lượng …
Ngày lễ, tết 1 người được thêm vài miếng thịt lợn chấm muối, khôngbát đũa, ăn bốc Nước rất hạn chế, mỗi sáng một bơ sữa bò vừa uống, vừa rửa
+ Mặc: mỗi người được 1 bộ quần áo vải thô/ năm, 1 chiếu, 1 chăn sợi
mỏng dínhi, từng người đều in số tù trên áo (ít cho thay) Tắm hạn chế vì thiếu
nước, chủ yếu là tắm chung, giặt vài tháng/ lần
+ Lao động khổ sai: Mức lao động gấp 3-4 lần lao động bình thường,
công việc nguy hiểm, , không đủ dụng cụ thô sơ, luôn bị đòn roi hiểm ác củabọn cai ngục Người tù có thể chết vì sơ ý, tạo cơ hội cho cai ngục lĩnh thưởng
(hạ thủ 1 người tù, xẻo tai, lĩnh thưởng 10 đồng bạc)
Trang 7- Bộ máy cai ngục: gồm những tên hung ác, dã man, tàn bạo nhất
(người Pháp, Việt gian khét tiếng) cai quản chặt chẽ, từ cai ngục đến Tổng
quản và nhân viên
> Đánh đập, tra tấn, giết người không ghê tay, biến nhà tù thực dân
thành “lò sát sinh khổng lồ” để giết hại các chiến sĩ cộng sản và những người
- Đặc điểm tù nhân gồm: Tù cộng sản, tù chính trị và tù thường phạm.
- Thực trạng đời sống tù nhân: Do ăn uống kham khổ, lao động khổ
sai vượt sức mình, thường xuyên bị đánh đập vô cớ Ngoài ra, phải học tập bắtbuộc những quan điểm tư sản phản động nhằm “tẩy não cộng sản” Nhiềungười bị chết trong tù vì chế độ hà khắc
+ Phần lớn những những tù nhân yêu nước giữa vững được khí tiết,lòng căm thù giặc, nhưng chưa có đường hướng chính trị rõ ràng
+ Một bộ phận trong số họ thì an phận cam chịu, chờ mong hết hạn tùhoặc sự khoan hồng, ân xá của đế quốc Pháp
+ Một bộ phận tuyệt vọng, khốn cùng tìm đến cái chết để giải thoát
+ Một bộ phận (Quốc dân Đảng) can tâm làm tay sai đế quốc để chống
cộng sản ra mặt
-> Những người cộng sản trong sự đoạ đày khốn cùng, phải tự quyết địnhlấy vận mệnh của mình bằng sự lựa chọn một trong hai con đường, hoặc là chịuchết mòn mỏi, hoặc là đấu tranh để sống trở về tiếp tục hoạt động cách mạng
II Cuộc đấu tranh kiên cường của những người cộng sản Việt Nam trong các nhà tù của thực dân Pháp.
1 Đấu tranh của những người cộng sản nhằm bảo vệ Đảng, giữ vững khí tiết những người cộng sản (4 nội dung)
Trang 8a Tinh thần đấu tranh kiên cường, kiên quyết không chịu đầu hàng địch, giữ vững khí tiết cộng sản.
* Những người cộng sản trong tù hầu hết đều tỏ rõ lòng trung thành vớiĐảng, trước sau kiên cường bất khuất đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, củagiai cấp, dân tộc lên trên hết; chấp nhận hy sinh hết thảy thậm chí cả tính mạngmình cho Đảng, cho dân tộc
- Các đồng chí cán bộ, đảng viên đã biến toà án, nhà tù thành diễn đàn đấu tranh bảo vệ lý tưởng cộng sản, kết tội chủ nghĩa thực dân bằng cuộc đối chất dũng cảm và thông minh, chứ không hề khai báo với địch.
