Trước Cách mạng tháng Tám Ngay khi tập truyện Phấn thông vàng mới ra đời, Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam là người đầu tiên phát hiện ra phong cách viết văn của Xuân Di
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xuân Diệu (1916-1985) là một nghệ sĩ đa tài, một tài năng độc đáo của thơ ca Việt Nam hiện đại Trải qua nửa thế kỉ miệt mài sáng tạo, ông để lại cho kho tàng văn học dân tộc một gia tài đồ sộ, gần năm mươi tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: thơ văn, nghiên cứu, dịch thuật, phê bình Ở lĩnh vực nào, ông cũng đạt được nhiều thành tựu xuất sắc Trước và sau năm 1945, Xuân Diệu đều có những đóng góp lớn đối với nền văn học nước nhà Chính
vì thế, Xuân Diệu luôn được giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Hoài Thanh
cho rằng Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” và xem ông
là “Ông hoàng của thơ tình” Chế Lan Viên tìm thấy sự nổi trội của Xuân Diệu trong lĩnh vực bút ký và gọi ông là “Ông chúa bút ký” Lưu Khánh Thơ khẳng định ông là người có “đôi mắt xanh” trong phê bình, tiểu luận
Tuy vậy, đọc lại những công trình viết về Xuân Diệu, ta thấy hầu như các nhà nghiên cứu chỉ xoay quanh sáng tác thơ, đặc biệt là thơ tình của Xuân Diệu Còn truyện của Xuân Diệu, chỉ được nhìn rải rác, chưa hệ thống, chưa trọng điểm chỉ được xem như là sự tô điểm cho ngòi bút tài năng đa dạng của ông Vậy vấn đề đặt ra phải chăng Xuân Diệu chỉ thành công trong lĩnh vực thơ ca mà ít thành công trong sáng tác truyện? Phải chăng truyện của Xuân Diệu chỉ là một dạng thơ văn xuôi giàu âm thanh, màu sắc? Với suy nghĩ trên, chúng tôi cho rằng truyện Xuân Diệu là đề tài đáng để nghiên cứu Luận văn này mong muốn làm rõ những đóng góp của Xuân Diệu cho văn xuôi nghệ thuật Việt Nam
Phấn thông vàng của Xuân Diệu khi xuất hiện trên văn đàn đã được
giới nghiên cứu phê bình văn học đánh giá cao, thể hiện một xu hướng sáng tạo mang vẻ đẹp riêng với tính chất độc đáo, đặc sắc của một kiểu mô hình văn xuôi mới Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy truyện ngắn
Trang 3Xuân Diệu giàu chất thơ, chất trữ tình Đó là kiểu văn được viết bằng cảm xúc, ý tưởng thấm đẫm chất nhân văn, màu sắc văn chương
Vì vậy, chọn đề tài Truyện ngắn Xuân Diệu trước năm 1945 từ góc nhìn thể loại, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu đặc
sắc nội dung và nghệ thuật của văn xuôi Xuân Diệu một cách đầy đủ hơn Đồng thời về mặt chuyên môn, luận văn hi vọng góp phần thiết thực phục vụ cho việc giảng dạy sáng tác của Xuân Diệu trong nhà trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Xuân Diệu bắt đầu viết văn khi còn là một cậu học sinh trung học Sáng tác văn xuôi của Xuân Diệu chưa gây được ảnh hưởng lớn như những tác phẩm thơ ca, mặc dù nhà văn cố gắng đi tìm một hình thức thể hiện mới, bên cạnh thơ của mình Với tập truyện ngắn đầu tay, Xuân Diệu bắt đầu được giới nghiên cứu lưu ý
Trong phạm vi giới hạn đề tài luận văn, chúng tôi sẽ lần lượt điểm qua một số công trình nghiên cứu, phê bình có đề cập đến truyện ngắn của Xuân Diệu trước và sau 1945 Trên cơ sở đó, chúng tôi tổng kết, đưa ra một vài nhận định chung về các công trình nghiên cứu này
2.1 Trước Cách mạng tháng Tám
Ngay khi tập truyện Phấn thông vàng mới ra đời, Hoài Thanh – Hoài
Chân trong Thi nhân Việt Nam là người đầu tiên phát hiện ra phong cách viết
văn của Xuân Diệu bên cạnh những sáng tác thơ của ông “Lời văn Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi, Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay như người ngoại quốc võ vẽ tiếng Nam Câu văn tuồng bỡ ngỡ Nhưng cái dáng bỡ ngỡ
ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn người Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo những đường có sẵn Ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay.”
[64, tr.108]
Trang 4Chỉ một thời gian sau, Vũ Ngọc Phan với công trình khảo cứu đồ sộ
Nhà văn hiện đại, có một bài viết khá dài nghiên cứu cả thơ và văn xuôi Xuân Diệu Đặc biệt, nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu tập truyện ngắn Phấn thông vàng Cảm nhận đầu tiên của Vũ Ngọc Phan khi đọc Phấn thông vàng khác với quan niệm của Xuân Diệu “Trong quyển “Phấn thông vàng” mà Xuân Diệu gọi là một tập truyện tiểu thuyết ngắn, tôi chỉ thấy rặt thơ là thơ Không phải thơ ở những câu có vần có điệu, không phải thơ ở những lời đẽo gọt mà thơ ở lối diễn tính tình cùng tư tưởng… Nó là những bài thơ trường thiên không vần, không điệu, nó là những bài thơ tự do để phô diễn hết cả cảm tưởng của tác giả về những người, những vật, tuy chỉ là những cuộc đời rất nhỏ, nhưng gợi hứng cho thi nhân rất nhiều” [59, tr.25-26] Vũ Ngọc Phan chỉ rõ cảm hứng sáng tác Xuân Diệu trong tập truyện ngắn Phấn thông vàng “
Đó là tất cả cái náo nức, cái rùng rợn, cái thê lương trong tâm hồn một con người đa cảm, trước những con người, những vật như “Cái dây không đứt”,
“Mèo hoang”, “Chó hoang”, “Truyện cái giường”…” [59, tr.25] Chính cảm hứng nghệ thuật ấy khiến cho truyện ngắn của ông “rặt thơ là thơ”
Về nghệ thuật viết văn, Vũ Ngọc Phan cho rằng văn xuôi Xuân Diệu
chưa hay“Cớ lẽ Xuân Diệu đã chú trọng về ý nghĩa, về tình cảm thái quá, nên không nghĩ đến sự lựa lời Lời chẳng qua là những dấu hiệu để ghi ý nghĩa và tình cảm, vậy cứ gì lời thanh, lời thô, lời nào phô diễn được hết tình, hết ý đều
có thể dùng được cả… Ở đây, Vũ Ngọc Phan có suy nghĩ giống Hoài Thanh -
Hoài Chân về cách viết văn của Xuân Diệu, đó là việc chưa chú trọng đến cách dùng từ và đặt câu, cả hai nhà nghiên cứu đều nhận thấy đó là phong cách viết văn khác người của Xuân Diệu
Có thể thấy trước 1945, những công trình nghiên cứu, phê bình về truyện ngắn của Xuân Diệu vẫn còn quá ít Các nhà nghiên cứu còn dè dặt,
Trang 5thận trọng trong việc đánh giá truyện ngắn của Xuân Diệu - một thể loại mới xuất hiện trong thời đại mới
2.2 Sau Cách mạng tháng Tám
Năm 1967, trong bài viết Qua thi hào dân tộc Nguyễn Du [76, tr.239],
đề cập mảng văn xuôi phê bình của Xuân Diệu, Mai Quốc Liên nhận thấy
điều mà hơn hai mươi năm trước Hoài Thanh từng nhận xét “Cũng vì sự dồn
ép của nhiệt tình mà câu văn Xuân Diệu ít khi mực thước Câu văn của anh bị
xô đẩy, dài ngắn không thường; kể nó cũng là một phong cách trong ngôn ngữ văn xuôi” của Xuân Diệu [76, tr.243]
Năm 1970, Phạm Văn Diêu trong Việt Nam văn học giảng bình, trên cơ
sở bình giảng truyện ngắn Tỏa nhị kiều [59, tr.72], cho rằng “Văn xuôi của Xuân Diệu là cả một lối thơ trá hình thành tản văn… Văn xuôi Xuân Diệu cũng giống như thơ ông, bát ngát một hồn thơ mơ mộng Điều ấy, thấy rõ trong sự vận động từ ngữ, trong nhạc câu văn, lại càng thấy nhiều hơn trong hình ảnh câu văn.” [59, tr.73] Nhận xét của Phạm Văn Diêu tuy không mới, nhưng nhà nghiên cứu tìm ra vẻ khác lạ trong truyện ngắn Xuân Diệu “Văn xuôi Xuân Diệu cũng giống như thơ ông, bát ngát một hồn thơ mơ mộng” [59,
tr.73]
Vào tháng 5/1982, trong lời giới thiệu Tuyển tập Xuân Diệu (tập 1) [68,
tr.64], Hoàng Trung Thông chỉ rõ cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Xuân
Diệu Đó là cảm hứng hướng về con người, cuộc đời “Mọi người yêu thiết tha con người, loài người, cuộc sống và sự sống”, nên “Tấm lòng yêu thương rộng lớn của nhà thơ tất yếu phải hướng về quần chúng lao động chứ không thể hướng về những kẻ kè kè một túi tiền” [68, tr.65] Đây là một phát hiện
mới mà các bài nghiên cứu trước đây chưa nói tới
Sau khi qua đời, trên văn đàn xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về
Xuân Diệu (về truyện ngắn, ký) Đáng chú ý là bài viết Vài cảm nghĩ về văn
Trang 6xuôi Xuân Diệu của Nguyễn Đăng Mạnh [76, tr.98] vào cuối thu 1986 Khác
với những công trình nghiên cứu trước đây, Nguyễn Đăng Mạnh dành cả bài
đề cập về văn xuôi nghệ thuật của Xuân Diệu Có thể coi đây là bài viết mang tính chất nghiên cứu đầu tiên, khá đầy đủ về văn xuôi Xuân Diệu Trong một chừng mực nào đó, bài viết khám phá một vài đặc điểm văn xuôi Xuân Diệu (truyện ngắn và ký), cả về nội dung và nghệ thuật ở hai giai đoạn trước và sau
1945 Trước hết, với tập truyện ngắn Phấn thông vàng, Nguyễn Đăng Mạnh gọi nó là tập “Tùy bút tâm tình” Có lẽ, ông cho rằng Phấn thông vàng không mang đặc tính “tự sự” của truyện Bởi ở trong đó “cái tôi cá nhân của nhà văn lất át hình ảnh của hiện thực” [76, tr.105] Nhà nghiên cứu còn thấy cách nhìn đời, nhìn người của Xuân Diệu trong truyện ngắn “Đời trong con mắt của Xuân Diệu hồi ấy thực ra chỉ giới hạn ở cái môi trường chật hẹp và tù túng của những tầng lớp tư sản, tiểu tư sản, nên càng nhìn đời, càng thấy ngán cho đời “Tỏa nhị Kiều” đã làm cho ta hít thở trong bầu không khí của cái đời ấy Trong đó vật vờ ngoi ngóp những kiếp sống mờ mờ nhạt nhạt, cử động lặng lẽ, ngơ ngác như những kẻ không hồn” [76, tr.101] Nguyễn Đăng
