1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của cơ quan công tố Nhật Bản trong tố tụng hình sự

18 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 35,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tố tụng hình sự Nhật Bản hiện nay được coi là mô hình tố tụng hình sự pha trộn trong đó mang nhiều đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng. Cơ quan công tố Nhật Bản được đặt trong Bộ Tư pháp Nhật Bản, thực hiện chức năng truy tố tội phạm. Để làm được việc này, cơ quan công tố Nhật Bản thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn nhất định được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự. Trong bài nhóm lần này, tổ 2 lớp K4L sẽ đi sâu vào tìm hiểu vai trò của cơ quan công tố Nhật Bản trong tố tụng hình sự, từ đó có cái nhìn cụ thể và sâu sắc hơn về vấn đề này.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Tố tụng hình sự Nhật Bản hiện nay được coi là mô hình tố tụng hình sự pha trộn trong đó mang nhiều đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng Cơ quan công tố Nhật Bản được đặt trong Bộ Tư pháp Nhật Bản, thực hiện chức năng truy tố tội phạm Để làm được việc này, cơ quan công tố Nhật Bản thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn nhất định được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự

Trong bài nhóm lần này, tổ 2 lớp K4L sẽ đi sâu vào tìm hiểu vai trò của cơ quan công tố Nhật Bản trong tố tụng hình sự, từ đó có cái nhìn cụ thể và sâu sắc hơn về vấn đề này

B NỘI DUNG

I Lý luận chung về cơ quan công tố Nhật Bản

1 Cơ cấu tổ chức

Với cơ cấu các cấp tương đương với hệ thống toà án, hệ thống các cấp của Viện công tố Nhật Bản như sau:

Đầu tiên, 438 Viện công tố khu vực Các Viện công tố này thực hành quyền công tố đối với các vụ án hình sự (và các việc khác) tại các Toà án giản lược (Summary Courts) Toà án giản lược là cấp toà có thẩm quyền xét xử đối với các vi phạm hình sự mà hình phạt cao nhất có thể áp dụng không quá 3 năm tù

Thứ hai, 50 Viện công tố cấp quận Theo phân bổ, mỗi tỉnh có một Viện công tố cấp quận nhưng riêng tỉnh Hokaido được tổ chức 4 cơ quan công tố tại: Hokaido, Kushiro, Asakhikawa, Hakodate Ngoài ra, có tổng cộng 203 văn phòng chi nhánh tại mỗi tòa án quận, nơi xử lý các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của tòa án quận và tòa án gia đình (Các văn phòng chi nhánh do bộ trưởng bộ tư pháp thành lập)

Thứ ba, 08 Viện công tố cấp cao tại Tokyo, Osaka, Nagoya, Hiroshima, Fukuoka, Sendai, Sapporo và Takamasu Ngoài ra, có tổng cộng 6 chi nhánh của Tòa án Tối cao, nơi xử lý các vụ án đã được kháng cáo trong các vụ án hình sự

Trang 2

do tòa án quận, tòa án gia đình và tòa án tóm tắt (Các văn phòng chi nhánh do

bộ trưởng bộ tư pháp thành lập)

Thứ tư, Viện công tố trung ương Nhật được cấu thành bởi 5 bộ phận, bao gồm:

- Văn phòng thư ký: Ban thư ký phụ trách công việc văn phòng liên quan đến giờ làm việc và sức khỏe của nhân viên, công việc văn phòng liên quan đến nhân sự và tiền lương, công việc văn phòng liên quan đến nhận, giao tài liệu, thực hiện ngân sách và quản lý hàng hoá, tài sản quốc gia, và công việc văn phòng liên quan đến nhận, giao hàng, lưu trữ tiền mặt, v.v

- Cục điều tra có thẩm quyền đối với các vụ án hình sự nói chung

- Vụ giám sát điều tra có chức năng nắm bắt và phân tích thông tin từ bên trong và bên ngoài về các hành vi bất hợp pháp và không phù hợp của nhân viên văn phòng công tố, điều tra các sự kiện khi cần thiết và thu thập thông tin về hoạt động chung của tổ chức công tố