+ Tiêu biểu về khí tiết hiên ngang của người cộng sản là đồng chí Trần Phú, Tổng bí thư của Đảng khi bị địch bắt và tra tấn đủ mọi cực hình, nhưng
đã không hề khuất phục
> Trước phiên toà xét xử (4/1931), đã khảng khái trả lời: “Những việc
của Đảng tôi, chỉ có thể nói với Đảng tôi mà thôi” Biết rằng không khai thác
được gì, bọn chúng tiếp tục tra tấn đồng chí Trần Phú và giam cầm để khaithác Nhưng do sức khoẻ bị kiệt quệ, sau nhiều lần bị địch tra tấn, đồng chí đã
hy sinh (9/1931) Trước khi chết còn dặn lại các đồng chí của mình trong tù
“hãy giữ vững ý chí chiến đấu”
+ Đồng chí Ngô Gia Tự (Bí thư Xứ uỷ Nam kỳ ), tại phiên toà đại hình
Sài Gòn (đấu năm 1923), đồng chí đã cùng một số chiến sĩ cách mạng khác lầnlượt đứng lên, biến vành móng ngựa thành diễn đàn luận tội bọn đế quốc…
+ Gương đoàn viên thanh niên cộng sản Lý Tự Trọng , trước khi lên máy
chém vẫn hiên ngang, dõng dác hát bài “Quốc tế ca” và nói thẳng vào mặt bọn
đế quốc “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng”.
+ Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh (Xứ uỷ Bắc kỳ ) bị bắt cuối tháng 4/1931
ở Vinh đến 31/7/1932 bị xử chém tại Hải Phòng Trong xà lim án chém Hoả
Lò đã tận dụng sức lực cuối cùng của mình, nghiến răng chịu đựng đòn roi kẻthù để giành thời gian, trí tuệ viết bản Tổng kết công tác công vận để lại nhữngkinh nghiệm quý cho đồng đội
Trang 9-> Ngoài những tấm gương tiêu biểu trên, còn nhiều đảng viên kiêncường, bất khuất, giữ vững khí tiết người cộng sản, nêu gương đấu tranh chomọi người noi theo.
> Tuy nhiên, còn có một số ít cán bộ, đảng viên do không chịu nổi đòn tra
tấn của địch, hèn nhát ra đầu thú, gây tổn hại cho phong trào cách mạng (Nghiêm Thượng Biền, Kim Tôn, Ngô Đức Trì, Nguyễn Văn Trọng), trong đó Ngô Đức Trì
là Uỷ viên thường vụ Trung ương, phản bội nên hầu hết BCH TƯ bị bắt và giết hại (sau 10 ngày bị bắt, không chịu được tra tấn ông ta đã khai báo).
* Trên lĩnh vực tư tưởng: các đảng viên cộng sản đã nêu gương sáng về
truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối cương lĩnh của Đảng trong tù.
Theo phương châm người biết nhiều dạy người biết ít, dạy cho quần chúng đếgiác ngộ họ đứng về phía cách mạng, kể cả binh lính địch
-> Nội dung đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng: chống lại các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù và chủ nghĩa hiện sinh, đề cao nước mẹ “Đại Pháp”.
Thay vào đó là tư tưởng cách mạng và chân lý thời đại, làm cho hệ tư tưởngMác – Lênin chiếm địa vị thống trị trong tù
* Thành lập các chi bộ trong nhà tù: các chi bộ Đảng trong tù được bí mật thành lập và lãnh đạo quần chúng đấu tranh, liên lạc với các tổ chức Đảng bên ngoài.
-> Chi bộ cộng sản đầu tiên ở Côn Đảo đầu năm 1932, ở Sơn La năm1940…
- Do nhu cầu đấu tranh để sống, trở về tiếp tục hoạt động cách mạng nên đòihỏi những người cộng sản phải tổ chức thành đội ngũ chặt chẽ, có kinh nghiệm tậphợp quần chúng tù thường và có phương châm, hình thức đấu tranh thích hợp
- Nhiệm vụ chủ yếu của các chi bộ (4 nhiệm vụ)
Trang 10+ Lãnh đạo đấu tranh trong tù
+ Giáo dục, bồi dưỡng lý luận cho nhau
+ Tuyên truyền, giác ngộ binh lính, giám thị
+ Liên hệ với các tổ chức đảng bên ngoài và tổ chức vượt ngục
- Nhiệm vụ hàng đầu của đảng viên và chi bộ
-> Giáo dục lòng trung thành với Đảng của mỗi đảng viên, bất cứ giữcương vị nào của Đảng phải giữ vững khí tiết cách mạng, không dao động, cầu
an, không ngần ngại đấu tranh, tán thành tổ chức chi bộ trong tù, tham gia cáchoạt động trong tù, vận động quân chúng tù thường, binh lính gác ngục và điđầu trong đấu tranh thì mới được kết nạp vào chi bộ
- Đảng phí: lúc đầu không qui định, ai có bao nhiêu góp bấy nhiêu đểdùng chung: mua đồ cứu tế, dầu đèn, sách báo, phương tiện vượt ngục
- Các chi bộ trong tù: là trung tâm lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh trong tù,giác ngộ tù thường phạm, giác ngộ binh lính, cai ngục, đồng thời còn chỉ đạo
thành lập các tổ chức quần chúng như: “lao tù tương tế”, “lao tù ái hữu”,
“thanh niên”, “phụ nữ”… nhằm thu hút quần chúng, cô lập kẻ thù và thông
qua đấu tranh của các tổ chức quần chúng để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
và buộc kẻ thù phải nhượng bộ một số quyền lợi
c Đấu tranh giành sự sống, bảo toàn lực lượng cách mạng.