Mạnh suy nghĩ giống như Hoàng Trung Thông về ngòi bút nhân đạo Xuân
Diệu“Mở rộng tâm hồn về phía những lớp người cùng khổ Hình ảnh một bà lão nhà quê nghèo khó.” [76, tr.102] Trên cơ sở đó, nhà nghiên cứu nhận thấy bên cạnh khuynh hướng lãng mạn trữ tình, trong Phấn thông vàng xuất hiện khuynh hướng hiện thực trữ tình “như một dòng phụ lưu trong sáng tác thơ văn của Xuân Diệu hướng về những kiếp người mờ mờ nhân ảnh những sinh mệnh nhỏ bé tội nghiệp cần được thương.” [76, tr.102-103] Và đây cũng
chính là sự phát hiện kỹ hơn về nhân vật trong truyện ngắn Xuân Diệu
Năm 1994, Nguyễn Thị Hồng Nam trong bài viết Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu [68, tr.339] tìm thấy trong Phấn thông vàng “quan niệm sống, quan niệm tình yêu mang tính nhân văn cao
Trang 7cả… “Phấn thông vàng” là hình ảnh điển hình cho khao khát được hòa nhập với ngoại giới, cho trái tim đầy tình cảm được san sẻ, dâng hiến cho mọi người, cho tất thẩy, như những hạt phấn thông vàng vung vãi muôn nơi…”
[68, tr.343] Để chứng minh cho ý kiến của mình, nhà nghiên cứu nhận thấy Xuân Diệu có một quan niệm sống đẹp, một tình yêu cuồng nhiệt với cuộc sống Xuân Diệu ghét cay, ghét đắng sự hờ hững, lạnh lùng, lối sống thụ
động, đơn điệu Trong Tỏa nhị Kiều, nhân vật “tôi” – trữ tình bực bội với nhân vật Phan, xót thương cho hai cô gái Quỳnh và Giao “Họ như hai hột cơm… họ thua hai cái cây, bởi cây còn ra hoa, ra trái, chứ đời con gái của
họ, họ biết làm gì?” [68, tr.346]
Năm 1997, Lê Bảo trong bài Thời đại, con người và văn nghiệp Xuân
Diệu [8, tr.5] nghiên cứu về một biểu hiện khác trong nghệ thuật viết truyện
ngắn Phấn thông vàng (về cách viết, cách xây dựng nhân vật) “Người viết đã không tuân thủ những phép tắc, những luật lệ thông thường Trước hết nó hầu như không có cốt truyện Nhân vật trong đó hầu hết là cái tôi trữ tình Chất liệu hiện thực cuộc đời không phải là không có, nhưng nó nhuộm màu sắc tâm trạng Vì thế có thể gọi nó là một thứ truyện ý tưởng, một thứ chủ nghĩa hiện thực trữ tình, một cách tự biểu hiện của nhà thơ” [8, tr.23] Lê Bảo
nghiên cứu khá kỹ cái tôi trữ tình trong truyện ngắn của Xuân Diệu, đó là cái tôi giao cảm với đời, cái tôi bơ vơ lạc lõng
Năm 1999, Lưu Khánh Thơ viết bài Xuân Diệu một tài năng đa dạng [68, tr.11], nhấn mạnh những vấn đề các nhà nghiên cứu trước đó đề cập về truyện ngắn Phấn thông vàng “ giống như một tập tùy bút tâm tình; tác giả lại hướng ngòi bút của mình vào một cảnh ngộ, những số phận” [68, tr.14-
15] Tác giả bài viết nhận ra thái độ của Xuân Diệu, trước những số phận,
cuộc đời “Thể hiện sự hòa cảm xót xa với những người sống vất vả, tối tăm,
Trang 8bị hắt hủi… nên nhà văn dễ dàng đồng cảm với những kiếp người nhỏ bé khi bước vào đời” [68, tr.15]
Đỗ Lai Thúy phát hiện hướng nghiên cứu mới về yếu tố thời gian trong
sáng tác của Xuân Diệu, qua bài viết Xuân Diệu - Nỗi ám ảnh thời gian [76, tr.186] Nhà phê bình viết “Chỉ với Xuân Diệu, thời gian mới trở thành một nỗi ám ảnh… Xuân Diệu nhìn đời bằng con - mắt - thời – gian” [76, tr.186] Cho nên “chỉ có Xuân Diệu là cứ ở trong đời, bám riết lấy trần thế, níu cuộc sống mà chống lại thời gian…” Nhưng mọi vật đều không chống lại được với thời gian, và chỉ có “Tình yêu có khả năng chiến thắng thời gian, bởi vì tình yêu là sự sống, sự sống bất tử, sự sống chẳng bao giờ chán nản” Đỗ Lai Thúy nhận thấy trong Phấn thông vàng có một thứ tình yêu đẹp“Tình yêu của loài cây xa xôi, viễn vọng như thế, không toan tính gần gũi như loài người”
thấy nét đẹp trong sáng tác của Xuân Diệu, ông không nuối tiếc để nuối tiếc,
mà mong được trở lại cuộc sống ban đầu như nó đã có Quan niệm của Lê
Tiến Dũng giống với quan niệm của Vũ Ngọc Phan “Cái giường của Xuân Diệu là cái giường đang ôm tương tư, đang nhớ nhung cây bạn và đang khao khát được biến ra khói biếc để bay về xứ sở, bay về chốn rừng xanh” [59,
tr.27]
Trang 9Trên đây là một số công trình nghiên cứu, phê bình trước và sau 1945
đề cập đến truyện ngắn của Xuân Diệu Với những công trình vừa được điểm qua, chúng ta thấy rõ những vấn đề các nhà nghiên cứu quan tâm trong truyện
ngắn Phấn thông vàng Có thể tóm gọn lại những điểm sau: về cảm hứng sáng
tác; khuynh hướng sáng tác; về nhân vật; về cái tôi cá nhân; về kiểu truyện và cách viết truyện ngắn
Từ các công trình nghiên cứu, phê bình về truyện ngắn của Xuân Diệu nêu trên, chúng tôi nhận thấy, hầu hết các công trình nghiên cứu khác phần lớn mang tính chất khái quát, giới thiệu dưới dạng phác thảo một chân dung văn học Và chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về truyện ngắn của Xuân Diệu Cho nên theo sự nhìn nhận riêng của chúng tôi, các ý kiến được nêu ra chỉ mới soi sáng một phần trong sáng tác truyện ngắn của Xuân Diệu Điều này có nghĩa là, nếu xem sáng tác truyện ngắn của Xuân Diệu là một bộ phận trong văn chương của nhà thi sĩ, phải đặt
nó trong một chỉnh thể và một hệ thống Chỉ như vậy mới có thể nắm bắt được những đặc điểm trong truyện ngắn nghệ thuật của Xuân Diệu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các khía cạnh nổi bật của thể loại truyện ngắn: kết cấu, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn của Xuân Diệu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thể loại truyện ngắn của Xuân Diệu qua tập
truyện ngắn tiêu biểu Phấn thông vàng
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp thống kê, phân loại giúp cho việc nghiên cứu, phân loại
Trang 10các kiểu kết cấu, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật trong truyện ngắn Xuân Diệu
4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích, tổng hợp giúp cho việc nghiên cứu, phân tích, cắt nghĩa, lí giải các phương diện truyện ngắn của Xuân Diệu Từ đó khái quát những vấn đề chung về thể loại trong toàn bộ truyện ngắn của nhà văn
4.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Đây là phương pháp giúp cho việc chỉ ra những đặc trưng riêng của truyện ngắn Xuân Diệu trong tương quan với truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945, với những cây bút cùng thời
4.4 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Phương pháp tiếp cận thi pháp học giúp cho việc nghiên cứu truyện ngắn Xuân Diệu từ phương diện hình thức, nhận diện được những đóng góp mới, sáng tạo của nhà văn trong cách xây dựng kết cấu, cốt truyện, các kiểu nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu nghệ thuật…
- Đánh giá một cách khách quan, sát hợp những mặt tích cực và hạn chế trong hoạt động nghệ thuật của Xuân Diệu để minh định những đóng góp của nhà văn cho văn xuôi hiện đại
Trang 116 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Xuân Diệu và truyện ngắn trữ tình 1930-1945
- Chương 2: Kết cấu, cốt truyện và nhân vật trong truyện ngắn Xuân Diệu
- Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Xuân Diệu
Trang 12Chương 1 XUÂN DIỆU VÀ TRUYỆN NGẮN TRỮ TÌNH VIỆT NAM 1930-1945
1.1 Truyện ngắn trữ tình Việt Nam 1930-1945
1.1.1 Quan niệm về truyện ngắn và truyện ngắn trữ tình
1.1.1.1 Quan niệm về truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể loại hết sức gần gũi và có nhiều ý nghĩa đối với
sự phát triển toàn diện và vững chắc của văn học, cũng như đối với sự rèn luyện mài dũa ngòi bút của các nhà văn Truyện ngắn là một khái niệm quen
thuộc Từ điển thuật ngữ văn học ghi nhận truyện ngắn là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ”
Các nhà văn, với trải nghiệm thực tế của mình, đã đưa ra những cảm nhận cụ
thể và một số đúc kết đa dạng Aimatov đã phát biểu: “Truyện ngắn giống như một thứ tranh khắc gỗ, lao động nghệ thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ, cô đúc, các phương tiện phải được tính toán một cách tinh tế, nét vẽ phải chính xác Đây là một việc vô cùng tinh tế Xoay xỏa trên một mảnh đất hẹp, đó chính là chỗ để cho truyện ngắn phân biệt với các thể tài khác” [54, tr.146] Nhấn mạnh đến chi tiết, Nguyễn Công Hoan cho rằng: “Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết” [66, tr.186]
Các nhà nghiên cứu, lý luận đều thống nhất nhận diện truyện ngắn ở những tiêu chí cốt lõi sau:
Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Hình thức “nhỏ”, “ngắn” là dấu hiệu đầu tiên để người đọc nhận diện truyện ngắn Dung lượng truyện ngắn kéo dài từ vài chục chữ đến khoảng 20000 chữ Truyện ngắn không có tham vọng ôm vào mình một hiện thực rộng lớn, hoành tráng Ngắn ở đây đồng
Trang 13nghĩa với hàm súc, tinh lọc Nguyên tắc chung nhất của truyện ngắn không cho phép dồn ép hoặc nhồi nhét rút gọn nội dung của một truyện dài, hoặc một hình thức tương đương như thế, thành một truyện ngắn Như vậy, ngắn gọn trong truyện ngắn là cái ngắn gọn tinh lọc và chặt chẽ
Bên cạnh đặc điểm “ngắn”, các nhà nghiên cứu còn khu biệt truyện ngắn ở tính chất giới hạn trong việc phản ánh đời sống và ở hiệu quả nghệ thuật mà nó tạo ra khi so sánh với một thể loại gần gũi là tiểu thuyết Cùng thuộc về loại hình tự sự hư cấu, truyện ngắn gần gũi tiểu thuyết ở chỗ nó cũng
