Một trong những nhân tố quyết định thành công của cách mạng nước ta là Đảng đã xây dựng được khối đoàn kết dân tộc vững chắc trên cơ sở khối liên minh công nông. Trong CM DTDCND, Mặt trận Việt Minh có vai trò to lớn trong đấu tranh giành chính quyền tháng 81945 và bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám. Thực tiễn xây dựng Mặt trận Việt Minh đã để lại cho ta những kinh nghiệm quý, nghiên cứu nó là cơ sở để chúng ta phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. I. Mục đích yêu cầu: Nhằm giúp các đồng chí nắm được quá trình ra đời, phát triển của MTVM, vai trò trong quá trình ĐT giành, giữ CQ những năm 1945 1946. Hiểu ý nghĩa và những BHKN quá trình XD MTVM, vận dụng vào XD MTTQ giai đoạn hiện nay. Đấu tranh với những nhận thức, QĐ sai trái về thắng lợi của CMT8 và hoạt động của MT.
Trang 1MỞ ĐẦU
Một trong những nhân tố quyết định thành công của cách mạng nước ta
là Đảng đã xây dựng được khối đoàn kết dân tộc vững chắc trên cơ sở khốiliên minh công nông Trong CM DTDCND, Mặt trận Việt Minh có vai trò tolớn trong đấu tranh giành chính quyền tháng 8/1945 và bảo vệ thành quả Cáchmạng Tháng Tám Thực tiễn xây dựng Mặt trận Việt Minh đã để lại cho tanhững kinh nghiệm quý, nghiên cứu nó là cơ sở để chúng ta phát huy sứcmạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam XHCN hiện nay
II Nội dung: gồm 2 phần
1 Quá trình hình thành Mặt trận Việt Minh
2 Vai trò của Mặt trận Việt Minh trong đấu tranh giành chính quyền, ýnghĩa và bài học kinh nghiệm
III Thời gian: giảng 4 tiết
IV Phương pháp:
- Thuyết trình: giảng diễn và giảng giải; kết hợp phương pháp lịch sử
và phương pháp lôgíc
- Phân tích chứng minh làm rõ nội dung
V Tài liệu tham khảo:
1, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (sơ thảo), tập 1 (1920 - 1954), Nxb
ST, HN,1981, tr 332 - 346
2, Giáo trình LSĐCSVN, Nxb CTQG, HN, 2001, tr 89 – 110
3, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 6 (1936 - 1939), Nxb CTQG, HN, 2000
4, Văn kiện Đảng,Toàn tập, tập7 (1940 - 1945), Nxb CTQG, HN, 2000
5 Hồ Chí Minh về Công tác Mặt trận dân tộc thống nhất, Nxb ST, HN,1972
6, Nguyễn Thành, Mặt trận Việt Minh, Nxb ST, HN, 1991
Trang 27, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, HN,2001.
8, Lịch sử ĐCS Việt Nam, tập 1, Nxb QĐND, HN, 1995, tr 140 – 169
NỘI DUNG
I QÚA TRÌNH HÌNH THÀNH MẶT TRẬN VIỆT MINH
1 Mặt trận Việt Minh ra đời trên cơ sở “Hội phản đế đồng minh”, hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất
- Trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giương caongọn cờ ĐLDT và CNXH, phù hợp với nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin và
xu thế thời đại đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, mở ra những khả năng rộnglớn để tập hợp và thống nhất các lực lượng yêu nước của toàn thể dân tộc
+ Xác định mục tiêu con đường cách mạng Việt Nam phải đạt tới đó làCNXH, CNCS
+ Cương lĩnh xác định lực lượng tiến hành cách mạng là phải lấy liênminh công nông làm động lực chính, do giai cấp công nhân lãnh đạo: “côngnông là gốc CM, học trò, nhà buôn điền chủ nhỏ là bầu bạn của CN”
+ Ngoài công nông, Đảng còn phải tranh thủ các giai cấp, tầng lớp cótinh thần dân tộc, phân hoá, cô lập những phần tử chống cách mạng: “Đảngphải hết sức liên lạc với TTS, trí thức, trung nông (Thanh niên, Tân Việt, pháiNguyễn An Ninh ), để kéo họ về phe vô sản giai cấp còn đối với bọn phúnông, trung, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam mà cha rõ mặt phản CM, thì phảilợi dụng ít nữa làm cho họ trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản CM (Đảnglập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ”
>>Cương lĩnh tuy vắn tắt, nhưng cũng đã vạch ra những nguyên tắc về
chiến lược và sách lược xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất.