* Sau khi thành lập chi bộ cộng sản, những người cộng sản thảo luận
về đấu tranh trong tù giành sự sống, bảo toàn lực lượng cách mạng đã nảy sinh hai khuynh hướng khác nhau:
- Không thể đấu tranh bằng hình thức tuyệt thực, lãn công, bãi công
được mà chỉ có thể bằng bạo động cướp chính quyền (bị phản đối).
- Ở nhà tù thực dân: không thể bạo động cướp chính quyền được mà chỉ
có thể bằng tập hợp lực lượng, lãnh đạo đấu tranh bằng các hình thức bãi công,
lãn công, tuyệt thực đòi cải thiện chế độ lao tù (đồng chí Nguyễn Hới ở nhà tù Côn Đảo).
-> Đồng chí Ngô Gia Tự (Côn Đảo): “phải đấu tranh giành lấy quyền sống, không thể để cho bọn chúa ngục muốn làm gì thì làm” và “Chúng nó
Trang 11đẩy mình ra đây là để cho mình chết, mình sống được là đã thắng địch Đấu tranh chẳng phải là dễ dàng gì đâu Mỗi lần đấu tranh là một lần đổ máu nhưng mặc ! không chịu bó gối đầu hàng”.
- Tổ chức cuộc đấu tranh: giành sự sống là để tiếp tục trở về hoạt độngcách mạng, nó gay go, quyết liệt, muốn thay đổi dù chỉ một con cá khô mụcthối, muốn bớt dù chỉ một thanh củi, 1 viên đá, 1 tảng san hô là phải chống lại
cả một chế độ khổ sai, giết tù; là phải chống lại cả một bộ máy khủng bố, từchúa đảo, gác ngục, bọn phản động trong tù
- Về tổ chức: theo ý kiến của những người cộng sản được tù thường và
Quốc dân Đảng tán thành thành lập Hội đồng thống nhất (Hội đồng tù nhân),
thành phần gồm tù cộng sản và Quốc dân Đảng, rồi thành lập các ban: Ban trật
tự trong, ban trật tự ngoài, Ban nhà bếp, Ban hợp tác xã, Tổ nhà thuốc
+ Quyền hạn, trách nhiệm do Hội đồng thống nhất quy định và được tựchủ trong hoạt động của mình, những người cộng sản chủ trương không hoạtđộng công khai
+ Ra qui định đối với anh em tù nhân: về sinh hoạt trong trại, về đi làm ởngoài, khai bệnh và xin thuốc, thái độ với xếp ngục, giám thị, lính cai và thầy thuốc
- Phương pháp đấu tranh: có lý, có tình, thái độ kiên quyết buộc xếp ngục phải đồng ý.
- Hướng đấu tranh: kiên quyết nắm được nhà bếp, nhà thuốc và tăng gia cải thiện.
- Tác dụng:
+ Xây dựng được tình đoàn kết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau lúc ốm đau và trong công việc làm khổ sai.
+ Buộc địch từng bước cải thiện sinh hoạt và giảm nhẹ khổ sai
+ Tạo ra nét sinh hoạt văn hoá độc đáo trong tù: văn hoá văn nghệ
quần chúng như diễn kịch, tuồng chèo, bình thơ theo các cốt truyện dân giancủa các nhân vật anh hùng dân tộc, bằng đề tài chống xâm lược nhằm giáo dục,khơi dậy lòng yêu nước thương nòi, tạo không khí lạc quan trong đời sống tù
nhân Dụng cụ âm nhạc tự tạo (dùng ống bơ làm nhị, làm trống).