- Vụ an ninh công cộng chịu trách nhiệm về các tội ác như khủng bố và du kích, tội phạm do tiền lương và tai nạn lao động, tội phạm của người nước ngoài như nhập cảnh bất hợp pháp, tội phạm của các tổ chức như gian lận có đường dây, tội phạm do các thành viên băng đảng như các vụ xung đột giữa các băng đảng và các chất kích thích, các tội phạm liên quan đến ma túy như mua, bán, sử dụng và sở hữu và các tội phạm liên quan đến môi trường như

đổ chất thải công nghiệp bất hợp pháp

- Vụ xét xử có thẩm quyền đối với phiên xét xử (vụ án đang chờ xử lý tại Tòa

án Tối cao) và chính quyền xét xử phúc thẩm, cũng như lập kế hoạch và soạn thảo các vấn đề liên quan đến sự tham gia của các nạn nhân trong phiên tòa và vụ truy tố cấp quốc gia

Các chức danh pháp lý trong Viện công tố Nhật Bản bao gồm:

- Tổng trưởng công tố giám sát các nhiệm vụ của Văn phòng Công tố viên Tối cao và cũng chỉ đạo và giám sát tất cả các quan chức của Văn phòng Công tố viên

Trang 3

- Phó tổng trưởng công tố viên, người thuộc Văn phòng Công tố viên Tối cao, hỗ trợ Tổng chưởng lý và thực hiện nhiệm vụ của mình khi Tổng chưởng lý gặp tai nạn hoặc khi Tổng chưởng lý vắng mặt

- Công tố viên trưởng điều hành các nhiệm vụ của Văn phòng Công tố viên cấp cao, chỉ đạo và giám sát các nhân viên của văn phòng công tố viên quận

và văn phòng công tố viên khu vực thuộc thẩm quyền của mình Công tố viên trưởng (công tố viên là người đứng đầu văn phòng công tố viên quận) quản lý các nhiệm vụ hành chính của văn phòng công tố viên quận và cũng chỉ đạo và giám sát các nhân viên của văn phòng công tố viên khu vực trong phạm vi quyền hạn của mình Công tố viên trưởng đứng đầu văn phòng công

tố viên khu vực quản lý nhiệm vụ hành chính và chỉ đạo nhân viên dưới quyền trong hoạt động của khu vực

- Công tố viên được giao cho Văn phòng Công tố viên Tối cao, Văn phòng Công tố viên Cao cấp, Văn phòng Công tố viên Địa phương, vv và thực hiện các nhiệm vụ như chỉ huy và giám sát việc thực hiện các cuộc điều tra, xét xử và xét xử

- Trợ lý công tố viên chịu trách nhiệm hỗ trợ công tố viên tiến hành điều tra, xét xử, và tiến hành và giám sát việc thực hiện các phiên tòa

2 Nguyên tắc hoạt động

Cơ quan công tố Nhật Bản được tổ chức và hoạt động dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc độc lập và nguyên tắc tập trung thống nhất

Thứ nhất, về nguyên tắc tập trung thống nhất, theo lý thuyết và trên

thực tế, các cấp được gắn với nhau bằng “nguyên tắc công tố thống nhất”, một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của tổ chức công tố tại Nhật Bản Cơ sở của nguyên tắc này là nhận thức “công tố là một tổ chức quốc gia, thống nhất và có thứ bậc, mà ở đó người cấp trên chỉ huy người cấp dưới

và tất cả công tố viên cùng nhau tạo thành một thể thống nhất” Nguyên tắc

này có nguồn căn là các quy định của Luật Cơ quan công tố, văn bản quy định thẩm quyền người đứng đầu cơ quan, người quản lý, thẩm quyền chỉ đạo thuộc cấp trong công việc, cụ thể như điều tra, truy tố và tranh tụng trước tòa Các Công tố viên khi ra một quyết định thường báo cáo lãnh đạo của cấp

Trang 4

mình Việc báo cáo này không làm mất đi tính độc lập trong việc ra quyết định của các Công tố viên mà nhằm đảm bảo thống nhất đường lối truy tố của toàn ngành đối với tội phạm

