Nói cách khác quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh tế.. Thấy được vị trí, ý nghĩa của quy luật này, e
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
Phần I Cơ sở lý luận 4
1.1 Những khái niệm cơ bản về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 4
1.1.1 Phương thức sản xuất 4
1.1.2 Lực lượng sản xuất 4
1.1.3 Quan hệ sản xuất 6
1.2 Quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 7
Phần II Cơ sở thực tiễn 11
2.1 Người lao động trong cuộc cách mạng 4.0 11
2.2 Thực trạng người lao động tại Việt Nam 13
Phần III Giải pháp 15
KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Triết học đã mang những đóng góp tích cực vào kết quả của đổi mới tư duy lý luận, tạo cơ sở lý luận và phương pháp luận cho quá trình đổi mới Việc phát triển và áp dụng những tư duy trong triết học giúp quá trình hội nhập và đổi mới đất nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng hoàn thiện hơn để sánh với các cường quốc trên thế giới Từ nền kinh tế nông nghiệp thô sơ đang dần được thay thế bởi nền kinh tế thị trường nhiều thành phần Từ sản xuất chủ yếu bằng hái lượm săn bắt, trình độ khoa học kĩ thuật lạc hậu thì ngày nay trình độ khoa học đã đạt được một cột mốc đáng ngạc nhiên với hàng loạt phát minh giúp cải thiện đời sống con người Trong sự phát triển đó, vấn đề về lao động sản xuất là một yếu tố vô cùng quan trọng đánh giá sự phát triển của từng quốc gia Lao động sản xuất của từng thời kì dựa trên nền tảng tác động qua lại biện chứng giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đều có ảnh hưởng rất lớn tơí nền kinh tế Sự tổng hoà mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát triển Nói cách khác quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh
tế Do vậy, nghiên cứu về quy luật này sẽ giúp ta có thêm những hiểu biết ban đầu và sâu sắc hơn về sự phát triển của nước ta cũng như trên thế giới; hiểu được quy luật vận động của nền kinh tế từ đó có thể nhận thức được vai trò của người lao động, đặc biệt là bản thân mỗi cá nhân cần làm gì trong cuộc cách mạng 4.0 của đất nước Thấy được vị trí, ý nghĩa của quy luật này, em
xin được đưa ra những nhận định của mình thông qua đề tài tiểu luận : “Từ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
Trang 3sản xuất, phân tích vai trò của người lao động trong cuộc cách mạng 4.0”
Do thời gian nghiên cứu hạn hẹp và sự hiểu biết các vấn đề còn hạn chế nên bài tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong cô góp ý để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4NỘI DUNG
Phần I Cơ sở lý luận
1.1 Những khái niệm cơ bản về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.1.1 Phương thức sản xuất
Sản xuất vật chất được tiến hành bằng phương thức sản xuất nhất định trong một thời kì nhất định Phương thức sản xuất là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất trong những giai đoạn lịch sử nhất định của loài người Mỗi một hình thái kinh tế, xã hội có một phương thức sản xuất đặc trưng Một phương thức sản xuất này bị thay thế bằng một phương thức sản xuất khác thì cũng diễn ra sự thay đổi tương ứng trong tính chất, kết cấu
và đặc điểm về mặt xã hội, từ đó, ra đời một xã hội mới, một thời đại mới Phương thức sản xuất chính là tiêu thức để phân biệt các thời đại lịch sử Đồng thời, phương thức sản xuất cũng chính là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng
1.1.2 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất vật chất xã hội, nó cũng nói lên trình độ chinh phục tự nhiên của con người
Trong quá trình lao động, con người kết hợp sức lao động của mình với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động tạo thành sức mạnh khai thác giới tự nhiên, làm ra sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của
Trang 5mình Vì vậy, lực lượng sản xuất là năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của con người
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh về khả năng sáng tạo, nhu cầu và tinh thần của mình, sử dụng tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất Lịch sử loài người được đánh dấu bởi các cột mốc quan trọng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất Sau chuyển biến sinh học từ loài vượn, sự xuất hiện của công cụ lao động đánh dấu một bước ngoặt khác trong sự chuyển đổi từ vượn sang người
Từ kiếm sống bằng săn bắt hái lượm chuyển sang sản xuất nông nghiệp công nghệ lạc hậu rồi lại dần chuyển sang cơ khí hóa sản xuất
Công cụ lao động là do con người sáng tạo ra, là “sức mạnh của tri thức con người đã được vật thể hóa” Nó nhấn mạnh sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản xuất.Cùng với việc tích lũy kinh nghiệm, với những phát minh và sáng chế kĩ thuật, công cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoàn thiện Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng của công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội Trong thời đại khoa học kĩ thuật hiện nay, khoa học được ứng dụng ngày càng rộng rãi vào sản xuất đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tri thức khoa học được vật chất hóa và kết tinh vào mọi nhân tố của lực lượng sản xuất và được kế thừa phát triển liên tục từ thế hệ này sang thế
hệ khác, luôn gắn bó với quan hệ sản xuất trong một hình thái kinh tế đặc trưng
Trang 61.1.3 Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất hay tổng quan là quan hệ kinh tế-xã hội giữa người với người hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất và vận động của sản phẩm xã hội từ sản xuất đến tiêu dùng Về cơ bản, nó thể hiện ở mặt quan hệ và sở hữu đối với tư liệu sản xuất Bản chất của quan
hệ sản xuất là do chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định
Một cách đầy đủ, quan hệ sản xuất gồm ba quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người với người đối với tư liệu sản xuất; quan hệ giữa người với người trong tổ chức và quản lý sản xuất; quan hệ giữa người với người trong phân phối sản phẩm lao động
Từ đó, ta thấy được quan hệ giữa người với người đối với tư liệu sản xuất là quan hệ cơ bản nhất, chi phối hai quan hệ còn lại Tính chất của quan hệ sản xuất được quy định bởi quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, biểu hiện thành chế độ sở hữu và là đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan
hệ trung tâm của các quan hệ sản xuất
Trong các hình thái kinh tế xã hội mà loài người đã từng trải qua, lịch
sử đã được chứng kiến sự tồn tại của 2 loại hình sở hữu cơ bản đối với tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng Sở hữu công cộng là loại hình mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của cộng đồng Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đồng nên các quan
hệ xã hội trong sản xuất và trong đời sống xã hội nói chung trở thành quan
hệ hợp tác giúp đỡ nhau Ngược lại trong các chế độ tư hữu do tư liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số người nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về một số ít người các quan hệ xã hội do vậy bất bình đẳng
Trang 7Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải Trong hệ thống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế
xã hội
Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm tức là quan hệ chặt trẽ với nhau cùng mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động Bên cạnh các quan hệ về mặt
tổ chức quản lý,trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất hay kìm hãm sự phát triển của xã hội Nếu xét riêng trong phạm vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất sở hữu quyết định tính chất của quản lý và phân phối Mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế xã hội nhất định quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các quan hệ sản xuất khác, ít nhiều cải biến chúng để chẳng những chúng không đối lập mà phục vụ đắc lực cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế xã hội mới
1.2 Quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
Trang 8trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội Khái niệm “phù hợp” được hiểu với nghĩa chỉ phù hợp mới tốt, mới hợp quy luật, không phù hợp là không tốt, là trái quy luật Có nhiều vấn đề mà nhiều lĩnh vực đặt ra với từ “phù hợp” này Các mối quan hệ trong sản xuất bao gồm nhiều dạng thức khác nhau mà nhìn tổng quát thì đó là những dạng quan hệ sản xuất và những dạng lực lượng sản xuất hình thành nên mối liên hệ chủ yếu giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và lao động Khi nền sản xuất được thực hiện với những công cụ ở trình độ phổ thông, lực lượng sản xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân Khi trình độ sản xuất đạt tới trình độ cơ khí hoá, lực lượng sản xuất đòi hỏi phải được vận động cho sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá Tính chất tự cấp tự túc cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính chất xã hội hoá
Lực lượng sản xuất là yếu tố có tác dụng quyết định đối với sự phát triển của phương thức sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của loài người trong giai đoạn đó Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn
và phát triển của mình Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện ở: Trình độ công cụ lao động, trình độ quản lý xã hội, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng của con người và trình độ phân công lao động Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệt nhau
Trang 9Chính sự thống nhất và tác động giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi và phát triển Ngược lại quan hệ sản xuất thường có tính ổn định trong một thời gian dài Sự biến đội của lực lượng sản xuất có nhiều nguyên nhân như bản thân người lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không ngừng tích luỹ và tăng lên, bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,
sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể sản xuất được Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất định sẽ đặt ra nhu cầu xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và hiện có Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ thay nó bằng một quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là diệt vong cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới Sự xoá bỏ các hình thức quan hệ sản xuất hiện có không phải là tự thân mà phải thông qua một phương thức chính trị và pháp quyền mà phương thức pháp quyền là trực tiếp Những quan hệ sản xuất cũ và hiện có từ chỗ là hình thức kinh tế cần thiết
để đảm bảo duy trì khai thác, phát triển của lực lượng sản xuất giờ đây trở thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó như Các-Mác đã nhận định “Từ một giai đoạn phát triển nào đó của chúng các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển
Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất những quan
hệ ấy trở thàng những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc Cách mạng xã hội” Đó cũng chính là nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất
Trang 10Thực tiễn cho thấy rằng lực lượng sản xuất chỉ có thể phát triển khi có một quan hệ sản xuất hợp lý đồng bộ phù hợp với nó Quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã bộc lộ gay gắt đòi hỏi phải giải quyết nhưng còn lực lượng sản xuất người không phát hiện được cũng như mâu thuẫn được phát hiện mà không giải quyết được hoặc giải quyết một cách sai lầm thì tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất sẽ trở thành nhân tố phá hoại đối với lực lượng sản xuất
Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta không nên tuyệt đối hoá vai trò của lực lượng sản xuất mà bỏ qua sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với nó khi giữa chúng có sự phù hợp Đôi khi sự phát triển chệch hướng của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là do yếu tố chủ quan, chứ không phải do tính chất đặc thù của quy luật đó Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất song nó cũng chỉ rõ rằng quan hệ sản xuất bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, nó là yếu tố quyết định và là tiền đề cho lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nó làm nhiệm vụ chỉ ra mục tiêu bước đi và tạo quy mô thích hợp cho lực lượng sản xuất hoạt động, cũng như đảm bảo lợi ích chính đáng cho người lao động phát huy tính tích cực sáng tạo cho con người là nhân tố quan trọng và quyết định trong lực lượng sản xuất Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó quyết định mục đích sản xuất, quy định hệ thống quản lý sản xuất và quản lý xã hội quy định phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được