BÀI TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ PHÂN PHÁI PHẬT GIÁO BÀI TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ PHÂN PHÁI PHẬT GIÁO BÀI TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ PHÂN PHÁI PHẬT GIÁO BÀI TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ PHÂN PHÁI PHẬT GIÁO BÀI TIỂU LUẬN VẤN ĐỀ KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ PHÂN PHÁI PHẬT GIÁO
Trang 1GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI
Trang 2Bậc Cổ Đức có dạy rằng:
“Muốn sang thì bắc cầu kiềuMuốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”
Thật vậy, chúng con tuy rằng sinh ra và lớn lên là nhờ công ơn sinh thành
và dưỡng dục của cha và mẹ Nhưng hơn cả là sự dạy dỗ, bảo ban của thầy, cô
mà nên người đức độ, lễ nghĩa May mắn thay chúng con được sinh ra trên cõiđời này, nhờ hồng ân Tam Bảo gia trì mà được nương bóng cửa từ bi, sống trongPhật pháp Lại nhờ công đức của Thầy Tổ cho đi học, Chư Tôn Đức tạo điềukiện mà chúng con được ngồi trên ghế Phật đường Học viện để mài dũa thanhgươm “Duy Tuệ”, có thêm những tư lương trên con đường tìm cầu giải thoát.Lời Chư Tôn Đức luôn dạy rằng: “Sống sao cho tốt đời đẹp đạo, mangnhững kiến thức đã học được trên ghế nhà trường, khi trở về trụ xứ hoằng dươngPhật pháp làm lợi lạc quần sinh”, chúng con luôn luôn khắc ghi trong lòng, nhưmột tiếng chuông cảnh tỉnh thân tâm tu học Chúng con hiểu rằng: “ Học nhưchèo thuyền ngược nước, không vững tay lái sẽ bị lùi lại phía sau”, cho nên phải
cố gắng tinh tiến tu học, trang bị cho mình những hành trang cần thiết trên giảngđường Phật học để bước vào dòng đời “Hoằng pháp độ sinh”
Trên bước đường cầu đạo, thời gian chúng con ngồi trên ghế Phật đường,chúng con không chỉ tích lũy được cho mình những tri thức làm người, mà cònđược thân thừa từ Chư Tôn Đức những kinh nghiệm trong việc hoằng pháp lợisinh, những giáo lý thực tiễn đi vào đời sống hằng ngày chứ không chỉ vỏn vẹntrên những trang giấy và lý thuyết Đó là những nguồn suối pháp dạt dào, chúngcon được ân triêm, tắm mình trong biền Phật pháp
Những học đồ chúng con không biết nói gì hơn, chỉ biết đê đầu thành kínhtri ân công đức của Chư Tôn Thiền Đức đã tận tình truyền trao Cầu nguyệnhồng ân Tam Bảo gia hộ cho Quý Ngài “Pháp thể khinh an, tuệ đăng viễn chiếu,mãi là thạch trụ tùng lâm, dẫn dắt chúng con trên bước đường tu học”
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG SƯ HƯỚNG DẪN
Trang 4
Con xin cam đoan bài Tiểu Luận này là do tự bản thân thực hiện và có sự
hỗ trợ từ Giảng sư hướng dẫn Các dữ liệu nthoong tin sử dụng trong bài viết cónguồn trích dẫn rõ ràng
Con xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Ni sinh thực hiệnThích Hạnh Lệ
Trang 5MỤC LỤC
A DẪN NHẬP 1
B NỘI DUNG 2
I Bước đầu của sự phân phái 2
1 Đề-bà-đạt-đa 2
2 Phân chia Tăng đoàn 3
