Mỗi quốc gia khác nhau có cách thức tổ chức bộ máy nhà nước khác nhau, phụ thuộc các điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, hay truyền thống pháp luật, trong đó, có cách thức tổ chức hệ thống Viện công tố hay Viện kiểm sát khác nhau về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ… Tại nhiều quốc gia, Viện công tố trực thuộc Chính phủ hoặc chỉ là một bộ phận của Bộ Tư pháp, trong khi một số quốc vẫn duy trì vị trí của Viện kiểm sát như là một cơ quan phái sinh của Quốc Hội có vị trí tương tự như Chính phủ hay Tòa án. Pháp và Đức là hai quốc gia theo đuổi mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn, pháp luật TTHS của hai nước đều duy trì hệ thống Viện công tố thực hiện cả chức năng điều tra và kiểm sát hoạt động tư pháp. Nhìn chung, cách thức tổ chức, hoạt động, nhiệm vụ và chức năng của cơ quan công tố hai nước này tuy khác nhau nhưng đều giữ vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, nhóm 4 lớp K4L đã cùng nghiên cứu đề tài “Bình luận vai trò của cơ quan công tố trong TTHS Pháp và Đức”, từ đó, góp phần làm sáng tỏ những đặc trưng về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn cũng như rút ra được nhận định khách quan, chính xác nhất khi bình luận về vai trò của cơ quan công tố Pháp và Đức.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2cả chức năng điều tra và kiểm sát hoạt động tư pháp Nhìn chung, cách thức tổ chức,hoạt động, nhiệm vụ và chức năng của cơ quan công tố hai nước này tuy khác nhaunhưng đều giữ vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước Để hiểu rõ hơn về vấn đề
này, nhóm 4 lớp K4L đã cùng nghiên cứu đề tài “Bình luận vai trò của cơ quan công
tố trong TTHS Pháp và Đức”, từ đó, góp phần làm sáng tỏ những đặc trưng về cơ
cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn cũng như rút ra được nhận định kháchquan, chính xác nhất khi bình luận về vai trò của cơ quan công tố Pháp và Đức
B NỘI DUNG
I Lý luận chung
1 Các khái niệm
Vai trò là cụm từ chỉ tác dụng, chức năng của cái gì trong sự hoạt động, sự phát
triển chung của một tập thể, một tổ chức
Cơ quan công tố là cơ quan được giao chức năng đại diện quyền lực Nhà nước
để thực hiện việc buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án Ở các quốc gia khác nhau, chứcnăng và nhiệm vụ của cơ quan công tố sẽ khác nhau
Tố tụng hình sự là một lĩnh vực hay phạm vi mà ở đó các cơ quan, cá nhân
được pháp luật xác định cho những mức độ thẩm quyền, địa vị pháp lý tham gia vàoviệc đấu tranh với tội phạm bằng việc thực hiên chức năng, thẩm quyền, quyền vànghĩa vụ của mình thông quá một trình tự, thủ tục nhất định dựa trên pháp luật
Mô hình tố tụng hình sự theo cách hiểu chung nhất là sự khái quát cao những
đặc trưng cơ bản, phổ biến, phản ánh cách thức tổ chức hoạt động tố tụng hình sự,cách thức tìm đến sự thật khách quan của vụ án, cách thức tổ chức này quyết định địa
Trang 3vị tố tụng của các chủ thể trong quá trình thực hiện các chức năng cơ bản của tố tụnghình sự (chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử).