+ Những chủ trương của Đảng đã làm dấy lên cao trào cách mạng chưa
từng có: cao trào cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh
+ Khí thế của công nông lên cao đã thu hút nhiều tầng lớp nhân dân cácdân tộc đa số và thiểu số kể cả phú nông, địa chủ vừa và nhỏ
+ Qua đấu tranh nhân dân ta đã khẳng định quyền lãnh đạo và năng lựccách mạng của giai cấp công nhân, khối liên minh công nông được hình thànhtrên thực tế, là cơ sở để xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất
- Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10/1930 đã nhận thấytầm quan trọng và tính cấp thiết của việc xây dựng Mặt trận thống nhất phản
Trang 3đế, cùng với việc thông qua Luận cương chính trị, Hội nghị còn ra Nghị quyết
về công tác Mặt trận (Án nghị quyết về vấn đề phản đế ).
Nội dung cở bản của Án nghị quyết về vấn đề phản đế:
+ Việc tổ chức Hội Phản đế là việc cần kíp của Đảng,
+ Phải làm cho Hội ấy có tính chất quần chúng,
+ Mục đích của Hội nhằm:
> Đoàn kết lực lựơng cách mạng phản đế lại,
> Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa,
> Mưu toan việc hoàn toàn độc lập cho xứ Đông Dương
> Bênh vực phong trào giải phóng ở các xứ thuộc địa và bán thuộc địa
>> Tuy nhiên, đây mới chỉ là những phác hoạ cơ bản nên không tránh
khỏi những hạn chế:
+ Hạn chế:
> Chưa biết phát huy đầy đủ nhân tố dân tộc,
> Chưa đặt vấn đề tranh thủ và phân hoá tầng lớp trên đi theo cáchmạng
> Lực lượng của Mặt trận mới chỉ bó hẹp trong các hội nông dân, họcsinh, binh lính, thanh niên, phụ nữ
- Kết quả: Chỉ chưa đầy một tháng sau khi “Án nghị quyết về vấn đềphản đế”ra đời Ngày 18/11/1930 (18 ngày sau Hội nghị TW tháng 10/1930),Ban TVTW Đảng ra Chỉ thị thành lập “Hội phản đế đồng minh” - Hình thức
đấu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam.
(Chỉ thị đã quán triệt được tư tưởng đoàn kết dân tộc nêu trong Cương
lĩnh đầu tiên của Đảng, nên đã đề ra tương đối toàn diện những nội dung cơ bản về tình chất, nhiệm vụ và những biện pháp cụ thể xây dựng Hội phản đế đồng minh):
+ Về nguyên tắc xây dựng Hội, bản chỉ thị xác định:
> Phải bảo đảm tính chất công nông, đồng thời phải mở rộng tới cácthành phần trong dân tộc để Mặt trận thật sự là của toàn dân
> Chỉ thị còn nhấn mạnh: “Giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tưsản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức toàn dân lại thành một lựclượng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng khó thành công” (VKĐ: Về Mặttrận dân tộc thống nhất, Nxb ST, HN, 1971, tr 23)
Trang 4Đặc biệt, Chỉ thị đánh giá đúng đắn sự chuyển biến về thái độ chính trị
của các giai cấp, tầng lớp xã hội đã được thử thách qua cao trào cách mạng
1930 - 1931, cho thấy:
> Ngoài hai giai cấp cơ bản trung kiên là: công nhân và nông dân, còn có cáctầng lớp xã hội khác có xu hướng cách mạng rõ rệt được thử thách qua khủng bốtrắng của kẻ thù đó là: tầng lớp trí thức, sĩ phu yêu nước, một số trung tiểu địa
chủ, phú nông, trung nông hạng trên, giai cấp tư sản nhỏ tỏ ra kính trọng và ủng
> Tuy nhiên, lúc này cách mạng nước ta bước vào thời kỳ thoái trào, bị
địch khủng bố hết sức dã man
> Do đó, bản chỉ thị này chưa được phổ biến sâu rộng và chưa có điều
kiện triển khai thực hiện trong cả nước
> Mặt khác, do một số đảng viên chưa nhận thức được sâu sắc tư tưởng
đại đoàn kết dân tộc … vì thế “Hội phản đế đồng minh” chưa hình thành trênthực tế