Thứ hai, theo nguyên tắc độc lập, các Công tố viên Nhật Bản có quyền

độc lập trong các hoạt động cụ thể của mình mà không bị ảnh hưởng bởi bất

kỳ sự tác động bên ngoài nào đối với việc truy tố hoặc không truy tố một tội phạm Ngoài ra sự độc lập này được bảo đảm dưới hai cách Thứ nhất, công

tố viên không bị sa thải, bị đình chỉ công tác, hoặc bị trừ lương, trừ một số trường hợp được quy định cụ thể theo luật và sau khi thông qua các thủ tục pháp lý cụ thể Thứ hai, Bộ trưởng Tư pháp có rất ít thẩm quyền chỉ đạo và quản lý công tố viên Mặc dù Bộ trưởng Tư pháp là người đứng đầu về hình thức của hệ thống công tố nhưng Luật Cơ quan công tố cũng quy định hạn chế khả năng Bộ trưởng kiểm soát công tố viên thông qua việc chỉ giao Bộ trưởng quyền chỉ đạo Tổng công tố trong “một số trường hợp cụ thể”

II Vai trò của cơ quan công tố trong tố tụng hình sự Nhật Bản

Luật tố tụng hình sự Nhật Bản phân chia quá trình tố tụng hình sự thành 4

giai đoạn: Giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử, giai đoạn truy tố và giai đoạn thi hành án Trong mỗi giai đoạn đều xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng,

nhiệm vụ của mỗi chủ thể tham gia tố tụng Giai đoạn điều tra có sự tham gia của ba cơ quan là cơ quan cảnh sát, Viện công tố và Tòa án Cơ quan Cảnh sát

và Viện công tố tiến hành điều tra phát hiện tội phạm; Tòa án ban hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam theo đề nghị của cơ quan điều tra, Viện công tố Giai đoạn truy tố gắn liền chỉ với vai trò cơ quan công tố và Công tố viên với quyền tùy nghi truy tố Giai đoạn xét xử được thực hiện theo nguyên tắc tranh tụng, có sự tham gia của Thẩm phán, Công tố viên, luật sư bào chữa Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để trình bày trước Tòa, tranh luận với luật sư và luật sư cũng chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để tranh luận với Công tố viên Những hoạt động tố tụng tại phiên tòa do Thẩm phán điều khiển Sau khi nghe các bên tranh luận, Thẩm phán tự mình đánh giá chứng cứ

và rút ra kết luận rồi tuyên án

Trang 5

1 Vai trò của cơ quan công tố trong giai đoạn điều tra

Trong bộ luật tố tụng hình sự của Nhật Bản không thành lập hệ thống cơ quan điều tra, mà giao hoạt động điều tra cho cơ quan cảnh sát và những cơ quan nhà nước khác Tại Nhật Bản có tới 14 cơ quan nhà nước khác được giao tiến hành hoạt động điều tra trong lĩnh vực quản lý của mình Do đó có thể sẽ xảy ra trường hợp tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan thì cơ quan công tố có quyền giải quyết các tranh chấp Nên trong giai đoạn điều tra thì

cơ quan công tố có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra

Đối với vụ án do cơ quan cảnh sát và các cơ quan khác tiến hành điều tra đều phải gửi cho Viện công tố để Công tố viên xem xét, điều tra, kết luận điều tra và ra quyết định truy tố Nghĩa là trong giai đoạn điều tra tất cả các vụ án do Cảnh sát điều tra tội phạm phải được chuyển tới Viện công tố, trừ vụ án ít nghiêm trọng Công tố viên chỉ huy cảnh sát điều tra bổ sung, hoặc tự tiến hành các hoạt động điều tra bổ sung, thu thập thêm chứng cứ, thẩm vấn bị can hoặc người tham gia tố tụng khác…

Tại điều 191 Luật TTHS thì cơ quan công tố có quyền điều tra bất kỳ vụ

án nào nếu thấy cần thiết Nhưng trên thực tiễn, công tố viên chỉ tiến hành thẩm vấn can phạm đang bị cơ quan cảnh sát điều tra để xác nhận việc có tội hay không của can phạm đó Trong một số trường hợp khác, nếu thấy cần thiết Công

tố viên sẽ quyết định trực tiếp tiến hành điều tra vụ án lại từ đầu Đối với những tội phạm và can phạm do Công tố viên khởi tố thì Công tố viên sẽ tiến hành điều tra

Như vậy, Công tố viên có thẩm quyền điều tra tất cả các vụ án hình sự một cách độc lập mà không cần có sự hỗ trợ của cảnh sát Trên thực tế, Công tố viên thường chỉ điều tra những vụ án có tính chất nghiêm trọng, liên quan đến tội phạm tham nhũng, tội phạm kinh tế lớn và phức tạp

Trang 6

Trường hợp Viện công tố trực tiếp điều tra, nếu thấy cần thiết, Công tổ viên ra lệnh cho cảnh sát và yêu cầu họ trợ giúp trong việc điều tra Cảnh sát

phải tuân theo sự chỉ đạo và chi huy của Công tố viên (Điều 193 BLTTHS).

