1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam hiện nay

21 64 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 54,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người trên ba mặt chủ yếu sau: Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Quan hệ trong tổ chức và quản lý là quan hệ giữa con người với con người trong việc tổ chức quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động cho nhau. Quan hệ phân phối lưu thông là quan hệ giữa con người với con người trong phân phối và lưu thông sản phẩm xã hội.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Lớp:

Mã sinh viên:

Hà Nội - 2021

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

Thực trạng vận dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợpvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 82

Giải pháp vận dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợpvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 10

Trang 4

cơ bản nhất của sự vận động phát triển của xã hội Quy luật quan hệ sản xuất phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến, tác độngtrong toàn tiến trình lịch sử của nhân loại.

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây chúng ta đã không cóđược sự nhận thức đúng đắn về quy luật của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất vàlực lượng sản xuất Cơ chế quan liêu, bao cấp đã bóp méo các yếu tố của quan hệsản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất, kết quả của sự không phù hợp giữa quan hệsản xuất và lực lượng sản xuất đã làm cho mâu thẫu giữa chúng trở nên gay gắt.Điều đó khiến cho nền kinh tế Việt Nam phải ở trong tình trạng khủng hoảng, trìtrệ một thời gian dài

Chính vì vậy, việc đưa nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ, tác độngqua lại lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có ý nghĩa vô cùng tolớn, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Do đó, nghiên cứu vấn đề “Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát

triển của lực lượng sản xuất với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Trang 5

NỘI DUNG PHẦN 1 PHẦN LÝ LUẬN Chương 1 NHHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

1 Khái niệm

Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhấtđịnh, ở một thời kỳ nhất định Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ tác độnggiữa con người với tự nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của con người và năng lựcthực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất [4, tr.290]

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với tri thức,phương pháp sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ Trong cácyếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể và bao giờ cũng làlực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã hội

Ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nội dungkhái niệm lực lượng sản xuất được bổ sung, hoàn thiện hơn Các cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ đã làm xuất hiện những khu vực sản xuất mới và làm chonăng suất lao động tăng lên gấp bội Năng suất lao động được xem như là tiêu chíquan trọng trọng nhất để đánh giá trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và suycho cùng cũng là yếu tố quyết định sự chiến thắng của một trật tự xã hội này đốivới một trật tự xã hội khác

Trang 6

Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệgiữa con người với con người trên ba mặt chủ yếu sau:

Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người vớicon người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội

Quan hệ trong tổ chức và quản lý là quan hệ giữa con người với con ngườitrong việc tổ chức quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động cho nhau

Quan hệ phân phối lưu thông là quan hệ giữa con người với con người trongphân phối và lưu thông sản phẩm xã hội

Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác độngqua lại lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyếtđịnh Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp

đó là giai cấp thống trị; giai cấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sản xuất và sẽ quyếtđịnh tính chất, hình thức phân phối, cũng như quy mô thu nhập Ngược lại, giaicấp, tầng lớp nào không có tư liệu sản xuất thì sẽ là giai cấp, tầng lớp bị thống trị,

bị bóc lột vì buộc phải làm thuê và bị bóc lột dưới nhiều hình thức khác nhau

Tuy vậy, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lưu thông cũng cótác động trở lại quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất trong tính hiện thực của nó không phải là những quan hệ ýchí, pháp lý mà là quan hệ kinh tế được biểu diễn thành các phạm trù, quy luật kinh tế

Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủquan của con người Sự thay đổi của các kiểu quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tínhchất và trình độ của lực lượng sản xuất

Phương thức sản xuất

Phương thức sản xuất là cách thức con người khai thác những của cải vậtchất (tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt) cần thiết cho hoạt động tồn tại và pháttriển của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người

Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định.Phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đời sống

xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương

Trang 7

thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấpđến cao.

Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất và tác động qua lại giữa lựclượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất:

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạothành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất (quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội)

Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổiquan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất mới ra đời,khi đó quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sựphù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là mộttrạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sảnxuất Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầyđủ” cho lực lượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sửdụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đólực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó [1, tr.356]

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm choquan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lựclượng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sảnxuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu khách quan của sự phát triểnlực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sảnxuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩylực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệsản xuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sảnxuất mới ra đời thay thế [5, tr.205]

Trang 8

Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuấtkhông hoàn toàn thụ động mà tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất.Quan hệ sản xuất có thể tác động đến lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đíchcủa sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổchức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và côngnghệ và do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sảnxuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩylực lượng sản xuất phát triển Ngược lại quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc

“tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽkìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sựphát triển của lực lượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽđược thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sựthay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua chế

độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hộicộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quyluật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quyluật cơ bản nhất

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Thực trạng vận dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở Việt Nam hiện nay

* Ưu điểm

Trong quá trình đổi mới, một trong những vấn đề tư duy lý luận cốt lõi thuộc

về đường lối là sự chuyển đổi từ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Đảng và nhà nước ta đã chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính

Trang 9

sách: phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thịtrường, định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý điều tiết của nhà nước.

Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, gắn liền với xây dựng quan hệ sảnxuất mới cho phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối

Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước ta đạt được sau hơn 30 nămthực hiện đường lối đổi mới của Đảng được thể hiện toàn diện trên các lĩnh vực.Kinh tế ra khỏi khủng hoảng và tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đượcđẩy mạnh Từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầngkinh tế-xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nướcđang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển; đờisống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; khối đại đoàn kết toàndân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường; chính trị, xã hội ổn định, quốcphòng, an ninh và độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nướcngày càng được nâng cao trên trường quốc tế

* Hạn chế

Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức mạnh tranh chấp.Nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhịp độ tăng giá trị sản xuấtnông nghiệp, dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu… không đạt chỉ tiêu đề ra.Nhìn chung, năng xuất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao.Nhiều sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp thiếu thị trường tiêuthụ trong cả nước và nước ngoài Hệ thống tài chính-ngân hàng còn yếu kém vàthiếu lành mạnh Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, đầu

tư còn phân tán, lãng phí và thất thoát nhiều Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp củanước ngoài giảm, công tác quản lý, điều hành công tác này còn nhiều vướng mắc

và thiếu sót Quan hệ một số mặt chưa phù hợp Kinh tế nhà nước chưa được củng

cố tương xứng với vai trò chỉ đạo, chưa có chuyển biến đáng kể trong việc sắp xếp,đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước

Trang 10

Một số vấn đề văn hóa - xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết Tỷ

lệ thất nghiệp ở thành thị và nông thôn còn ở mức cao Các hoạt động khoa học vàcông nghệ chưa được đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đạihóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển.Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống, thiếutính khả thi Nhiều cấp, ngành chưa thay thế, sửa đổi những quy định về quản lýnhà nước không còn phù hợp, chưa bổ sung những cơ chế, chính sách mới có tácdụng giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất Trong thời kỳ quá độ đi lên chủnghĩa xã hội từ một xã hội tiền tư bản chủ nghĩa, nhà nước ta đó không thấy rõbước đi có tính quy luật trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội nên đã tiến hànhngay cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế quốc dân và xét về thực chất

là theo đường lối đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa quan hệ sản xuất đi trước

mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là đưa quan hệ sảnxuất đi trước để tạo địa bàn rộng rồi thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Điều

đó là hoàn toàn mâu thuẫn với quy luật quan hệ sản xuất phự hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Để khắc phục những mâu thuẫn có thể phát sinh đòihỏi phải thiết lập quan hệ sản xuất mới với những hình thức và bước đi phù hợp vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất Những chính sách mới của đảng và nhànước đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển một cách mạnh mẽ Sự thúc đẩy nềnkinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đó đưa nền kinh tế nước

ta sang một bước đi mới Mọi người được tự do kinh doanh buôn bán, các doanhnghiệp kinh doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau một cách bình đẳng trước phápluật… Tất cả đều nhằm vào mục tiêu duy nhất là thúc đẩy nền kinh tế nước nhà

2 Giải pháp vận dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ở Việt Nam hiện nay

Quá trình đổi mới và vận dụng quy luật Đảng ta đã đúc rút được những vấn

đề có tính chiến lược, tiếp tục chỉ đạo đồng bộ công cuộc đổi mới trên lĩnh vựckinh tế, những vấn đề lớn đó là:

Trang 11

Một là nâng cao năng lực của Đảng

Thắng lợi của đường lối đổi mới, thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếukhách quan, là nhân tố hàng đầu quyết định sự thành công của cách mạng ViệtNam Trong điều kiện nước ta, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phongcủa giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp côngnhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, được vũ trang bằng chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp nhuần nhuyễn tính giai cấp vàtính dân tộc, trong việc hoạch định đường lối, chính sách và trong tổ chức chỉ đạothực hiện, tập hợp trong đội ngũ của mình hàng triệu người con ưu tú của giai cấpcông nhân và của dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, “là người đầy tớ thậttrung thành của nhân dân”, thực hiện “Đảngvới Dân một ý chí”, “Đảng ta là đạođức là văn minh”, là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo nhân dân ta đi tớimục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội [3,tr.259]

Hai là xác định rõ vai trò của Nhà nước.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn gắn với xây dựng Nhà nướcpháp quyền Trong đó có một nội dung cơ bản là phải phân định rõ ràng giữa Nhànước và nền kinh tế theo hướng: cái gì của nền kinh tế, của thị trường thì trả lại chothị trường; cái gì thuộc chức năng và trách nhiệm của Nhà nước phải nắm cho chắc

và làm cho tốt; cơ sở để thực hiện được điều đó là phải xây dựng hệ thống pháp luật,thể chế, nhất là bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống này, xét cả hai mặttrên, quá trình chuyển đổi kinh tế của Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua tuy đạtđược một số thành tựu, song diễn ra rất chậm chạp, kết quả còn hạn chế

Một sự thật đã đang và tiếp tục diễn ra, nền kinh tế thị trường với bản chất đadạng nó sẽ thúc đẩy xã hội phát triển đa dạng hơn, phong phú hơn Khu vực kinh tế

tư nhân, cần được mở đường phát triển, cơ chế cạnh tranh thị trường lành mạnh sẽkhuyến khích tất cả những ai có tài năng và tinh thần dám chịu rủi ro, mạo hiểm đểtạo nên sự nghiệp kinh doanh trong một môi trường kinh doanh mới với mức độcạnh tranh mang tầm khu vực và toàn cầu Tính đa dạng của quy mô và của loại

Ngày đăng: 12/08/2021, 13:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 1996
3. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
4. Trung tâm ngôn ngữ học, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. V.I.Lênin, toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Nhà XB: Nxb Tiến bộ Mátxcơva
1. C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1976 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w