có khả năng phản ánh hầu hết các phương diện của đời sống như đời tư, thế
sự hay sử thi Truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ
xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn định Nếu tiểu thuyết là cuộc đời trong sự trọn vẹn của nó, truyện ngắn lại là mặt cắt của dòng đời Cốt truyện của truyện ngắn có thể nổi bật, hấp dẫn, nhưng chức năng của nó nói chung là để nhận ra một điều gì Cái chính của truyện là gây
ra một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn đòi hỏi phải có sự chặt chẽ, sao cho chủ đề tập trung, tư tưởng thống nhất và thấm sâu vào toàn bộ các bộ phận của tác phẩm, kể cả những chi tiết nhỏ nhất, để có thể tạo nên hiệu quả nghệ thuật duy nhất, từ đó tạo nên một ấn
tượng sâu đậm trong lòng người đọc Chi tiết là yếu tố rất quan trọng trong
truyện ngắn Chi tiết góp phần tạo dựng cảnh trí, không khí, tình huống và khắc họa hành động, tính cách, tâm tư nhân vật Nhà văn Nguyên Ngọc khẳng
định “Truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí cốt truyện li kì, gay cấn, kể được Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được
Trang 14nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết Nó sẽ như nước lã” [29, tr.33]
Chi tiết trong truyện ngắn thường cô đúc và có dung lượng lớn Cùng lối hành văn mang nhiều ẩn ý, chúng tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết
Chi tiết đắt giá có thể nâng tác phẩm lên đến “cấp độ tượng trưng, tạo sức ám ảnh” [66, tr.84] Tóm lại, với những đặc điểm cơ bản vừa nêu, có thể khẳng
định truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hằng ngày, lại súc tích, dễ đọc, có tác dụng và ảnh hưởng kịp thời trong đời sống
1.1.1.2 Quan niệm về truyện ngắn trữ tình
Truyện ngắn trữ tình được các tác giả đề cập đến với những tên gọi, định nghĩa khác nhau Truyện ngắn trữ tình cũng là tên gọi quen thuộc trong nhiều bài viết, công trình nghiên cứu bàn về vấn đề này Có thể kể đến là:
Truyện ngắn một số vấn đề nghề nghiệp - Vương Trí Nhàn (Sổ tay truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, 1980), Về chất thơ trong truyện ngắn - Nguyễn Kiên (03/1996), Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thể loại - Bùi Việt
Thắng (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000), Luận án tiến sĩ “Ba phong cách truyện ngắn trữ tình trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945: Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh” của Phạm Thị Thu Hương (1995), Luận án tiến
sĩ “Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại (Trên cơ sở tư liệu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945)” của Nguyễn Văn Đấu (2001)
Về thuật ngữ “trữ tình”, Từ điển thuật ngữ văn học giải thích: “Trữ tình phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự thấy mình qua những ấn tưởng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh Phương thức trữ tình cũng tái hiện các hiện tượng của đời sống, như trực tiếp miêu tả thiên nhiên hoặc thuật lại ít nhiều sự kiện tương đối liên tục nhưng sự tái hiện này không mang mục đích tự thân, mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình Tác phẩm trữ tình thể hiện tâm trạng do đó nó thường không
Trang 15có cốt truyện, hiểu theo nghĩa chặt chẽ của từ này và dung lượng của nó thường ngắn (vì một trạng thái tâm trạng không thể kéo dài)” [32, tr.373]
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn phân chia truyện ngắn thành hai dạng
“Nhìn vào thực tế: có truyện có cốt truyện thật đầy đủ, các khâu thắt nút, cao trào, mở nút Ngược lại có truyện gần như thơ, rất khó tóm tắt được cốt truyện” [54, tr.147] Ông chỉ ra, truyện ngắn trữ tình là một xu hướng phát triển của truyện ngắn hiện đại: “Thêm nhiều truyện ngắn trữ tình, bên cạnh những truyện ngắn có cốt truyện sắc nhọn như đã quen biết” [54, tr.154] Đồng thời, ông nhấn mạnh đó là “loại truyện ngắn gần với thơ, chỉ cốt tạo ấn tượng, ngoài ra không quan tâm gì đến nhân vật, cốt truyện gì hết” [54,
tr.150] Năm 1996, Nguyễn Kiên cũng có những lời bàn gián tiếp về truyện
ngắn trữ tình trong bài Về chất thơ trong truyện ngắn Sau khi khẳng định
“Sự thâm nhập của thơ vào truyện ngắn là một yếu tố tự nhiên, gây kích thích, thuộc quy luật vận động nội tại của nghệ thuật”, nhà văn đã nhắc đến loại truyện ngắn “Từ ý tưởng nghệ thuật đến giọng điệu, hơi văn đều hòa hợp và cùng mang cái phẩm chất trữ tình gần với thơ” [40, tr.297]
Bùi Việt Thắng trong công trình Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại cho rằng: “Truyện ngắn tâm tình là truyện ngắn thiên về tính trữ tình, gần với thơ, trong truyện ta cảm nhận được tâm thức hoặc nhân cách nhân vật hơn là ý nghĩa của câu chuyện” [65, tr.136] Tác giả Bùi Việt
Thắng nêu lên những đặc điểm cơ bản của truyện ngắn tâm tình là tính tự sự
giảm dần, tính trữ tình tăng lên “Tính phi cốt truyện: truyện ngắn trữ tình không kể lại được vì cốt truyện không tiêu biểu, nếu có thì đó lại là cốt truyện bên trong - tức cốt truyện tâm lý diễn tả những tâm trạng điển hình của nhân vật Cấu trúc của truyện rất lỏng lẻo - sự lỏng lẻo cố ý để làm cho truyện co dãn linh hoạt phù hợp với việc thể hiện các sắc thái tâm lý, tình cảm của con người” [65, tr.136-137]
Trang 16Trong luận án “Ba phong cách truyện ngắn trữ tình trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 (Thạch Lam-Thanh Tịnh-Hồ Dzếnh)”, Phạm Thị
Thu Hương cho rằng“Truyện ngắn trữ tình đã đưa vào văn xuôi nghệ thuật Việt Nam một chất thơ man mác, bàng bạc rất riêng Truyện ngắn trữ tình mang lại cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, sâu lắng, sau những trang viết tràn trề hiện thực của các nhà văn hiện thực” [37, tr.7] Có thể coi đây là
công trình đầu tiên có nhiều đề xuất mới mẻ, có những nhận định về đặc trưng loại hình truyện ngắn trữ tình khá sâu sắc
Năm 2001, với luận án “Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại (Trên cơ sở cứ liệu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945)” Nguyễn
Văn Đấu cho rằng “Truyện ngắn - trữ tình hóa là truyện về thế giới đời sống
đã được nội cảm hóa đậm nét, là truyện tâm hồn, tình cảm, truyện về sự giác ngộ, thức tỉnh niềm vui, nỗi buồn của con người trước cuộc sống” [21, tr.107]
Khi tìm hiểu đặc trưng truyện ngắn trữ tình, Nguyễn Thị Duyên cho
rằng đối tượng của truyện ngắn trữ tình là “thiên nhiên gợi cảm xúc, cảm giác nhẹ nhàng” [18, tr.10] và “con người với cảm xúc, tâm tư biến chuyển nhẹ nhàng [18, tr.15] Theo tác giả, truyện ngắn trữ tình có ba kiểu kết cấu thường
gặp là: kết cấu hồi tưởng, kết cấu cảnh tình tương ứng, kết cấu lắp ghép Về
trần thuật, “ Truyện ngắn trữ tình khá tiêu biểu cho loại truyện để đọc - tức là chỉ thấy thú vị khi đọc, còn khi kể thì sự hấp dẫn của nó không còn nữa” [21,
tr.36], điểm nhìn trần thuật mang đậm dấu ấn chủ quan, nhịp điệu trần thuật khoan thai, giọng điệu trần thuật sâu lắng thiết tha và biểu cảm Từ quan niệm về truyện ngắn trữ tình nêu trên, có thể thấy đặc trưng của truyện ngắn trữ tình như sau:
Truyện ngắn trữ tình gần với thơ, mang đậm chất thơ
Trang 17Trong truyện ngắn trữ tình, tính chủ quan của người nghệ sĩ sáng tạo thể hiện tương đối đậm nét
Về bút pháp nghệ thuật: hướng nội, tuân theo nguyên tắc miêu tả và xây dựng nhân vật, thường chú trọng miêu tả đời sống bên trong-thế giới nội tâm, đặc biệt là thế giới của cảm xúc, cảm giác với những rung động tinh vi nhất
Nhân vật truyện ngắn trữ tình thường không được tập trung khắc họa thành những tính cách điển hình mà chủ yếu được khám phá, tái hiện thế giới nội tâm với những cảm giác
Về cốt truyện: truyện ngắn trữ tình thường phi cốt truyện hoặc chỉ có cốt truyện tâm lý giàu sức gợi
Kiểu kết cấu truyện: theo nguyên tắc đối lập (ánh sáng - bóng tối, buồn
- vui, quá khứ - hiện tại, làng (nông thôn) - phố (thành thị), ấm - lạnh ) có kết cấu gần với cấu tứ của thơ trữ tình
Ngôn ngữ: câu văn mượt mà, giàu hình ảnh, đậm chất nhạc, chất thơ Với những đặc trưng nổi bật như trên, chúng ta có thể thấy với sự góp mặt của mình, truyện ngắn trữ tình đã tạo ra dòng chảy riêng của mình và làm phong phú thêm cho thể loại truyện ngắn hiện đại Việt Nam, đồng thời đóng góp những gương mặt tiêu biểu, các nhà văn tài năng cho nền văn học dân tộc
1.1.2 Truyện ngắn trữ tình 1930-1945 trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại
Truyện ngắn hiện đại nói chung và truyện ngắn giai đoạn 1930-1945 nói riêng phát triển thành nhiều dòng, nhiều khuynh hướng văn học Khảo sát truyện ngắn giai đoạn này ta thấy có ba khuynh hướng (loại hình) văn học tiêu biểu được các nhà nghiên cứu định danh, đó là: truyện ngắn - kịch hóa, truyện ngắn - trữ tình hóa và truyện ngắn - tiểu thuyết hóa Trong đó, truyện ngắn -