II Sự phân phái sau khi đức Phật nhập diệt 4
1 Mầm mống trong kết tập kinh điển lần thứ nhất 4
2 Theo Nam truyền 7
3 Theo Bắc truyền 10
C KẾT BÀI 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 6A DẪN NHẬP
Cách đây hơn hai nghìn năm trăm năm tại đất nước Ấn Độ xuất hiện một bậc
vĩ nhân, Ngài là người đã mở ra cho nhân loại một ánh sáng mới, một bước tiếnmới trên con đường giải thoát giác ngộ, không ai khác đó là đức Phật Thích CaMâu Ni Từ khi xuất gia cho đến khi tìm thấy chân lý của sự sống, Ngài đã điqua nhiều con đường, tìm học với nhiều vị thầy khác nhau nhưng tất cả khôngthể trả lời cho những câu hỏi mà người đã đặt ra Cho đến khi Ngài ngồi suy tưthiền định dưới cội cây bồ đề suốt 49 ngày đêm và đã đạt ngộ được giáo lýduyên khởi Từ đó, người mang những giáo lý mà bản thân tự chứng lấy đihoằng hoá khắp nơi, độ cho rất nhiều đệ tử Thời gian ấy trải qua 45 năm thuyếtpháp độ sinh, người giảng giải tuỳ thuộc vào căn cơ và trình độ của chúng sinh
có sai khác mà Ngài lập nhiều phương tiện dẫn dắt Nhưng tất cả khôngngoài sự thật của khổ và con đường diệt khổ
Tuy vậy, nhưng vào thời bấy giờ, khi đi hoằng hoá Ngài chỉ là dùng miệng
mà truyền đạt lại và chúng đệ tử cũng chỉ là truyền khẩu lại chứ chưa có bản ghichép nào cả.Mọi tư tưởng, triết lý, quan điểm hay những học thuyết mà đức Phật
để lại trải qua thời gian, giai đoạn truyền thừa, đều có một vài sự thay đổi Cũngchính vì vậy mà dần dần xuất hiện những sự sai biệt về quan điểm cùng nhữngkiến giải khác nhau hay do hoàn cảnh, căn cơ khác nhau nên dẫn đến việc rạnnứt trong Tăng đoàn Do vì mỗi người có một cách hiểu và lý giải khác nhau nên
đã hình thành nên sự phân chia bộ phái trong Phật giáo
Chính vì lẽ đó mà ngày hôm nay chúng ta cùng nhau đi tìm nguyên nhân dẫnđến việc phân phái Phật giáo Tuy nhiên, vì phạm vi đề tài không cho phép nênngười viết chỉ trình bày những mặt chính yếu
Trang 7Nguyên Nhân Dẫn Đến Việc Phân Phái Phật Giáo
B NỘI DUNG
Là một tôn giáo với khối giáo lý đồ sộ, Phật giáo cũng như bao tôn giáokhác khi trải qua thời gian và giai đoạn truyền thừa đều gặp phải những sự thayđổi để thích ứng theo từng giai đoạn đó Vì vậy mà những lời dạy về giáo lýcũng như giới luật được đức Phật giảng giải và đưa ra khi trải qua giai đoạntruyền thừa cũng không nằm ngoài quy luật ấy Vậy khi nào thì Phật giáo chínhthức phân phái? Việc phân phái ấy bắt nguồn từ đâu? Đây có lẽ là câu hỏi chungcủa rất nhiều nhà nguyên cứu khi đi tìm hiểu về Phật giáo
I Bước đầu của sự phân phái
1 Đề-bà-đạt-đa
Có rất nhiều nhà học giả cho rằng Phật giáo phân phái là sau khi đức Phậtnhập diệt 100 năm Nhưng theo ý kiến của con thì thấy rằng, ngay khi Phật còntại thế thì giáo đoàn của người đã có sự phân phái