Như vậy vai trò của cơ quan công tố trong tố tụng hình sự là tác dụng của các
cơ quan được giao chức năng thực hiện quyền công tố trong việc đấu tranh chống lạitội phạm dựa trên những quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự
2 Vai trò của cơ quan công tố trong các mô hình TTHS trên thế giới
Đối với mô hình tố tụng hình sự tranh tụng: Mô hình tố tụng này đề cao và bảođảm sự bình đẳng tuyệt đối giữa bên buộc tội (cơ quan công tố) và bên bào chữa trongsuốt quá trình đi tìm sự thật vụ án Tố tụng tranh tụng cho rằng, sự thật sẽ được mở rathông qua sự tranh luận (cuộc tranh đấu) tự do và cởi mở giữa hai bên (một bên làNhà nước và bên kia là nguời bị buộc tội) có các dữ kiện chính xác về vụ việc Bênbuộc tội và bên bào chữa tham gia phiên tòa với tư cách là hai đối thủ có trách nhiệmchứng minh về sự có tội hay vô tội của bị cáo Mỗi bên đều bình đẳng với nhau trongviệc sử dụng các quy tắc tố tụng và các quyền năng tố tụng để có thể đạt được ưu thếcủa mình trước bên đối phương Chính vì vậy, vai trò của cơ quan công tố ở các nướctheo đuổi mô hình TTHS tranh tụng hầu như không được đề cao
Đối với mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn: Mô hình này huy động các cơ quan
tố tụng chuyên nghiệp của Nhà nước (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát/Viện công tố,Tòa án) vào quá trình đi tìm sự thật của vụ án, các cơ quan này cùng được giao tráchnhiệm chứng minh tội phạm Trình tự giải quyết vụ án hình sự được xem như là mộtcuộc điều tra, trong đó, người tiến hành điều tra là đại diện của quyền lực Nhà nước
và phương pháp điều tra là thẩm vấn Tòa án giải quyết vụ án dựa trên hồ sơ vụ án kếthợp với việc tiếp tục thẩm vấn tại phiên tòa.Viện công tố ở mô hình này có nhiềuquyền hạn hơn so với Viện công tố trong tố tụng tranh tụng Viện công tố tham giatích cực trong bước điều tra, là người chỉ đạo, giám sát hoạt động điều tra của cảnhsát Kết quả điều tra được lưu giữ và phản ánh trong hồ sơ vụ án Viện công tố làngười quyết định truy tố ra toà để xét xử Đối với các vụ án phức tạp thì sau giai đoạnđiều tra sơ bộ còn có giai đoạn thẩm cứu do một Thẩm phán điều tra đảm nhiệm Đây
là một Thẩm phán độc lập, không tham gia vào giai đoạn điều tra ban đầu và có nhiệm
vụ xác định sự thật Theo quy định của pháp luật TTHS, nhiệm vụ của Thẩm phánđiều tra là làm cho sự thật được thể hiện rõ Như vậy, các chứng cứ về vụ án (cả buộctội và gỡ tội) đều do một Thẩm phán điều tra độc lập và khách quan thu thập Tuy có
Trang 4nhiều quyền hạn hơn so với trong mô hình tố tụng tranh tụng nhưng sự tồn tại củaviện công tố lại mờ nhạt đi rất nhiều tại phiên toà trong khi vai trò của Thẩm phánđược đề cao và nắm giữ vai trò quyết định
Đối với mô hình tố tụng hình sự pha trộn: Trong xu hướng hội nhập quốc tế,việc tham khảo kinh nghiệm lập pháp của các nước khác để hoàn thiện hệ thống phápluật nói chung và hệ thống tư pháp của mình nói riêng luôn được các quốc gia quantâm Ngày nay nhiều nước thuộc hệ thống pháp luật lục địa với hệ tố tụng thẩm vấntruyền thống đã tiếp thu và kết hợp một số yếu tố hợp lý của tố tụng tranh tụng vào hệthống tố tụng của mình tạo thành hệ tố tụng pha trộn Mô hình tố tụng hình sự phatrộn là hình thức phản ánh sự giao thoa, tiếp thu những yếu tố của cả mô hình tố tụngtranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn Do đó, vai trò của Viện công tố còn phụthuộc vào điều kiện cụ thể về kinh tế, xã hội, truyền thống pháp lý của mỗi quốc gia
3 Quy định của pháp luật TTHS Pháp và Đức về cơ quan công tố
3.1 Quy định của pháp luật TTHS Pháp
- Vị trí của cơ quan công tố trong bộ máy nhà nước:
Về mặt hình thức và tổ chức, Viện công tố Pháp được đặt trong hệ thống Tòa
án nhưng độc lập và không phụ thuộc, không chịu sự chỉ đạo từ hệ thống cơ quan Tòa
án (do vậy nên còn được gọi là “Viện công tố bên cạnh Tòa án”) Tòa án không cóquyền can thiệp vào việc thực hiện quyền công tố Tòa án không có quyền từ chối xét
xử nếu Viện công tố đã chuyển hồ sơ sang Tòa; nếu thấy không đủ chứng cứ hoặcviệc truy tố không thỏa đáng, Tòa án cũng không thể trả lại hồ sơ Tòa án không thểchỉ đạo Viện công tố hoặc phê phán Viện công tố tại phiên tòa Đại diện Viện công tốtại phiên tòa được tự do đánh giá sự việc
Về mặt hoạt động và quản lý nhân sự, Viện công tố trực thuộc Bộ Tư pháp, do
Bộ Tư pháp quản lý nhưng mối quan hệ giữa Bộ Tư pháp với Viện công tố không phảimối quan hệ chỉ đạo trực tiếp, mà Bộ Tư pháp chỉ giám sát hoạt động của Viện công
tố Các công tố viên là công chức nhà nước nhưng không phụ thuộc vào cơ quan hànhpháp Điều đó có nghĩa là quan chức chính phủ không có quyền chỉ thị họ đối với cácyêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ Các Công tố viên hoạt động dưới sự kiểm tra của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp và được Bộ trưởng hướng dẫn chung về chính sách hình sự(Điều 30 BLTTHS Pháp) Đứng đầu Viện công tố là Bộ trưởng Bộ Tư pháp
Trang 5Như vậy, có thể thấy, mặc dù được ghi nhận trong Hiến pháp là một trongnhững cơ quan tư pháp - thực hiện việc bảo vệ pháp luật nhưng về vị trí trong bộ máynhà nước ở Pháp thì Viện công tố Pháp lại hoạt đông trực thuộc Bộ tư pháp - khốihành pháp Nói cách khác, Viện công tố Pháp thực hiện chức năng tư pháp (có vị tríđộc lập về hoạt động chuyên môn trong hệ thống các cơ quan nhà nước) nhưng lạichịu sự quản lý, giám sát và chỉ đạo của cơ quan hành pháp Việc tổ chức hoạt độngnhư vậy là để phù hợp với hình thức tổ chức nhà nước ở Pháp (cộng hòa lưỡng tính).