Trang 18kịch hóa, là tác phẩm tự sự kể lại câu chuyện là nòng cốt là một hành động của nhân vật đang tự diễn ra trong môi trường xung đột giàu kịch tính Đại diện tiêu biểu là Nguyễn Công Hoan Khuynh hướng thứ hai truyện ngắn – tiểu thuyết hóa, là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ nhưng có cấu trúc “phức hợp” Truyện thường tập trung vào việc phân tích, lý giải quá trình đời sống, tính cách và thân phận con người Đại diện là Nam Cao Và khuynh hướng thứ ba truyện ngắn - trữ tình hóa, là tác phẩm tự sự thuật lại một câu chuyện để tạo ra
ấn tượng về thế giới đang tồn tại trong tâm tưởng con người Đại diện cho khuynh hướng này là những tên tuổi đã từng được định danh như: Thạch
Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh
Về vị trí của dòng truyện ngắn trữ tình, chúng tôi đồng tình với ý kiến
của Phạm Thị Thu Hương khi đưa ra nhận định rất đúng đắn: “Nếu xét trong lịch sử của dòng truyện ngắn trữ tình thì có thể nhận thấy nó chỉ thực sự phát triển khi văn chương Tự lực văn đoàn và thơ của phong trào Thơ mới đạt đến những thành tựu rực rỡ Phần lớn truyện ngắn trữ tình thường xuất hiện sau
1936, từ năm 1936-1945 truyện ngắn trữ tình mới thực sự trở thành một dòng với số lượng tác giả, tác phẩm đáng kể và trong phong cách đã có sự định hình” [37, tr.160] Về đóng góp đặc sắc của dòng truyện ngắn trữ tình, theo tác giả luận án “Truyện ngắn trữ tình đã đưa vào văn xuôi nghệ thuật Việt Nam một chất thơ man mác, bàng bạc rất riêng Truyện ngắn trữ tình mang lại cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, sâu lắng sau những tràn trề hiện thực của các nhà văn hiện thực” [37, tr 160]
Như vậy, có thể thấy, văn chương của Tự lực văn đoàn và Thơ mới đạt đến những thành tựu rực rỡ đã tạo đà cho truyện ngắn trữ tình phát triển mà tác giả tiêu biểu nhất cho dòng truyện này chính là Thạch Lam Từ đó có thể nhìn nhận mạch truyện này khởi nguồn và đạt được những thành tựu đặc sắc trong giai đoạn 1930-1945
Trang 19Đến giai đoạn 1945-1954, truyện ngắn trữ tình có phần chững lại do giai đoạn này truyện ngắn theo phong cách sử thi và thể loại kí phát triển mạnh hơn Từ 1955-1975 và những năm tám mươi của thế kỉ XX, thể loại truyện ngắn nghiêng sang truyện ngắn thơ
Cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI, thể loại truyện ngắn nói chung và truyện ngắn trữ tình có xu hướng phát triển mạnh trở lại với những tên tuổi như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bản, Linh Vang, Mai Linh và đặc biệt là cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tư
Nói tóm lại, dòng truyện ngắn trữ tình ngày càng khẳng định được vị thế và vai trò của mình trong dòng truyện ngắn Việt Nam nói riêng và làm phong phú thêm các thể loại văn học nói chung Chỗ đứng của truyện ngắn
trữ tình đang ngày càng củng cố trong lòng bạn đọc
1.2 Truyện ngắn Xuân Diệu trong truyện ngắn trữ tình Việt Nam giai đoạn 1930-1945
1.2.1 Xuân Diệu - nhà thơ viết truyện ngắn
Trong những năm đầu thế kỷ XX, cùng với sự biến đổi của xã hội, trên văn đàn Việt Nam, ngoài những cây bút cũ - những nhà Nho, xuất hiện một thế hệ những người cầm bút mới - những thanh niên trí thức Tây học Những nhà văn, nhà thơ này là những người đi tiên phong, đặt nền móng cho quá trình hiện đại hóa văn học nước nhà - Xuân Diệu là một trong những người
ấy Ngay từ thuở còn đi học, Xuân Diệu là một người “yêu thơ vô hạn, rất mê thích văn học tôi nhìn miệng ông giáo Quốc văn đọc, say mê uống từng lời
du dương êm ái” [4, T3, tr.175- 176] Xuân Diệu làm thơ và gởi in báo bài thơ đầu tiên Với bàn tay ấy (1935) Một năm sau, Xuân Diệu được Thế Lữ giới thiệu là “một nhà thi sĩ mới” trên báo Ngày nay Kể từ ngày ấy, Xuân
Diệu hiện diện với đời, in đậm trong tâm tưởng mọi người trong ngôi vị của một nhà thơ - một thi sĩ mới, nhà thơ của tình yêu và lòng khát khao giao cảm
Trang 20với đời Chất thơ có sẵn trong huyết quản Xuân Diệu, trở thành dòng chảy tưởng chừng như duy nhất Nhưng Xuân Diệu không chỉ làm thơ mà còn viết văn - thứ văn xuôi ngọt ngào giàu chất thơ, ở một đôi tác phẩm ta tưởng như
là một kiểu thơ không có xuống dòng
Năm 1939, Xuân Diệu tập hợp các truyện ngắn đăng trên báo Ngày nay cho xuất bản thành tập Phấn thông vàng Vừa mới ra đời, tập truyện ngắn đã
gây xôn xao bởi tính chất trữ tình tràn đầy chất thơ và kết cấu mới lạ của nó
Nguyễn Bao viết: “ “Phấn thông vàng” và “Trường ca” ra đời song song với hai tập thơ xuất sắc “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” Đó là những bài văn xuôi, thấm đượm chất trữ tình” [4, T2, tr.34] và là sự tiếp nối mạch thơ nhưng
được diễn tả cụ thể hơn
Sự xuất hiện của truyện ngắn Xuân Diệu không chỉ biểu hiện tài năng nghệ thuật, sự tiếp nối mạch cảm xúc dâng trào trong thơ, mà còn đánh dấu quá trình chuyển hướng tìm tòi một phương pháp thể hiện mới, một hướng đi, một con đường cho riêng mình Xuân Diệu không đi theo những hướng đã có
Theo ông tất cả chỉ là “cái cớ để cởi mở tấm lòng” Những trang truyện ngắn
đầu tay của Xuân Diệu là kiểu “Truyện ý tưởng”, “ Truyện ư? Một tí truyện
ở ngoài cũng đủ gợi trăm chuyện trong cõi sống bên trong Tâm hồn người có biết bao là chuyện!” [1, tr.8] Nếu thơ Xuân Diệu mang đến cho độc giả những ấn tượng đặc biệt chiếm vị trí hàng đầu thì truyện ngắn không như vậy
Vì sao? Liệu có phải do số lượng tác phẩm quá ít chưa đủ để thẩm định hay còn vấn đề khác tế nhị hơn? Theo chúng tôi, có lẽ do lối viết văn “khác người” của ông Khác từ hành văn đến ý tưởng “Ở đây chỉ có ít đời và rất nhiều tâm hồn, hợp lại thành bao nhiêu nghĩ ngợi bâng khuâng, không cốt để giải trí người ta, mà trái lại, để xui trí người thêm bận vẩn vơ lưởng vưởng” [1, tr.7]
Trang 21Con người Xuân Diệu dường như sinh ra để làm thơ Một trái tim giàu
có, chân thật, sôi nổi, hết sức nhạy cảm Nhưng con người ấy không thể không đến với truyện ngắn Vì đấy là một tâm hồn rất đỗi thèm khát tri âm tri
kỷ, không chỉ giới tao nhân mặc khách, mà với tất cả mọi người Thơ có thể tác động thấm thía vào lòng người, nhưng cô đúc quá, kín quá, khó nói được nhiều Truyện ngắn cho phép nói đầy đủ hơn, cặn kẽ, chi tiết và mạch lạc, sáng sủa hơn Vả lại có phải lúc nào cũng có thể làm thơ được đâu, Xuân Diệu luôn luôn muốn lên tiếng với đời, giao tiếp với đời
Xuân Diệu tìm đến truyện ngắn để giãi bày tình cảm, khi thơ không đủ
dung lượng chứa đựng những cảm xúc Tập truyện ngắn đầu tay Phấn thông vàng được xem là tập tùy bút tâm tình (tác giả gọi là “truyện ý tưởng”) Xen vào đấy một ít truyện ngắn: Người học trò tốt, Cái hỏa lò, Đứa ăn mày, Tỏa nhị kiều Tập truyện ngắn Phấn thông vàng được xem là một áng văn thật
đẹp, lời trau ý chuốt chứa đầy thơ, mang tính trữ tình và thể hiện hình ảnh cái tôi trữ tình Xuân Diệu đắm say sự sống mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Vài cảm nghĩ về văn xuôi Xuân Diệu viết: “Tôi không muốn tách bạch văn Xuân Diệu với thơ Xuân Diệu Văn hay thơ thì vẫn
là hình ảnh phập phồng nóng hổi của một trái tim đắm say sự sống, mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu” [50, tr.5] Nguyễn Đăng Mạnh nhấn mạnh đến sự
xuất hiện của một tài năng nghệ thuật và lưu ý đến độ chín của ngôn từ, đến cả hương vị và nhạc điệu của lời văn mang đậm chất thơ Như vậy, với
tập truyện ngắn Phấn thông vàng ta thấy rõ nhất về sự “cộng hưởng” giữa thơ
và truyện ngắn trong sáng tác Xuân Diệu Sự “cộng hưởng” ấy thể hiện ở các phương diện sau:
Truyện ngắn Xuân Diệu là sự phát triển những tứ thơ của ông Thơ Xuân Diệu hay truyện ngắn Xuân Diệu cũng có hàng lọat bài nói về vẻ đẹp hùng mạnh, tràn đầy sức sống của thanh niên, cái tuổi “Ngực nở (…), những
Trang 22bắp thịt nổi (…), sức lực vạm vỡ, chắc chắn, phồng tròn” [1, tr.70] Một cái
tứ khác cũng luôn luôn trở đi trở lại trong thơ cũng như văn Xuân Diệu: tình yêu thì lớn, tự thấy giàu có đến thừa thãi, mà kẻ tiếp nhận thì chẳng ra sao Xuân Diệu gọi là tình yêu lớn gặp người yêu nhỏ (Sợ) Đúng như ông nói:
“Người ta khổ vì thương không phải cách – Yêu sai duyên và mến chẳng
nhằm người” (Dại khờ) Đôi mắt long lanh, chân thật, Xuân Diệu nâng trái
tim nóng hổi của mình trên hai bàn tay trân trọng, vồn vã chào mời trong cái thế giới những kẻ cần tiền hơn là cần tình Người ta từ chối Tình yêu trở thành đơn phương Nhưng tình yêu của loài thông trên bãi biển rắc nhị vàng
vào trời đất mênh mông (Phấn thông vàng) Nói đến tình yêu trong thơ và
văn, Xuân Diệu thuộc vào số những người đầu tiên đưa vào văn chương ta quan niệm tình yêu là sự hòa hợp tuyệt đối giữa linh hồn và thể xác, coi đó là
lí tưởng của tình yêu Vì vậy, thơ văn tình yêu của Xuân Diệu thời kì này vừa bộc lộ những khát khao lành mạnh của nhịp sống trần thế vừa không kém phần thanh tao thơ mộng Điều ấy tạo ra ở Xuân Diệu, mỗi khi cảm hứng mùa xuân và tình yêu nổi dậy, một nhãn quan riêng về thế giới, khiến trời đất, cỏ cây, sông núi hiện lên với một vẻ đẹp thật tình tứ và đầy tính sắc dục, nhìn phấn thông vàng tỏa bay trong gió, ông thấy “ái tình tản mạn ôm ấp không