Cùng nhìn lại lịch sử đức Phật Thích Ca, chúng ta sẽ thấy khi Phật còn tạithế, trên con đường hoằng truyền giáo pháp người đã vấp phải sự chống đối vàchia rẽ Tăng đoàn của Đề-ba-đạt-đa Ông xuất thân trong giai cấp Sát-đế-lợithuộc dòng họ Thích ca (Sakya), là em họ của Phật Thích Ca Mâu Ni
Sau khi Thích Ca Mâu Ni thành Phật đã có dịp quay trở về quê hương là Ca
Tỳ La Vệ (Kapilavastu) thuyết pháp cho dòng họ từ vua quan đến nhân dântrong nước Trong chuyến hoằng hoá đó, Ngài đã độ cho khoảng 500 ngườitrong dòng họ cùng xuất gia tu học, trong số đó có cả Đề-bà-đạt-đa Thời gianđầu, Đề-bà-đạt-đa cũng là người đệ tử tinh tấn tu học, nghiêm trì thực hành theo
các hạnh lành, như trong “Luật Thập Tụng” có ghi rằng: "Xuất gia làm Tỳ-kheo, trong mười hai năm thiện tâm tu hành: đọc kinh, tụng kinh, hỏi nghi, lĩnh pháp, ngồi thiền Một lúc khi Đức Phật đang thuyết pháp, ắt đều thụ trì"1 Hay trong
"Kinh Xuất Diệu" thì nói rằng: "Trong mười hai năm, ngồi thiền nhập định, tâm không chuyển dời, tụng kinh Phật sáu vạn"2 Qua những nguồn tư liệu trên,chúng ta đều nhận thấy tín tâm tu tập, và khát vọng tìm cầu giải thoát khó ai
2 Kinh Xuất Diệu 15
Ni sinh: Thích Hạnh Lệ - Thạc sĩ khoá 3 2
Trang 8sánh bằng Vậy thì tại sao lại nói ông là nguyên nhân đầu tiên khiến cho Tăngđoàn chia rẽ?
2 Phân chia Tăng đoàn
Đề-bà-đạt-đa là một người thông minh, nghe rộng, thiền định, tinh tấn giớihạnh, nhưng lại không đạt được thánh quả nên thối tâm tu hành mà sinh lòngmuốn học thần thông để được lợi dưỡng và thích khoe khoang những điều kỳ lạ.Chính vì vậy mà khi ông đi giáo hoá tại nước Ma-kiệt-đà đã thể hiện ra rất nhiềuthần thông, nên nhận được nhiều sự kính lễ từ vua A-xà-thế cho đến nhân dân cảTăng lẫn tục tôn quý ngưỡng mộ Dần dần mà nảy sinh lòng cống cao ngã mạn,
tự nhận là cùng với Phật họ Cù Đàm sinh ra trong dòng họ Thích ca (Sakya),muốn là người dẫn dắt Tăng đoàn thay cho Phật Nhưng vì không được theo ýnguyện của bản thân mà sinh lòng oán hận, những lý giải về giáo nghĩa cũngdần có sự bất đồng
Từ đó, Đề-bà-đạt-đa dẫn theo một số Tỳ kheo đi theo mình và cùng nhautuân giữ 5 khoản giới luật, cho đó là con đường phạm hạnh dẫn đến Niết bàn:
1 Trọn đời nên sống ở ẩn nơi rừng sâu (A-lan-nhã) Đến xóm làng là cótội Đức Phật không chấp thuận vì đạo Phật là đạo tuỳ duyên, không cố chấp Aimuốn vào rừng thanh vắng để tu cũng được mà người nào muốn vào phố thị đểhoá duyên Phật cũng không cấm
2 Trọn đời nên sống khất thực Nhận mời ăn là có tội Phật bác bỏ bởi vìngày xưa có những vị trưởng giả hay vua chúa thường thỉnh Phật và chư Tăngvào cung để cúng dường và nghe pháp
3 Trọn đời nên mặc y trét dơ Nhận đồ mặc của cư sĩ là có tội Đức Phậtkhông chấp nhận mà cho phép Tăng ni được nhận tối đa là 3 y
4 Trọn đời nên ngồi dưới vừng cây Ngồi trong nhà là có tội Đức Phậtcũng không chấp thuận bởi vì nếu chư Tăng muốn ở dưới gốc cây cùng đượchoặc ở trọng tịnh xá cũng được, Phật không ép chế