- Chức năng:
Điều 31 BLTTHS của Pháp đã quy định:“Viện công tố thực hiện quyền công tố
và yêu cầu áp dụng pháp luật” Như vậy, pháp luật Cộng hòa Pháp quy định cho Viện
công tố chức năng thực hành quyền công tố và yêu cầu áp dụng pháp luật trong quátrình giải quyết vụ án hình sự
+ Về chức năng thực hành quyền công tố: Hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều quy định cho cơ quan công tố thực hiện chức năng này và người thực hiện là cáccông tố viên/kiểm sát viên được phân công trong quá trình tiến hành tố tụng Ở Pháp,Công tố viên tham gia tố tụng với vai trò là bên chính tố, là người đại diện cho quyềnlợi xã hội, đại diện cho nhân dân thực hiện việc buộc tội người phạm tội
+ Về chức năng yêu cầu áp dụng pháp luật: song song với chức năng thực
hành quyền công tố thì ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã quy định cho cơ quancông tố (cơ quan kiểm sát) chức năng đi kèm như: kiểm sát việc áp dụng pháp luậtcủa cơ quan tiến hành tố tụng (Việt Nam, Trung Quốc, Nga…), kiểm sát chung (LiênBang Nga), chức năng tiến hành điều tra tội phạm (Đức)… Song một số nước cơ quancông tố chỉ thực hiện một chức năng duy nhất là truy tố như Mỹ, Anh BLTTHS Phápquy định cho Viện công tố chức năng yêu cầu áp dụng pháp luật, Điều 597 BLTTHS
Pháp quy định: “Nếu Tòa đại hình xử bị cáo trắng án theo quy định tại Điều 363 vì
cho rằng không có quy định của Pháp luật hình sự, nhưng trên thực tế Pháp luật có quy định thì Viện Công tố có quyền yêu cầu hủy bản án đó.”, hay như Điều 343
BLTTHS Pháp ghi nhận: “Trong mọi trường hợp, Tòa đại hình có thể chủ động hoặc
theo yêu cầu của Viện công tố hoặc của các bên đương sự hoãn xét xử vụ việc sang phiên tòa sau”, “Công tố viên có quyền yêu cầu Thẩm phán áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp giám sát tư pháp” (Điều 141, 197 BLTTHS Pháp); “Công tố viên có quyền yêu cầu áp giải nhân chứng tới trình diện” (Điều 109 BLTTHS Pháp)… Và
Trang 6còn rất nhiều điều luật khác ghi nhận về quyền yêu cầu áp dụng pháp luật của Việncông tố trong tố tụng hình sự Pháp Như vậy, yêu cầu áp dụng pháp luật có thể hiểu làviệc Viện công tố Pháp dựa vào thẩm quyền, vào quy định của pháp luật để yêu cầucác chủ thế trong quá trình tiến hành tố tụng (VD: cảnh sát điều tra, tòa án, thừa phátlại, các cơ quan, tổ chức hỗ trợ tư pháp…) thực hiện những hoạt động nhất định đượcquy định trong luật và thuộc phạm vi thẩm quyền của chủ thể đó để giải quyết các vấn
đề trong tố tụng hình sự mà Viện công tố cho là đúng đắn và hợp lý Để yêu cầu ápdụng pháp luật đúng đắn thì Viện công tố cũng phải qua quá trình kiểm tra, giám sát(đối với cảnh sát điều tra), theo dõi thì mới thực hiện được việc yêu cầu đó Cho nên,bản chất của chức năng yêu cầu áp dụng pháp luật cũng chính là xuất phát từ hoạtđộng kiểm sát việc tuân theo pháp luật mà thôi (khác biệt trong cách hiểu các chứcnăng và cách thể hiện)
- Nhiệm vụ:
Cơ quan công tố Pháp được coi là một trong những cơ quan công tố có thẩmquyền lớn và rộng nhất trong hệ thống các cơ quan công tố, kiểm sát trên thế giới(gồm khởi tố các vụ án hình sự và một số vụ án dân sự, chỉ đạo hoạt động điều tra củaCảnh sát tư pháp, tiến hành điều tra trong những trường hợp nhất định, thực hiện việcbuộc tội trước Tòa án và đảm bảo, kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòaán) Cơ quan công tố của Pháp không chỉ là cơ quan truy tố tội phạm mà còn được coi
là cơ quan có tư cách đại diện cho toàn xã hội để bảo vệ những lợi ích chung và đảm
bảo sự tuân thủ pháp luật Điều 66 Hiến pháp 1958 của Pháp đã khẳng định: “Một