- Qua thời kỳ đấu tranh khôi phục và phát triển phong trào cách mạngnhững năm 1932 - 1935, Đảng ta đã rút được bài học về sự cần thiết phải xâydựng lực lượng cách mạng rộng rãi hơn Mặt khác xứ Đông Dương đangđứng trước những thuận lợi mới cho phong trào cách mạng
+ Tình hình thế giới và trong nước trong những năm 1936 - 1939: phongtrào chống phátxít, chống chiến tranh sôi nổi, đặc biệt là tình hình Mặt trậndân chủ chống phátxít ở nước Pháp có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào cáchmạng nước ta
+ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 7/1936 xác định:
> Mục tiêu chủ yếu và trước mắt của cách mạng Việt Nam lúc này là đấutranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phátxít và chiến tranh, đòi tự
do dân chủ, cơm áo và hoà bình
> Đảng quyết định tạm thời không nêu khẩu hiệu đánh đổ đế quốc Pháp
và giai cấp địa chủ, giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày
Trang 5Để đáp ứng nhiệm vụ trên,
> Đảng chủ trương thành lập: Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dươngnhằm: tập hợp đông đảo quần chúng công nông và các tầng lớp nhân dân, tậptrung ngọn lửa đấu tranh vào kẻ thù nguy hiểm nhất là đế quốc Pháp hiếuchiến phản động, đòi những quyền dân chủ đơn sơ
> Tuy nhiên, còn nhiều tầng lớp nhân dân khác chống phátxít vẫn chưa
tranh thủ được, chưa hình thành một tổ chức thống nhất trong toàn quốc + Đến tháng 3/1938, Đảng quyết định:
> Đổi tên Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương thành Mặt trận
thống nhất dân chủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận dân chủ Đông Dương
>Thành phần Mặt trận rộng rãi bao gồm: tất cả các tầng lớp, các đảngphái, tôn giáo tán thành đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và tay sai,
kể cả những người Pháp tiến bộ ở Đông Dương và bắt tay với các đảng pháicải lương nhằm tập hợp rộng rãi lực lượng chống chủ nghĩa phátxít và chínhsách cai trị phát xít của Pháp ở Đông Dương
> Đảng sử dụng nhiều hình thức tổ chức như: thanh niên dân chủ, phụ nữdân chủ …kể cả những hình thức đơn sơ như: hội cấy, hội cày, hội lợp nhà …
> Hình thức đấu tranh đa dạng, phong phú như: công khai hợp pháp, nửacông khai hợp pháp kết hợp với các hình thức đấu tranh và tổ chức bí mật
>>Nhờ có chủ trương đúng đắn và cách thức tổ chức phù hợp cho nênĐảng đã phát động được cao trào cách mạng của quần chúng rộng rãi, mởrộng địa bàn hoạt động, lực lượng cách mạng được tăng cường, làm cho kẻthù bị cô lập, phân hoá và suy yếu
>Phong trào đấu tranh công khai phát triển mạnh dẫn đến hình thànhMặt trận dân chủ Đông Dương trên thực tế
Hạn chế công tác Mặt trận của Đảng như:
>Cách tuyên truyền và ứng dụng chính sách của Đảng còn nhiều thiếusót,
> Xem nhẹ, coi thường bọn Tờrốtxkít và một số đảng viên hợp tác vônguyên tắc với chúng,
> Nhiều nơi cán bộ phạm phải bệnh hẹp hòi, bệnh công khai, bệnh saysưa với thắng lợi bộ phận dẫn tới xao nhãng việc củng cố tổ chức bí mật
> Đảng chưa giải thích rõ lập trường của mình về vấn đề độc lập dân tộc
… (Mục tiêu cơ bản của cách mạng)
Trang 6Tóm lại: Qua những văn kiện của Đảng chỉ đạo trong từng thời kỳ thực
sự là những mốc đánh dấu sự trưởng thành của Đảng về nhận thức cũng nhưkhả năng tổ chức xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất trên thực tế Đặt cơ sởvững chắc cho sự phát triển công tác Mặt trận trong giai đoạn tiếp theo, có tácdụng rèn luyện lực lượng cho Cách mạng Tháng Tám sau này