Ở Nhật Bản thì chỉ có thẩm phán mới có thẩm quyền ra lệnh tạm giam, quyết định tạm giữ Tại điều 70 Luật TTHS quy định công tố viên sẽ thi hành lệnh tạm giữ, tạm giam của Tòa án hoặc công tố viên chỉ đạo cơ quan cảnh sát trong việc thi hành lệnh tạm giữ, tạm giam đó

Đối với trường hợp phạm tội quả tang thì có thể bắt mà không cần lệnh của Tòa và sau khi bắt, cơ quan có thẩm quyền điều tra phải giao người bị bắt cho Công tố viên trong thời hạn 48 giờ Công tố viên sẽ xem xét việc bắt giữ và toàn bộ hồ sơ để quyết định trả tự do cho người bị bắt hoặc đề nghị Thẩm phán tiếp tục ra lệnh tạm giữ Đây là trường hợp tạm giữ người phạm tội quả tang mà không cần lệnh của Tòa án Nhưng sau khi bắt người phạm tội quả tang thì cơ quan cảnh sát phải giao người đó cho công tố viên, để công tố viên xem xét quyết định trả tự do cho họ hoặc đề nghị Tòa án ra lệnh tạm giữ đối với họ

Công tố viên cũng có quyền bắt người bị tình nghi phạm tội và có quyền yêu cầu Thẩm phán ra quyết định tạm giữ đối với người bị bắt hoặc trả tự do cho

họ trong thời hạn 48 tiếng Điều đáng chú ý là khi người bị tình nghi bị bắt thì Công tố viên đó hoàn tất hồ sơ vụ án, việc điều tra đó kết thúc Đây là trường hợp công tố viên trực tiếp bắt người tình nghi khi mà chưa có lệnh tạm giữ của Tòa án Nên trong trường hợp này công tố viên sẽ trực tiếp điều tra vụ án

Tại quy định điều 87 Luật TTHS thì công tố viên có quyền yêu cầu Tòa

án hủy lệnh tạm giam, hay tại điều 92, 140 Luật TTHS thì công tố viên có quyền yều cầu Tòa án hủy bỏ bảo lãnh, trả lại đồ vật bị tạm giữ mà không cần phải giữ lại

Tại điều 108 Luật TTHS thì công tố viên trực tiếp thi hành hoặc chỉ đạo cảnh sát thi hành lệnh khám xét hoặc thu giữ

Quyền hạn của Công tố viên khi tiến hành các hoạt động điều tra cũng giống như quyền hạn của cảnh sát tư pháp, bao gồm quyền bắt giữ, khám xét và tịch biên, lưu trữ hồ sơ, kiểm tra các đối tượng, kiểm soát việc giao nhận và thu

Trang 7

chặn các thông tin đối với các tội phạm có tính chất nghiêm trọng; hỏi đối tượng tình nghi và nhân chứng; đề nghị các tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin Ngoài ra Công tố viên có các quyền hạn đặc biệt riêng gồm: Yêu cầu phê chuẩn việc tạm giam, lệnh thả đối tượng tạm giam, lấy lời khai của nhân chứng

Có thể hiểu việc điều tra ở Nhật bản được thực hiện bởi Công tố viên hoặc được tiến hành điều tra bởi những cơ quan khác nhưng đặt dưới sự chỉ đạo của