người không thể bị bắt giữ khi không có căn cứ pháp luật; Cơ quan tư pháp, với tư cách là người bảo vệ cho tự do cá nhân, đảm bảo sự tuân thủ nguyên tắc này theo các điều kiện do pháp luật quy định” Bên cạnh đó, BLTTHS Pháp cũng đã đặt ra những
nguyên tắc chung trong quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan tư pháp như: “Tố
tụng hình sự phải công bằng và tranh tụng, duy trì sự cân bằng về quyền giữa các bên…Bất kỳ ai bị nghi ngờ hoặc truy tố được suy đoán vô tội chừng nào chưa chứng minh được tội của họ Việc vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội bị cấm, và phải bị bồi thường, trừng phạt trong các trường hợp luật định….” (Điều 1P phần Điều khoản sơ bộ) Nhiệm vụ của Viện công tố là đảm bảo những nguyên tắc trên được duy trì trong
suốt quá trình tố tụng Như vậy, nhiệm vụ chung của cơ quan công tố - Viện công tốPháp (và cũng như ở nhiều quốc gia khác trên thế giới) là cơ quan bảo vệ pháp luật và
Trang 7quyền con người, quyền công dân ở Pháp, đảm bảo cho pháp luật được chấp hànhnghiêm chỉnh và thống nhất (thông qua việc đảm bảo các nguyên tắc trong tiến hành
tố tụng hình sự) Đảm bảo cho việc bắt giữ, điều tra, xét xử tội phạm đúng pháp luật;truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
- Cơ cấu tổ chức của cơ quan công tố Pháp:
Trong tố tụng hình sự, Viện công tố Pháp là cơ quan trực thuộc Tòa án Phápnhưng không lệ thuộc vào hệ thống Tòa án Các cơ quan công tố được đặt song songvới từng Tòa án Cho nên, Luật tổ chức Tòa án Pháp đã quy định hệ thống cơ quancông tố Pháp (Chương II), bao gồm: Viện công tố đặt cạnh Tòa phá án; Viện công tốbên cạnh Tòa phúc thẩm; Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng ỞPháp hiện nay có 33 Viện công tố bên cạnh Tòa phúc thẩm và 181 Viện công tố bêncạnh Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng Các chức danh pháp lý trong Viện công tố Pháp,gồm: đứng đầu là Viện trưởng Viện công tố Viện trưởng là người có quyền quyết định
tổ chức, hoạt động của Viện công tố và chịu trách nhiệm về các hành vi và quyết định
tố tụng; Phó Viện trưởng Viện công tố; Công tố viên và Trợ lý Công tố viên
- Nguyên tắc hoạt động:
Nguyên tắc thứ bậc: Theo quy định tại Điều R311-37 Nghị định số 2003-542
ngày 23/6/2003, Điều 9 Công báo ngày 25/6/2003 có hiệu lực ngày 15/9/2003 thì Việncông tố có một tổ chức thứ bậc rất chặt chẽ Mỗi thành viên của Viện công tố đều phảituân lệnh cấp trên trực tiếp Các Viện công tố cấp dưới thuộc sự chỉ đạo và giám sátcủa Viện công tố cấp trên Bộ trưởng Bộ Tư pháp không trực tiếp thực hiện chức năngcông tố, nhưng có thẩm quyền lãnh đạo hoạt động công tố, tiến hành các chính sáchtruy tố được Chính phủ quyết định (Điều 32 BLTTHS Pháp), đề nghị Tổng thống bổnhiệm, miễn nhiệm các công tố viên…
Nguyên tắc thống nhất: Hệ thống cơ quan công tố là một thể thống nhất, đứng
đầu các Viện công tố là Viện trưởng Viện công tố Viện trưởng là người có quyềnquyết định tổ chức, hoạt động của Viện công tố và chịu trách nhiệm về các hành vi và
quyết định tố tụng Nguyên tắc này được ghi nhân tại Điều 35 BLTTHS Pháp:“Viện
trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa phúc thẩm chịu trách nhiệm giám sát việc áp dụng pháp luật hình sự trong toàn bộ địa bàn theo thẩm quyền của mình Vì mục đích này, hàng tháng Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm phải gửi Viện trưởng Viện
Trang 8công tố bên cạnh Tòa phúc thẩm báo cáo tình hình giải quyết các vụ việc trong địa bàn theo thẩm quyền của mình…” Có thể thấy, Viện công tố phúc thẩm không trực
tiếp can thiệp vào hoạt động của Viện công tố sơ thẩm (tuân thủ nguyên tắc độc lập)