gian” (Phấn thông vàng)
Khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa thơ và truyện ngắn Xuân Diệu không có nghĩa xem chúng hoàn toàn là một Truyện ngắn vẫn có nhiều khả năng thuật tả chuyện đời cặn kẽ hơn thơ Cho nên cái phần gắn bó với đời và hiểu biết về đời của Xuân Diệu được thể hiện đầy đủ hơn, đậm nét hơn trong truyện ngắn Nhưng “đời” trong con mắt Xuân Diệu ngày trước thực ra chỉ giới hạn trong môi trường chật hẹp và tù túng của những tầng lớp tư sản, tiểu
tư sản nên càng yêu đời, càng thấy ngán cho đời Các nhân vật trong Tỏa nhị kiều hít thở trong bầu trời không khí của cái “đời” ấy “Đời ao tù Đời là một
Trang 23cái ao phẳng lặng Con người hiền như một hột cơm, sống nhạt nhòa vô nghĩa
và trống rỗng giữa cuộc đời” Đây là quan niệm nghệ thuật con người bị đời đánh lưới “Tôi là con nai bị chiều đánh lưới – Chẳng biết đi đâu đứng sầu
bóng tối” (Khi chiều giăng lưới) Trong Thương vay, hình ảnh bà lão quê
nghèo khổ một mình thui thủi trên bóng tối của con đường vắng Sống là một cuộc độc hành dài ngày, lê thê giữa mê cung đời Trên con đường độc hạnh
đó, con người chưa hề nhận rõ khuôn mặt của hạnh phúc
Tóm lại, truyện ngắn Xuân Diệu nằm trong dòng chảy hiện thực trữ tình, một dòng phụ lưu trong sáng tác thơ văn của ông hướng về những kiếp người mờ mờ nhân ảnh, sống mà như không hề có mặt ở đời Và những sinh mệnh nhỏ bé tội nghiệp cần được yêu thương mà bị đời hắt hủi Người ta
chán, người ta đuổi đi… Những linh hồn bơ vơ, tương lai mù mịt… (Chó hoang, Mèo hoang, Đứa ăn mày, Truyện cái giường)…
Với tư cách một người làm thơ, một thi sĩ đầy kinh nghiệm; Xuân Diệu cho thấy rất nhiều kỹ thuật thơ được vận dụng trong truyện ngắn Chẳng hạn như kỹ thuật cấu tứ Toàn bài xoay quanh một trung tâm, một thứ hạt nhân tư tưởng – hình tượng của tác phẩm Người viết phải làm cho cái hạt nhân ấy nở
ra, phát triển lên, biến hóa thành nhiều lớp lang với những màu sắc và giọng
điệu khác nhau Nhiều bài trong tập truyện Phấn thông vàng viết theo lối ấy,
lại thêm giọng điệu trữ tình, đầy tính nhạc, chúng thực sự là những bài thơ
văn xuôi: Phấn thông vàng, Cái giây, Cái giây không đứt, Sợ, Thư tình mùa thu,…
Kỹ thuật thơ còn giúp Xuân Diệu điểm xuyết trong bài viết của mình những chi tiết, những hình ảnh đẹp, vừa ngụ nhiều ý nghĩa, vừa đầy chất thơ, chất nhạc như những nhãn tự trong bài thơ cổ điển Hình ảnh ấy thường đặt ở phần kết thúc của truyện ngắn khiến cho lời văn đã hết mà dư ba còn mãi Kết
thúc truyện ngắn Phấn thông vàng “Và khi những bước chân hồi hộp của
Trang 24chàng trai chạy đến cuối rừng, chàng suýt mê ngã trên cỏ xanh, vì thấy trên trời bao la, phấn thông vàng đương bay lan trong tám hướng của cõi đời” [1,
tr.22] Kết thúc của Truyện cái giường là sự vương vấn “Lửa hồng ở đâu? Ta
nhớ rừng xanh! Ta nhớ cây! Ta muốn về quê hương, quê hương chung của muôn vật, muôn loài, ở đó tất cả đều như nhau, không phân biệt gì nửa Lửa hồng ở đâu? Lửa hồng ở đâu?” [1, tr.196]
1.2.2 Cách nhìn cuộc sống và con người trong truyện ngắn Xuân Diệu
1.2.2.1 Cách nhìn cuộc sống vừa tươi mát, mới mẻ; vừa hiu hắt, lụi tàn
Xuân Diệu nhìn cuộc sống trẻ trung, xanh non qua các giác quan rộng
mở Cái đẹp của thế giới, của con người, của tình yêu phải là cái tươi nguyên, mới mẻ đầu tiên Xuân Diệu hay nói đến tình thứ nhất, Xuân đầu, Đêm thứ nhất, thanh tân, trinh bạch, mới nụ, ban sơ Với ông, trời đất đẹp là đẹp ở cái tươi mới, trẻ trung Thiên nhiên luôn hiện lên với vẻ đẹp thật tình tứ Ông nhìn “tạo vật đương tắm ái tình ( ) Cây cối đu đưa, lá tre nhỏ sột soạt, làu nhàu ( ) những chiều khơi trêu lơi lả ( ) Phong cảnh đương khoái lạc” [1,
tr.65] Nhìn phấn thông bay trong gió, ông thấy “ái tình tản mạn ôm ấp không
gian” [1, tr.18-19] Gió trong văn Xuân Diệu là gió mùa thu “lẻn vào lòng người rất giỏi” [1, tr.176], hoa trong thơ, văn ông khó phân biệt được là hoa
hay những thiếu nữ đa tình, “hoa ái tình dễ nở dưới ánh mặt trăng” [1, tr.86]
Thế giới trong văn Xuân Diệu là thế giới của sự sống tràn trề, mạnh
mẽ, hăng say và đầy rạo rực Xuân Diệu nhìn mọi sự vật, sự việc trong đời không đứng yên mà luôn luôn vận động, từ ngọn gió cho đến ánh trăng, từ con đường cho đến hàng cây: “bóng trăng trong cũng thở những ý điếm đàng,
và trên nước chóa vòng vàng, tựa hồ một thân thể đang tắm” [1, tr.69] Tất
cả phải bùng lên trong khát khao được sống, được giao cảm Sự sống tuôn chảy dạt dào trong thơ, văn Xuân Diệu Tâm hồn nhà văn chan hòa, đắm đuối với thiên nhiên Ở đâu có cảnh, ở đó có tình, và chỉ có khác là cái tình ấy
Trang 25không chỉ vô biên, tuyệt đích, mà còn nông sâu khác nhau Khi thì “Chiều ở đây đẹp lắm! Có tiếng sóng đến gần nhà Có gió vào trong phòng, và có mùa thu giăng màn trước cửa sổ Biển đã bắt đầu đổi tiếng, sóng thu đã reo lên” [1, tr.176], lúc lại “hoa ái tình dễ nở dưới ánh mặt trăng, nhưng thế nào rồi cũng phải soi ánh mặt trời mới có những màu rực rỡ nguy nga” [1, tr.86]
Mặt khác, Xuân Diệu cũng giống như bao người khác cùng thời, khi không thỏa mãn được ước vọng của mình thường vỡ mộng, nếu không tự đánh lừa mình bằng ảo vọng, cũng rơi vào đường cùng của sự hoài nghi, mặc cảm Trong con mắt và tâm tưởng của nhà văn lúc bấy giờ cái gì cũng mang một vẻ buồn man mác, buồn thê lương; đâu đâu cũng tràn ngập bóng tối của
sự cùng đường Một không gian hiu hắt và tràn ngập bóng tối Cái nhìn về cuộc sống như thế, không phải chỉ có ở Xuân Diệu, mà còn có ở những nhà văn khác như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh Với những nhà văn này, tất
cả khung cảnh hiện thực của cuộc sống thường có sức gợi cảm đặc biệt Đó là những nỗi buồn đến nao lòng trước vẻ đìu hiu, phẳng lặng đến đơn điệu, mỏi mòn của nó Khung cảnh ấy không phải là những mảng sống bề bộn, xô bồ,
dữ dội, gay cấn của đời sống hiện thực như trong sáng tác của các nhà văn hiện thực Nếu như có lúc Xuân Diệu muốn “Tắt nắng, buộc gió” thì nay sự đứng lại ấy không còn ý nghĩa gì cả Trái lại càng làm tổn thương tâm hồn thi
sĩ Nếu trong truyện ngắn Thạch Lam, biểu hiện sự nghèo nàn, giá lạnh của cuộc sống, của biết bao số phận nghèo khó thì ngược lại trong truyện ngắn Xuân Diệu, cuộc sống chỉ là sự kéo dài lay lắt sự sống một cách vô vọng, mòn mỏi “Con đường Nam Giao thẳng mà không bằng; tôi khởi sự đi trong ánh sáng và tôi tới lần trong bóng tối tôi không biết đời bên trong và không hay đời bên ngoài Hoàng hôn Ễnh ương lên Tiếng ảo não, hơi phồng, như trong ấy có sự gắng sức, tiếng rậm, và nhiều, và thê lương như sự chết, làm sôi bóng hoàng hôn” [1, tr.26-27]
Trang 26Cách nhìn cuộc sống của Xuân Diệu biểu hiện rõ trong cảm nhận về không gian và thời gian Không gian thường gặp trong truyện ngắn của Xuân
Diệu là không gian hiu hắt, không gian về chiều mà ngay cả trong Phấn thông vàng, không gian ấy cũng đượm vẻ buồn Đến Tỏa nhị kiều, Truyện cái giường, không gian ấy như đặc quánh lại, trì trệ một cách đáng sợ, sống trong
bầu không khí ấy, thời gian như ngừng trôi Nói như Lưu Khánh Thơ trong
Xuân Diệu - nỗi ám ảnh thời gian, thời gian trong văn xuôi nghệ thuật trước
1945 của Xuân Diệu mang yếu tố lưỡng tri
Theo chúng tôi, để những trang văn ấy của Xuân Diệu còn hiện diện với đời chính là ở chỗ nhà văn nhìn thẳng vào cuộc đời, vào hiện thực xã hội Việt Nam thời bấy giờ - cuộc sống của người dân nô lệ, mất nước Chỉ khác một điều, Xuân Diệu không hướng ngòi bút của mình về phía cảm quan hiện thực, mà hướng về cảm quan lãng mạn Như vậy không có nghĩa là Xuân Diệu thoát ly hiện thực Yếu tố hiện thực được Xuân Diệu phản ánh qua tâm trạng, cảm xúc chủ quan, qua tâm hồn nhạy cảm của Xuân Diệu Đó là hiện thực đã được nhà văn chiêm nghiệm, nên nó có giá trị biểu cảm, đủ sức lay động lòng người
1.2.2.2 Cách nhìn con người giàu tính nhân văn
M Gorki từng nói “Văn học là nhân học”, văn học nghiên cứu về con người như một sản phẩm tuyệt vời của tạo hóa, như là “tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Văn học luôn đặt con người trong các mối quan hệ với thiên
nhiên, với xã hội để tìm hiểu và khám phá Và cũng chỉ khi được đặt trong mối quan hệ gần gũi và rộng lớn ấy, con người mới hiện lên rõ nét, trọn vẹn như nó vốn có trong cuộc đời Điều này đã khơi nguồn cho cảm hứng lãng mạn trong văn học
Xuân Diệu là một thi sĩ đi theo khuynh hướng lãng mạn, chịu ảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa nhân văn thời Phục Hưng – là chủ nghĩa đại diện
Trang 27cho tiếng gọi của con người tự do, không chịu khuất phục trước sức mạnh vật chất nào Một mặt, sáng tác Xuân Diệu bày tỏ cái tôi cá nhân của mình, một mặt Xuân Diệu vẫn nói hộ tình cảm, những nỗi niềm của con người Trong truyện ngắn, cách nhìn con người của Xuân Diệu chịu ảnh hưởng nhiều của