2 Nhiệm vụ, chính sách và biện pháp tổ chức của Mặt trận Việt Minh
- Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, ảnh hưởng sâu sắc đến cáchmạng nước ta
+ Những hình thức tổ chức và hình thức đấu tranh thời kỳ Mặt trận dânchủ Đông Dương không còn thích hợp nữa
+ Đảng đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược xác định giải phóngdân tộc là nhiệm vụ hàng đầu
+ Hội nghị TW 6 tháng 11/1939 và Hội nghị TW 7 tháng 11/1940 chủtrương:
>Tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”,
>Quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dươngnhằm tập hợp các lực lượng chống đế quốc và tay sai, lôi kéo các phần tử tiến
bộ trong giai cấp địa chủ và tư sản dân tộc
(Nhận rõ sự chuyển biến nhanh chóng của tình thế cách mạng),
+ Hội nghị TW 8 tháng 5/1941 họp dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn
Ái Quốc, hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
> Hội nghị đã xem xét lại chính sách của Đảng,
> Xác định cách mạng Việt Nam lúc này là cách mạng giải phóng dântộc,
> Để hoàn thành nhiệm vụ chuyển hướng chỉ đạo chiến lược: đặt nhiệm
vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộngđất”,
>Yêu cầu sách lược vận động phải làm sao có lợi cho cách mạng, phảivận dụng phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức đượctinh thần dân tộc trong nhân dân
>> Vì vậy, “Mặt trận” không thể gọi như trước mà phải dùng tên khác
cho có tính chất dân tộc hơn, cho có mãnh lực hiệu triệu hơn nhất là thể hiện
được trong tình thế hiện tại
Trang 7> Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết địnhthành lập: Mặt trận dân tộc thống nhất chống phátxít Pháp - Nhật; lấy tên là
“Việt Nam độc lập đồng minh” gọi tắt là: Mặt trận Việt Minh (BÌNH: ngay
cái tên gọi này chữ “Độc lập” cũng đã làm cho mọi người ai cũng quý và mong mỏi nó từ lâu, còn chữ “đồng minh” thì có sức hiệu triệu rất lớn).
> Hội nghị quyết định lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm lá cờ của ViệtMinh, và làm lá cờ toàn quốc khi thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa
> Nhiệm vụ của Mặt trận Việt Minh:
= Phải thâu tóm cho hết các lực lượng phản đế chĩa mũi nhọn vào kẻ thùchính là đế quốc phátxít Nhật - Pháp và bè lũ tay sai của chúng
= Nhằm giành lại độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày Việc cứuquốc là việc chung Ai là người Việt Nam đều phải gánh vác một phần tráchnhiệm, thực hiện khẩu hiệu “Dân tộc trên hết!, “Tổ quốc trên hết!”
= Để cho những người yêu nước có thể tham gia công cuộc cứu quốcmột cách dễ dàng:
Trung ương quyết định hạ thấp Điều lệ và Chương trình của Hội, thống nhất hệ thống tổ chức,
Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận bằng công tác đảng, đoàn để giữ gìn tính độc lập và không lấn át sáng kiến của Mặt trận.
>Tháng 10/1941, Việt Minh công bố “Tuyên ngôn, Chương trình, Điều
lệ” Đây là lần đầu tiên, một Mặt trận dân tộc thống nhất được thành lập đãtrình bày rõ ràng đường lối, chính sách, cách thức tiến hành và tổ chức lựclượng đấu tranh để thực hiện mục đích cứu quốc của mình Đó là những vănkiện cơ bản của Mặt trận
Tuyên ngôn của Việt Minh nói rõ: “Nguy cơ diệt vong đã bày ra
trước mắt Hiện thời chúng ta chỉ có một con đường mưu sống là đoàn kết thống nhất, đánh đuổi Nhật - Pháp trừ khử việt gian.