mà chỉ hướng dẫn nghiệp vụ và giám sát việc chấp hành pháp luật của Viện công tố sơthẩm để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng luật
Nguyên tắc độc lập: Nguyên tắc này được hiểu theo hai khía cạnh, đó là: (i)
độc lập đối với hệ thống Tòa án Mặc dù được đặt bên cạnh cơ quan Tòa án nhưngViện công tố Pháp là một cơ quan độc lập trong tổ chức và hoạt động của mình Tòa
án Pháp không có quyền can thiệp, chi phối đến hoạt động thực hiện chức năng củaViện công tố Theo các quy định của Luật tố tụng, Tòa án buộc phải xét xử khi Việncông tố đã chuyển hồ sơ sang Tòa (ii) độc lập trong hoạt động (trong một số trườnghợp) Đây còn có thể được xem là trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc thứ bậc ỚPháp, thẩm phán công tố phải tuân thủ chính sách hình sự, tức là các thẩm phán công
tố phái tuẩn thủ và thực hiện chính sách hình sự do Chính phủ quy định Các thẩmphán công tố chỉ độc lập khi đưa ra quyết định cho từng vụ việc cụ thể trên cơ sở làtính đặc thù của vụ việc đó
3.2 Quy định của pháp luật TTHS Đức
- Vị trí của cơ quan công tố trong bộ máy nhà nước
Thứ nhất, tính hành pháp của cơ quan Công tố được xác định bởi nguyên tắclãnh đạo, chỉ đạo trong các ngành Đức là một nhà nước liên bang, do đó tổ chức bộmáy nhà nước nói chung và Viện công tố nói riêng cũng khác so với nhà nước đơnnhất Hệ thống công tố của Đức được tổ chức không theo địa giới hành chính mà được
tổ chức theo vùng và khu vực Một vùng có thể gồm một tỉnh hoạt nhiều tỉnh, một khuvực có thể là một huyện hoặc nhiều huyện (quận) Tuỳ theo số lượng công việc cụ thểcủa từng nơi mà Bộ trưởng Bộ tư pháp bố trí Viện công tố cho phù hợp Tuy về mặtnguyên tắc thì luật quy định, Viện công tố được tổ chức song song với Toà án, ở đâu
có Toà án thì ở đấy có Viện công tố, nhưng trong thực tiễn, Viện công tố và Toà ánđược tổ chức không thống nhất ở cấp bang Về góc độ tổ chức và quản lý hành chính
tư pháp thì Viện Công tố và Toà án đều do Bộ trưởng Bộ tư pháp nắm quyền Tuynhiên, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ tư pháp chỉ dừng lại đối với Tổng công
tố trưởng Và sự chỉ lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ tư pháp cũng chỉ mang tính
Trang 9chất chỉ đạo chung, mang tính chất quản lý hành chính tư pháp, không can thiệp vàocông việc chuyên môn của Viện công tố Bộ trưởng Bộ tư pháp không có quyền chỉđạo trực tiếp đối với công tố viên cấp dưới Viện công tố được tổ chức theo ngànhdọc, độc lập với cơ quan chính quyền với nguyên tắc hoạt động là tập trung thốngnhất, công tố viên cấp dưới chịu sự chỉ đạo của CTV cấp trên và thống nhất chịu sựchỉ đạo của Tổng công tố trưởng của bang Do đó, tính hành pháp của Viện công tốđược xác định bởi nguyên tắc lãnh đạo, chỉ đạo trong các ngành
Thứ hai, tính chất tư pháp của Viện công tố Toà án là cơ quan xét xử duy nhất,
là cơ quan cuối cùng có thẩm quyền kết thúc toàn bộ quá trình truy cứu trách nhiệmhình sự một người bị tình nghi là đã thực hiện hành vi phạm tội bằng một bản án hoặcquyết định có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình
sự, phụ thuộc vào tình hình cụ thể của từng vụ án, thì Viện công tố cũng có quyền kếtthúc quá trình tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị tình nghi phạmtội ngay ở giai đoạn truy tố, như ra quyết định đình chỉ vụ án ngay cả trong trườnghợp đã chứng minh được tội trạng của người bị tình nghi phạm tội Ở Đức, cơ quancảnh sát không có quyền kết thúc tố tụng, không có quyền ra quyết định đình chỉ hoặctạm đình chỉ điều tra Tất cả những vụ án mà cơ quan cảnh sát đã thụ lý điều tra, saukhi kết thúc việc điều tra phải chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Viện công tố để xemxét quyết định việc truy tố hay đình chỉ vụ án Xét từ góc độ đó thì Viện công tố mangtính chất của một cơ quan tư pháp xét xử