nghệ thuật lãng mạn “nhân vật ước lệ chỉ có tâm trạng là rõ nét, còn khuôn mặt thì mờ nhạt” Trên nền của bức tranh hiện thực cuộc sống là những số
phận con người nghèo khổ, bất hạnh Con người trong truyện ngắn Xuân Diệu
là những con người cô đơn, nhỏ bé, tội nghiệp có tên hoặc không tên; có gia đình hoặc không gia đình, là những kiếp người hèn mọn bị cuộc đời xô đẩy vào những cảnh ngộ éo le Dù sướng hay khổ, dù hạnh phúc hay bất hạnh, mỗi nhân vật là một số phận trong cuộc đời này Lòng nhân từ của nhà văn
mở rộng đón nhận và cảm thương đến nhiều số phận, nhiều cảnh đời Này là người già không nơi nương tựa “Bà lão về đâu Một ổ rơm nép bên đường hay một cái chòi lạc giữa những bụi cây Về một túp lều xa hay không về một túp
lều nào cả?” [1, tr.33-34], hay Đứa ăn mày cô đơn, lạc loài, bơ vơ, không
được gia đình chăm sóc, “Bao giờ lòng thương cũng có duyên cớ ở trên đời cùng cực, đau đớn, khốn khổ, rách rưới cô đơn này mà những kẻ nghèo đói là những trang anh hùng cắn chặt hai hàm răng ngậm giữ lấy đau thương” [1, tr.34] Theo Hà Minh Đức: Sự thương cảm trong văn chương của Xuân Diệu
có cội nguồn từ tình cảm của tác giả với quê hương Tùng Giản trong tuổi ấu thơ “Ôi cái phố chợ bề ngoài đông đảo náo nhiệt, nhưng bên trong những gia đình, cuộc đời mỗi người có những gay cấn khổ đau mà chắc chắn tuổi nhỏ tôi nào có thông hiểu được Rồi nhà bà Ôn túp lều rách tả tơi bán bánh canh ngọt, mỗi khi gió thổi mạnh thì những tấm tranh che tạm bợ trên mái nhà tung lên như muốn bay Vạn Gò Bồi nơi chôn nhau cắt rốn của tôi là như vậy Song mỗi lần xuống nằm chuyến đò đêm để đi Quy Nhơn học là lòng tôi thương nhớ Gò Bồi khôn nguôi” [26, tr.66]
Trang 28Xuân Diệu có chủ đích khi xây dựng nhân vật – con người trong truyện ngắn của mình “kể gì cái truyện! Chàng này, nàng kia, hay ông nọ có hệ trọng đâu Trong phần nhiều “truyện” của tôi, vai chính không phải là một người,
mà là một nỗi lòng một tình ý, hay một con vật, một đồ dùng” (Thay lời tựa)
Là một thi sĩ mang tâm hồn lãng mạn, Xuân Diệu khát khao mọi cái
phải trọn vẹn, đẹp tuyệt đích - Xuân Diệu vất vả đi tìm cái đời “không tưởng”
ấy ngay ở trong xã hội “như một vũng ao tù” Thi sĩ thất vọng, cảm thấy bơ
vơ, lạc lõng giữa cuộc đời như lũ “chó mèo hoang” Rồi đến một lúc nào đó lại mất phương hướng, chẳng biết đi đâu như bà lão trong Thương vay “Về
đâu? Một ổ rơm nép bên đường, hay một cái chòi lạc giữa những bụi cây? Về một túp lều xa hay không về túp lều nào cả? Trên vùng hẻo lánh kia, còn nhà cửa nào nửa! Về đâu? Ngừng lại nơi đâu?” [1, tr.33-34]
Xuân Diệu nhận ra đời bắt đầu từ một cái gì đó có sẵn, cứ nghĩ cuộc
đời “trải chiếu hoa” để đón nhận những tâm hồn lãng mạn như ông, thế nhưng cuộc đời lại đi theo chiều ngược lại Trong Người học trò tốt, Xuân
Diệu vẽ nên hình ảnh cậu học trò chăm chỉ - ông tri huyện Tư Anh ta suốt ngày cắm cúi vào bài vở, trở thành một con mọt sách Để đổi lấy kì nào, năm
nào cũng đỗ đầu khóa, chàng Tư “bóp nghẹn thương nhớ”, “bóp nghẹn thanh
xuân”, dẹp đi mọi vui thú và cơ thể ngày càng còm cõi, xanh ẻo như tàu lá Ngày trở thành ông huyện Tư cũng là khi chàng “hết muốn mọi thứ”, “ái tình
đã ngoan ngoãn vâng theo chịu nén một bề, đã tàn rồi, không nở lại nữa” Xuân Diệu ngán ngẫm: “Thanh xuân đã qua bên cạnh chàng, trong khi chàng nhắm mắt không trông thấy mặt trời ngày ngày phân phát ánh tươi đẹp và tình yêu mến Chàng tự đày mình trong sự học hành, trong sự chinh phục ngôi thứ, bằng cấp và chỗ làm; và khi chàng thành công là lúc chàng thất bại hơn Trời
ơi, chủ nhật xuân hát ngoài kia, sao ông huyện Tư năm nay mới hăm ba tuổi đầu không chạy ra đuổi vài con bướm?” [1, tr.53]
Trang 29Cũng trong tập Phấn thông vàng, Xuân Diệu có Thân thể - thiên truyện
ngắn đượm chất trữ tình, ngợi ca vẻ cường tráng của tuổi thanh niên “Mình mẩy của tuổi thanh xuân đang nở nang bối rối; trí não đã ngủ dần theo lời ru,
để cho thân thể một mình tự nghe Những ngày hè oi ả thường cho ta một cảm giác hoan lạc ẩn trong sự lười biếng, mệt mề Huống chi đêm trăng này,
một đêm của mùa sinh sản” Xuân Diệu thiết tha kêu gọi mọi bạn đọc “ráng
lùi lại thời kỳ tự phá”, “giữ cho lâu những bắp thịt của ngực nở, của tay cứng, của chân vặm” Với Xuân Diệu, muốn tận hưởng trọn vẹn hạnh phúc ở đời, con người cần trẻ trung, khỏe mạnh cả về thân thể, phải “thức nhọn” mọi giác quan mà thâu nhận Cái đẹp của con Người tình ái – Tuổi trẻ là tối cao
1.2.3 Truyện ngắn Xuân Diệu - truyện ngắn của một nghệ sĩ đi tìm cái đẹp
1.2.3.1 Quan niệm của Xuân Diệu về cái đẹp
Các nhà văn, nhà thơ lãng mạn Việt Nam ảnh hưởng sâu sắc quan điểm thẩm mĩ của văn học lãng mạn phương Tây, đặc biệt Baudelaire, Valéry, Gautier Họ cho rằng, nghệ thuật muốn đẹp, muốn kỳ diệu, cần phải thoát ly cuộc sống, thoát ly cái hữu ích, vụ lợi của sinh hoạt trần tục Họ chủ trương nghệ thuật phải tách rời với thực tiễn chính trị, kinh tế, đạo đức Nhiệm vụ
của văn học là tìm kiếm cái đẹp: “Tìm cái đẹp trong thiên nhiên là nghệ thuật Tìm cái đẹp trong nghệ thuật là phê bình” (Hoài Thanh) Thế Lữ tuyên ngôn:
“Tôi chỉ là một người khách si tình/ Ham vẻ đẹp muôn hình, muôn vẻ/ Mượn lấy bút nàng Li Tao tôi vẽ/ Và mượn cây đàn ngàn phím tôi ca” (Cây đàn
muôn điệu)
Là một trí thức Tây học chịu ảnh hưởng nhiều của tư tưởng, văn hóa Pháp và cả văn hóa truyền thống; văn chương Xuân Diệu có sự kết hợp hai yếu tố cổ điển và hiện đại, thể hiện trong tư tưởng và tình cảm thẩm mĩ Qua văn, thơ chứng tỏ Xuân Diệu là một nghệ sĩ theo khuynh hướng lãng mạn Những người nghệ sĩ như ông luôn khát khao vươn tới cái đẹp, cái tuyệt đích
Trang 30Ý tưởng vươn tới cái đẹp của Xuân Diệu có một giá trị nhân văn cao cả - văn tức là người, qua văn hiểu người Và chỉ với phạm trù này thôi, chúng ta có thể đánh giá cao Xuân Diệu - người nghệ sĩ làm đẹp cho đời
Dựa vào sáng tác truyện ngắn của ông, chúng ta có thể thấy được quan niệm về cái đẹp hoàn thiện của Xuân Diệu Trước 1945, Xuân Diệu còn rất trẻ, yêu đời, ham sống - sống với đời bằng tâm hồn lãng mạn của một thi sĩ, nhìn thẳng cuộc đời, đối diện sự thật, Xuân Diệu chuyển hướng cảm xúc vào thế giới thiên nhiên xung quanh Xuân Diệu nhìn đời bằng vẻ đẹp riêng - vẻ
đẹp lãng mạn “Chàng đi trên đường thơ, hái những bông hoa gặp dưới bước chân, những hương sắc nẩy ra bởi ánh sáng của lòng chàng” [59, tr.9]
Chính con mắt nhìn đời ấy của Xuân Diệu cho ta biết quan niệm về cái đẹp của ông: cái đẹp nảy sinh trong con mắt của kẻ si tình; cái đẹp ở trong thiên nhiên: một rừng thông vàng của “chiều với rừng lặng lẽ; nhưng sắc vàng phảng phất âm thanh, nắng là một sự hiển hiện rõ rệt và điều hòa, tưởng có thể gõ vào không khí ở trên đầu để nghe sự lặng im rung rinh, xao xuyến” [1,
tr.14]; một màu hoa đẹp của hoa thông vàng trong Phấn thông vàng, một phong cảnh “thanh tao”, “khoái lạc” trong Thân thể; một vẻ đẹp thiên tạo của Suối cá vàng “Suối là con mắt, suối ngó lên trời, suối thay màu sắc, khi sáng như ngày, khi tối như đêm” [1, tr.107], Suối tóc đẹp “Suối là một dòng tóc
trôi dài; một dòng tóc óng ả, mịn màng, và mãi mãi tuôn đưa, thao thao bất tuyệt” [1, tr.113]
Không những vậy, cái đẹp còn thể hiện trong nghệ thuật: một bức vẽ, một bài văn, bài thơ - chứ cái đẹp không bắt đầu từ trong cuộc đời khốn khó
Cái đẹp phải ở nơi đẹp, nên chàng họa sĩ trong Phấn thông vàng chọn một
thời khắc đẹp nhất trong ngày, một địa điểm lý tưởng để gợi nguồn cảm hứng
“Dừng chân đã được một chốc, nhìn lên trời và ngắm chung quanh, họa sĩ
Trang 31nghe trong lòng thơ thới Linh hồn chàng nở dãn, lập tức cái giá đặt xuống đất khung vải để vừa tầm, và hộp màu mở ra Chàng bắt đầu họa” [1, tr.14]
Có thể nói, quan niệm về cái đẹp của Xuân Diệu trong truyện ngắn là cái đẹp toàn mĩ, hoàn hảo nhưng trừu tượng, mơ hồ Cái đẹp ấy có thể thấy,
có thể cảm được nhưng lại xa vời, quen mà lạ; được chắt lọc quá kĩ càng nên thiếu cái đời thường của cuộc sống xung quanh Cũng phải thôi, vì cái đẹp ấy được nẩy sinh, hiện hình trên mảnh đất tâm hồn lãng mạn - được nuôi sống bằng những ảo vọng Vì thế, cái đẹp của thiên nhiên, của nghệ thuật lọt vào tầm ngắm của Xuân Diệu đều trở nên đẹp, quyến rũ lạ thường Say với cảnh, với người, với đời; Xuân Diệu đôi chỗ có nói quá lên sự thật để cho thỏa lòng mình Nhưng điều đó nào có hề gì, Xuân Diệu là một người nghệ sĩ làm đẹp cho đời Ở điểm này, Xuân Diệu có phần giống Thạch Lam trong quan niệm
về cái đẹp “cái đẹp luôn có mặt ở mọi nơi”
Nhà văn không chỉ là người thưởng thức mà còn phải là người có nhiệm vụ làm cho nó đẹp hơn Chỉ có khác là Thạch Lam hướng cái đẹp ấy về
ngay giá trị đạo đức “nâng đỡ cái tốt” trong cuộc đời Riêng Xuân Diệu, phải
trải qua một quá trình tìm kiếm mới nhận thấy được: cái đẹp không chỉ có trong thiên nhiên, trong nghệ thuật, mà còn có trong cuộc đời bình thường nhất