Mở con đường sống ấy cho đồng bào, Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) ra đời, chào các bạn”
(VKĐ, Toàn tập, tập7 (1940 - 1945), Nxb CTQG, HN 2000, tr.461).
Chương trình cứu nước của Việt Minh ; gồm 14 điểm là một hệ thốngchính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa và những chính sách cụ thểđối với các tầng lớp công nhân, nông dân, binh lính, công chức, học
Trang 8sinh, phụ nữ, thiếu nhi, người già và kẻ tàn tật, tư sản, địa chủ, nhàbuôn Tinh thần cơ bản của những chính sách ấy là: “Cốt thực hiệnhai điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước:
1, Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập
2, Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do” (Sđd, tr.470)
Chương trình cứu nước của Việt Minh sau được đúc kết lại thành 10chính sách lớn đem thực hiện ở khu giải phóng Việt Bắc và được Đạihội Quốc dân Tân Trào thông qua tháng 8/1945, trở thành chính sách
cơ bản sau này của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.(Bài thơ diễn ca
10 chính sách VM)
Bên cạnh đó, còn có điều lệ cho mỗi đoàn thể cứu quốc trong Mặttrận, thống nhất trong tinh thần chỉ đạo chung và kết hợp với nhau,đấu tranh cho những mục tiêu chung
> Ngày 25/1/1942, Báo “Cứu quốc” cơ quan của Tổng bộ Việt Minh ra số 1,phát hành chủ yếu từ Thanh, Nghệ Tĩnh trở ra các tỉnh đồng bằng và trung duBắc Bộ Cơ quan Trung ương đóng tại Cao Bằng, từ đây các tỉnh bộ ViệtMinh ở phía Nam, kể cả trong các nhà tù đế quốc cũng xuất bản báo để đápứng phong trào
> Từ năm 1942 trở đi thanh thế của Việt Minh ngày càng chiếm đượctình cảm và sự ủng hộ của nhân dân, vì thế mạng lưới của Việt Minh nhanhchóng lan rộng ra cả nước Đó là các đoàn thể cách mạng:
Hội Công nhân cứu quốc,
Hội Nông dân cứu quốc,
Hội Phụ nữ cứu quốc,
Hội Phụ lão cứu quốc,
Hội Nhi đồng cứu quốc,
Hội Quân nhân cứu quốc…
Ở các vùng nông thôn, tổ chức các Hội cứu quốc để thu hút đông đảo
quần chúng tham gia, thường có 3 Hội chính là:
Hội Nông dân cứu quốc,
Hội Thanh niên cứu quốc,
Hội Phụ nữ cứu quốc
(QUY ĐỊNH: Nam giới và phụ nữ từ 18 tuổi trở lên được tổ chức vào Hội Nông dân,
Trang 9Phụ nữ từ 15 tuổi trở lên được tổ chức vào Hội Phụ nữ
Thanh niên nam nữ từ 16 - 25 tuổi được tổ chức vào Hội Thanh niên
Như vậy, Hội Nông dân có đông đảo thành viên nhất, là trung tâm cứu nước ở nông thôn Các ông, bà từ 50 tuổi trở lên có thể vào Hội Lão nhân, Hội Việt Nam cứu quốc hay chỉ tham gia Hội Nông dân cứu quốc hoặc Hội Phụ nữ cứu quốc tùy theo tình hình cụ thể từng nơi và ý nguyện của từng người).