- Chức năng, nhiệm vụ:
Trong giai đoạn điều tra: Cơ quan Công tố có thể yêu cầu thông tin từ tất cả các
cơ quan nhà nước và có thể thực hiện tất cả các hoạt động điều tra, trực tiếp hoặcthông qua các cấp có thẩm quyền và nhân viên trong lực lượng cảnh sát Cấp có thẩmquyền và nhân viên trong lực lượng cảnh sát có nghĩa vụ phải tuân thủ những yêu cầuhay mệnh lệnh của Cơ quan Công tố (Điều 161 BLTTHS Đức); Buộc nhân chứng vàcác chuyên gia phải có mặt tại cơ quan công tố để cung cấp lời khai hoặc nêu ý kiến
về vấn đề có liên quan (Điều 161a BLTTHS Đức); Cơ quan công tố có quyền kiểm tracác giấy tờ của người bị khám xét (Điều 110 BLTTHS Đức); Cơ quan điều tra chỉ sửdụng điều tra trinh sát khi có sự đồng ý của cơ quan công tố (Điều 110b BLTTHSĐức); Khi có được sự đồng thuận của Tòa án, cơ quan công tố có quyền ra lệnh thugiữ/tịch thu tài sản (Điều 110e BLTTHS Đức) hoặc áp dụng hình phạt tiền (Điều 110o
Trang 10BLTTHS Đức); Cơ quan công tố có thể ra lệnh trả tự do cho bị can (Điều 120, 125BLTTHS Đức); Cơ quan công tố có quyền đề nghị đình chỉ chuyển vụ án sang choTòa án có thẩm quyền trong trường hợp Tòa án xét xử ở một nơi và việc tạm giữ đượcthi hành ở nơi khác (Điều 126 BLTTHS Đức); Cơ quan công tố có quyền thực hiệnviệc tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp (Điều 127 BLTTHS Đức); Cơ quan công tố
có thể ra lệnh truy nã nếu bị can bỏ trốn (Điều 131 BLTTHS Đức); Cơ quan công tố
có quyền miễn truy tố trong một số trường hợp sau: tội ít nghiêm trọng (Điều 153BLTTHS Đức); tội phạm thực hiện ở nước ngoài (Điều 153c BLTTHS Đức); vì lý dochính trị (Điều 153d BLTTHS Đức); tội phạm trong lĩnh vực an ninh quốc gia (Điều153e BLTTHS Đức); Cơ quan công tố có quyền đề nghị Tòa án đình chỉ hoặc tạmđình chỉ vụ án (Điều 154 BLTTHS Đức);
Trong giai đoạn xét xử: Công tố viên được phép tham gia trong suốt quá trìnhthẩm vấn bị cáo, người làm chứng, người giám định (Điều 168c BLTTHS Đức); Công
tố viên có mặt tại phiên tòa khi việc thẩm tra bắt đầu (Điều 168d BLTTHS Đức) vàphiên tòa chính thức được thực hiện liên tục với sự có mặt của công tố viên (Điều 226BLTTHS Đức) Số lượng công tố viên tham gia phiên tòa có thể là một hoặc nhiều(Điều 227 BLTTHS Đức); Công tố viên trình bày bản cáo trạng và đưa ra những đánhgiá pháp lý mà quyết định mở phiên tòa chính thức đã dựa vào đó (Điều 243 BLTTHSĐức) Bản cáo trạng sẽ phải chỉ rõ bị cáo bị buộc tội gì, hành vi phạm tội mà bị cáo bịtruy tố, thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, các yếu tố cấu thành tội phạm theo quiđịnh của pháp luật và điều khoản của Bộ luật hình được áp dụng Thêm vào đó cácchứng cứ, Tòa án mà trước đó phiên tòa chính thức được thực hiện, và người bào chữacho bị cáo phải được chỉ rõ trong bản cáo trạng (Điều 200 BLTTHS Đức); Công tốviên có quyền thể hiện quan điểm tranh luận của mình (Điều 258 BLTTHS Đức);Công tố viên có quyền kháng nghị phúc thẩm;
- Cơ cấu tổ chức:
Cơ quan công tố Đức được tổ chức thành hai hệ thống: cơ quan công tố liênbang và cơ quan công tố tại các bang Hệ thống cơ quan công tố được tổ chức songsong với hệ thống tòa án Hệ thống các cơ quan công tố được tổ chức ở 3 cấp vàkhông tương thích với hệ thống Tòa án tư pháp, gồm Cơ quan Công tố Liên bang, Cơquan Công tố Bang và Cơ quan Công tố Khu vực Lưu ý là ngoài Cơ quan công tốBang thực hành quyền công tố tại Tòa án cấp cao của Bang, còn lại cơ quan công tố
Trang 11Liên bang và cơ quan công tố Khu vực đều thực hành quyền công tố ở 2 cấp Tòa án.