5 Trọn đời không ăn thịt cá Kẻ ăn thịt cá là có tội Điều này đức Phậtkhông chấp thuận bởi vì Tăng chúng đi khất thực ngày một bữa, nếu thí chủcúng dường vật thực gì thì cứ ăn, không có chọn lựa
Trang 9Nguyên Nhân Dẫn Đến Việc Phân Phái Phật Giáo
Dựa vào năm pháp tu hành như trên, Đề-bà-đạt-đa lập ra biểu quyết và cótới 500 vị Tỳ kheo đã đi theo tu học, sống ở nơi núi Già-da, biệt lập với Tăngđoàn mà đức Phật dẫn dắt Rồi còn đưa ra 14 pháp sai trái, phá hoại Tăng chúngnhư chẳng phải pháp lại thuyết pháp, pháp thuyết cho chẳng phải pháp, chẳngphải thiện mà thuyết thiện, thiện thuyết là chẳng phải thiện, chẳng hề phạm màthuyết là phạm, phạm thì thuyết chẳng phạm, điều khinh nói là trọng, điều trọngnói là khinh, có hại thì nói không hại, không hại lại nói có hại, pháp thường sởhành thì nói chẳng phải pháp thường sở hành, điều trái lại nói là phải, điều phảilại nói là trái
Qua những dữ liệu được nêu ở trên, chúng ta có thể nhận thấy ngay trongthời đức Phật còn tại thế, giáo đoàn cũng đã có sự phân chia
II Sự phân phái sau khi đức Phật nhập diệt
1 Mầm mống trong kết tập kinh điển lần thứ nhất
Sau khi đức Thế Tôn nhập diệt không bao lâu, trong hàng ỳ-kheo, có ôngthốt ra lời nói rằng; “Trong thời Đức Thích Tôn còn tại thế, mọi hành động đềuphải bó buộc trong phạm vi giới luật, mất quyền tự do, ngày nay Đức Thích Tôn
đã diệt độ, từ đây trở về sau sẽ được tự do hành động, không bị giới luật ràngbuộc” Sau khi nghe thấy lời này, Tôn giả Ca Diếp nghĩ rằng: “Đức Thích Tônmới diệt độ có bảy ngày, mà trong hàng đệ tử đã có người thốt lên lời nói pháhoại chính pháp như vậy Ngài sợ rằng giới pháp mà đức Phật để lại sẽ bị những
tà thuyết pha trộn, nên đã đề xướng ra Đại hội để cùng nhau đọc tụng, kết tập lạinhững lời Phật dạy
Các Tỳ-kheo đều tán đồng lời nói của tôn giả Đại Ca Diếp và thwua rằng:
“Thưa trưởng lão, A Nan thường hầu cận Thế Tôn, thầy ấy thông minh, nghenhiều, gìn giữ kho tàng chính pháp đầy đủ, nay ta nên mời thầy ấy vào trong sốnhững người kết tập luật tạng” Nhưng tôn giả Ca Diếp lại bảo: “A Nan còn ởđịa vị cần phải học (hữu học), còn bị tham ái, sân hận, si mê và sợ hãi chi phối,,không nên cho tham dự”
Khi biết bản thân không được tham dự vào cuộc kết tập luật tạng, nên ANan vào lúc đầu đêm, giữa đêm và cuối đêm đều siêng năng đi kinh hành, mong
Ni sinh: Thích Hạnh Lệ - Thạc sĩ khoá 3 4
Trang 10cầu được giải thoát, những vẫn chưa đạt được Đến lúc nửa đêm, thân thẻ mỏimệt cực độ, ngài định nghỉ một chút, liền nghiêng đầu xuống gối, khi đầu vừachấm gối thì bỗng dưng dứt hết lậu hoặc nên đã được tôn giả Ca Diếp chấpthuận tham gia vào cuộc kết tập lần này Sau đó, tôn giả đã tập họp 500 vị Tỳ-kheo tại giảng đường Trùng Các, bên dòng sông Di Hầu, thành Tỳ-xá-ly đểchuẩn bị Đại hội kết tập.