Cơ quan công tố

Viện công tố nói chung và công tố viên nói riêng ở Nhật Bản giữ 3 vai trò chủ yếu trong giai đoạn điều tra: người trực tiếp thực hiện hoạt động điều tra, người quản lý trong quá trình điều tra và người điều hành hoạt động điều tra Trong quan hệ với Cơ quan điều tra, Công tố viên vừa đóng vai trò là người chỉ đạo, giám sát điều tra, vừa phối hợp với Điều tra viên Công tố viên không những được quyền chỉ huy, chỉ thị đối với Điều tra viên mà còn có thẩm quyền yêu cầu xử lý kỷ luật Điều tra viên nếu Điều tra viên không tuân theo chỉ đạo của Công tố viên Đối với các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khác (Thanh tra viên Cục thuế nhà nước; cán bộ thuế của cơ quan hành chính tỉnh, thành phố; nhân viên Hải quan; nhân viên Uỷ ban theo dõi giao dịch chứng khoán; Uỷ ban giao dịch công chính…), Công tố viên phối hợp

và có trách nhiệm chỉ đạo, trợ giúp các cơ quan này tiến hành hoạt động điều tra, hoàn thiện hồ sơ chuyển Viện công tố truy tố

Tóm lại trong giai đoạn điều tra thì viện công tố có vai trò cụ thể như sau:

- Trực tiếp thi hành lệnh tạm giữ, tạm giam hoặc hoặc chỉ huy cảnh sát thi hành lệnh tạm giữ, tạm giam

- Trực tiếp tiến hành điều tra

- Yêu cầu Tòa án hủy bỏ lệnh tạm giam, tạm giữ

- Yêu cầu Tòa án hủy bỏ bảo lãnh

Trang 8

- Trực tiếp thi hành lệnh thu giữ, khám xét hoặc hoặc chỉ huy cảnh sát thi hành lệnh thu giữ, khám xét

- Yêu cầu cảnh sát hỗ trợ khi thi hành lệnh thu giữ, khám xét

- Yêu cầu Tòa án trả lại đồ vật bị tạm giữ mà không cần phải giữ lại, áp dụng biện pháp phạt tiền

- Trực tiếp tiến hành điều tra khi thấy cần thiết

- Chỉ huy cảnh sát trong hoạt động điều tra

- Yêu cầu cảnh sát hỗ trợ trong trường hợp trực tiếp điều tra

- Xem xét, đánh giá hoạt động điều tra của cảnh sát

- Tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ tội phạm và người phạm tội

2 Vai trò của cơ quan công tố trong giai đoạn truy tố

Quyền truy tố là độc quyền của Viện công tố được quy định tại Điều 247 Luật tố tụng hình sự Nhật Bản Theo đó, chỉ có công tố viên mới có quyền truy

tố người được cho là tội phạm trước Tòa án để xét xử Tùy từng trường hợp mà công tố viên có quyết định truy tố hay không, theo quy định tại Điều 248 thì việc quyết định truy tố phụ thuộc vào tính chất tội phạm, độ tuổi, môi trường, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết phạm tội, tình huống xảy ra sau khi có

sự kiện phạm tội Vì tính chất “độc quyền” như vậy thì pháp luật tố tụng Nhật Bản đã quy định thêm rằng: Trường hợp người khởi kiện hoặc tố giác tội phạm khi không đồng ý với quyết định không truy tố của Công tố viên thì có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét hoặc trong trường hợp người bị hại rút yêu cầu thì Tòa án vẫn có thể quyết định người yêu cầu phải bồi thường một phẩn hoặc toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tố tụng liên quan đến yêu cầu đó Như vậy thì đây là trường hợp ngoại lệ tương đương với quyền truy tố của công

Trang 9

tố viên mà Tòa án có thể giải quyết vụ án công bằng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện

Theo Điều 249 Luật TTHS Nhật Bản thì chỉ có người bị truy tố mới chịu hậu quả pháp lý và những người không bị truy tố thì sẽ không chịu bất kỳ ảnh hưởng gì Cho thấy vai trò của công tố viên trong việc truy tố người phạm tội phải chính xác và có căn cứ để tránh bỏ lọt tội phạm