Cụ thể là, cơ quan Công tố Khu vực thực hành quyền công tố tại Toà án Khu vực vàToà án Cơ sở Còn cơ quan Công tố Liên bang: chỉ có một cơ quan công tố là Vănphòng công tố liên bang do Tổng công tố liên bang đứng đầu, thực hành quyền công
tố tại Toà án Tư pháp Liên bang và tại Toà án Cấp cao của Bang đối với các vụ ánchống Nhà nước như tội gián điệp, khủng bố Ngoài ra, Cơ quan Công tố Liên bangcòn có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị Toà án Tư pháp liên bang xét xử giám đốc thẩm;xem xét đề nghị Tòa án tư pháp liên bang chấp nhận hay không chấp nhận kháng nghịcủa Cơ quan Công tố bang tại Toà án Tư pháp Liên bang
Trong hệ thống Cơ quan Công tố Đức có một số cơ quan công tố được tổ chứctheo lĩnh vực hoạt động chuyên sâu, như có các cơ quan công tố chuyên điều tra, truy
tố các tội phạm liên quan đến phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tội phạm có tổ chức, tộiphạm kinh tế, tội phạm tham nhũng, tội phạm ma túy, tội phạm do thanh, thiếu niênthực hiện, tội phạm giao thông, tội phạm môi trường, tội phạm liên quan đến xuất,nhập cảnh, tội phạm thuộc lĩnh vực công nghệ, tin học Ví dụ, tại Bang Thuringen
có cơ quan Tổng Công tố bang, dưới cơ quan Tổng Công tố bang có 4 cơ quan Công
tố khu vực tương ứng với 4 Tòa án khu vực Mỗi cơ quan công tố khu vực chuyênđiều tra, truy tố các vụ án về những loại tội phạm nhất định trên toàn bang Bên cạnh
đó còn điều tra, truy tố các tội phạm thông thường khác Cơ quan công tố Khu vựcErfurt chuyên điều tra, truy tố các tội phạm về tham nhũng Cơ quan công tố Khu vựcGera chuyên điều tra, truy tố các tội phạm có tổ chức Cơ quan công tố Khu vựcMuhlhausen chuyên điều tra, truy tố các tội phạm kinh tế Cơ quan công tố Khu vựcMeiningen chuyên điều tra, truy tố các tội phạm liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm y tế.Thẩm quyền truy tố đối với Cơ quan công tố khu vực chuyên sâu thực hiện theonguyên tắc là tội phạm xảy ra ở đâu thì truy tố tại Toà án khu vực đó Ví dụ, theo sựphân công, Công tố viên ở khu vực Gera điều tra các tội phạm về tham nhũng ngay cảkhi tội phạm được thực hiện ở Erfurt và sau đó sẽ truy tố và thực hành quyền công tốtại Tòa án Erfurt Tuy nhiên, riêng đối với các tội phạm về kinh tế thì dù tội phạm xảy
ra ở đâu của Bang thì Cơ quan công tố cũng phải truy tố và thực hành quyền công tốtại Toà án Khu vực Muhlhausen
- Nguyên tắc hoạt động:
Trang 12Viện công tố hoạt động độc lập với Toà án, với các cơ quan chính quyền ở địaphương và được tổ chức theo nguyên tắc tập trung lãnh đạo trong ngành Tổng công
tố trưởng của bang có toàn quyền lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, công tố viên các vùng vàkhu vực Hệ thống Cơ quan Công tố của Đức cũng giống như hệ thống Tòa án Đứcthuộc quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp Đức nhưng thực hiện chức năng,nhiệm vụ một cách độc lập Cơ quan Công tố có chức năng điều tra và truy tố và hoạtđộng theo các nguyên tắc sau: (1) Nguyên tắc hợp pháp: Cơ quan công tố có thẩmquyền thực hiện quyền công tố Ngoài những trường hợp pháp luật có quy định khác,
cơ quan công tố có nghĩa vụ phải truy tố mọi hành vi phạm tội nếu có đủ căn cứ(Khoản 2, Điều 152 BLTTHS) (2) Nguyên tắc cơ hội (nguyên tắc tuỳ nghi): Đối vớicác tội ít nghiêm trọng, cơ quan công tố có thể miễn truy tố nếu thấy tính chất củahành vi phạm tội là ít nghiêm trọng và lợi ích của xã hội không đòi hỏi phải truy tố(khoản 1 Điều 153 BLTTHS)
II Bình luận vai trò của cơ quan công tố trong TTHS Pháp và Đức
1 Bình luận vai trò của cơ quan công tố trong TTHS của Pháp
Thứ nhất, xét trên phương diện quy trình giải quyết một VAHS:
Cộng hòa Pháp là quốc gia đại diện, điển hình cho mô hình tố tụng thẩm vấn(xuất hiện chủ yếu ở những nước theo hệ thống pháp luật Civil law) Ở đó Viện công
tố cùng các cơ quan tiến hành tố tụng khác như Tòa án, Cảnh sát có chức năng chứngminh và xử lý tội phạm Vai trò của Công tố viên lớn hơn so với truyền thống luật án
lệ theo mô hình tố tụng tranh tụng Ở mỗi giai đoạn của quá trình tố tụng, vai trò nàylại được thể hiện khác nhau và được thể hiện thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của Việncông tố trong từng giai đoạn tiến hành giải quyết vụ án hình sự, cụ thể:
- Giai đoạn điều tra và truy tố - Công tố viên có vị trí trung tâm trong giai đoạn điều tra và truy tố:
+ Trong khởi tố - điều tra: Công tố viên đại diện cho Viện công tố có quyền
khởi tố vụ án, kiểm tra và chỉ đạo hoạt động điều tra, trực tiếp tiến hành một số hoạt
động điều tra Điều 40 BLTTHS Pháp quy định: “Công tố viên Tòa sơ thẩm tiếp nhận
khiếu kiện và tố cáo rồi quyết định việc xử lý; Tất cả các nhà chức trách, cán bộ hoặc công chức, trong khi thực hiện nhiệm vụ, biết được sự tồn tại của một tội nghiêm
Trang 13trọng hoặc ít nghiêm trọng có nghĩa vụ thông báo ngay cho công tố viên trưởng cấp
sơ thẩm về tội phạm và chuyển cho công tố viên này thông tin liên quan, báo cáo hoặc tài liệu chính thức” Không chỉ các cán bộ, công chức khi phát hiện tội phạm
phải thông báo cho cơ quan công tố mà các sỹ quan cảnh sát khi phát hiện tội phạm
cũng phải thực hiện nhiệm vụ này Điều 19 BLTTHS Pháp quy định: “Sỹ quan cảnh
sát tư pháp phải thông báo ngay cho Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm những tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng và tội vi cảnh mà họ phát hiện được Sau khi hoàn tất công việc, phải gửi ngay cho Viện trưởng Công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm bản chính và bản sao có chứng thực tất cả các biên bản mà họ đã lập cũng như những văn bản và tài liệu liên quan Nhưng đồ vật kê biên thuộc quyền xem xét của Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm…” Sau khi tiếp nhận, Cơ quan công
tố giải quyết tin báo, tố giác tội phạm theo cách thức quy định tại Điều 40.2 BLTTHSPháp
Như vậy, Công tố viên Pháp thực hành quyền công tố ngay từ giai đoạn tiếpnhận, thụ lý và giải quyết các tin báo, tố giác tội phạm Sau khi nhận được tin báo tốgiác tội phạm, Công tố viên tiến hành chỉ đạo xác minh, tự xác minh các tình tiết đểquyết định có khởi tố hay không Các hoạt động điều tra được khởi động khi có quyếtđịnh khởi tố Đây là một trong những điểm khác biệt về vai trò của cơ quan công tốPháp so với những quốc gia khác, đặc biệt là khi so sánh với Việt Nam Cơ quan công
tố giám sát, chỉ đạo điều tra, đề ra yêu cầu điều tra và trong một số trường hợp cóquyền tự điều tra Theo Điều 12 BLTTHS: Các sỹ quan, công chức và nhân viên cảnhsát tư pháp thực hiện nhiệm vụ cảnh sát tư pháp dưới sự chỉ đạo của Viện trưởng Việncông tố bên cạnh Tòa sơ thẩm Ở cấp phúc thẩm, Viện trưởng Viện công tố bên cạnhTòa phúc thẩm chịu trách nhiệm giám sát việc áp dụng pháp luật hình sự trong toàn
bộ địa bàn theo thẩm quyền của mình và vì vậy: “Trong phạm vi thẩm quyền của mỗi
Tòa phúc thẩm, cảnh sát tư pháp chịu sự giám sát của Viện công tố bên cạnh Tòa phúc thẩm và sự kiểm tra của Tòa điều tra theo quy định…” 1, và việc Thẩm phánđiều tra chỉ có thể điều tra phù hợp với đề nghị của Viện trưởng Viện công tố (Điều 80BLTTHS Pháp) Công tố viên đưa ra các hướng dẫn, được thông báo về tiến độ điềutra và ra các lệnh để Cảnh sát thực hiện hoạt động điều tra Công tố viên theo dõi, bám
1 Điều 13 BLTTHS Pháp đã được sửa đổi bởi Luật số 2000-516 ngày 15 tháng 6 năm 2000 Điều 83 Công báo ngày 16 tháng 6 năm 2000 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2001