1.2.3.2 Hành trình đi tìm cái đẹp của Xuân Diệu
Xuân Diệu đến với cái đẹp từ trong cảm xúc, trong thiên nhiên, trong nghệ thuật Nhưng để có được một quan niệm đầy đủ về cái đẹp, Xuân Diệu phải trải qua một quá trình nhận đường, tìm kiếm Và hành trình đi tìm cái đẹp của ông là hành trình tìm về với bản ngã của mình Bởi lẽ, biết thưởng thức cái đẹp, say với cái đẹp và làm ra cái đẹp là một tư chất đáng quí của con người Trong sáng tác nghệ thuật, người nghệ sĩ trong hoàn cảnh cụ thể đều tìm cho mình một hình thức sáng tạo riêng, xuất phát từ một trái tim để đến
Trang 32với nhiều trái tim Xuân Diệu tâm sự “cả yêu lẫn thương đều là tiếng nói của con tim hình như trong thơ yêu nhiều hơn và trong văn cảm thương lại rõ hơn” [3, tr.7] Đọc thơ và truyện ngắn Xuân Diệu, người đọc ghi nhận được
những giây phút cảm xúc mãnh liệt của ông Nếu như trong thơ, cảm xúc là những rung động chợt loé sáng, xuất thần tuy không nhiều lời, nhưng cũng đủ sức gợi cảm nơi người đọc: “Cái bay không đợi cái trôi; Từ tôi phút trước,
sang tôi phút này ” (Đi thuyền) Thì trong truyện ngắn từ “phút trước sang
tôi phút này” được thể hiện đầy đủ hơn, hình ảnh hơn và cũng ấn tượng không
kém Trong Thương vay, chỉ nhìn cái bóng của bà cụ thôi mà thấy “khổ hết
chín phần mười”, thấy cả quá khứ và hiện tại, thấy cả tổ tiên, dòng tộc,
“Không, không phải bằng giấy Ấy một người bằng thịt, bằng xương - thịt khô và xương gầy- vớỉ một lịch sử chắc chắn khổ sở hết chín phần mười, với chút sống còn sót giữa lòng, như hòn lửa nhỏ còn lấp dưới tro” [1, tr.33] Như vậy, dù sáng tác thơ hay truyện ngắn, tác phẩm của Xuân Diệu đều là những trang văn bộc bạch tâm hồn thi sĩ Khi thơ không đủ chỗ để giãi bày, truyện ngắn xuất hiện Chính vì thế, trong thơ và truyện ngắn của Xuân Diệu, nhiều
ý tưởng trùng nhau, đứng cạnh bên nhau và bổ sung cho nhau Bài thơ đầu
tiên trong tập Thơ thơ, Xuân Diệu viết: “Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió - Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Cảm xúc) Bài thơ thể hiện hình ảnh người
nghệ sĩ - thi sĩ đi tìm cái đẹp trong cuộc đời với một phong thái rất nghệ sĩ -
rất Xuân Diệu Hình ảnh ấy một lần nữa được xuất hiện trong truyện Phấn thông vàng “Họa sĩ mê mẩn làm sao! Rừng thông to lớn, chân cây vững trồng,
tiếp nhau không hết Buổi chiều vàng ( ) họa sĩ nghe trong lòng thơ thới Linh hồn chàng nở dãn ( ) Chàng bắt đầu hoạ” [1, tr.13]
Xuân Diệu đến với cuộc đời bằng một tâm hồn của một thi sĩ yêu đời, đắm cảnh Với những kiến thức tiếp thu được trong nhà trường Tây học, cái nhìn thẩm mĩ của ông về cuộc đời thêm hương sắc và có vẻ đẹp riêng Hình
Trang 33ảnh một người họa sĩ trong Phấn Thông vàng bày tỏ lòng mình qua những
bức vẽ, chàng tìm đến nơi đẹp nhất, nơi đó “Rừng đẹp, hình thông bóng nắng sẵn sàng làm khung cho một cảnh tự tình” [1, tr.14] Họa sĩ thấy cảnh đẹp, nhưng quái ác thay, không thể làm chàng khỏi cô đơn; chàng “lại buồn rầu thêm” Rõ ràng cái đẹp mơ hồ, trừu tượng không thể là cái đẹp hoàn hảo, mĩ mãn Theo Xuân Diệu, cái đẹp chỉ thật đẹp, thật hoàn hảo khi cái đẹp ấy gắn với cuộc đời, làm đẹp cho đời, mang lại ý nghĩa cho đời Cái đẹp ấy chỉ thật
sự đẹp khi nhận được chân lí cuộc đời – cái đẹp hướng thiện, làm giàu cho đời “Chỉ sợ ta nghèo, không đủ tình để phung phí” [1, tr.21] Chàng họa sĩ đã tìm thấy được lòng mình, tìm thấy cái đẹp khi gắn lòng mình với đời sống
“Trên trời bao la, phấn thông vàng đương bay lan trong tám hướng của cõi đời” [1, tr.22]
Người họa sĩ trong Phấn thông vàng phải chăng là hình ảnh của người
nghệ sĩ Xuân Diệu? Và hành trình của người nghệ sĩ ấy đi tìm cái đẹp, cũng là hành trình của Xuân Diệu đi tìm cái đẹp? Đó là quá trình trưởng thành về nhận thức và tư tưởng của con người: cái đẹp ở quanh ta, cái đẹp không chỉ có
ở cái cao thượng, mơ hồ, mà ở trong những điều nhỏ nhặt nhất; bình thường nhất; cái đẹp không chỉ ở màu sắc, hương thơm mà còn ở tấm lòng biết chia
sẻ, rung động, biết yêu, biết ghét, biết căm thù Hành trình đi tìm cái đẹp của Xuân Diệu là hành trình đi tìm cái đẹp chân thực; cái đẹp ẩn chứa cái thiện Xuân Diệu đi tìm cái đẹp trong tự nhiên, trong nghệ thuật đồng thời lại tìm thấy vẻ đẹp trong cuộc sống Một số phận, một cuộc đời của má, của bà lão, của lũ chó mèo hoang và của cả cái giường bỗng như được thoát thai, đổi đời qua ngòi bút hướng thiện của Xuân Diệu
Xuân Diệu vừa là người nghệ sĩ, vừa là nhà nhân đạo Hành trình đi tìm cái đẹp của Xuân Diệu không giống như một số cây bút văn xuôi khác, chẳng hạn như Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân đi tìm cái đẹp, nhưng là cái đẹp khá cầu
Trang 34kỳ, cái đẹp mang màu sắc truyền thống (những nét văn hóa của cái ăn, cái
chơi, cái học như: “Phở”, “Chén trà sương”, nét chữ, thả thơ, ) Đọc Vang bóng một thời, ta thấy Nguyễn Tuân là người nghệ sĩ tài hoa, kỳ công trau
chuốt những vẻ đẹp cho đời Nhưng dù có đẹp, có sang thì vẫn không dấu được sự tiếc nuối quá khứ Xuân Diệu chỉ phác họa sơ nét tạo dáng vẻ đẹp và trang trí nó bằng tâm hồn – chính tâm hồn nhà thơ làm cho cái đẹp trở nên
hoàn mĩ, gắn với thời đại nó tồn tại Trong Thương vay, Xuân Diệu có nhắc
đến hình ảnh của một bà cụ “Bà già hay hiện hình của sự đau khổ? Nghèo như vậy, sao lại làm thinh mà đi, gặp khách không đón xin tiền? Cũng không nói, cũng không rên, cũng không ngừng Cứ tha đôi chân vào mất trong tối” [1, tr.33] Rõ ràng cái đẹp trong cuộc sống là vô tận, nhà văn phải là người mang cái đẹp để trang điểm cho đời, làm cho cuộc đời có ý nghĩa hơn
Đến với tập truyện ngắn của Xuân Diệu, chúng tôi nhận thấy đó là tập truyện ngắn của một tâm hồn con người yêu đời, đắm cảnh Truyện ngắn của Xuân Diệu mang tâm hồn lãng mạn của một nhà thơ, của một nghệ sĩ dành cả cuộc đời mình đi tìm cái đẹp Người nghệ sĩ ấy làm đẹp cho đời qua những trang văn bằng cảm nhận của chính mình Truyện ngắn Xuân Diệu thấm đẫm chất nhân văn và mang màu sắc văn chương
Chương 2 KẾT CẤU, CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
XUÂN DIỆU 2.1 Kết cấu tâm trạng trong truyện ngắn Xuân Diệu
Trang 35Kết cấu là cách kiến trúc tác phẩm, là sự tổ chức không chỉ ở bề mặt
mà bao hàm cả sự liên kết bên trong sao cho toàn bộ tác phẩm thực sự là một chỉnh thể nghệ thuật mang tính khái quát, như một công trình kiến trúc hợp lý
và hợp mục đích tối đa Theo Từ điển thuật ngữ văn học, kết cấu chính là
“toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm” [32, tr.156] Xét ở cấp
độ tác phẩm, kết cấu bao gồm việc tổ chức hình tượng, tổ chức trần thuật, không gian - thời gian nghệ thuật, cốt truyện, sự kiện, chi tiết nhằm bộc lộ tốt tư tưởng, chủ đề tác phẩm Điều đó có nghĩa là mọi phương diện tổ chức tác phẩm đều nằm trong “tầm ngắm” của kết cấu, tất cả phối hợp với nhau một cách hữu cơ để tạo tính hình tượng và chiều sâu nội dung tác phẩm Tìm hiểu kết cấu một tác phẩm là tiếp cận một “cơ thể sống”, một “sinh mệnh”, là
cơ hội đánh giá tài năng và phong cách nhà văn
Trên hành trình đổi mới kết cấu, truyện ngắn Việt Nam chặng đường 1932-1945 phần nhiều từ bỏ lối kết cấu truyền thống để xây dựng lối kết cấu mới: kết cấu theo quy luật tâm lý Tâm lý nhân vật là yếu tố quyết định kết cấu của tác phẩm Kết cấu tâm lý cho phép tác phẩm có thể bắt đầu ở bất cứ đoạn nào, không cần tuân theo trật tự thông thường của câu chuyện kể
Truyện ngắn Xuân Diệu, là truyện ngắn tự sự - trữ tình Các yếu tố tự
sự được liên kết không theo kết cấu thông thường của một tác phẩm tự sự, chủ yếu phụ thuộc vào cảm xúc, tâm trạng, ý tưởng của người viết Chính cảm xúc, tâm trạng, ý tưởng của Xuân Diệu tạo cho truyện ngắn của ông một kết cấu riêng - đó là một kiểu kết cấu tâm trạng theo dòng hồi tưởng, hồi ức/hồi cố của nhân vật trữ tình và kết cấu theo dòng suy tưởng của nhà văn
2.1.1 Kết cấu theo dòng hồi tưởng
Là một người thường xuyên hoài niệm về quê hương, về tuổi thơ; Xuân Diệu cả trong thơ lẫn văn luôn trở đi trở lại với ký ức, ký ức của những kỷ niệm vừa ngọt ngào tươi đẹp, vừa pha ý vị xót xa Đó có thể là quá khứ của
Trang 36một miền quê, một gia đình, hay đơn giản là một con người, một lát cắt mỏng manh của một đoạn đời Rất nhiều truyện ngắn Xuân Diệu gắn liền với nỗi
nhớ, niềm thương về những điều đã cũ, đã qua, đã xưa – Phấn thông vàng,
Sợ, Cái hỏa lò, Đứa ăn mày, Thương vay, Tỏa nhị kiều,
Dòng hoài niệm đưa con người về với miền ký ức tuổi thơ gắn liền với những kỷ niệm bên gia đình, trong tình thân xóm giềng, trong tình cảm bạn
bè, cùng với những ngày tháng cắp sách đến trường, với những ông giáo làng
và những món ăn quen thuộc Trong những ngày tháng ấy, con người được tận hưởng tuổi thơ ngọt ngào nhưng pha chút xót xa
Ký ức về những bữa cơm gia đình gắn liền với miền quê nghèo Trong