Hoạt động truy tố người phạm tội ra trước Tòa án được thể hiện bằng những hoạt động tìm kiếm chứng cứ chứng minh tội phạm, đưa vụ án ra Tòa bằng bản cáo trạng, trình hồ sơ, tài liệu chứng cứ trước Tòa để buộc tội bị cáo Luật TTHS Nhật Bản không quy định về tiêu chuẩn thu thập chứng cứ để truy tố nhưng thường thì không một Công tố viên nào thực hiện việc truy tố bị can, truy

tố vụ án khi chưa thu thập đầy đủ chứng cứ Công tố viên chỉ truy tố bị can khi anh ta chắc chắn rằng người bị tình nghi sẽ bị Tòa án kết tội

Việc truy tố phải được quyết định bằng bản cáo trạng và gửi đến Tòa án Ở giai đoạn trước khi xét xử, Công tố viên chỉ gửi cáo trạng đến Tòa án mà không gửi hồ sơ Khi bắt đầu vào phiên tòa thì Công tố viên chuyển hồ sơ cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Quy định này nhằm bảo đảm cho Thẩm phán không bị thiên lệch trong việc nghiên cứu, điều tra chứng cứ để kết luận về vụ án

Như vậy, công tố viên đại diện cho cơ quan công tố thực hiện việc truy tố đối với người phạm tội nhằm kết tội họ trước Tòa án Qua đó, cơ quan công tố thể hiện những vai trò sau đây:

Thứ nhất, là cơ quan duy nhất được thực hiện quyền truy tố Không bất kỳ

cá nhân, tổ chức, cơ quan nào khác được thực hiện quyền này Khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong việc truy tố, buộc tội người phạm tội ra trước Tòa án Việc thực hiện truy tố chỉ khi đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người bị buộc tội tránh gây oan sai, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị truy tố

Thứ hai, ngoài khả năng “độc quyển truy tố” thì Công tố viên còn có quyền đình chỉ vụ án, không truy tố, thậm chí cả khi vụ án đó có đủ chứng cứ

Trang 10

đảm bảo chắc chắn rằng bị can có tội Việc quyết định truy tố hoặc không truy tố của Công tố viên trên cơ sở cân nhắc các yểu tố về tính chất tội phạm, độ tuổi, môi trường, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết phạm tội, tình huống xảy ra sau khi có sự kiện phạm tội Công tố viên có quyền quyết định truy

tố hoặc không truy tố theo nguyên tắc tùy nghi truy tố Ngay cả khi không có nghi ngờ gì về tội phạm thì Công tố viên vẫn có thể lựa chọn việc không truy tố (quy định này đối lập với nguyên tắc bắt buộc truy tố trong hệ tố tụng thẩm vấn)

Thứ ba, Công tố viên thường chỉ truy tố đối với cá nhân thực hiện những hành vi có tính chất nghiêm trọng, liên quan đến tội phạm tham nhũng, tội phạm kinh tế lớn và phức tạp Đưa ra khung hình phạt thích đáng với hậu quả do người phạm tội gây ra Cho thấy, cơ quan công tố có tầm quan trọng trong pháp luật tố tụng Nhật Bản, đề cao vai trò của cơ quan công tố trong việc phát hiện và trừng trị người phạm tội

Thứ tư, hoạt động truy tố một cách độc lập không chịu sự tác động từ các

cá nhân, cơ quan, tổ chức khác Tự mình chủ động, trực tiếp trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ thông qua tiến hành thẩm vấn người bị tình nghi và nhân chứng, có quyền chỉ đạo nhân viên cảnh sát trong việc điều tra Công tố viên phải đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của cảnh sát và tiến hành tố tụng công bằng bằng cách đưa ra những chỉ đạo tiến bộ, đồng thời ngăn ngừa cảnh sát có những hành vi vi phạm quyền con người trong quá trình điều tra

Thứ năm, việc truy tố nhằm giao phó cho cơ quan công tố việc duy trì an ninh của xã hội quốc gia, và trong việc thực thi quyền công tố, luôn hướng tới sự độc lập vô tư và công bằng nghiêm ngặt, và về cơ bản tôn trọng quyền con người trong quá trình xử lý các vụ án

3 Vai trò của cơ quan công tố trong giai đoạn xét xử

Giai đoạn xét xử được thực hiện theo nguyên tắc tranh tụng, có sự tham gia của Thẩm phán, Công tố viên, luật sư bào chữa Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để trình bày trước Tòa, tranh luận với luật sư và luật sư cũng chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để tranh luận với

Ngày đăng: 12/08/2021, 11:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w