Sau khi chuẩn bị hết mọi thứ, vào tháng thứ ba của mùa hạ, tôn giả chotập họp lại một chỗ, đề cử tôn giả Ưu Ba Ly kết tập luật tạng, tôn giả A Nan kếttập kinh tạng, tất cả đại chúng đều hoàn toàn nhất trí
Trong qua trình kết tập lại luật tạng, tôn giả A Nan có thưa với tôn giả CaDiếp rằng: “Chúng bản thân con từng nghe Phật dạy rằng: “Sau khi ta Niết bàn,nếu thấy những giới nào có tính cách nhỏ nhặt, các ngươi có thể loại bỏ”
Ca Diếp liền hỏi lại: “Thầy cho những giới nào là nhỏ nhặt?”
A Nan đáp: “Không biết”
Sau đó, trưởng lão Ca Diếp khiển trách A Nan người luôn theo hầu Phật,còn nêu ra các tội Đột-cát-la của A Nan và yêu cầu tôn giả phải sám hối Nhữngtội được trưởng lão đưa ra là:
1 Không hỏi Phật những giới luật nào là nhỏ nhặt để có thể thay đổi.
Lý do: Sợ làm phiền Phật vì ngài sắp nhập Niết bàn
2 Khi vá y Tăng già lê cho Phật đã dùng chân đạp lên y.
Lý do: Không có ai cầm y trong khi trời có gió nên phải dùng chân đểgiữ lại
3 Xin Phật cho nữ giới xuất gia.
Lý do: Bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di từng nuôi dưỡng Thế Tôn đếntrưởng thành, rồi ngài đi xuất xa mà thành bậc Chính đẳng chính giác, dó đókhông nên quên ơn của bà
4 Không cung thỉnh Phật tại thế lâu dài hơn mặc dù biết rằng Phật có khả năng kéo dài đời sống ở thế gian.
Lý do: Không phải vì không muốn thỉnh Phật tại thế lâu dài mà vì ác ma
Ba Tuần che mờ tâm trí
Trang 11Nguyên Nhân Dẫn Đến Việc Phân Phái Phật Giáo
5 Không lấy nước cho Phật dù rằng Phật đã 3 lần yêu cầu.
Lý do: Khi đó có 500 chiếc xe qua sông làm cho nước rất bẩn nên khôngthể uống được
Những lý do mà tôn giả đưa ra A Nan đều thanh minh cho lý do tại sao lạihành động như vậy, và bản thân không thừa nhận mình có tội, nhưng sau đó vẫnsám hối do tôn trọng trưởng lão Ca Diếp
Sau rồi, Đại hội lại tiếp tục và xét những giới nào có thể loại bỏ, tôn giả
Ca Diếp trình bày: “Nếu chúng ta xem chúng học pháp (những pháp cần phảihọc) là những giới nhỏ nhặt có thể loại bỏ thì cá Tỳ-kheo khác sẽ bảo: Bốn giới
Ba la đề đề xá ni cũng là những giới nhỏ nhặt có thể loại bỏ Nếu chúng ta bảobốn giới Ba la đề đề xá ni là những giới nhỏ nhặt, thì các Tỳ-kheo khác sẽ bảo:Các giới Ba dật đề cũng là những giới nhỏ nhặt v.v… giờ đây chúng ta khôngthể khẳng định giới nào là giới nhỏ nhặt mà loại bỏ một cách tuỳ tiện”3 Cuốicùng tôn giả đưa ra quyết định những điều do Phật chế thì không được tự ý chếđịnh, và những gì do Phật chế định thì không được vi phạm Khi nghe tôn giảtrình bày, tất cả đại chúng đều đồng thành nhất trí với ý kiến trên
Như vậy có thể thấy, sau lần kết tập đầu tiên, kinh và luật được hợp tụnglại Nhưng do vì chưa có chữ viết mọi thứ vẫn chỉ được truyền tụng lại, nên cónhững ý nghĩ và tư tưởng có sai khác Tuy là hình thành nên tạng kinh và tạngluật, nhưng do vì sự bảo thủ, cố chấp của mình nên tôn giả Ca Diếp không nghetheo lời khuyên can của A Nan vẫn giữ nguyên tạng luật như cũ Không có sựđổi mới tuỳ vào từng hoàn cảnh, địa lý khi giới luật được đưa ra