Ở thành thị, cùng với
Hội Thanh niên,
Phụ nữ có Hội Công nhân cứu quốc
(Vai trò của Hội Công nhân cứu quốc ở đây tương tự như Hội Nông dân cứu quốc ở nông thôn, có cả thanh niên và trên tuổi thanh niên, tập hợp lao động chân tay là công nhân công nghiệp, thủ công nghiệp và công nhân làm việc trong ngành giao thông vận tải Hội Thanh niên thì có thanh niên nam nữ là công nhân, học sinh, buôn bán, viên chức, giáo viên trường tư …)
Đặc biêt, ở thành thị có các trại lính nên việc giác ngộ và tổ chức những binh
sĩ của địch vào “Hội Quân nhân cứu quốc” giữ một vai trò quan trọng
>Về cách thức tổ chức:
Các Hội cứu quốc tổ chức theo hệ thống dọc,
Ở mỗi cấp có Ban Chấp hành Hội cứu quốc được dân chủ bầu cử ra Hội Cứu quốc mỗi cấp cử đại biểu tham gia Uỷ ban Việt Minh của cấpmình,
Ban Chấp hành Việt Minh mỗi cấp cử ra Ban Thường vụ đứng đầu làChủ nhiệm và phân công các ủy viên phụ trách các Hội cứu quốc
TÓM LẠI: Bằng các hoạt động tích cực, hiệu quả của mình, Việt Minh
đã thực hiện công tác tuyên truyền, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng tạo
ra phong trào cách mạng rộng lớn, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranhquân sự, thành lập các căn cứ địa cách mạng, đẩy mạnh hoạt động du kích vàlàm công tác quản lý xã hội về các mặt kinh tế, văn hóa, trị an ở những nơi bộmáy chính quyền địch bị tê liệt Tiêu biểu thời kỳ này là khu vực Cao - Bắc -Lạng, điển hình trong phong trào xây dựng Mặt trận Việt Minh đánh Pháp,đuổi Nhật
II VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN VIỆT MINH TRONG ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN – Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Trang 101 Mở rộng Mặt trận Việt Minh, đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu nước, phát động toàn dân đấu tranh giành chính quyền trong cách mạng Tháng 8/1945
- Trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, từngày 25 - 28/2/1943 Ban Thường vụ Trung ương họp ở Võng La, Đông Anh(Phúc Yên) để quyết định những vấn đề cấp bách:
+ Hội nghị chủ trương ra sức phát triển Việt Minh nhằm thực hiện nhiệm
vụ trung tâm là: chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
+ Đi đôi với củng cố và phát triển các tổ chức công nhân, nông dân,
thanh niên, phụ nữ đồng thời phải lôi kéo tư sản, địa chủ, tiểu thương v.v để
cho Mặt trận có tính chất toàn dân
+ Khéo lợi dụng khả năng công khai và nửa công khai để thành lập cácđoàn thể có tính chất kinh tế, văn hóa, thể thao…
+ Cử người vào các tổ chức công khai, kể cả tổ chức do bọn phátxít lập
ra để cảm hóa quần chúng trong các tổ chức đó
+ Ngoài ra, để Mặt trận dân tộc thống nhất chống phátxít Nhật - Pháp cóthêm đồng minh, Việt Minh còn liên kết với các đảng phái chống phátxít ởnước ngoài theo tinh thần bình đẳng, tương trợ
Các xứ ủy Trung kỳ và Nam kỳ được giao nhiệm vụ giúp tổ chức “Ai Lao độc lập đồng minh” và “Cao Miên độc lập đồng minh” để cùng Việt Minh đánh Pháp, đuổi Nhật trên toàn Đông Dương.
- Năm 1943, địch bắt đầu khủng bố trắng Sang năm 1944, tình hìnhcàng trở nên nghiêm trọng hơn trong cả nước Cao - Bắc - Lạng là trọng điểmkhủng bố vì cơ sở của Việt Minh phát triển mạnh nhất Địch tàn phá làng bản,bắn người không cần xét hỏi, cướp của trắng trợn, truy nã ráo riết nhữngngười cách mạng, ra lệnh giới nghiêm, lập đồn trại bao vây và cho quân sụcsạo không ngừng
+ Tuy gây cho ta nhiều tổn thất nhưng phong trào Việt Minh càng đượcrèn luyện trong lửa đạn, già dặn, vững vàng phát triển cơ sở sang các tỉnh lâncận
+ Ở Hà Nội một số văn nghệ sĩ yêu nước được Đảng tập hợp tổ chức vào
“Hội Văn hóa cứu quốc”, triển khai thực hiện “Đề cương văn hóa Việt Nam”
do Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương công bố …