Tỏa nhị kiều, ấn tượng của nhân vật “tôi” về những bữa cơm chiều thường
mang đến con người cảm giác buồn bã, ngao ngán “cơm mai rồi cơm chiều, rút cục mỗi ngày hai bữa cơm” Khung cảnh buổi chiều ở miền quê nghèo hiện về rất rõ trong ký ức của “tôi” “những khi xế trưa, nắng ngả vào bếp nhà tôi Lửa tắt, than lạnh, chỉ đôi con ruồi lơ thơ đậu dưới đất thỉnh thoảng bay lên kêu vo vo Nắng vàng phai lặng, chán nản làm sao!” [1, tr.165] Một bức họa đồng quê quen thuộc, bình dị, thơ mộng, gợi cảm, mang cốt cách Việt Nam Nhịp điệu chậm, giàu hình ảnh và nhạc điệu gợi khung cảnh thiên nhiên đượm buồn Bức tranh miền quê nghèo lúc ngả về chiều mang vẻ trầm buồn hiu hắt, con người luôn quẩn quanh, tẻ nhạt “nỗi nhạt nhẽo của ngày này tiếp theo ngày nọ”
Ký ức về “má” như một phần đời không thể thiếu trong dòng hoài niệm
về tuổi thơ Trong Cái hỏa lò, hình ảnh về “má” được nhà văn khắc họa bằng
những chi tiết chân thực, cảm động “Má” với cuộc sống gia đình không hạnh phúc, tuy có chồng, có con nhưng phải ăn nhờ, ở đậu nhà ngoại Để rồi khi
tận mắt chứng kiến cuộc sống của má ở bên nhà ngoại, Siêu mới thấy hết sự
khổ cực của má “Thức ăn là một chén muối vừng ( ) chắc mặn muối lắm, vì
Trang 37nhiều màu trắng, ít màu vàng” [1, tr.94-95], Siêu thấy thương má “cổ Siêu lại phồng lên lại, nước mắt góp mau thêm ( ) lệ đã lăn vài giọt xuống má” [1,
tr.101] Với những dòng hồi ức ấy, người đọc như đang cùng chiêm nghiệm,
cùng thấm thía và chia sẻ với số phận đau khổ của những người mẹ, những người đàn bà lam lũ đáng thương, tội nghiệp Đồng thời, cũng thấy được một tuổi thơ đầy cơ cực, túng quẫn sống trong sự hắt hủi của người mẹ ghẻ, một tuổi thơ thiếu thốn tình yêu, tình thương của “má” và có lẽ điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới phong cách thơ của ông sau này, luôn rạo rực, mãnh liệt, vội vàng với cuộc sống
Truyện ngắn Đứa ăn mày là dòng ký ức về gia đình, về đứa em đáng thương, tội nghiệp “Thằng Miêng cũng chỉ là một con chó hoang hay một con
mèo hoang ( ) Mỗi lần thấy dáng bộ thất thơ không cửa không nhà của một con mèo hay con chó, Sơn lại thương thằng Miêng, đứa em xấu số, bị nhà bỏ
và cũng bỏ nhà đi hoang” [1, tr.149]
Với Thương vay, ký ức tuổi thơ con người còn được đánh thức bởi hình
ảnh quen thuộc của những ông giáo làng Trong dòng hoài niệm, hình ảnh những ông giáo làng hiện lên rất “buồn cười” nhưng cũng rất đáng thương ,
“Ông Viên, cái trán cao như cái lầu, xương xao như một tấm đá; ông Bích miệng cười như khóc, méo một cái méo hãi hùng; ông Thinh chốc chốc lại kéo cái quần tây, như sợ tụt; ông Lịch sau vài tiếng nói lại, “hơ!”, “hớ!”” [1, tr.30] còn bọn học trò “cảm nghe cái không khí thẩn thơ ở trong lớp học, ở giữ cuộc đời” [1, tr.30] Âm thanh, hình ảnh, không khí quen thuộc ấy khơi dậy trong lòng người đọc bao nhiêu cảm xúc về một thời cặp sách đến trường, một thời tinh nghịch, hồn nhiên
Dòng hoài niệm đưa tác giả về hình ảnh của một miền quê nghèo với
những gì bình dị mà đậm sâu, tha thiết như máu thịt Trong Cái hỏa lò, quê
hương của ngày xưa lưu lại trong ký ức của ông là hình ảnh của một cái quán
Trang 38nước nho nhỏ của bà Gồng, với bao nhiêu món hàng nào khoai lang, nào xôi đậu đen, như “dấu ấn văn hóa” của một thời chân quê, mộc mạc mà ấm áp yêu thương, làm thức dậy ở độc giả một miền tuổi thơ xa lắc mà gần giũi, thân thuộc làm sao
Cảm xúc nhớ thương ấy đưa tác giả về với những mối tình đã qua đẹp
nhưng buồn trong Phấn thông vàng “Lần đầu, người chàng yêu chỉ coi chàng
như một người bạn, ( ), như một người anh Lần thứ hai người ta lãnh đạm hẳn với chàng ( ) Lần thứ ba ( ) Người yêu mới cũng yêu chàng ( ) chàng họa sĩ phải ngậm ngùi rời nàng” [1, tr.15 ] Tình yêu là nơi Xuân Diệu bộc lộ
rõ nhất niềm khát khao giao cảm với đời Trái tim tha thiết yêu đương của nhà văn luôn khao khát được sống, được ăn, được cắn vào tình yêu, vào thời tươi, yêu từ khi chưa có tuổi đến hết tuổi Ông vồ vập, níu kéo tình yêu, sợ li biệt, tan vỡ, cô đơn, nuối tiếc vì tuổi trẻ và tình yêu qua đi rất nhanh Trong tình yêu có lúc Xuân Diệu cảm thấy thất vọng, mất mát đau buồn nhưng không vì thế, ông có thái độ phũ phàng, khinh bạc và thôi khao khát yêu
Hiện tại, quá khứ trong tập truyện ngắn Phấn thông vàng được kết cấu
vừa đan xen vừa đối nghịch Nhà văn thường bắt đầu bằng thực tại rồi chuồi
đi trong hoài niệm, tạo hai chiều hiện tại – quá khứ trong thế đối lập và cả sự gián cách về không gian – thời gian Nhờ đó, người đọc được làm một cuộc viễn du bằng tưởng tượng về với những không gian, bối cảnh, con người của những ngày đã qua
2.1.2 Kết cấu theo mạch suy tưởng
Trên phương diện đề tài, tập truyện ngắn Phấn thông vàng là những
câu chuyện giản dị gắn liền với cuộc sống hằng ngày của con người nhưng chính từ những điều bình dị ấy, nhà văn đưa người đọc đến những suy ngẫm mang đậm chất triết lý nhân sinh Kết cấu theo mạch tâm lý giúp nhà văn triển khai tác phẩm theo dòng chảy miên man của suy tưởng
Trang 39Từ một sự kiện, một câu chuyện thường nhật, tác giả chiêm nghiệm, suy ngẫm và phát hiện những điều bất ngờ thú vị Xuân Diệu sáng tạo theo mạch suy tưởng với một tư duy mẫn tiệp, một đôi mắt tinh nhạy, một bề dày kiến thức xã hội và một bản lĩnh vững vàng Nhà văn đưa ra những nhận xét bình luận, những chủ kiến sắc sảo của bản thân đồng thời khơi gợi ở người đọc sự hứng thú, đánh thức khả năng suy ngẫm và tư duy từ đó thôi thúc con người hành động
Những suy tưởng của Xuân Diệu thường bắt đầu từ những điều rất giản
dị Cái hỏa lò không chỉ gợi kỷ niệm về cái hỏa lò, nguyên nhân gây ra mối
bất hòa trong một gia đình nghèo khó qua hồi tưởng của nhân vật Siêu; mà thông qua nhân vật người kể chuyện, Xuân Diệu còn xót thương cho cuộc đời con người vốn tăm tối tủi nhục lại càng khổ nhục thêm khi tự hành hạ lấy nhau Tâm sự nhân vật “cái giường” cũng làm cho nhà văn băn khoăn, trăn
trở Viết về cái giường, Xuân Diệu khéo miêu tả qua đồ vật này sự trôi chảy
của thời gian và sự đổi thay của sự sống con người Đây không chỉ là chuyện
về Cái giường, là tâm sự, là nỗi lòng của vạn đồ vật ở quanh ta, nó còn là chuyện của con người với tâm lý buồn đau, bi quan, bế tắc, tuyệt vọng “cho
số phận bị ruồng bỏ” Đó là tâm lý chung của con người khi chứng kiến “Mọi vật đều thay bậc đổi ngôi, sự dâu bể của cuộc đời” Điều đó cho thấy, bằng trí tưởng tượng, hóa thân vào sự vật, Xuân Diệu thổi vào đó sự sống, niềm tin, niềm khát khao được sống, được cống hiến, được giao cảm với đời “Trời ơi, chịu sao nổi cảnh hiu quạnh dường này! Dầu gãy, dầu hư, tôi vẫn mong được loài người đụng chạm Tôi, xưa kia đã từng nâng da, đỡ thịt, tôi đã nhận sự sống của loài người lây qua mình tôi Mà bây giờ không có sự gần gủi của người Thực là cô đơn, vắng vẻ” [1, tr.185-186]
Ngay cả số phận bọn chó mèo hoang cũng khiến cho ông động lòng trắc ẩn Những con vật đáng thương này vốn được con người chăm sóc và
Trang 40chúng có nhiệm vụ bảo vệ cuộc sống của con người Nhưng rồi do một hoàn cảnh nào đó chúng đi hoang, biến thành những con vật thảm thương, đói ăn, lẩn lút trong đêm lẩn tránh con người Và cũng có thể chúng lại trở thành những con vật hung dữ, mất nết hoang dã Những đổi thay của các con vật này, một phần là do con người Nếu những mái nhà ấm có thể chăm sóc những con vật nhỏ bé này để không bao giờ chúng đi hoang, nếu ai cũng hiểu thân phận của chúng bơ vơ, đói khát mà động lòng thương xót thì những cảnh tượng thương tâm không còn nữa Nhà văn bày tỏ tình thương tới những số phận lạc loài này Khi viết về những con vật như mèo hoang, chó hoang tác giả tìm thấy, chia sẻ cho đối tượng mọi nỗi niềm, như một số phận Kiếp đi hoang đã làm đau khổ cho con người thì cảnh sống hoang dại của loài vật khi
bị xua đuổi khỏi những ngôi nhà quen thuộc cũng chịu nhiều đau khổ Tất cả những điều tưởng như nhỏ nhặt ấy qua quan sát của Xuân Diệu đều toát lên tinh thần nhân văn, thể hiện một cái nhìn tinh tế, nhạy cảm trước những biến động của cuộc đời
Có khi, lại là một tiếng thở dài trước cuộc đời tẻ nhạt, vô vị Câu chuyện hai cô Quỳnh, Giao khiến chúng ta phải suy ngẫm Khi viết về cái thế giới nhạt nhòa ấy, Xuân Diệu không muốn lên án, tố cáo cảnh nghèo khổ, tối tăm Cuộc sống của hai cô gái Quỳnh, Giao, của Phan hay của ông bố không nghèo, không tối tăm, không bất hạnh, không bị xã hội tàn bạo vùi dập, tức là
họ không miêu tả như Ngô Tất Tố về chị Dậu (Tắt đèn) hay Nam Cao về Chí Phèo (Chí Phèo) Xuân Diệu không chấp nhận một lối sống, một cách sống
nhạt nhòa, không bản sắc như ngọn đèn sáng leo lét, chực tắt nhưng không tắt
hẳn Tỏa nhị kiều đúng như Xuân Diệu nói, là một “truyện ý tưởng” Câu
chuyện chủ yếu gợi cho người đọc suy ngẫm về một “ý tưởng” của tác giả
Do đó, phần hết sức quan trọng của tác phẩm không phải ở tình tiết, nhân vật
mà còn ở những đoạn bình luận trữ tình ngoại đề thông qua nhân vật “tôi”,