Ngoài ra còn có hai luồng tư tưởng khác nhau về sự phân phái Phật giáosau khi đức Phật nhập diệt có sự đối lập của Thượng Toạ bộ bà Đại Chúng bộ
Từ hai bộ căn bản mà phân chia thành nhiều chi phái về sau, cứ theo Namtruyền và theo Bắc truyền lại có nhiều sự việc không đồng
2 Theo Nam truyền
Nguồn sử liệu của Phật giáo Nam truyền thì cho rằng “Thập sự phi pháp”
là vấn đề tranh cãi giữa hai phái tạo thành sự chia rẽ của tăng đoàn
3 TT Thích Phước Sơn, Lịch sử kết tập kinh luật lần thứ nhất, tr.11,12
Ni sinh: Thích Hạnh Lệ - Thạc sĩ khoá 3 6
Trang 12Nguyên nhân của việc này là do vào khoảng hơn 100 năm sau ngày Phậtnhập diệt, Tôn giả Da-xá (Yasa) là người ở phía Tây, đi du hoá đến thành Tỳ-xa-
ly (Vesali) ở phía Đông Thấy các Tỳ kheo phía Đông nhận tiền của bạch y nênkhông đồng tình, bèn nói việc nhận tiền này là trái với giới luật đức Phật dạy.Còn chúng Tỳ kheo Bạt-kỳ ở thành Tỳ-xá-ly (Vesali) lại buộc tội ngài Da-xá làhuỷ báng Tăng già nên yêu cầu Tôn giả phải sám hối trước Tăng chúng Tôn giảkhông chấp nhận nên đã đi về phía tây để thỉnh cầu những vị trưởng lão nghiêmtrì giới luật và tu khổ hạnh để huy động tập họp đại hội Đại hội diễn ra có đến
700 vị Tỳ Kheo và được tổ chức tại thành Tỳ-xá-ly Vì số lượng người tham dựđại hội quá đông nên hai bên đã thống nhất mỗi bên cử ra bốn vị được Tăngchúng kính trọng, đại diện tham dự và có trách nhiệm tập hợp, xem xét các ýkiến để đưa ra kết luận cuối cùng sau đại hội
Các Tỳ-kheo của xứ Bạt-kỳ (Vaiji) đề xướng ra mười hành vi, chủ trương
là thích hợp với giới luật của Tỳ Kheo, mười hành vi đó như sau:
1 Diêm-tịnh (Singilonakappa) Căn cứ vào giới luật, các Tỳ-kheo khôngđược để đồ ăn cách đêm Nghĩa là các thứ đồ ăn phổ thông, không được để đếnngày hôm saurồi lại ăn Nhưng nếu đồ ăn đó ướp với muối, thì vẫn có thể đượcdùng ở ngày hôm sau
2 Chỉ tịnh (Dvangulakappa) Về bữa ăn của Tỳ-kheo phải là ở lúc chínhngọ, nhưng nếu lúc đang đi giữa đường thì bữa ăn có thể được dùng ở quá giờngọ một chút, nghĩa là lúc mặt trời đã xế bóng chừng độ hai chỉ tay
3 Tụ-lạc-gian tịnh (Gamantarakappa) Tỳ-kheo sau khi ăn rồi, nhưng nếu
ở trước giờ ngọ, tới chốn tụ lạc khác, xin được thức ăn vẫn có thể được thọdụng
4 Trụ-xứ tịnh (Avasakappa) Một tháng hai kỳ, các Tỳ-kheo phải tận tập ởmột trụ xứ nào đó để làm lễ Bố-tá, nếu trụ xứ quá hệp, có thể được phân chialàm hai nơi để làm lễ Bố-tát
5 Tùy-ý tịnh (Anumatikappa) Quyết nghị của đoàn thể xuất gia, cần phảitoàn viên tập để giải quyết, nhưng nếu gặp trường hợp không thể xuất tịch được,sau khi Giáo đoàn quyết nghị, sẽ có thể đem những quyết nghị đó thông cao sau